Để sớm khắc phục những tồn tại trên, nhất là thành phố Quảng Ngãi thuộc hạ lưu sông Trà Khúc, nơi dân cư đông đúc, sầm uất, tập trung các cơ quan đầu não của tỉnh Quảng Ngãi thì việc Ngh
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN VIỆN KHOA HỌC VÀ
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KHOA HỌC
“Nghiên cứu quy hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi”
Mã số: 12/2008/HĐ-ĐTĐTCB
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Thảo Hương
Trang 2HÀ NỘI, 2011
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KHOA HỌC
“Nghiên cứu quy hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ
sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi”
Mã số: 12/2008/HĐ-ĐTĐTCB
CƠ QUAN CHỦ TRÌ CƠ QUAN QUẢN LÝ
VIỆN ĐỊA LÝ SỞ KH&CN QUẢNG NGÃI
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Nguyễn Thị Thảo Hương
Trang 31 ThS NGUYỄN NGỌC BÁCH - Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
2 PGS.TS NGUYỄN BÁ QUỲ - Trường Đại học Thủy lợi
3 TS NGÔ LÊ LONG - Trường Đại học Thủy lợi
4 TS LÊ THỊ THANH TÂM - Viện Địa lý
5 TS PHẠM QUANG VINH - Viện Địa lý
6 TS ĐỖ XUÂN SÂM - Viện Địa lý
7 TS LÊ VĂN CÔNG - Viện Địa lý
8 TS PHAN THỊ THANH HẰNG - Viện Địa lý
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TIÊU THOÁT LŨ 14
I.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÙNG NGHIÊN CỨU 14
I.2 ĐỊA HÌNH - ĐỊA MẠO 15
I.2.1 Địa hình 15
I.2.2 Địa mạo 17
I.3 ĐỊA CHẤT - ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH 26
I.3.1 Địa chất 26
I.3.2 Địa chất công trình 33
I.4 THỔ NHƯỠNG 36
I.5 THẢM THỰC VẬT 38
I.6 KHÍ HẬU 42
I.7 THỦY VĂN 45
I.7.1 Mạng lưới sông ngòi 45
I.7.2 Đặc điểm dòng chảy……… 48
I.7.3 Phân tích diễn biến hình thái cửa sông Trà Khúc và sông Vệ ảnh hưởng đến tiêu thoát lũ 53
I.8 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CON NGƯỜI ẢNH HƯỞNG ĐẾN LŨ LỤT HẠ LƯU SÔNG TRÀ KHÚC, SÔNG VỆ 58
I.8.1 Dân cư - lao động 58
Trang 5I.8.2 Ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế - xã hội tới việc lũ lụt hạ lưu sông Trà Khúc,
sông Vệ 59
Chương II: HIỆN TRẠNG DIỄN BIẾN LŨ LỤT, SẠT LỞ HẠ LƯU
SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ 66
II.1 HIỆN TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN LŨ LỤT LƯU VỰC SÔNG TRÀ KHÚC, SÔNG VỆ 66
II.2 SẠT LỞ - BỒI TỤ VÙNG HẠ LƯU SÔNG TRÀ KHÚC, SÔNG VỆ 101
II.2.1 Hiện trạng sạt lở - bồi tụ vùng hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ 101
II.2.2 Những nguyên nhân đưa đến sạt lở - bồi tụ 116
II.2.3 Đánh giá nguy cơ sạt lở 122
II.2.4 Ảnh hưởng tình trạng sạt lở - bồi tụ đến ngập lụt 123
Chương III: TÍNH TOÁN LŨ HẠ LƯU SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ 125 III.1 MÔ HÌNH THỦY LỰC 125
III.1.1 Lựa chọn mô hình 125
III.1.2 Giới thiệu mô hình 125
III.1.3 Xây dựng mô hình thủy lực vùng nghiên cứu 131
III.1.4 Phạm vi tính toán 132
III.1.5 Biên của mô hình 133
III.1.6 Tài liệu cơ bản tính toán thủy lực 136
III.1.7 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 141
III.2 TÍNH TOÁN LŨ VÙNG HẠ LƯU LƯU VỰC SÔNG TRÀ KHÚC, SÔNG VỆ 150
III.2.1 Tính toán lũ thực tế 150
III.2.2 Diễn toán dòng chảy ứng với lũ thiết kế 164
III.2.3 Tính toán mức độ ngập lụt ứng với lũ thiết kế 185
III.3 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIÊU THOÁT LŨ 202
Chương IV: XÁC ĐỊNH HÀNH LANG THOÁT LŨ, ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG VÀ TIÊU THOÁT LŨ 208
Trang 6IV.1 CĂN CỨ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG
VÀ TIÊU THOÁT LŨ TRÊN SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ 208
IV.2 XÁC ĐỊNH HÀNH LANG TIÊU THOÁT LŨ SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ 210
IV.3 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CẢNH BÁO NGUY CƠ NGẬP LỤT 221
IV.4 XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG QUI HOẠCH LƯỚI ĐIỂM DÂN CƯ VÙNG HẠ LƯU LƯU VỰC SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ 226
IV.5 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH VÀ PHÒNG CHỐNG TIÊU THOÁT LŨ VÙNG HẠ LƯU SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ 242
IV.5.1 Giải pháp phi công trình 242
IV.5.2 Giải pháp công trình 243
Chương V: XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU 266
V.1 GIỚI THIỆU PHẦN MỀM 266
V.2 ỨNG DỤNG CỦA PHẦN MỀM 276
V.3 THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS 276
V.4 KHUÔN DẠNG DỮ LIỆU CHUẨN CHO CƠ SỞ DỮ LIỆU GIS 282
V.5 CÔNG CỤ HỖ TRỢ KHAI THÁC THÔNG TIN 288
KẾT LUẬN 290
KIẾN NGHỊ 293
TÀI LIỆU THAM KHẢO 295
Trang 8KHTN & CNQG: Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia
KH & KT: Khoa học và Kỹ thuật
KKL: không khí lạnh
KT - XH: kinh tế - xã hội
KTTV: khí tượng thủy văn
LK: lỗ khoan
NCKH: nghiên cứu khoa học
NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
P: phường
TBNN: trung bình nhiều năm
TGXH: thời gian xuất hiện
TP: thành phố
TT: thị trấn
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ngãi là vùng hứng chịu nhiều thiên tai bão, nước dâng do bão, lũ lụt, nhất là đối với khu vực đồng bằng duyên hải, hạ lưu của 2 con sông lớn: sông Trà Khúc và sông Vệ Lưu vực các sông này có địa hình đồi núi và đồng bằng ven biển phức tạp Các sông đều có phần thượng lưu dốc, mạng lưới sông suối phát triển hình nan quạt, khả năng tập trung nước lũ nhanh Mặt khác, vùng đồng bằng nhỏ hẹp và bị các dải cát ven biển che chắn ngăn cản việc thoát lũ và gây ra ngập lụt ở vùng đồng bằng Ngoài ra, chế độ thuỷ triều của vùng ven biển Quảng Ngãi cũng góp phần gây nên tình trạng ngập lụt vùng đồng bằng duyên hải
Mặt khác, do điều kiện kinh tế của tỉnh còn có nhiều khó khăn nên tình trạng qui hoạch phát triển KT - XH mang tính giai đoạn, tạm thời, tính thống nhất trong qui hoạch phát triển giữa các ngành kinh tế chưa cao, nhất
là qui hoạch phát triển của các ngành quản lý cơ sở hạ tầng còn manh mún,
Trang 10phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn đầu tư nên tính ổn định lâu dài chưa cao, gây nhiều bất cập trong quản lý chung các dự án phát triển theo định hướng phát triển đồng bộ, thống nhất và bền vững Để sớm khắc phục những tồn tại trên, nhất là thành phố Quảng Ngãi thuộc hạ lưu sông Trà Khúc, nơi dân cư đông đúc, sầm uất, tập trung các cơ quan đầu não của tỉnh Quảng Ngãi thì
việc Nghiên cứu qui hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ sông Trà Khúc và
sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi là rất bức xúc và thiết thực trong tình hình thiên
