1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo chuẩn định tính và định lượng các môn giáo dục nghề phổ thông sử dụng trong kiểm tra, đánh giá và thi nghề phổ thông

76 429 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáp ứng yêu cầu đổi mới về công tác kiểm tra đánh giá của ngành Giáo dục và Đào tạo, nhằm phổ biến các kiến thức về kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan cũng như cách thiết kế

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH

ĐÁNH GIÁ VÀ THI NGHỀ PHỔ THÔNG

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy nghề phổ thông nói riêng, kiểm tra và đánh giá là một trong những bộ phận chủ yếu và hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong quá trình đào tạo Do vậy, chiến lược phát triển giáo dục 2001-

2010 nêu rõ: “Đổi mới giáo dục bao gồm cả đổi mới chế độ thi cử, tuyển sinh, xây dựng phương pháp, quy trình và hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, chất lượng học sinh, sinh viên một cách khách quan, chính xác, xem đây là biện pháp cơ bản khắc phục tính chất đối phó với thi cử của nền giáo dục hiện nay, thúc đẩy việc lành mạnh hóa giáo dục”

Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy và học, thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá đã và đang là một hoạt động cấp thiết trong nhà trường phổ thông hiện nay Kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh là một phần quan trọng trong quá trình dạy học Ngoài công việc chính là đánh giá chất lượng học sinh, kiểm tra đánh giá còn được xem là đòn bẩy để nâng cao chất lượng giáo dục, là động lực để học sinh cố gắng phấn đấu trong quá trình học tập của mình Do đó đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá đang được tiến hành sâu, rộng trên phạm vi cả nước và ở tất cả các cấp học

Thực tế cho thấy hệ thống Giáo dục - Đào tạo nước ta hiện nay, mặc dù mục tiêu đào tạo đã có những thay đổi để phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội, phương pháp dạy học đã được nâng cao, nhưng cách thức và công cụ kiểm tra đánh giá mà chúng ta đang sử dụng thì chưa thực sự đổi mới Lâu nay, chúng ta hầu như chỉ sử dụng loại bài kiểm tra tự luận để đánh giá kết quả học tập của học sinh Loại câu hỏi có nhiều bất cập vì những câu hỏi thường dài, tốn nhiều thời gian cho việc làm bài, khối lượng kiến thức được kiểm tra hạn chế, khó sử dụng các phương tiện hiện đại trong kiểm tra đánh giá chẳng hạn như máy vi tính

Để khắc phục những nhược điểm trên, nhiều nước trên thế giới đã và đang sử dụng dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để đánh giá thành quả học tập của học sinh Ở Việt Nam hiện nay, hình thức kiểm tra trắc nghiệm đã được dùng khá phổ biến, từ năm học 2005- 2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thi trắc nghiệm khách quan cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học, cao đẳng

Đối với các môn giáo dục nghề phổ thông sở giáo dục và đào tạo Ninh Bình đã

tổ chức thi trắc nghiệm từ năm 2007 Vì thế rất cần thiết phải có một ngân hàng câu

Trang 3

hỏi trắc nghiệm đạt chuẩn để sử dụng trong kiểm tra đánh giá và đặc biệt là trong thi Nghề phổ thông

Đáp ứng yêu cầu đổi mới về công tác kiểm tra đánh giá của ngành Giáo dục và Đào tạo, nhằm phổ biến các kiến thức về kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan cũng như cách thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho giáo viên, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học các môn giáo dục

nghề phổ thông lớp 11, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Xây dựng ngân

hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo chuẩn định tính và định lượng các môn giáo dục nghề phổ thông sử dụng trong kiểm tra, đánh giá và thi nghề phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm kiểm tra và đánh giá học sinh trong dạy và học Nghề phổ thông, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng và làm cơ sở cho việc kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh trong quá trình học giáo dục nghề phổ thông

3 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng thành công các nguyên tắc, quy trình thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan đủ tiêu chuẩn và sử dụng hợp lý vào các khâu của quá trình dạy học, đặc biệt là khâu kiểm tra đánh giá, sẽ nâng cao chất lượng dạy và học nghề phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài đặt ra như sau:

- Nghiên cứu lý luận về quá trình dạy học, lý luận về đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp kiểm tra đánh giá;

- Nghiên cứu về phương pháp kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm,

đi sâu vào phương pháp trắc nghiệm khách quan;

- Nghiên cứu cấu trúc chương trình các môn nghề phổ thông;

- Xây dựng thành công ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm các nghề điện tử, điện dân dụng, cắt may, thêu tay, sửa chữa xe máy;

- Thực nghiệm sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trong việc kiểm tra đánh giá ở trung tâm TH NN - HN tỉnh Ninh Bình, nhằm kiểm nghiệm tính khả thi

và tác dụng của việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá

Trang 4

5 Phạm vi đề tài

5.1 Phạm vi nghiên cứu

Năm môn nghề phổ thông đang được giảng dạy tại trung tâm Tin học – ngoại ngữ và hướng nghiệp tỉnh Ninh Bình: Điện dân dụng, điện tử, cắt may, thêu tay, sửa chữa xe máy

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm nhằm xác định tính khả thi, hiệu quả của đề tài và chất lượng của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nêu trong đề tài;

- Phương pháp sử dụng toán học: sử dụng thống kê toán học để xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Giới thiệu chung về phương pháp kiểm tra đánh giá

1.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Kiểm tra là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra

1.2 Vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra đánh giá

1.2.1 Vị trí của kiểm tra đánh giá

Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và

sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục

Ta có thể thấy rõ vị trí của kiểm tra đánh giá qua sơ đồ sau:

Trang 6

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một bộ phận cấu thành và là giai đoạn cuối cùng của quá trình dạy học

Vị trí của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học được thể hiện thông qua

sơ đồ dưới đây:

1.2.2 Vai trò của kiểm tra và đánh giá

Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học, thông qua kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh giúp cho giáo viên thu được những thông tin ngược từ học sinh, phát hiện thực trạng kết quả học tập của học sinh cũng như nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng kết quả đó Đó là cơ sở thực tế để giáo

Trang 7

viên điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động học của học sinh và hướng dẫn học sinh tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học của bản thân

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một bộ phận hợp thành rất quan trọng

và tất yếu của toàn bộ quá trình dạy học Kết quả toàn bộ quá trình dạy học ở một mức độ quan trọng phụ thuộc vào việc tổ chức kiểm tra và đánh giá kết quả của học sinh một cách đúng đắn Công tác đánh giá trong dạy học - giáo dục là một việc làm phức tạp, bởi lẽ kết quả cuối cùng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tác động

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh vừa đóng vai trò bánh lái, vừa giữ vai trò động lực của dạy học Nó định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và hoạt động quản lý giáo dục Kiểm tra, đánh giá có tác động đến việc cách tân trong đào tạo G.K.Miler đã khẳng định: “Thay đổi một chương trình hoặc những kỹ thuật giảng dạy mà không thay đổi hệ thống đánh giá, chắc chắn là chẳng đi tới đâu! Thay đổi hệ thống đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy, có thể có một tiếng vang lớn đến chất lượng học tập hơn là một sự sửa đổi chương trình mà không

sờ đến kiểm tra, đánh giá, thi cử.”