tai ngày càng diễn biến phức tạp do biến đổi khí hậu như hiện nay
Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 12/2008/HĐ-ĐTĐTCB đã được ký ngày 10/XII/2008 giữa Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi và Viện Địa lý thuộc Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam về việc triển khai đề tài “Nghiên cứu quy hoạch phòng
chống và tiêu thoát lũ sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi” do
TS Nguyễn Thị Thảo Hương làm chủ nhiệm nhằm thực hiện quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 08/XII/2008 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt các đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ năm 2008 - đợt 3
Mục tiêu của Đề tài là:
- Thiết lập ngân hàng cơ sở dữ liệu về lũ lụt và diễn biến lũ lụt phục vụ quy hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ trên sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi
- Xác định tuyến hành lang thoát lũ vùng đồng bằng cửa sông (đối với sông Trà Khúc đoạn từ đập Thạch Nham đến cửa Cổ Lũy; đối với sông Vệ đoạn từ Hành Tín Đông đến cửa Lở) ứng với các tần suất 1%, 5%, 10%
- Đề xuất định hướng các phương án quy hoạch phòng chống và tiêu thoát
lũ trên sông Trà Khúc, sông Vệ
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài:
Trang 11- Phương pháp thống kê và phân tích hệ thống trên quan điểm tổng hợp nhằm đánh giá tổng hợp các tác nhân gây lũ lụt, xác định nguyên nhân gây lũ lụt và thực trạng lũ lụt trên sông Trà Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi
- Phương pháp kế thừa: Đề tài thu thập và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp điều tra khảo sát đo đạc ngoài hiện trường nhằm bổ sung tài liệu và kiểm tra kết quả nghiên cứu được thực hiện theo tuyến, điểm tại các mặt cắt khống chế các đặc trưng địa hình, thuỷ văn và tại các trạm quan trắc theo dõi diễn biến lũ lụt Các kết quả đo đạc còn là các dữ liệu đầu vào cho các mô hình tính toán tiêu thoát lũ khu vực nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá tổng hợp trên quan điểm hệ thống kết hợp với điều tra khảo sát kiểm chứng ngoài thực địa lũ lụt sông Trà Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi, được chú trọng trong đánh giá tổng hợp hiện trạng và biến động môi trường địa lý trên các lưu vực do tác động của lũ lụt
- Phương pháp bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS): Ứng dụng bản đồ học, kỹ thuật viễn thám trên cơ sở các tư liệu ảnh máy bay, ảnh vệ tinh qua các thời kỳ lũ lớn, thời kỳ lũ lịch sử để đánh giá mức độ biến động
Sử dụng hệ thông tin địa lý cho việc cập nhật tài liệu quan trắc KTTV, các thông tin biến động môi trường tự nhiên trên bề mặt các lưu vực sông lớn tỉnh Quảng Ngãi, hoàn chỉnh quy trình và công nghệ lưu trữ hệ thống các bản đồ bộ phận giúp cho công tác cập nhật tài liệu một cách thuận tiện, nhanh chóng
- Phương pháp mô hình toán: Sử dụng mô hình MIKE 11, MIKE 21 và MIKE FLOOD để tính toán tiêu thoát lũ sông Trà Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi
- Phương pháp chuyên gia: thông qua các hội thảo khoa học nhằm lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia về cách tiếp cận, thiết kế triển khai
Trang 12nghiên cứu, xây dựng mô hình tính toán tiêu thoát lũ và chuyển giao kết quả nghiên cứu của đề tài đến người sử dụng
Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Thế giới hiện nay đang ở trong thời kỳ biến đổi khí hậu, những trận lũ lớn xuất hiện ngày càng nhiều (Ấn Độ, Banlades, Trung Quốc, Philipin, Mianma, Mỹ, ) đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của Thiên tai lũ lụt đang có xu thế gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ Nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế đã tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp phòng chống và phòng tránh hữu hiệu giảm thiệt hại do lũ lụt gây ra Đối với các nước phát triển các nghiên cứu về lũ lụt thường gắn với quản lý tài nguyên, môi trường theo lưu vực sông Đối với các nước đang phát triển việc
dự báo, cảnh báo lũ lụt còn gặp nhiều khó khăn, các nghiên cứu chủ yếu phục vụ cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai
Nước ta là một trong năm nước trên thế giới chịu tác động nhiều nhất của sự biến đổi khí hậu toàn cầu Liên tiếp trong những năm gần đây do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu, hiện tượng lũ lớn, lũ quét đã xảy ra với tần suất, qui mô và cường độ ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các lưu vực sông miền Trung Nhất là trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI lũ lụt đã liên tục xảy ra trên diện rộng Như mưa lũ năm 1996 gây thiệt hại rất lớn Số người chết và mất tích lên tới 605 người và tổng thiệt hại ước tính lên tới 2.142,117 tỷ đồng Năm 1999, lũ lịch sử ở miền Trung, chỉ trong vòng hơn 1 tháng (từ 1/XI đến 6/XII), đã có 2 đợt lũ, diện rộng hiếm thấy trong lịch sử, làm ngập lụt nghiêm trọng, dài ngày, thiệt hại lớn cho kinh tế, dân sinh, môi trường: hơn 700 người chết, gần 500 người bị thương, hàng vạn hộ gia đình bị mất nhà cửa, tài sản, thiệt hại ước tính lên tới gần 5.000 tỷ đồng Hiện tượng lũ quét, xói lở, sạt trượt các sườn núi, bờ sông xảy ra rộng khắp ở các huyện miền núi, đồng bằng ven biển của Quảng Ngãi Lũ lụt
Trang 13miền Trung nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng đã trở thành một tai hoạ
tự nhiên thường xuyên đe doạ cuộc sống của người dân trong vùng
Nhận thức rõ tính bức xúc và tầm quan trọng của vấn đề lũ lụt, Nhà nước và một số Bộ, ngành và các địa phương đã triển khai một loạt các chương trình, đề tài, đề án điều tra, nghiên cứu về lũ lụt nhằm đưa ra các giải pháp giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, đó là công trình của GS Ngô Đình Tuấn - Nghiên cứu cân bằng nước vùng ven biển miền Trung; Hoàng Niêm - Lập bản đồ nguy
cơ ngập lụt, đề tài 42A.03.04; Đỗ Đình Khôi - Thiên tai úng ngập ở các vùng ven biển miền Trung Trong 2 năm 1990 - 1991, Bộ Thuỷ lợi nay là Bộ NN
& PTNT đã tiến hành chương trình cấp Bộ về thiên tai bão - lũ tại các tỉnh miền Trung; Sau trận lũ lịch sử cuối năm 1999, nhiều tính toán, đánh giá về các nhân tố gây lũ lụt, quy hoạch phòng tránh lũ lụt miền Trung nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng không còn phù hợp, cần được xem xét điều chỉnh lại trên cơ sở luận cứ khoa học
Từ năm 2001 trở lại đây, Viện Địa lý đã thực hiện nhiều đề tài cấp Nhà nước và cấp tỉnh nghiên cứu về lũ lụt và đề xuất các giải pháp phòng tránh và hạn chế hậu qủa lũ lụt miền Trung Điển hình đó là các đề tài:
- PGS TSKH Nguyễn Văn Cư - Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các giải pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả lũ lụt sông Ba (đề tài KHCN trọng điểm cấp Nhà nước KC-08-25) năm 2001 - 2003 Đề tài đã cung cấp luận cứ khoa học về lũ lụt và diễn biến lũ lụt, đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt phục vụ qui hoạch tổng thể phát triển KT - XH, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai lũ lụt lưu vực sông Ba
- TS Nguyễn Lập Dân - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tổng thể phòng tránh lũ lụt ở miền Trung (đề tài KHCN cấp Nhà nước KC-08-12) năm 2001 - 2004 Đề tài đã đưa ra các giải pháp tổng thể phòng tránh
Trang 14và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt ở miền Trung trong đó có các giải pháp trước mắt
và lâu dài, các biện pháp công trình và phi công trình; xây dựng được chương trình dự báo lũ trên lưu vực sông Hương và sông Thu Bồn
- PGS TSKH Nguyễn Văn Cư - Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phòng chống bồi lấp cửa sông nhằm khai thông luồng Nhật Lệ, Quảng Bình (đề tài KHCN trọng điểm cấp Bộ) năm 2005 - 2006 Trên cơ sở xác định nguyên nhân biến đổi và bồi lấp lòng dẫn của cửa sông Nhật Lệ đã đề xuất các giải pháp khoa học kỹ thuật phòng chống bồi lấp xói lở cửa sông nhằm thông luồng Nhật Lệ
- PGS TSKH Nguyễn Văn Cư - Nghiên cứu giải pháp tổng thể bảo
vệ môi trường, chống bồi lấp, nhằm thoát lũ và thông luồng vào cảng Cửa Việt, Quảng Trị (đề tài KHCN cấp tỉnh) năm 2006 - 2007 Đề tài đã đánh giá chi tiết các điểm xói sạt lở trên sông Hiếu và đề xuất các giải pháp chỉnh trị hợp lý chống xói lở và bồi lấp nhằm thoát lũ và thông luồng cho tàu 3.000 tấn vào cảng Cửa Việt và tàu 400 - 500 tấn vào cảng Đông Hà
Đặc biệt, một số đề tài đã được thực hiện tại tỉnh Quảng Ngãi, điển hình đó là:
- GS Ngô Đình Tuấn, 1995 Lập dự án giảm nhẹ thiên tai, tận dụng bãi bờ Nam sông Trà Khúc - thị xã Quảng Ngãi Đại học Thuỷ lợi
- PGS TS Đỗ Tất Túc, 1995 Lập dự án sửa chữa và nâng cấp đập ngăn mặn Tân Quang - thị xã Quảng Ngãi Đại học Thuỷ lợi
- GS VS Nguyễn Trọng Yêm, 2000 Điều tra, đánh giá hiện tượng sạt lở dọc hệ thống sông Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi Đề xuất các biện pháp phòng tránh giảm thiểu thiệt hại Viện Địa chất - Trung tâm KHTN & CNQG
- TS Nguyễn Văn Lâm, 2001 Điều tra, đánh giá thiệt hại môi trường
do lũ lụt gây ra (sau năm 1999) và hiện tượng trượt lở, nứt đất vùng núi tỉnh
Trang 15Quảng Ngãi và kiến nghị các giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiệt hại Trung tâm tư vấn Công nghệ và Môi trường Hà Nội
- KS Hoàng Tấn Liên, 2001 Xây dựng Bản đồ ngập lụt và dự báo nguy cơ ngập lụt hạ lưu sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ Đài KTTV khu vực Trung Trung bộ
- TS Tô Trung Nghĩa, 2001 Định hướng qui hoạch lũ miền Trung Viện Quy hoạch Thuỷ lợi
- PGS TS Nguyễn Kim Ngọc, 2001 Điều tra, đánh giá hiện tượng sạt
lở đất dọc hệ thống sông Trà Bồng, sông Vệ và đề xuất các giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiệt hại Trường Đại học Mỏ địa chất
- KS Phạm Thị Minh Nguyệt, 2001 Quy hoạch tiêu úng thoát lũ sông Thoa tỉnh Quảng Ngãi Mã số 2613 NN-KH/QH Viện Quy hoạch Thuỷ lợi
- Đài KTTV khu vực Trung Trung bộ, 2002 Tổng hợp Khí hậu - Thủy văn tỉnh Quảng Ngãi
- GS VS Nguyễn Trọng Yêm, 2002 Điều tra, đánh giá hiện tượng sạt
lở, bồi lấp vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi Kiến nghị các giải pháp phòng tránh giảm thiểu thiệt hại, góp phần phát triển KT - XH trên cơ sở môi trường bền vững Viện Địa chất - Trung tâm KHTN & CNQG
- KS Đặng Ngọc Vinh, 2003 Rà soát quy hoạch thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010 Viện Quy hoạch Thuỷ lợi
- KS Phạm Thị Minh Nguyệt, 4/2004 Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi Mã số QH-K 4282 NN - 01/03 Viện Quy hoạch Thuỷ lợi
- KS Đặng Ngọc Vinh, 2005 Qui hoạch thuỷ lợi tỉnh Quảng Ngãi Viện Quy hoạch Thuỷ lợi
Trang 16- PGS TS Đỗ Tất Túc, 2006 Lập dự án khả thi và thiết kế kỹ thuật xây dựng công trình bảo vệ bờ sông Vệ, sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi Đại học Thuỷ lợi
- KS Hoàng Tấn Liên, 2007 Điều tra bổ sung và xây dựng cột mốc báo
lũ tại các vùng ngập lũ thuộc hạ lưu các sông chính tỉnh Quảng Ngãi Đài KTTV khu vực Trung Trung bộ
- GS TSKH Lê Huy Bá, 2008 Xây dựng bản đồ nguy cơ và các giải pháp khả thi mang tính ngăn ngừa, hạn chế tác hại của lũ quét, lũ ống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Lưu trữ tại Trung tâm Sinh thái, Môi trường và Tài nguyên
- Dự án Giảm nhẹ thiên tai Quảng Ngãi do Australia tài trợ 2008
- Trung tâm công nghệ - Trung tâm KTTV Quốc gia, 2008 Xây dựng các bản đồ ngập lụt 7 tỉnh trọng điểm Dự án hợp tác nước ngoài
Hiện nay một số dự án đang được tiến hành tại Quảng Ngãi trong giai đoạn hoàn thành:
- Rà soát, bổ sung quy hoạch phòng chống lũ các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận (trong đó có hợp phần rà soát quy hoạch phòng chống lũ trên các sông thuộc tỉnh Quảng Ngãi) Dự án này do Viện Quy hoạch Thuỷ lợi thực hiện đang trong giai đoạn hoàn thành và dự kiến báo cáo Bộ NN & PTNT tháng 7/2011
- Viện Khoa học Thủy lợi Dự án đập đâng hạ lưu sông Trà Khúc (hạ lưu cầu Trà Khúc mới) Đập dâng này đã được tỉnh có chủ trương xây dựng
và thể hiện trong nội dung quy hoạch được tỉnh phê duyệt (2005), lập dự án (2007 - 2008) và hiện đang trong giai đoạn thẩm định, thỏa thuận thiết kế kỹ thuật - thi công tại Bộ NN & PTNT
- Hội tưới tiêu Việt Nam Quy hoạch chỉnh trị, phòng lũ hạ lưu sông
Trang 17Trà Khúc đoạn từ đập Thạch Nham đến cửa Đại Do Sở NN & PTNT Quảng Ngãi quản lý Đang chuẩn bị nghiệm thu
Các đề tài, dự án, chương trình nêu trên đã thu được nhiều kết quả có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn góp phần phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai bão lũ Song do hạn chế về mục tiêu, nội dung nên nhiều vấn đề, đặc biệt các yếu tố mặt đệm (địa hình, địa mạo, lớp phủ thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật, cảnh quan sinh thái ) chưa được đề cập đúng mức Các nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phòng tránh lũ lụt còn bị hạn hẹp trong phạm vi chuyên ngành, chưa có được giải pháp tổng thể cho qui hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt là đối với vùng hạ lưu - nơi dân cư đông đúc, tập trung các cơ sở kinh tế quan trọng của tỉnh
Tình hình hoạt động của đề tài:
Đề tài được tiến hành trong 24 tháng từ tháng XII năm 2008 đến tháng XII năm 2010
- Giai đoạn 1 (năm 2008 - 2009), nghiên cứu tổng quan tình hình ngập lụt, xói lở - bồi tụ vùng cửa sông ven biển Trà Khúc, sông Vệ
- Giai đoạn 2 (năm 2010) tiến hành nghiên cứu đề xuất tuyến hành lang thoát lũ trên các khu vực đồng bằng thấp ven biển cửa sông Trà Khúc,
sông Vệ của tỉnh Quảng Ngãi
Trên cơ sở các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã có kết hợp với khảo sát bổ sung, kiểm chứng bằng các công cụ hiện đại, với việc phân tích tổng hợp có xét đến sự biến đổi khí hậu, đề tài đã làm rõ các tác nhân gây lũ lụt, tính toán tiêu thoát lũ từ đó đề xuất các giải pháp qui hoạch phòng chống
và tiêu thoát lũ ở sông Trà Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi Kết quả nghiên cứu của đề tài đã thể hiện rõ tính toàn diện, cách tiếp cận hệ thống, phân tích tổng hợp các điều kiện tự nhiên và KT - XH có xem xét đến sự biến đổi khí hậu để làm sáng tỏ các tác nhân gây lũ lụt và chịu tác động của
Trang 18lũ lụt bằng việc sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, các kỹ thuật hiện đại Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp qui hoạch toàn diện cả về xã hội lẫn biện pháp công trình phòng chống và tiêu thoát lũ ở sông Trà Khúc
và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi là hoàn toàn khoa học
Kết quả đã đạt được của đề tài:
1 Thu thập, hệ thống hoá và xử lý toàn bộ các tài liệu liên quan đến lũ lụt sông Trà Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi
- Thu thập và cập nhật được các tài liệu đo đạc tại các trạm KTTV,
tài liệu KT - XH; điều kiện tự nhiên, tài liệu của các đề tài, đề án đã triển khai; bản đồ địa hình; ảnh máy bay, ảnh vệ tinh qua các thời kỳ (từ năm
1996 - 2009);
- Thu thập: Dự thảo Quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Quảng Ngãi
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025; Quy hoạch phát triển KT - XH của
TP Quảng Ngãi và 4 huyện: Mộ Đức, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh; Quy hoạch phát triển các ngành: giao thông, thủy lợi; các dự án đầu tư xây dựng tác động đến khả năng tiêu thoát lũ (dự án dập dâng trên sông Trà Khúc, dự án đường Dung Quất - Sa Huỳnh, Dự án Khu đô thị Đông Bắc Trà Khúc,…) từ năm 2003 đến nay
2 Khảo sát đo đạc ngoài thực địa theo các điểm chìa khoá và các mặt cắt lựa chọn tại các khu vực hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ
- Khảo sát đo đạc địa hình và dòng chảy trên các sông Đo lặp 18 mặt cắt ngang trên sông Trà Khúc, 10 mặt cắt ngang trên sông Vệ và 07 mặt cắt ngang tại đoạn sông nối giữa 2 cửa Cổ Lũy và cửa Lở
- Điều tra các vấn đề về hậu quả lũ lụt: hiện tượng xói lở bờ sông, bồi lấp cửa sông ven biển ảnh hưởng đến tiêu thoát lũ, mức độ ngập lụt trên các lưu vực (độ sâu, thời gian ngập lụt) trong các trận lũ lớn xảy ra trong thời gian gần đây
Trang 19- Khảo sát, khoan lấy mẫu đất và phân tích tại phòng thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý đất đá: 20 lỗ khoan tay (tổng khoảng 150 m) và 50 mẫu đất nguyên dạng
- Khảo sát đo đạc vùng cửa sông: đo đạc địa hình vùng cửa sông (cửa Cổ Lũy và cửa Lở) diện tích khoảng 1.200 ha và lấy 50 mẫu trầm tích tầng mặt
- Điều tra tình hình KT - XH, đặc điểm dân cư trên 2 lưu vực sông (thành phố Quảng Ngãi 10 xã phường; huyện Sơn Tịnh 11 xã; huyện Tư Nghĩa 13 xã; huyện Mộ Đức 4 xã và huyện Nghĩa Hành 5 xã)
3 Báo cáo các hợp phần theo các chuyên đề của đề tài
1 Thu thập, hệ thống hóa, xử lý số liệu điều kiện tự nhiên, KT - XH,
KTTV, các tài liệu có liên quan Chủ trì KS Phạm Ngọc Hiển
2 Đo địa hình cửa sông ven biển cửa Cổ Lũy, cửa Lở Chủ trì NCS Lê
Đức Hạnh
3 Đo thủy văn địa hình lòng sông Trà Khúc, sông Vệ, đoạn nối cửa Cổ
Lũy và cửa Lở Chủ trì NCS Lê Đức Hạnh
4 Khoan địa chất công trình Chủ trì KS Phùng Tô Hiệu
5 Thí nghiệm 50 mẫu địa chất công trình Chủ trì KS Phùng Tô Hiệu
6 Phân tích 50 mẫu trầm tích Chủ trì TS Vũ Ngọc Quang
7 Cấu trúc địa chất lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì TS Lê Thị
Thanh Tâm
8 Địa mạo lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ Chủ trì TS Hoa Mạnh Hùng
9 Đánh giá địa chất công trình hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì
KS Hồ Minh Thọ
10 Hiện trạng trầm tích hiện đại vùng cửa sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ
trì TS Hoa Mạnh Hùng
Trang 2011 Đánh giá đặc điểm thủy văn lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì
TS Phan Thị Thanh Hằng
12 Diễn biến lòng dẫn cửa sông lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì
TS Lê Văn Công
13 Đánh giá sạt lở - bồi tụ lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì TS
16 Đánh giá các công trình dân sinh kinh tế ảnh hưởng đến lũ lụt lưu vực
sông Trà Khúc Chủ trì TS Phan Thị Thanh Hằng
17 Đánh giá các công trình dân sinh kinh tế ảnh hưởng đến lũ lụt lưu vực
sông Vệ Chủ trì CN Trần Thị Ngọc Ánh
18 Đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ
Chủ trì TS Phạm Quang Vinh
19 Đánh giá hiện trạng và diễn biến lũ lụt hai lưu vực sông Trà Khúc và
sông Vệ Chủ trì TS Phan Thị Thanh Hằng
20 Xây dựng bản đồ hiện trạng ngập lụt và tiêu thoát lũ, bản đồ cảnh báo
ngập lụt của hai lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ Chủ trì TS Đỗ Xuân Sâm
21 Xác định nguyên nhân hình thành lũ trong lưu vực và phạm vi ảnh
hưởng do lũ lụt gây ra đối với dân sinh, kinh tế, môi trường lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì TS Ngô Lê Long
Trang 2122 Qui hoạch bố trí lưới điểm dân cư và các công trình dân sinh kinh tế
theo các kịch bản ứng với các cấp tần suất 1%, 5% và 10% lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ Chủ trì TS Phạm Quang Vinh
23 Đề xuất các giải pháp phi công trình và công trình nhằm chủ động
phòng chống và tiêu thoát lũ lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ Chủ trì PGS
TS Nguyễn Bá Quỳ
24 Xác định hành lang thoát lũ theo các kịch bản lưu vực sông Trà Khúc
và sông Vệ Chủ trì TS Phan Thị Thanh Hằng
25 Áp dụng mô hình diễn toán khả năng tiêu thoát lũ hai lưu vực sông
29 Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu bản đồ số bằng các phần mềm GIS Chủ trì
TS Lê Văn Công
Đề tài xin chân thành cám ơn sự chỉ đạo và giúp đỡ tận tình của Sở Khoa học và công nghệ Quảng Ngãi, Sở NN & PTNT, Chi cục Thủy lợi, Chi cục Phòng chống lụt bão, Sở Tài nguyên và Môi trường, Liên hiệp các hội KH & KT tỉnh, Trung tâm Dự báo KTTV tỉnh Quảng Ngãi, UBND Thành phố Quảng Ngãi, UBND các huyện Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức cùng các ban ngành trong tỉnh, Lãnh đạo Viện Địa lý, Viện Nghiên cứu khoa học thuỷ lợi và các đồng nghiệp hợp tác nghiên cứu trong