Trong mọi sự đánh giá, vai trò hàng đầu của kiểm tra, đánh giá là giúp thực hiện được quyết định cho điểm, cho lên lớp Vì quá trình đánh giá cung cấp những

cơ sở cho một sự phán xét về giá trị Sự phán xét này cho phép giáo viên ra được những quyết định sư phạm tốt nhất

Kiểm tra, đánh giá không chỉ đóng vai trò kích thích mà còn đóng vai trò dạy học Kiểm tra, đánh giá là nhiệm vụ cần thiết để tổ chức quá trình dạy học, điều chỉnh quá trình dạy học, cũng như giúp lựa chọn những phương pháp làm việc và tính chất tài liệu học tập, phân hóa bài tập một cách hợp lý đối với học sinh

Kiểm tra, đánh giá không những là một nhân tố dạy học mà còn là một nhân tố kích thích Hai yêu cầu này liên quan mật thiết với nhau: Nếu đánh giá mà không kích thích học sinh học tập thì nó chỉ là nhân tố dạy học đơn thuần và ngược lại nếu vai trò dạy học mất đi hay bị lu mờ thì tất yếu điều đó sẽ được phản ánh lên tác dụng của đánh giá Đánh giá càng chính xác bao nhiêu thì càng giúp giáo viên trong việc cải tiến, hoàn thiện được nội dung đào tạo, quy định chính xác tài liệu, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học thích hợp bấy nhiêu

Vai trò của kiểm tra, đánh giá có thể được tóm lược thông qua từng đối tượng

cụ thể như sau:

- Đối với giáo viên: Kiểm tra và đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông

Trang 8

đánh giá được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc cung cấp cho giáo viên những thông tin về trình độ chung của cả tập thể học sinh và giúp cho giáo viên đánh giá chính xác năng lực học tập và nhận thức của từng cá nhân học sinh để kịp thời có biện pháp giúp đỡ, bồi dưỡng thích hợp Kết quả bài kiểm tra của học sinh còn là cơ

sở để dựa vào đó giáo viên có thể phân loại kết quả học tập của học sinh từng lớp;

- Đối với học sinh: Kiểm tra và đánh giá giúp cung cấp những thông tin “liên hệ ngược trong”, giúp cho người học tự điều chỉnh hoạt động học Qua kiểm tra, đánh giá người học tự thấy mình đã tiếp thu những điều đã học đến mức nào, có những lỗ hổng nào cần phải bổ khuyết trước khi bước vào một phần mới của chương trình học tập Cũng qua kiểm tra, đánh giá học sinh còn có cơ hội thể hiện, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, phân tích, tổng hợp,… Kiểm tra và đánh giá còn tạo động cơ khuyến khích học sinh phát huy tinh thần học tập, tự học và nâng cao ý thức tự giác, tổ chức, kỷ luật Học sinh sẽ so sánh kết quả của các bạn và thi đua học tập với bạn bè, đề ra phương hướng phấn đấu, ý chí vươn lên đạt kết quả học tập cao hơn;

- Đối với các cấp quản lý: Kiểm tra, đánh giá cung cấp những thông tin cơ bản

về thực trạng giảng dạy và học để có thể có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích và hỗ trợ những sáng kiến hay, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục Kiểm tra, đánh giá cũng giúp cho các cơ quan quản lý đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo để cấp chứng chỉ, văn bằng được chính xác và có những biện pháp quản lý giáo dục thích hợp

1.2.3 Chức năng của kiểm tra và đánh giá

Chức năng định hướng: Kiểm tra và đánh giá để dự báo khả năng của học sinh

có thể đạt được trong quá trình học tập, đồng thời xác định những điểm mạnh và yếu của học sinh Việc kiểm tra, đánh giá cũng làm cơ sở cho việc lựa chọn bồi dưỡng năng khiếu, đồng thời giúp cho giáo viên có thể chọn cách dạy phù hợp với khả năng của học sinh Kiểm tra, đánh giá thường diễn ra ở giai đoạn trước, thể hiện ở những bài ôn tập, kiểm tra đầu năm, có thể là những bài thử sức ở giai đoạn đầu các môn học theo chương trình phân môn, đó là những cách xác định mức độ nắm tri thức ở người học để dự kiến những khó khăn, từ đó có cách thức tác động phù hợp;

Chức năng chuẩn đoán: Kiểm tra và đánh giá chuẩn đoán nhằm hỗ trợ việc học tập Yêu cầu của kiểm tra và đánh giá chuẩn đoán đòi hỏi phải có cách xử lý thông tin để vừa thâu tóm được các thời điểm khác nhau của quá trình học tập, vừa có tính chất thúc đẩy, củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng tri thức Kiểm tra và đánh

Trang 9

giá chuẩn đoán được tiến hành thường xuyên và cung cấp cho người học những tín hiệu ngược về việc học tập của họ, từ đó giúp họ khắc phục những thiếu sót, điều chỉnh cách học cho phù hợp;

Chức năng xác nhận: Đánh giá xác nhận cung cấp những số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hay chưa hoàn thành nhằm xếp loại người học theo mục đích nào đó, thường được tiến hành sau một giai đoạn học tập Chức năng này có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, đặc biệt là ý nghĩa xã hội của nó Đánh giá xác nhận bộc lộ tính hiệu quả của một hệ thống đào tạo;

Việc đánh giá này đòi hỏi phải thiết lập một ngưỡng trình độ tối thiểu và xác định đúng vị trí kết quả của người học đối với ngưỡng này

1.3 Một số phương pháp kiểm tra đánh giá cơ bản

1.3.1 Phương pháp kiểm tra vấn đáp

Kiểm tra bằng phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên tổ chức hỏi và đáp giữa giáo viên và học sinh, qua đó thu được thông tin về kết quả học tập của học sinh, được sử dụng sau khi học xong một bài hay nhiều bài, một hay nhiều chương hay toàn bộ sách

Kiểm tra vấn đáp có thể sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học cũng như trong khi thi cuối học kì hoặc cuối năm học, học sinh cần trình bày bằng ngôn ngữ nói

Ưu điểm của phương pháp này là: Giáo viên có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người học, nhờ đó có thể đánh giá được thái độ của người học, mặt khác, bằng những câu hỏi đa dạng, giáo viên không chỉ thu thập được thông tin về hiểu biết của người học theo tiêu chuẩn chung mà còn có thể phát hiện ra những năng lực đặc biệt hoặc những khó khăn, thiếu sót của từng cá nhân người học

Nhược điểm của phương pháp này là: Với số lượng câu hỏi rất ít nên khó bao quát toàn bộ chương trình môn học, việc đánh giá bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan, học sinh được hỏi những câu hỏi khác nhau với thời lượng, ở điều kiện không như nhau, do đó ảnh hưởng đến tính khách quan Vấn đáp được sử dụng chủ yếu để kiểm tra kiến thức của người học, phương pháp kiểm tra vấn đáp thường tốn thời gian để tiến hành

1.3.2 Phương pháp kiểm tra viết

Bài kiểm tra viết yêu cầu học sinh xây dựng câu trả lời hoặc làm bài tập do giáo viên giao cho dưới hình thức viết Kiểm tra viết là hình thức kiểm tra phổ biến,

Trang 10

khi học sinh học xong một phần của chương, một chương hay nhiều chương, hoặc sau khi học xong toàn bộ chương trình sách giáo khoa, nội dung kiểm tra có thể bao quát từ vấn đề lớn có tính chất tổng quát đến vấn đề nhỏ, học sinh phải diễn đạt câu trả lời bằng ngôn ngữ viết Xét theo dạng thức của bài kiểm tra có hai loại kiểm tra viết là kiểm tra viết dưới dạng tự luận và kiểm tra viết dưới dạng trắc nghiệm khách quan