và ngoài Viện
Trang 22Chương I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TIÊU THOÁT LŨ I.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÙNG NGHIÊN CỨU
Lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi thuộc miền Trung Trung bộ Lưu vực sông Trà Khúc có diện tích là 3.240 km2 (chiếm 55,4% diện tích của tỉnh) với chiều dài sông chính là 135 km Ranh giới lưu vực: phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Bồng, phía Nam giáp lưu vực sông Vệ, phía Tây giáp lưu vực sông Sê San, phía Đông giáp biển Đông Sông Trà Khúc bắt nguồn từ sườn Bắc của dãy Trường Sơn ở độ cao 900 m Lưu vực sông nằm trên địa bàn các huyện Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng, Ba Tơ, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, thị xã Quảng Ngãi và một phần huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum Dòng chảy theo hướng Bắc trên vùng đồi núi và chuyển dần sang hướng Đông ở vùng đồng bằng sau khi nhập với sông Dak
Rê và sau cùng là đổ ra biển Đông tại vị trí gần thành phố Quảng Ngãi
Lưu vực sông Vệ có diện tích 1.260 km2 (chiếm 21,54% diện tích của tỉnh) với chiều dài sông chính 91 km Sông Vệ bắt nguồn từ vùng núi phía Tây của huyện Ba Tơ Sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, giữa các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức đổ ra biển Đông tại cửa Cổ Lũy
và cửa Đức Lợi Ranh giới lưu vực: phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Khúc, phía Nam giáp lưu vực sông Trà Câu, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp lưu vực sông Sê San
Phạm vi nghiên cứu là vùng hạ lưu lưu vực sông Trà Khúc và lưu vực sông Vệ thuộc tỉnh Quảng Ngãi Về địa giới hành chính bao gồm thành phố Quảng Ngãi, huyện Tư Nghĩa, huyện Nghĩa Hành, huyện Mộ Đức, huyện Sơn Tịnh Phạm vi trên sông Trà Khúc được xác định từ đập Thạch Nham
về xuôi đến cửa Cổ Luỹ dài khoảng 40 km và trên sông Vệ từ Hành Tín Đông đến cửa Lở dài khoảng 30 km, có tổng diện tích đạt xấp xỉ 1.300 km2
Trang 23(hình 1.1) Trên bản đồ hành chính tỉnh, vùng nghiên cứu có toạ độ địa lý được xác định:
Từ 108028’37’’ đến 108056’20’’ kinh độ Đông
Từ 14050’55’’ đến 15016’43’’ vĩ độ Bắc
Hình 1.1: Khu vực nghiên cứu trên bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi
I.2 ĐỊA HÌNH - ĐỊA MẠO
I.2.1 Địa hình
Khu vùc nghiªn cøu
Trang 24Vùng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ, thuộc loại đồng bằng nhỏ và hẹp có bề mặt địa hình nghiêng dốc về phía Đông Đồng bằng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ phát triển trên nền đá gốc phức tạp có tuổi từ Proterozoi đến Neogen và được bồi đắp chủ yếu bởi hệ thống sông Trà Khúc và sông Vệ
Theo cơ chế quá trình thành tạo địa hình vùng nghiên cứu có các nhóm [1, 48, 49]:
+ Nhóm dạng địa hình xâm thực bóc mòn:
a, Địa hình xâm thực bóc mòn trên nền đá cứng, chiếm phần lớn diện
tích vùng đồi núi phía Tây, Tây Nam, Tây Bắc của vùng có độ cao > 200 m Địa hình bị chia cắt bởi 2 hệ thống đứt gãy chính theo phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam tạo nên các kiến trúc khối tảng Hầu hết các đỉnh núi có dạng tròn hoặc dạng nhọn hoặc dạng răng cưa, địa hình chia cắt mạnh với nhiều hệ thống khe suối Trắc diện ngang của các sông suối có dạng chữ “U” và chữ “V” chiếm ưu thế, ở kiểu địa hình này có hai bậc địa hình chính: 200 - 400 m và 500 - 700 m
b, Địa hình bóc mòn trên đá gắn kết, đó là dạng địa hình phát triển
trên các khối núi sót thuộc đồng bằng Quảng Ngãi và có độ cao 70 - 200 m Đây là kiểu địa hình đồi núi thấp, các đỉnh núi thường tròn nhỏ, quá trình bóc mòn bề mặt xảy ra mạnh mẽ
+ Nhóm dạng địa hình tích tụ - xâm thực: Phát triển ở các thung
lũng sườn núi, độ cao từ 50 - 70 m Trầm tích cấu thành bề mặt địa hình này thường hỗn tạp: tảng, cuội, sạn lăn, sét, cát màu vàng, xám Bề mặt địa hình này hiện tại đang bị chia cắt xâm thực bóc mòn bởi các dòng chảy mặt tạo
thành nhiều gò, đống và các thềm tích tụ - xâm thực sông
+ Nhóm dạng địa hình tích tụ: Theo hình thái và nguồn gốc phát
sinh, địa hình tích tụ trong khu vực nghiên cứu là các bậc thềm, bãi bồi, cồn cát có độ cao < 15 m
Trang 25+ Đường bờ biển:Vùng nghiên cứu được đặc trưng bởi kiểu đường bờ
tích tụ - xói lở: Đây là kiểu đường bờ tích tụ - xói lở vùng cửa sông Trà Khúc, đường bờ biển thường có sự xen kẽ giữa đoạn bờ xói lở và đoạn bờ bồi tụ hoặc có sự biến động của các quá trình bồi tụ xói lở của đường bờ theo từng thời kỳ
I.2.2 Địa mạo
Dưới ảnh hưởng của khối nâng Kon Tum, quá trình thành tạo và phát triển địa hình vùng đồng bằng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ và vùng kế cận chịu tác động mạnh của các chuyển động khối tảng phân dị trên nền đá cứng rắn trong Tân kiến tạo, sự biến động khí hậu trong giai đoạn Neogen -
Đệ tứ và dao động của mực nước đại dương Tổ hợp của các quá trình ngoại sinh có tính chu kỳ theo sự biến thiên khí hậu trên nền chuyển động nâng hạ khối tảng với biên độ khác nhau của vỏ trái đất đã tạo nên tính đa dạng và phân hoá của địa hình khu vực
Dưới đây là đặc điểm chính của các nhóm kiểu địa hình:
A- Phần đất liền
Trong phạm vi đồng bằng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ và lân cận
có các kiểu địa hình như sau (hình 1.2):
A.1 - Địa hình núi lửa: Dạng địa hình này là bề mặt bazan sót cao 80
- 200 m (núi Đôn Danh, Gò Đồi, Núi Ngang, Thiên Ấn…) Đá bazan ở đây
bị phong hoá laterit mạnh, sản phẩm của quá trình này - lớp đá ong với hàm lượng nhôm và sắt cao dày trên 4 m phủ kín phần đỉnh đã giúp bảo vệ tính
bằng phẳng của bề mặt nguyên sinh khỏi quá trình xói mòn hiện đại
A.2 - Kiểu địa hình được thành tạo do quá trình bóc mòn tổng hợp: Quá trình bóc mòn tổng hợp có quy luật chung là sự giật lùi của sườn
và tạo thành ở chân chúng một bề mặt nghiêng thoải tương ứng với mỗi gốc
Trang 26xâm thực cơ sở Sản phẩm của quá trình này là các bề mặt san bằng và bề mặt sườn với các độ cao và độ dốc khác nhau
- Nhóm các bề mặt san bằng: Nhìn chung các bề mặt san bằng do có
lớp vỏ phong hoá ferosialit dày và lượng mưa cao, hoạt động xói mòn, xâm thực xảy ra mạnh theo các đứt gãy kiến tạo trên các bề mặt san bằng đã biến thành địa hình gò đồi thoải hoặc dạng bậc trên sườn hoặc tồn tại dạng bề mặt đỉnh Hầu hết các bề mặt đều phân bố trên các sườn kéo dài dọc thung lũng sông với độ cao của bề mặt thay đổi từ 200 - 300 m, 80 - 120 m, 40 - 60 m,…
- Nhóm các bề mặt sườn: Về mặt hình thái, các sườn bóc mòn tổng
hợp được chia thành dạng: độ dốc 20 - 450 và > 450 Quá trình xâm thực dọc các thung lũng sông và theo đáy các khe suối nhỏ là đặc trưng cơ bản của qúa trình ngoại sinh trong các vùng nhiệt đới ẩm Trên các sườn này, quá trình vận chuyển vật liệu xảy ra mạnh làm lộ trơ đá cứng hoặc tầng phong hoá saprolit Hoạt động đổ lở thường xảy ra mạnh trên các sườn cắt vào các
đá granit hoặc gneis
A.3 - Kiểu địa hình thành tạo do dòng chảy:
- Nhóm địa hình do dòng chảy tạm thời:
+ Địa hình mương xói và khe rãnh xói: Địa hình mương và khe rãnh xói
có ảnh hưởng lớn tới công tác quy hoạch đô thị Trong khu vực nghiên cứu,
do lượng mưa cao lại tập trung chủ yếu vào mùa mưa nên nước chảy trên các
bề mặt thềm và pediment cổ thường tập trung lại theo các trũng nguyên thuỷ, khả năng đào khoét của dòng chảy tăng lên và hình thành nhiều mương xói, khe xói Cũng tại các khu vực này, nhiều mương xói đã được phát triển lâu dài tạo nên các máng trũng sâu, đó là dạng địa hình âm kéo dài từ vài trăm mét đến trên một km, rộng 30 - 50 m, trắc diện dọc tương đối thoải song trắc diện ngang còn dốc 20 - 300 Sự phân bố khá phổ biến dạng địa hình này ở khu vực Tịnh Sơn, Nghĩa Lâm, Nghĩa Thắng,
Trang 27+ Thềm sông - lũ tích tuổi đầu Pleistocen muộn: Thềm sông - lũ tích được thành tạo tại các khu vực có sự vận chuyển mạnh của vật liệu ở phần cửa các khe suối đổ vào thung lũng hoặc trũng thoải và chính các thành tạo này lại bị phân cắt bởi quá trình xâm thực của sông vào giai đoạn sau để tạo thành thềm giả
+ Bề mặt tích tụ sông - sườn tích - lũ tích tuổi Đệ tứ không phân chia: Các bề mặt thường nghiêng thoải từ chân các sườn đồi núi về trung tâm trũng và nghiêng theo chiều dòng chảy và được thành tạo đồng thời với các thềm sông suối
+ Bề mặt tích tụ sườn tích - lũ tích: Các bề mặt tích tụ sườn tích - lũ tích phân bố dưới chân các sườn dốc giáp đồng bằng, chúng tạo nên dải vạt gấu sườn tích rộng từ vài chục đến vài trăm mét, nghiêng thoải từ chân sườn
về phía đồng bằng (chân núi Thiên Ấn, núi Ngang, núi Cối,…) có độ dốc đạt
8 - 120
- Địa hình do dòng chảy thường xuyên: Trong khu vực nghiên cứu, địa
hình được thành tạo do dòng chảy thường xuyên là các bậc thềm sông, các
thế hệ bãi bồi có tuổi khác nhau như:
+ Thềm xâm thực - tích tụ bậc II, cao 20 - 30 m, phân bố ở cả hai
bờ thung lũng sông có bề rộng lớn hơn tại các bờ lồi, có dạng gò đồi với đỉnh rộng, sườn thoải
+ Thềm xâm thực - tích tụ bậc I, cao 8 - 15 m, thường phát triển ở cả hai bờ thung lũng, đạt bề rộng khoảng 200 - 500 m đến trên 2.000 m tại các
bờ lồi Bề mặt thềm tương đối phẳng, hơi nghiêng thoải về phía xa dần lòng với sự phổ biến các gờ cao ven lòng Đây là các diện tích phân bố dân cư đông đúc nhất dọc thung lũng sông
+ Bãi bồi cao, cao 4 - 8 m, phân bố ở phần trung và hạ lưu thung lũng sông Trong khu vực nghiên cứu, bãi bồi cao bảo tồn dạng các đảo nổi cao
Trang 28giữa lòng hoặc phân bố dọc các lòng sông cổ Về hình thái, các bãi bồi cao tương đối phẳng, nghiêng thoải về phía chân bậc thềm Dọc ranh giới giữa chúng với các bãi bồi thấp thường phân bố gờ cao ven lòng còn đang được bồi hàng năm Các bãi bồi này còn chịu lũ lụt với mức ngập nước trung bình khoảng 1,5 - 2 m
+ Bãi bồi thấp, cao 3 - 4 m, phân bố chủ yếu ở phần hạ lưu sông, có chiều rộng từ 800 - 1.000 m, kéo dài liên tục ở cả hai bờ sông Nhìn chung, bãi bồi thấp bị chia cắt mạnh bởi các dòng chảy hiện đại, tạo các mảnh sót có hình thái đẳng thước với diện tích khoảng 500 - 1.000 m2 Trên bề mặt bãi bồi còn phát triển nhiều dải trũng thoải phân bố cắt chéo hoặc song song với chiều dài bãi, đó là dấu vết các lòng sông cổ chưa được lấp đầy Địa hình gờ cao ven lòng trên các bãi bồi thấp khá đặc trưng, chúng có bề rộng đạt trên 200 m
+ Bãi bồi ven sông, phân bố ở hạ lưu ven sông và thường xuyên thay đổi dòng chảy Thường bãi bồi ven sông được tích tụ mạnh trầm tích tướng bãi bồi vào các mùa lũ, tạo nên địa hình nổi cao dạng đảo hoặc bãi ven sông Nhìn chung dạng bãi bồi này chưa ổn định, dễ dàng bị cuốn trôi và biến thành lòng sông vào các kỳ mưa lũ, hoặc một số đoạn lòng sông sau vài mùa mưa lũ lại thành tạo bãi bồi ven sông
+ Lòng sông và bãi cát ven sông hiện đại là các thành tạo thường xuyên ngập nước của thung lũng sông Trong phạm vi vùng núi, dọc thung lũng sông hiện đại, chúng cấu tạo bởi các trầm tích tướng lòng hoặc có nơi lộ trơ đá gốc Trong phạm vi đồng bằng hạ lưu, ngoài đáy trục dòng chảy là các bãi cát ven hoặc giữa lòng sông Các bãi cát ven sông có độ cao giảm dần từ 1,5 - 2 m ở phần ven bờ đến 0,5 m hoặc ngang đáy ở phần giáp đường trục lòng dẫn Điển hình là các bãi cát ở hạ lưu sông Trà Khúc có dạng bện thừng, giữa các bãi cát là bãi cuội và xen giữa chúng là các máng trũng thấp ngập nước
Trang 29A.4 - Kiểu địa hình thành tạo do nguồn gốc hỗn hợp sông - biển:
Trong khu vực nghiên cứu, địa hình nguồn gốc hỗn hợp sông - biển chủ yếu
là các thềm, bề mặt tích tụ, theo độ cao và thời gian thành tạo chúng được phân như sau:
- Thềm tích tụ sông - biển cao 8 - 15 m, có độ cao giảm dần từ 15 m ở phía Tây đến 8 - 10 m về phía Đông, bị các máng xói và khe suối phân cắt, tạo địa hình gò đồi lượn sóng thoải
- Bề mặt tích tụ sông - biển cao 4 - 6 m và bề mặt tích tụ sông - biển cao 3 - 4 m, trong khu vục nghiên cứu bị chôn vùi ở độ sâu từ 3 - 10m dưới các thành tạo trẻ hơn
- Bề mặt tích tụ sông - biển cao 1 - 3 m, phân bố hẹp ở gần cửa sông,
đó là địa hình phẳng, hơi trũng, cao 0,5 - 1 m,
- Bề mặt tích tụ sông - biển - đầm lầy, cao 1 - 3 m, phân bố thành các dải rộng 800 - 1.200 m, phát triển song song với đường bờ hiện đại tại, từ cửa sông Trà Khúc đến khu vực cửa sông Vệ Bề mặt có hình thái tương đối phẳng, hơi trũng, chỉ cao hơn mặt các sông suối cắt qua khoảng 0,5 - 1 m, nghiêng thoải về phía đáy trũng và về phía các cửa sông
A.5 - Kiểu địa hình nguồn gốc biển: Trong khu vực nghiên cứu, địa
hình nguồn gốc biển có các dạng địa hình thềm biển, bãi biển và hệ đê cát -
đầm phá như sau:
- Thềm mài mòn 20 - 30 m, phân bố rộng và còn được bảo tồn khá tốt
ở Tây Tư Nghĩa Bề măt thềm nghiêng thoải từ chân núi về phía biển, bị phân cắt yếu bởi các máng xói, tạo địa hình vòm thoải hoặc lượn sóng, trên mặt thềm chỉ gặp lớp mỏng cát bột xám vàng
- Thềm mài mòn - tích tụ 10 - 15 m, là bậc địa hình chuyển tiếp giữa các thềm 20 - 30 m với các bề mặt tích tụ vũng vịnh hoặc thềm Do nằm gần