1.3.3 Phương pháp trắc nghiệm khách quan

Một bài trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu thường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản hay một từ, một cụm từ Câu trắc nghiệm khách quan bao gồm các loại sau:

- Loại câu nhiều lựa chọn;

- Loại câu đúng – sai;

- Loại câu điền vào chỗ trống;

- Câu ghép đôi

1.3.4 Phương pháp kiểm tra thực hành

Phương pháp kiểm tra thực hành là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động thực tiễn, qua đó thu được những thông tin về kỹ năng thực hành của học sinh

Trong thực tế nhiều yếu tố của các bài kiểm tra thực hành không thể kiểm tra trên giấy bút được nhưng có thể đo lường bằng công cụ và kỹ thuật quan sát

Quan sát trực tiếp, có hệ thống là kỹ thuật quan trọng để thu thập số liệu đánh giá học sinh về kỹ năng, thái độ

Đánh giá kỹ năng bao gồm: Đánh giá cách thức tiến hành hoạt động và đánh giá sản phẩm

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là kiểm tra được kỹ năng thực hành của người học, giúp cho việc rèn luyện kỹ năng, khắc phục tình trạng học tập lý luận xa rời thực tiễn

Tuy nhiên kiểm tra bằng phương pháp này cần nhiều thời gian hơn, công tác tổ chức và việc chuẩn bị công phu hơn so với các phương pháp khác

Trang 11

1.4 Định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá

1.4.1 Thực trạng của việc kiểm tra đánh giá trong giai đoạn hiện nay ở các trường THPT, Trung tâm GDTX, trung tâm KTTH - HN

Hiện nay, việc kiểm tra và đánh giá nói chung vẫn còn phổ biến ở hình thức ra

đề tự luận Kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết (45 phút), … đều bằng thi viết

Câu hỏi kiểm tra chủ yếu dùng tự luận, hình thức này phần nào đã đánh giá được kết quả học tập của trò và phương pháp dạy của thầy, song trong giai đoạn hiện nay nó đã bộc lộ một số hạn chế như:

- Do thời gian làm bài kiểm tra hạn chế trong nên mỗi bài kiểm tra viết bằng hình thức tự luận chỉ tập trung vào một số kiến thức trọng tâm, không bao quát rộng Cũng do đó, học sinh có thể đoán được và chỉ học tủ một số vấn đề và bỏ qua các kiến thức khác Trong quá trình làm bài kiểm tra học sinh có thể quay cóp, sử dụng tài liệu, trao đổi bài, …

- Đề kiểm tra không bao trùm được nội dung học bài, phụ thuộc vào giáo viên ra

đề nên độ tin cậy không cao;

- Việc đánh giá làm bài của học sinh phụ thuộc vào người chấm, mất nhiều thời gian, đôi khi gây cảm giác nặng nề cho giáo viên;

- Kết quả khó xác định đúng trình độ học tập của học sinh do chưa xác định được các chuẩn mực mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh;

- Cách tổ chức kiểm tra đánh giá phức tạp, tốn kém nhất là trong các kỳ thi lớn như thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh vào các trương Đại học, Cao đẳng

Năm học 2005-2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thi trắc nghiệm khách quan cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng với môn Ngoại ngữ Tuy nhiên, ngoài tài liệu hướng dẫn học sinh cách làm bài thi trắc nghiệm, hướng dẫn giáo viên cách coi thi và thu bài thi giáo viên không được hướng dẫn gì thêm Cho nên hình thức kiểm tra và đánh giá này vẫn còn xa lạ đối với học sinh và

cả giáo viên do bởi cả những lý do sau:

- Đa số các trường THPT chưa có phần mềm soạn thảo, chấm điểm và đánh giá hệ thống câu hỏi trắc nghiệm;

- Việc sử dụng hệ thống kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm chỉ được nhà trường khuyến khích giáo viên sử dụng dưới góc độ thử nghiệm;

Trang 12

- Các tổ bộ môn chưa có kế hoạch xây dựng ngân hàng đề thì trắc nghiệm khách quan cho bộ môn mình giảng dạy;

- Đa số các giáo viên chưa nắm bắt được cách thức xây dựng một bài kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan, cách đánh giá một câu hỏi trắc nghiệm theo độ tin cậy và độ phân biệt;

- Học sinh còn ít được kiểm tra, đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan nên chưa có kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm

1.4.2 Tại sao phải đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá

Hiện nay việc kiểm tra và đánh giá ở các trường phổ thông còn chưa được coi trọng và bị phê phán là thiếu chính xác, không đủ độ tin cậy và làm sai lệch chất lượng giáo dục Phần lớn các giáo viên đều quan niệm, việc ra đề kiểm tra cho học sinh đơn giản là có điểm số ghi vào sổ điểm Từ đó, có căn cứ để cuối học kỳ, cuối năm đánh giá học sinh Còn các cán bộ quản lý giáo dục thì cho rằng, đó là công việc của giáo viên chứ không phải của hiệu trưởng Trong tình hình đó vấn đề đổi mới trong đánh giá chất lượng dạy và học đang được quan tâm và cần được nghiên cứu

Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, bởi lẽ dạy học là một quá trình bao gồm các khâu cơ bản như: Thiết kế bài giảng, thực hiện bài giảng và kiểm tra đánh giá

Đổi mới phương pháp dạy học với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng dạy học, trong đó đổi mới kiểm tra đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả của đổi mới dạy học nói chung, do đó phương pháp kiểm tra đánh giá cũng cần phải đổi mới

1.4.3 Định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá

Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải được chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Chừng nào việc kiểm tra đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực

Thống nhất với quan điểm đổi mới phương pháp đánh giá như trên, việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục

Trang 13

tiêu giáo dục môn học ở từng lớp, cấp Các câu hỏi bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định

Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh, bộ công cụ đánh giá được bổ sung các hình thức đánh giá khác nhau như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm, chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm Điều này đòi hỏi giáo viên bộ môn đầu tư nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm và giám sát hoạt động này

Xóa bỏ tư tưởng thành tích trong đánh giá, xóa bỏ dạy thêm, học thêm tràn lan

ở các cấp học

Xây dựng ngân hàng đề thi kiểm tra theo qui trình khoa học và trình độ chuẩn của chương trình để tiến tới kiểm tra đồng loạt trong phạm vi cả nước hoặc từng vùng theo các bộ đề chung cho từng giai đoạn học tập

1.4.4 Định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập các môn Nghề phổ thông

Việc kiểm tra đánh giá bao gồm cả lý thuyết và thực hành, hình thức có thể là

tự luận hoặc trắc nghiệm, kiểm tra vấn đáp, trên giấy hoặc trên máy Nội dung các môn Nghề phổ thông rất thuận lợi cho ra đề thi trắc nghiệm Do đó cần tăng cường

sử dụng phương pháp này để có thể kiểm tra trên phạm vi kiến thức rộng và tiết kiệm thời gian

Đặc điểm khá đặc trưng của môn Nghề phổ thông là kiến thức đi đôi với thực hành Tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều phần thực hành Có nhiều phần cần nắm chắc nguyên lý hoạt động trước khi có thể thao tác trực tiêp trên máy móc

Có thể đánh giá học sinh thông qua:

- Mức độ nắm vững kiến thức cơ bản: có thể thực hiện thông qua bài kiểm tra bằng trắc nghiệm;

- Mức độ thành thạo các kĩ năng: Thông qua các bài tập thực hành, thao tác trên máy và tạo ra các sản phẩm;

- Khả năng giải quyết vấn đề thể hiện qua khả năng biết đề xuất phương hướng giải quyết và biết lựa chọn công cụ thích hợp để giải quyết: có thể thực hiện kiểm tra bằng giao vấn đề, bài tập lớn;

Trang 14

2 Phương pháp kiểm tra trắc nghiệm

2.1 Khái niệm, phân loại

2.1.1 Khái niệm

Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định

Trắc nghiệm mà đối tượng là con người có thể được hiểu theo định nghĩa sau:

“Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học cho phép dùng một loạt những tác động xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng thực nghiệm với mục tiêu đi tới những mệnh đề lượng hóa tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu”

Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học, trắc nghiệm phải được phát triển dựa trên những quy tắc có căn cứ khoa học, chẳng hạn: thử nghiệm trắc nghiệm, phân tích bài tập, đánh giá độ tin cậy và xác định tính hiệu quả

Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào một khoá học

2.1.2 Phân loại

Có thể chia trắc nghiệm ra thành 3 loại như sau:

1 Loại quan sát: Giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô ý thức, những

kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu

2 Loại vấn đáp: Có tác dụng tốt khi nêu các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn, …

3 Loại viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau:

- Cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời;

- Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm;

Trang 15

Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm: Trắc nghiệm Tự luận (Essay) và Trắc nghiệm Khách quan (Objective test)

- Trắc nghiệm tự luận (Essay): Là nhóm các câu hỏi trắc nghiệm buộc trả lời theo dạng mở, học sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn

đề mà câu hỏi nêu ra Phương pháp tự luận này khá quen thuộc với tất cả mọi người;

- Trắc nghiệm khách quan (Objective test): Là nhóm các câu trắc nghiệm mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu

Ta có sơ đồ về các phương pháp trắc nghiệm như sau:

2.2 Phương pháp kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

2.2.1 Các kiểu câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm

Trắc nghiệm khách quan được chia thành các kiểu câu hỏi cơ bản sau:

a Trắc nghiệm Đúng/Sai (Yes/No questions)

Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải là câu hỏi), học sinh đưa ra nhận định và lựa chọn một trong hai phương án trả lời Đúng hoặc Sai

Loại câu hỏi này có 50% xác suất trả lời đúng nên chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sự kiện, khái niệm, công thức Chúng thường đòi hỏi trí nhớ, ít

Trang 16

với việc soạn câu hỏi nhiều lựa chọn Ngoài ra nó cũng mang tính chất khách quan khi chấm điểm

Nhược điểm:

- Khó dùng để chẩn định yếu điểm của học sinh;

- Có độ tin cậy thấp;

Các lưu ý khi soạn câu trắc ngiệm “đúng – sai”:

ràng;

nghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai;

- Tránh dùng các câu ở thể phủ định;

- Nên cố viết những câu để áp dụng kiến thức đã học;

- Nên dùng các từ định lượng hơn định tính để chỉ các số lượng;

- Tránh khuynh hướng dùng số câu trả lời đúng nhiều hơn câu sai hay ngược lại

b Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choice questions)

Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất Loại này thường có hai phần: phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi; phần sau là các phương án để chọn thường được dấnh dấu bằng các chữ cái

A, B, C, D hoặc các số 1, 2, 3, 4 Trong các phương án đã chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu, còn gọi là câu mồi Do vậy khi các câu lựa chọn được chuẩn bị tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn về vấn đề đó sẽ không thể

Trang 17

nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu

Ưu điểm:

mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau như:

+ Xác định mối tương quan “nhân – quả”

+ Nhận biết các điều sai lầm

+ Ghép các kết quả hay điều quan sát với nhau

+ Định nghĩa các thành ngữ

+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện

+ Nhận biết đặc điểm tương đồng hay dị biệt giữa 2 hay nhiều vật + Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ các sự kiện

+ Xác định thứ tự hay cách xếp đặt giữa nhiều vật

+ Xác định nhiều vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm

- Độ tin cậy cao hơn Yếu tố đoán mò may rủi giảm đi so với các loại TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên;

- Học sinh phải xét đoán và phân biệt rõ ràng khi trả lời các câu hỏi;

- Tính chất giá trị tốt hơn Loại trắc nghiệm này có độ giá trị cao hơn nhờ tính chất có thể dùng đo mức độ tư duy khác nhau;

tích tính chất mỗi câu hỏi, chúng ta có thể xác định câu hỏi nào quá dễ, câu hỏi nào quá khó, câu hỏi nào mơ hồ hay không có giá trị với mục tiêu cần trắc nghiệm;

Trang 18

- Thí sinh có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phương

án đúng đã cho, nên họ có thể không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu;

được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự suy luận soạn kỹ

Các lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn:

Các câu trả lời để chọn phải là các câu khả dĩ thích hợp với vấn đề đã nêu;

trả lời để chọn nên ngắn gọn;

- Nên bỏ bớt các chi tiết không cần thiết;

- Tốt nhất nên có 4 phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi;

- Nên tránh 2 thể phủ định liên tiếp;

- Các câu trả lời để chọn phải có vẻ hợp lý;

- Phải chắc chắn chỉ có một câu trả lời đúng;

- Độ dài của các câu trả lời trong các phương án cho sẵn để chọn phải gần bằng nhau;

- Các câu trả lời trong các phương án để chọn lựa phải đồng nhất với nhau;

- Các câu trả lời nhằm đo sự hiểu biết, suy luận, hay khả năng áp dụng các nguyên lý vào những trường hợp mới nên được trình bày dưới hình thức mới;

in đậm chữ “không” để nhắc học sinh thận trọng khi trả lời;

Trang 19

- Rất hạn chế dùng các phương án như: Các câu trên đều đúng; Các câu trên đều sai; Em không biết; Một kết quả khác…

c Trắc nghiệm điền khuyết (supply items)

Còn được gọi là trả lời ngắn (short answer), đây là dạng trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tương đối tự do Thường chúng ta nêu ra một mệnh đề có khuyết một bộ phận, học sinh nghĩ ra nội dung trả lời thích hợp để điền vào chỗ trống, thường là những câu trả lời có nội dung ngắn ngọn hoặc một vài từ

- Loại này rất thích hợp cho những vấn đề như tính toán, cân bằng phương trình hóa học, nhận biết các vùng trên bản đồ, giản đồ;

- Giúp học sinh luyện trí nhớ và vận dụng chúng trong giờ học

Khuyết điểm:

- Người soạn thường trích nguyên văn các câu trả lời từ sách giáo khoa;

- Khi có nhiều chỗ chừa trống trong câu hỏi, người làm sẽ rối trí hơn

Các lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm điền khuyết :

- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh viết các câu diễn tả mơ hồ;

học thuộc lòng;

được câu trả lời

d Trắc nghiệm ghép đôi (matching items)

Có thể xem đây là một dạng đặc biệt của dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, dạng câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi (hay câu dẫn) một cột là những câu trả lời (hay còn gọi là câu lựa chọn), yêu cầu học

Trang 20

sinh phải tìm cách ghép các câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột khác sau cho hợp

- Người ta có thể dùng trắc ngiệm loại ghép đôi để đo các mức trí năng khác nhau Nếu được khéo léo soạn thảo, loại trắc nghiệm này có thể được dùng như loại có nhiều trả lời cho sẵn để tránh trắc nghiệm ở những mức trí năng cao hơn