Trang 30gốc xâm thực cơ sở, các thềm này thấp nhưng lại bị phân cắt khá mạnh, tạo địa hình gò hoặc vòm thoải
- Bề mặt đê cát và tích tụ vũng vịnh hệ tầng Phong Niên (mlQ12pn), là thế hệ đê cát phát triển hoàn thiện và có diện phân bố khá rộng trong phạm vi khu vực nghiên cứu (Tịnh Minh, Tịnh Hà, Nghĩa Thắng ) Quy mô của đê cát
ở đây thường rộng 1,5 - 2 km, bề mặt của đê cát nghiêng thoải từ độ cao 15 -
18 m ở phía Tây xuống 10 - 12 m về phía Đông Xen lẫn giữa các đê cát là dải trũng thoải kéo dài song song nhau và theo hướng chung của đê cát Cấu tạo
đê cát cao 10 -15 m là cát hạt trung đến thô lẫn bột sét màu vàng nghệ, vàng nâu của hệ tầng Mộ Đức Các bề mặt tương đối phẳng, nghiêng từ Tây sang Đông, bị phân cắt nhẹ bởi các máng xói tạo địa hình lượn sóng thoải Phần đỉnh các gò sót thường bảo tồn được lớp trầm tích trên cùng gồm cát bột màu trắng xám ứng với tướng biển lùi của mặt cắt trầm tích vũng vịnh
- Bề mặt đê cát và tích tụ vũng vịnh quan sát được tại khu vực Tịnh Long, Nghĩa Dũng, Nghĩa Hà Nhìn chung các đê cát có diện phân bố hẹp có kích thước chung là chiều rộng khoảng 600 - 1.000 m, có bề mặt tương đối phẳng, nghiêng về phía biển với dấu vết val bờ cổ thể hiện bởi dải trũng thoải Trầm tích vũng vịnh tạo nên bề mặt đồng bằng phẳng trên độ cao 4 - 6 m, phân bố rộng rãi ở khu vực Mỹ Sơn, Nam Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa,… Các bề mặt đều có độ nghiêng thoải về phía bờ biển Tại phía Đông thành phố Quảng Ngãi, bề mặt vũng vịnh thời kỳ này bị các dòng chảy Holocen muộn phân cắt mạnh, chỉ được bảo tồn dạng sót, chúng được phân biệt khá
rõ với các thành tạo trẻ hơn bởi sự nổi cao với hình thái bề mặt bằng phẳng Cấu tạo nên bề mặt này là thành tạo khá đặc trưng cho tướng vũng vịnh: phần ven bờ và đáy vũng vịnh là các vật liệu thô như cát, cát bột, cát sỏi, trung tâm là các lớp sét bột màu xám xanh, xám đen giàu thực vật hoá than với tập hợp bào tử phấn hoa của đới rừng ngập mặn ven biển
Trang 31- Bề mặt đê cát và tích tụ vũng vịnh sau biển tiến Holocen trung thường phân bố ở ven biển cửa sông, dưới tác động của gió nên các đê thường cao từ 5 - 10 m Các đê cát này có chiều rộng từ 200 - 800 m, kéo dài
5 - 8 km, có hình thái chung là sườn đón gió (sườn Đông) nghiêng thoải 8 -
150 với nhiều đụn thấp dần về phía biển, sườn khuất gió (sườn Tây) thường dốc trên 300, hiện tượng cát bay, cát chảy đang phát triển mạnh và đê cát đang được dịch chuyển về phía lục địa, lấp dần các đầm phá ở phía trong Sau đê cát là bề mặt tích tụ vũng vịnh kéo dài song song với bờ và nối liền giữa các cửa sông Phần trên mặt thường là lớp cát lẫn bột xám vàng được thành tạo do hoạt động bồi tụ của sông vào mùa mưa lũ, kết thúc chế độ đầm phá của chúng
- Bề mặt bãi biển nằm dọc dải bờ biển có chiều rộng 300 - 500 m, địa hình phẳng, nghiêng về phía biển, cấu tạo bởi cát hạt trung đến thô màu xám vàng, chọn lọc mài tròn tốt Các bãi biển hiện đại có ba bậc: bãi trên triều, bãi triều cao và bãi triều thấp Ranh giới giữa hai bãi triều thường là vách cao 1 - 1,5 m
A.6 - Địa hình nhân sinh: Trong khu vực nghiên cứu địa hình nhân
sinh đáng kể nhất là các công trình thuỷ lợi (đập và hồ chứa nước Thạch Nham Đập tràn Thạch Nham, hệ thống kênh mương ở phía Tây thành phố Quảng Ngãi, Tây Bình Sơn, Sơn Tịnh), ngoài chức năng cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, các tuyến kênh mương đã làm thay đổi chế độ nước dưới đất và môi trường sinh thái Tiếp theo là hệ thống đê, kè trị thuỷ, phần lớn chúng được đắp ngay trên bề mặt bãi bồi thấp ven lòng sông, thu hẹp lòng chảy vào mùa mưa lũ khi nước chưa tràn qua mặt đê
Cũng như nhiều tỉnh khác ở miền Trung, hệ thống giao thông Bắc Nam (Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam, ) đã gây ảnh hưởng đến tiêu thoát lũ
Trang 32Hệ thống đường theo trục Đông - Tây, do độ cao các tuyến đường không đồng bộ đã tạo các ô trũng bị ngập úng cục bộ và khó tiêu thoát nước khi có mưa lớn
Các công trình đô thị, các khu dân cư tập trung bên bờ sông ít nhiều đã góp phần thu hẹp thiết diện lòng dẫn, làm cản trở dòng chảy vào mùa lũ Đặc biệt là các khu tập trung dân cư đông đúc với các công trình xây dựng khá lớn trên các đê cát ven biển và trên bề mặt tích tụ đầm phá cổ ở gần cửa Cổ Luỹ có ảnh hưởng tới biến động các quá trình động lực phát triển địa hình và hành lang an toàn cho phép ở ven biển đã dẫn tới hậu quả nhiều ngôi nhà bị phá huỷ do trượt đổ ở đới ven bờ, nhất là trong điều kiện nước biển dâng cao kèm theo sóng lớn
Song song vấn đề lấn chiếm hành lang thoát lũ ở cửa sông ven biển và thu hẹp các tuyến giao thông thuỷ nội địa ảnh hưởng nhiều nhất tới thoát lũ bởi các vùng nuôi thuỷ sản ở cửa sông (cửa Cổ Luỹ, cửa Lở ), là việc khai thác cát sỏi ở lòng sông và các cồn cát ven biển diễn ra ở nhiều nơi, đã dẫn đến gây đổi hướng dòng chảy sông ngòi vào mùa lũ và gây trượt lở bờ sông, cũng như xói lở ở các cồn cát ven biển
B Phần biển nông ven bờ
Theo nguyên tắc hình thái - động lực, đáy biển ven bờ vùng nghiên cứu được chia thành ba đới hình thái khác nhau: đới sóng vỗ bờ, đới sóng biến dạng và đới sóng lan truyền
B.1 - Bãi biển tích tụ – xói lở do tác động của sóng (trong đới sóng
vỗ bờ): Bãi biển tích tụ - xói lở do tác động của sóng phá hủy các đoạn bờ
cấu tạo bởi các trầm tích bở rời (chủ yếu là cát) xảy ra phổ biến ở đoạn bờ biển hai bên cửa sông Nét hình thái đặc trưng của địa hình này là có cấu tạo một sườn với một vách dốc đứng khi chuyển tiếp từ bãi sang phía lục địa có
độ cao từ vài chục centimes đến 1,2 - 1,5 m, thậm chí còn cao hơn Phía dưới
Trang 33vách này là bãi triều cao, thường là một mặt nghiêng dốc từ 5 - 80, có khi đến
12 - 150 Sau đó chuyển xuống bãi triều thấp thoải hơn
Các đoạn bờ này bị xói lở với tốc độ khác nhau và cũng thay đổi theo mùa trong năm Thông thường, vào mùa đông khi có gió mùa Đông Bắc, xói
lở xảy ra mạnh hơn Hoạt động xói lở làm cho bãi biển càng lấn sâu vào lục địa khiến cho nhiều công trình như nhà cửa, đường giao thông, nhiều vùng đất bị phá hủy
B.2 - Đồng bằng tích tụ - xói lở ngầm lượn sóng hiện đại do tác động của sóng (trong đới sóng biến dạng và phá hủy): Kiểu địa hình này
phát triển trong đới sóng vỗ bờ và biến dạng thành một dải rộng khoảng 15 -
18 km, nằm tiếp giáp với đới bãi (đới sóng vỗ bờ), khá dốc (có nơi đạt giá trị 0,01) Trong giai đoạn hiện nay quá trình tích tụ chiếm ưu thế hơn xói lở Vật liệu cung cấp cho quá trình tích tụ ở đây chủ yếu là sản phẩm phá huỷ ở phần bờ phía trên