- Dễ trả lời thông qua loại trừ;

Các lưu ý khi soạn câu hỏi ghép đôi:

- Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một phần tử của cột trả lời và phần

tử tương ứng của cột câu hỏi;

- Số phần tử để chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số phần tử trong cột câu hỏi hoặc mỗi phần tử trong cột trả lời có thể dùng nhiều lần;

- Các câu hỏi nên có tính chất đồng nhất hoặc liên hệ nhau

2.2.2 Các nguyên tắc, yêu cầu, mức độ nhận thức khi ra đề kiểm tra và thi trắc

nghiệm khách quan

Việc ra đề thi dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ học sinh ở 6 mức độ từ đơn giản đến phức tạp: Nhận biết, ghi nhớ tri thức; Thông hiểu, lí giải; Vận dụng; Phân tích; Tổng hợp; Đánh giá, bình xét Trước hết học sinh phải nhớ các kiến thức đơn giản đó là nền tảng vững vàng có thể phát triển năng lực nhận thức ở mức độ khác nhau của nhận thức Tùy theo tính chất, yêu cầu của mỗi kỳ thi để định ra lượng kiến thức đưa vào phù hợp với từng mức độ nhận thức

Trang 21

Đề thi, kiểm tra phải có độ khó hợp lý, phù hợp với thời gian làm bài của học sinh, tránh những đề thi hoặc đề kiểm tra đánh đố học sinh Không nên ra đề thi, kiểm tra kiểu phải học thuộc lòng, học vẹt Đề thi, kiểm tra phải đánh giá được khả năng lý giải, ứng dụng, phân biệt và phán đoán của học sinh

Nội dung đề thi, kiểm tra tập trung đánh giá phạm vi kiến thức rộng, bao quát chương trình học, tránh tập trung nhiều vào những mảnh nhỏ kiến thức sẽ dẫn đến mảnh rời rạc, chắp vá trong kiến thức của học sinh

Đề thi hoặc đề kiểm tra phải đảm bảo chuẩn về kiến thức và kỹ năng:

2.2.2.1 Về kiến thức: (với 6 mức độ nhận thức)

a Nhận biết:

Nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin là mức độ yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một

sự vật, một hiện tượng

Học sinh phát biểu đúng một định nghĩa, định lý, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng

Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết như sau:

- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lý, tính chất;

đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản;

- Liệt kê, xác định các vị trí đối tượng, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố

b Thông hiểu:

Hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng Giải thích được, chứng minh được, là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã biết

Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu như sau:

- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân về khái niệm, định lý, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác;

Trang 22

- Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa của khái niệm, định nghĩa, định lý, định luật;

- Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó;

- Sắp xếp lại lời giải bài toán theo cấu trúc logic

c Vận dụng:

Vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên

lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

Yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định

lý, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc trong thực tiễn Đây là mức độ cao hơn của mức độ thông hiểu ở trên

Có thể cụ thể hóa mức độ vận dụng như sau:

- So sánh các phương án giải quyết vấn đề;

- Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được;

nghĩa, định lý, tính chất đã biết;

lẻ sang tình huống mới, tình huống mới phức tạp hơn

d Phân tích:

Chia thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc,

tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng

Yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối liên hệ giữa các

bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lý cấu trúc của các bộ phận cấu thành Đây

là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật hiện tượng

Có thể cụ thể hóa mức độ phân tích như sau:

đề;

- Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành

Trang 23

e Tổng hợp:

Sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên

cơ sở đó tạo lập nên một mô hình mới

Yêu cầu tạo ra được một chủ đề mới, một vấn đề mới Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo đặc biệt là trong việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới

Có thể cụ thể hóa mức độ tổng hợp như sau:

- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh;

- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ;

biết ban đầu

f Đánh giá:

Bình xét, nhận định, xác định được các giá trị của một tư tưởng, một phương pháp hay một nội dung kiến thức Đây là một bước tiến mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng

Yêu cầu xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng được để đánh giá Đây

là mức độ cao nhất của nhận thức và nó chứa đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức trên

Có thể cụ thể hóa mức độ đánh giá như sau:

- Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi và chất các

sự vật, hiện tượng;

- Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin, tư liệu theo một mục đích, yêu cầu xác định;

- Xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng để đánh giá thông tin, sự vật, sự kiện

2.2.2.2 Về kỹ năng:

Với 2 mức độ là: Làm được (biết làm) và thông thạo (làm thành thạo)

2.2.3 Ưu, nhược điểm của phương pháp kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

* Ưu điểm:

Trang 24

- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, từng khía cạnh khác nhau;

dàn trải khá lớn;

- Tốn ít thời gian thực hiện trong khâu chấm bài;

- Giúp giáo viên có thể dùng các phương pháp thống kê toán học nhằm phát hiện được sự tiếp thu đồng bộ hay không trong lớp học;

- Cho phép lượng hoá được việc giảng dạy;

- Học sinh có thể tự đánh giá bài làm của mình;

- Giúp cho học sinh kỹ năng phán đoán 1 vấn đề;

- Do cần có thao tác và tư duy nhanh nên tránh được quay cóp

* Nhược điểm:

- Tổ chức thi tốn kém thời gian và chi phí, phải huy động nhiều phòng thi để tổ chức thi nghiêm túc;

sự nghiêm túc (do thí sinh dễ dàng trao đổi kết quả bài làm và nhìn bài của thí sinh khác);

luận, làm văn hay giải toán sáng tạo);

do thí sinh không có cơ hội tự trình bày toàn bộ hiểu biết về vấn đề được hỏi;

không thực sự học để lấy kiến thức, hiểu sâu vấn đề;

- Có nguy cơ đẩy người học rơi vào tình trạng học với mục đích tái tạo lại kiến thức chứ không phải là vận dụng kiến thức

Trang 25

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC

NGHIỆM NGHỀ PHỔ THÔNG

1 Tiêu chuẩn đánh giá một bài trắc nghiệm khách quan

Với những ưu khuyết điểm như phân tích ở trên, nhóm tác giả xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan bao gồm các câu trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn

Khi xây dựng câu hỏi, bài toán trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn phải

đảm bảo các tiêu chuẩn của nó thì mới đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy khi sử dụng

Câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có các tiêu chuẩn định tính và định

lượng

* Tiêu chuẩn định lượng

- Theo nhiều tác giả, các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dùng

để đánh giá thành quả học tập thường có độ khó trong khoảng 20 → 80%, tốt nhất nằm trong khoảng 40 → 60%, độ phân biệt từ 0,2 trở lên, độ tin cậy của bài trắc nghiệm phải từ 0,6 → 1,0; …

2 Đánh giá chất lượng câu trắc nghiệm khách quan

Để đánh giá chất lượng của câu trắc nghiệm khách quan (TNKQ) hoặc của đề thi TNKQ, người ta thường dùng một số đại lượng đặc trưng

* Độ khó (hoặc độ dễ)

Khi nói đến độ khó, ta phải xem xét câu TNKQ là khó đối với đối tượng nào Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp, người ta có thể xác định độ khó như sau:

Chia loại HS làm 3 nhóm:

- Nhóm giỏi: gồm 27% số HS có điểm cao nhất của kì kiểm tra

- Nhóm kém: Gồm 27% số HS có điểm thấp của kì kiểm tra

- Nhóm trung bình: Gồm 46% số HS còn lại, không phụ thuộc hai nhóm trên

Trang 26

K =

NK: Số HS thuộc nhóm kém trả lời đúng câu hỏi n: Tổng số HS nhóm giỏi (hoặc nhóm kém)

Thang phân loại độ khó được qui ước như sau:

- Câu dễ: 80% - 100% HS trả lời đúng

- Câu trung bình: 60% - 79% HS trả lời đúng

- Câu tương đối khó: 40% - 59% HS trả lời đúng

- Câu khó: 20% - 39% HS trả lời đúng

- Câu rất khó: dưới 20% HS trả lời đúng

Trong kiểm tra đánh giá nếu câu trắc nghiệm có độ khó:

P = (NG - NK)/n Thang phân loại độ phân biệt được qui ước như sau:

- Tỉ lệ HS nhóm giỏi và nhóm kém là đúng như nhau thì độ phân biệt bằng 0

- Tỉ lệ HS nhóm giỏi làm đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ phân biệt là dương (độ phân biệt dương nằm trong khoảng từ 0 - 1)

- Tỉ lệ thí sinh nhóm giỏi làm đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân biệt là âm

Cụ thể như sau:

0 < P < 0,2: Độ phân biệt rất thấp giữa HS giỏi và HS kém

0,2 < P < 0,4: Độ phân biệt thấp giữa HS giỏi và HS kém

0,4 < P < 0,6: Độ phân biệt trung bình giữa HS giỏi và HS kém

Trang 27

0,6 < P < 0,8: Độ phân biệt cao giữa HS giỏi và HS kém

0,8 < P < 1: Độ phân biệt rất cao giữa HS giỏi và HS kém

- Những câu có P > 0,32: Dùng được

- P từ 0,22 - 0,31: Nên thận trọng khi dùng

- P < 0,22: Không dùng được

* Độ tin cậy

Trắc nghiệm là một phép đo lường để biết được năng lực của đối tượng được

đo Tính chính xác của phép đo lường này rất quan trọng Độ tin cậy của bài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm Toán học thống kê cho nhiều phương pháp để tính độ tin cậy của một bài trắc nghiệm: hoặc dựa vào sự ổn định của kết quả trắc nghiệm giữa hai lần đo cùng một nhóm đối tượng hoặc dựa vào sự tương quan giữa kết quả của các bộ phận tương đương nhau trong một bài trắc nghiệm

Cách tính tính độ tin cậy dựa vào sự tương quan giữa kết quả của các bộ phận tương đương nhau trong một bài trắc nghiệm (theo phương pháp của Rulon):

r =

- k: Số câu hỏi của bài trắc nghiệm

- p: Tỉ lệ thí sinh trả lời đúng câu hỏi i

- q: Tỉ lệ thí sinh trả lời sai câu hỏi i

- 2: Phương sai lệch chuẩn của bài trắc nghiệm

Bài trắc nghiệm tin cậy là bài trắc nghịêm có độ tin cậy 0,6 < r < 1,0

* Độ giá trị

Yêu cầu quan trọng nhất của bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đo lường trong giáo dục là nó đo được cái cần đo Phép đo bởi bài trắc nghiệm đạt được mục tiêu đó là phép đo có giá trị

Độ giá trị của bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu

đề ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm

Để bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, cần xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đưa ra qua bài trắc nghiệm và phải bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng các bài toán trắc nghiệm, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cũng tổ chức kỳ thi Nếu thực hiện không đúng qui trình trên thì có khả năng kết quả của phép đo sẽ phản ánh một cái gì

Trang 28

những phương pháp xác định độ giá trị của kỳ thi là tính xem kết quả của kỳ thi đó trên một nhóm HS có tương quan chặt chẽ tới kết quả học tập ở bậc cao hơn của nhóm HS đó hay không

3 Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan các nghề phổ thông

Nhóm tác giả xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho 5 nghề phổ thông đang được giảng dạy tại trung tâm Tin học ngoại ngữ và hướng nghiệp tỉnh Ninh Bình: Nghề Điện dân dụng, nghề Cắt may, nghề Thêu tay, nghề điện tử, nghề Sửa chữa xe máy Mỗi nghề gồm 60 câu hỏi trắc nghiệm, và được bổ sung dần theo từng năm học

Các bước thực hiện:

Bước 1: Xây dựng bảng trọng số các môn nghề:

Phân tích chương trình giảng dạy từng môn nghề, phân chia những nội dung

trọng tâm để chia đều câu hỏi trắc nghiệm cho toàn bộ chương trình học, những nội

dung trọng tâm, nhiều kiến thức thì số lượng câu hỏi sẽ nhiều và ngược lại

(Phụ lục 1) Bước 2: Viết câu hỏi trắc nghiệm theo số lượng đã định cho từng chương ở

trên bước 1

Bước 3: Đánh giá định tính câu hỏi trắc nghiệm: Sau khi viết xong các câu

trắc nghiệm, sẽ đánh giá, kiểm tra và chỉnh sửa để đảm bảo nội dung phải chính xác

và đạt yêu cầu sau:

- Câu dẫn: Phải bao hàm tất cả những thông tin cần thiết về vấn đề được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và hoàn chỉnh

- Các phương án chọn: Phương án chọn phải bảo đảm là chính xác hoặc chính xác nhất Câu nhiễu phải có tính hấp dẫn và có vẻ hợp lý đối với người chưa nắm vững vấn đề Các phương án chọn phải tương tự hoặc đồng nhất về mặt ngữ pháp

Bước 4: Đánh giá định lượng bộ câu hỏi trắc nghiệm: Để thực hiện được việc

này các tác giả phải đưa bộ câu hỏi trắc nghiệm vào các bài kiểm tra cho học sinh thực hiện sau đó sẽ tổng hợp kết quả và tính các thông số như độ khó, độ phân biệt,

độ giá trị và độ tin cậy của các câu trắc nghiệm và cả bộ câu hỏi trắc nghiệm Sau đó

sẽ loại những câu không đảm bảo các tiêu chuẩn về độ khó, độ phân biệt

Kết quả cuối cùng sau khi thực hiện các bước trên, nhóm tác giả đã xây dựng được một ngân hàng 300 câu trắc nghiệm khách quan đảm bảo tiêu chuẩn về định tính và định lượng của 5 nghề phổ thông đang giảng dạy tại trung tâm:

Trang 29

3.1 Bộ câu hỏi trắc nghiệm nghề Điện dân dụng

Câu 1: Nối đất bảo vệ là:

A Nối dây trung tính vào một cực tiếp điện của thiết bị điện

B Nối dây trung tính xuống đất

C Nối phần vỏ kim loại của thiết bị điện xuống đất

D Nối phần vỏ cách điện của thiết bị điện xuống đất

Câu 2: Nối trung tính bảo vệ là:

A Nối dây trung tính vào một cực tiếp điện của thiết bị điện

B Nối dây trung tính xuống đất

C Nối phần vỏ kim loại của thiết bị điện vào dây trung tính

D Nối phần vỏ cách điện của thiết bị điện vào dây trung tính

Câu 3: Trong các thiết bị điện sau, thiết bị nào cần thực hiện "nối đất bảo vệ"?

A Quạt điện B Ti vi C Tủ lạnh D Điều hòa Câu 4 : Trong nối đất bảo vệ, cọc tiếp đất thường được chôn cách mặt đất bao nhiêu

mét?

A 0,8÷1m B 0,5÷0,8m C 1÷1,5m D 2÷3m Câu 5: Để đo công suất của thiết bị điện ta dùng dụng cụ đo điện nào?

A Vôn kế B Ampe kế C Ôm kế D Oát kế Câu 6: Vạn năng kế đo được những đại lượng điện nào?

A Điện trở, dòng điện, điện áp

B Điện trở, dòng điện, điện áp, công suất

C Điện trở, điện áp, điện năng tiêu thụ

D Dòng điện, điện năng tiêu thụ, công suất

Câu 7 : Khi mạch điện bị đứt, giá trị điện trở đo được trên ôm kế là:

Trang 30

A Vôn kế B Ampe kế C Oát kế D Ôm

kế

Câu 10 : Một ampe kế có các thang đo là 0,5A – 1A – 3A – 5A – 7A – 10A Nếu

dùng ampe kế đó để đo dòng điện chạy qua một bàn là có công suất 1000W thì ta chọn thang đo nào, biết điện áp sử dụng là 220V?

Câu 11: Khi dùng vạn năng kế để phát hiện đứt mạch hoặc chập mạch thì khóa

chuyển mạch trên vạn năng kế cần chuyển về vị trí nào?

Câu 12: Biết “một số điện ở công tơ” bằng 1KWh Khi sử dụng liên tục một máy

bơm nước có công suất 1000W trong 2 ngày đêm, thì công tơ điện tăng lên bao nhiêu số?

A Tăng lên 20 số B Tăng lên 24 số

C Tăng lên 48 số D Tăng lên 36 số

Câu 13: Để đo điện năng tiêu thụ, ta dùng dụng cụ đo kiểu:

A Từ điện B Cảm ứng C Điện động D Điện từ Câu 14: Một chiếc nồi cơm điện khi cắm vào ổ cắm không thấy đèn sáng và nồi

nóng lên Có thể dây cắm bị đứt ngầm bên trong, để kiểm tra điều đó có đúng không

ta dùng dụng cụ đo nào sau đây?

Câu 15 : Đại lượng nào là năng lượng ánh sáng của nguồn sáng phát ra trong một

đơn vị thời gian?

A Quang thông B Độ rọi

C Cường độ sáng D Độ chói

Câu 16: Đại lượng nào dưới đây có vai trò quan trọng trong thiết kế chiếu sáng?

A Quang thông B Độ rọi

C Cường độ sáng D Độ chói

Câu 17: Hiện nay sử dụng bóng đèn compact phổ biến hơn đèn sợi đốt vì:

A Không ảnh hưởng đến thị lực B Tiết kiệm điện

C Dễ lắp đặt và sửa chữa D Giá thành rẻ

Câu 18: Tiêu chuẩn độ rọi E cho hành lang, cầu thang, nhà vệ sinh là:

Trang 31

A 300lx B 400lx C 100lx D 200lx

Câu 19: Tiêu chuẩn độ rọi E cho một lớp học yêu cầu chiếu sáng trên trung bình là:

Câu 20: Sơ đồ nguyên lí:

A Dùng để sửa chữa và lắp đặt mạch điện

B Dùng để dự trù vật liệu

C Dùng để biểu thị vị trí lắp đặt

D Dùng để nghiên cứu nguyên lí hoạt động của mạch điện và các thiết bị

điện

Câu 21: Trong sơ đồ điện, kí hiệu sau là của thiết bị điện nào?

Câu 22: Trong sơ đồ điện, kí hiệu sau là của thiết bị điện nào?

Câu 23: Trong mạch điện đèn cầu thang, người ta sử dụng hai công tắc loại nào?

A Công tắc 3 cực B Công tắc đơn

C Công tắc đôi D 1 công tắc đơn, 1 công tắc đôi

Câu 24: Trong tính toán chiếu sáng, công thức tính quang thông tổng là:

A

sd

k

ES k



Câu 25: Đại lượng nào dưới đây có đơn vị tính là Cd/m2?

A Quang thông B Độ rọi

Trang 32

Câu 27: Một ổ điện ngoài vỏ ghi 220V - 15A Hỏi ổ điện này có thể sử dụng cho

thiết bị điện có công suất tối đa là:

điện gồm: một quạt tường 220V - 40W mắc song song với một ấm điện 220V - 1000W?

Câu 32: Quang thông phát ra từ nguồn sáng điện phụ thuộc vào những yếu tố nào?

A Điện áp của nguồn sáng

B Điện trở của thiết bị chiếu sáng

C Loại thiết bị chiếu sáng và công suất tiêu thụ điện

D Dòng điện của nguồn sáng

Câu 33: Công thức tính tốc độ từ trường quay là:

Câu 34: Giữa RÔTO và STATO của động cơ điện có:

A Ống ghen B Lớp sơn cách điện

Trang 33

C Lớp giấy cách điện D Khe hở không khí

Câu 35: Trong động cơ điện một pha chạy tụ, cuộn dây làm việc có:

A Tiết diện dây lớn hơn và ít vòng

B Tiết diện dây nhỏ hơn và ít vòng

C Tiết diện dây lớn hơn và nhiều vòng

D Tiết diện dây nhỏ hơn và nhiều vòng

Câu 36: Động cơ điện có 2 bộ phận chính là:

A RÔTO và STATO

B STATO có vòng ngắn mạch và STATO có cuộn dây phụ

C Các lá thép RÔTO và STATO

D RÔTO lồng sóc và RÔTO dây quấn

Câu 37: Động cơ điện là thiết bị biến đổi điện năng thành:

A Cơ năng B Quang năng C Nhiệt năng D Hóa năng

Câu 38: Động cơ điện dùng vòng ngắn mạch có ưu điểm:

A Mômen mở máy lớn, hiệu suất cao

B Cấu tạo phức tạp, độ bền cao

C Cấu tạo đơn giản, làm việc chắc chắn, độ bền cao, dễ sửa chữa

D Độ bền thấp, khó sửa chữa, cấu tạo phức tạp

Câu 39: Động cơ điện nào có rôto nằm ngoài stato?

A Quạt tường B Quạt bàn

Câu 40: Để thay đổi vô cấp tốc độ động cơ điện xoay chiều một pha người ta sử

dụng cách nào sau đây?

A Sử dụng tụ điện

B Dùng cuộn điện kháng

C Thay đổi số vòng dây Stato

D Dùng mạch điều khiển bán dẫn và tiristo

Câu 41: Trong động cơ điện một pha có vòng ngắn mạch, vòng ngắn mạch có tác

dụng gì?

A Khởi động động cơ B Tăng tốc độ động cơ

Trang 34

Câu 42: Thông số nào của máy bơm nước cho biết lượng nước bơm được trong một

đơn vị thời gian?

C Chiều cao cột nước bơm D Chiều sâu cột nước hút

Câu 43: Một máy sấy tóc Uđm = 220V, dây điện trở gồm hai nhánh mắc nối tiếp với nhau Mỗi nhánh dây có điện trở là 200Ω Vậy công suất là:

Câu 44: Một động cơ điện không đồng bộ 1 pha có 8 cực từ Từ trường quay có tốc

độ 750 vòng/phút Động cơ này sử dụng dòng điện có tần số là bao nhiêu?

Câu 45: Trên nhãn hiệu một động cơ điện ghi 220V - 60Hz; n

1 = 1200 vòng/phút Động cơ điện này có bao nhiêu cặp cực từ?

A 2 cặp B 3 cặp C 4 cặp D 1 cặp

Câu 46: Một động cơ điện không đồng bộ 1 pha có 3 cặp cực từ, động cơ này sử

dụng dòng điện tần số 50Hz Vậy tốc độ từ trường quay là:

C 750 vòng/phút D 1000 vòng/phút

Câu 47: Máy biến áp làm việc phát ra tiếng ồn là do:

Câu 48: Dây quấn máy biến áp thường được chế tạo bằng kim loại nào?

Câu 49: Máy biến áp giảm áp có hệ số biến áp K là:

A K = 1 B K ≥ 1 C K > 1 D K < 1

Câu 50: Máy biến áp không dùng để biến đổi điện áp của nguồn điện:

A Một chiều B Xoay chiều một pha

C Xoay chiều D Xoay chiều ba pha

Câu 51: Công dụng của máy biến áp trong truyền tải và phân phối điện năng là:

A Đo điện áp truyền tải B Tăng hoặc giảm điện áp truyền tải

C Đo dòng điện truyền tải D Đo công suất truyền tải

Trang 35

Câu 52: Nguyên lí làm việc của máy biến áp dựa trên:

A Từ trường biến đổi B Lực điện từ

C Từ trường quay D Hiện tượng cảm ứng điện từ

Câu 53: Dây quấn máy biến áp gồm:

A Dây quấn sơ cấp, dây quấn thứ cấp

B Dây quấn chính, dây quấn phụ

C Dây quấn cao thế, dây quấn hạ thế

D Dây quấn làm việc, dây quấn khởi động

Câu 54: Máy biến áp có U

2 = 220V; I

2 = 25A thì công suất định mức là:

A 4000VA B 4500VA C 5500VA D 5000VA

Câu 55: Máy biến áp có U

1 = 220V, U

2 = 110V; N

1 = 900 vòng Tính số vòng dây quấn thứ cấp?

A 500 vòng B 300 vòng C 450 vòng

D 350 vòng

Câu 56: Máy biến áp có công suất sơ cấp là 50VA, hiệu suất là 0,8 Vậy công suất

thứ cấp là:

Câu 57: Lõi thép máy biến áp được ghép bằng những lá thép kĩ thuật điện mỏng để:

A Giảm trọng lượng máy

B Tiết kiệm vật liệu

C Giảm tiếng ồn khi hoạt động

D Giảm tổn hao năng lượng (tổn hao phucô)

Câu 58 : Công thức tính tỉ số biến áp là:

U N I k

U N I

U N I k

U N I

U N I k

U N I

Câu 59: Một máy biến áp có số vòng dây sơ cấp gấp 4 lần số vòng dây thứ cấp Nếu

điện áp sơ cấp giảm đi một nửa thì ta phải thay đổi số vòng dây thứ cấp như thế nào

để điện áp đầu ra không thay đổi (giữ nguyên số vòng dây sơ cấp)?

Trang 36

C Giữ nguyên D Tăng lên 4 lần

Câu 60: Trong mạch từ (lõi thép) của máy biến áp, thành phần Silic có tác dụng gì?

A Giảm tổn hao điện năng B Tăng độ bền cho mạch từ

C Giảm trọng lượng máy biến áp D Tăng tuổi thọ cho máy biến áp 3.2 Bộ câu hỏi trắc nghiệm nghề Thêu tay:

Câu 1 Đâu là vật liệu thêu?

Câu 2 Dụng cụ thêu tay là:

Câu 5 Có những cách sang mẫu vào nền hàng nào?

A Qua giấy than, qua ánh sáng

B Qua ánh sáng, qua mẫu châm thủng

C Qua mẫu châm thủng, qua giấy than

D Qua giấy than, qua ánh sáng, qua mẫu châm thủng

Câu 6 Kiểu sang mẫu vào nền hàng tối màu được nhanh và nhiều nhất:

Câu 7 Khi nào nên sử dụng kiểu sang mẫu qua mẫu châm thủng ?

A Trường hợp nào cũng nên sang mẫu

B Khi mẫu có kích thước nhỏ

C Nền hàng trắng mỏng

D Nền hàng màu sẫm cần in nhiều, nhanh

Trang 37

Câu 8 Để sang mẫu vào nền hàng trắng, mỏng thường sử dụng cách sang mẫu nào?

A Qua giấy than

B Qua ánh sáng

C Qua mẫu châm thủng

D Qua giấy than và mẫu châm thủng

Câu 9 Cách bố trí mẫu thêu ở khăn tay:

Câu 10 Đâu không phải là bước trong quy trình căng khung bộ?

A Trải phẳng nền hàng

B Cuốn khung, cuộn nền hàng

C Làm căng nền hàng theo chiều dọc và chiều ngang

D Sang mẫu vào nền hàng

Câu 11 “ là cách thêu các canh chỉ nối tiếp nhau, đầu canh chỉ sau nối với cuối

canh chỉ trước tạo nên các đường thẳng, cong, uốn lượn” cụm từ cần điền vào dấu

ba chấm là:

Câu 12 Phương pháp nào thường sử dụng thêu lá tre, trúc, liễu?

Câu 13 Khi thêu nối đầu chỗ đường cong lượn ta thực hiện:

A Tăng độ dài canh chỉ

B Giữ nguyên độ dài canh chỉ

C Giảm độ dài canh chỉ

D Thêu xen kẽ một canh chỉ ngắn, một canh chỉ dài

Câu 14 Thêu nối đầu là cách thêu:

A Canh chỉ sau đè lên canh chỉ trước

B Đầu canh chỉ sau nối với cuối canh chỉ trước

C Các canh chỉ vuông góc với nét vẽ

Trang 38

Câu 15 “ là cách thêu thể hiện đường thẳng, cong, lượn uyển chuyển, sắc nét,

canh chỉ sau đè lên canh chỉ trước tạo thành đường thêu tròn lẳn” cụm từ cần điền

vào dấu ba chấm là:

Câu 16 Yêu cầu kĩ thuật của thêu lướt vặn:

A Mặt thêu óng mượt, mịn màng

B Mặt thêu phẳng mịn, chân chỉ đều

C Mặt thêu phẳng, không gồ ghề

D Đường thêu tròn lẳn, mượt mà

Câu 17 Thêu lướt vặn dùng để:

A Thêu râu rồng, râu bướm, cành cây nhỏ, xương lá

B Thêu mái ngói, nhà lá Việt Nam

C Thêu hoa cúc cánh dài nhọn ( phần cánh)

D Thêu nhị hoa, mào chim hạc

Câu 18 Khi thêu lướt vặn đường cong lượn, ta thực hiện:

A Tăng độ dài canh chỉ

B Giữ nguyên độ dài canh chỉ

C Giảm độ dài canh chỉ

D Thêu xen kẽ một canh chỉ ngắn, một canh chỉ dài

Câu 19 Trong thêu lướt vặn: Giảm dần khoảng cách lên kim đồng thời tăng dần

khoảng cách ốp lên canh chỉ trước ta sẽ được:

Câu 20 Thêu xương lá, cành cây nhỏ thường sử dụng:

Câu 21 Trong thêu lướt vặn: Tăng dần khoảng cách lên kim đồng thời giảm dần

khoảng cách ốp lên canh chỉ trước ta sẽ được:

Ngày đăng: 06/06/2016, 06:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ dưới đây: - skkn xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo chuẩn định tính và định lượng các môn giáo dục nghề phổ thông sử dụng trong kiểm tra, đánh giá và thi nghề phổ thông
Sơ đồ d ưới đây: (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w