B.3 - Đồng bằng tích tụ ngầm hiện đại do tác động của dòng chảy gần đáy (trong đới sóng lan truyền do khúc xạ): Đây là kiểu đồng bằng
ngầm được phân bố ở độ sâu từ 20 - 25 m đến trên 30 m và sâu hơn nữa Về mặt hình thái, đây là loại đồng bằng khá bằng phẳng và có độ nghiêng không lớn Trầm tích cấu tạo nên bề mặt địa hình này chủ yếu là bùn - sét hiện đại Cả địa hình và trầm tích đều có tính đồng nhất cao trên phạm vi rộng Điều đó phản ánh điều kiện thành tạo nó khá giống nhau, đều do dòng chảy gần đáy
I.3 ĐỊA CHẤT - ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH
I.3.1 Địa chất
Theo tài liệu Bản đồ địa chất và khoáng sản tỉnh Quảng Ngãi tỷ lệ 1/50.000 [4] cho thấy khu vực nghiên cứu có các thành tạo địa chất hình thành nên cấu trúc địa chất bao gồm chủ yếu các trầm tích bở rời hệ Đệ tứ,
Trang 34thứ yếu có các đá trầm tích biến chất, macma và phun trào bazan hình thành nên vùng đồng bằng gò đồi duyên hải Quảng Ngãi (hình 1.3)
Địa tầng
Dựa theo tài liệu Bản đồ địa chất và khoáng sản tỉnh Quảng Ngãi tỷ lệ 1/50.000, năm 2006 cho thấy cấu trúc địa tầng vùng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ có mặt các thành tạo địa chất sau:
- Hệ tầng Tiên An (MPta): Hệ tầng Tiên An lộ thành các dải hẹp theo
phương vĩ tuyến vùng phía Bắc đứt gẫy Tà Vi - Hưng Nhượng, tại bờ Nam sông Trà (nhà máy Đường Quảng Ngãi) và bờ Bắc sông Trà (Sơn Tịnh) thành dải kéo dài không liên tục từ cầu Núi Sứa về phía Đông khoảng 2 km Còn ở phía Nam Đông Nam sông Vệ gồm nhiều khối nhỏ có kích thước khoảng 0,2 - 3 km2 thuộc địa phận xã Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Hoà huyện Mộ Đức; xã Hành Thịnh, Hành Thiện huyện Nghĩa Hành, diện lộ khoảng 1,2 - 3 km2
- Hệ tầng Đại Nga (N 1
3
đn): Phun trào Miocen thượng - hệ tầng Đại
Nga lộ ra với diện tích khoảng vài km2 phía Tây Bắc cửa Đại sông Trà Khúc khoảng 1 km, bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn
- Hệ tầng Túc Trưng (N 2 -Q1 tt): Phun trào Pliocen - Pleistocen hạ
hệ tầng Túc Trưng, phân bố chủ yếu ở phía Bắc sông Trà Khúc (Ba Làng
An, Núi Ngang), Núi Ấn, diện lộ hạn chế Lớp phủ bazan cấu tạo đặc sít hoặc bazan ít lỗ hổng Tổng chiều dày của lớp phủ bazan Pliocen-Pleistocen
hạ từ 10 - 31 m
- Hệ Đệ tứ (Q): Cấu trúc địa chất vùng hạ lưu sông Trà Khúc - sông
Vệ chủ yếu là các thành tạo hệ Đệ tứ gồm các tầng trầm tích bở rời có nguồn gốc và tuổi khác nhau liên quan chặt chẽ với dao động mực nước đại dương
Các thành tạo địa chất có mặt ở đây như sau:
Trang 35+ Trầm tích sông tuổi cuối Pleistocen giữa (aQ1
2-3
): Trầm tích nguồn
gốc sông bảo tồn kém với lớp cuội sạn mỏng cấu tạo nên bậc thềm sông bậc
II cao 20 - 30 m Chúng phân bố thành các dải rộng vài trăm mét, kéo dài dọc các thung lũng sông Vệ gần chân núi thuộc địa phận xã Hành Thiện, Hành Tín Đông - Tây huyện Nghĩa Hành Bề dày trầm tích thay đổi từ 1 - 20 m
3.2
): Các thành tạo
sông tuổi cuối Pleistocen muộn cấu tạo nên thềm sông bậc I cao 8 -15 m, phân bố thành các dải rộng từ vài trăm mét đến 1.000 m ở phần trung lưu phía Nam và Bắc sông Trà Khúc thuộc địa phận xã Tịnh Đông, Tịnh Giang, Nghĩa Lâm ở khu vực sông Vệ thuộc địa phận Hành Tín Đông - Hành Thiện huyện Nghĩa Hành
3.2
pn): Hệ
tầng Phong Niên phân bố thành diện tích nhỏ rải rác phía Bắc và Nam hạ lưu sông Trà Khúc thuộc địa phận các xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa; Tịnh Sơn, Tịnh Hà huyện Sơn Tịnh Trầm tích hệ tầng này được thành tạo trong các vũng vịnh cổ
Về quan hệ địa tầng, hệ tầng Phong Niên phủ bất chỉnh hợp trên tập sét bột xám xanh loang lổ đỏ của hệ tầng Hoà Bình (LK18 - độ sâu 14 m; LK 21
- độ sâu 17,5 m; LK30 - độ sâu 8,2 m; LK38 - độ sâu 12 m, ) Tại các lỗ khoan LK12, tập trên của hệ tầng bị phong hoá mạnh và bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích tướng lòng của thời kỳ đầu biển tiến Holocen trung (aQ21-2)
3.2
đn):
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, hệ tầng Đà Nẵng cấu tạo nên bề mặt thềm cao 8 -15 m với địa hình lượn sóng, có diện tích nhỏ, dạng kéo dài tồn tại phía Nam và Bắc sông Trà thuộc địa phận xã Tịnh Hà, Tịnh Sơn, Tịnh Long huyện Sơn Tịnh; xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận huyện Tư Nghĩa và ở
Trang 36phía bờ Bắc sông Vệ thuộc địa phận xã Hành Phước, Hành Đức, Hành Trung
huyện Nghĩa Hành; xã Nghĩa Mỹ huyện Tư Nghĩa
Các trầm tích hệ tầng Đà Nẵng nghèo di tích cổ sinh, trong lỗ khoan LK3 (khu vực sân bay Quảng Ngãi), độ sâu 3 và 8,2 m đã gặp một số mảnh vụn vỏ mollusca xác định môi trường biển nông ven bờ Trong phần đáy lỗ khoan LK5, Phạm Thị Bạch Mai cũng phát hiện được một số mảnh mollusca và một vỏ trùng lỗ đặc trưng cho môi trường ven bờ sông bị nhiễm mặn, tuổi Pleistocen giữa - muộn
3.1
): Trầm tích biển tuổi đầu
Pleistocen muộn cấu tạo nên các thềm cao 20 - 30 m, phân bố khá rộng rãi ở các khu vực phía Tây Nam và Đông Bắc vùng hạ lưu sông Trà thuộc địa phận xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Lâm huyện Tư Nghĩa;
xã Tịnh Giang, Tịnh Minh, Tịnh Sơn, Tịnh Đông, Tịnh Hà huyện Sơn Tịnh
3.2
mđ): Hệ tầng Mộ Đức lộ
ra ở phía bờ Bắc sông Vệ bề mặt tích tụ khoảng vài km2 thuộc địa phận xã
Nghĩa Hoà huyện Tư Nghĩa
1-2
): Trầm tích sông tạo bãi bồi cao, phân bố ở
phía Bắc và Nam hạ lưu sông Trà thuộc địa phận xã Tịnh Giang, Tịnh Đông, Tịnh Minh huyện Sơn Tịnh; xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Thắng huyện Tư Nghĩa sông Vệ thuộc địa phận xã Hành Phước, Hành Thịnh huyện Nghĩa Hành Các bãi bồi có độ cao tương đối từ 4 - 8 m, rộng 200 m đến trên 1000 m, kéo
dài không liên tục dọc bờ sông
2-3
): Các thành tạo Aluvi bãi bồi thấp phân bố
khá rộng rãi ở phía Bắc và Nam hạ lưu sông Trà Khúc thuộc địa phận các xã: Nghĩa Dũng, Nghĩa Phú, Nghĩa Hà, Nghĩa Thuận huyện Tư Nghĩa; xã Tịnh Long, Tịnh Ấn huyện Sơn Tịnh và TP.Quảng Ngãi Diện tích các bề mặt tích tụ thay đổi từ 0,3 - 1 km2 Còn ở hạ lưu sông Vệ chúng phân bố
Trang 37thành các dải hẹp không liên tục, rộng khoảng 0,5 - 0,7 km, dài khoảng 1 - 1,5 km từ Hành Thịnh huyện Nghĩa Hành đến gần cửa Lở thuộc địa phận
xã Nghĩa Hiệp huyện Tư Nghĩa; xã Đức Thắng huyện Mộ Đức Bề dày thay đổi từ 9 - 11 m
3
): Trầm tích nguồn gốc sông thống Holocen,
phụ thống thượng phân bố ở lòng sông hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ
đới mặn lợ ven biển, chủ yếu là cây dừa nước
2-3
): Các thành tạo trầm tích
biển được gió tái tạo, cấu tạo nên các đụn cát cao từ 6 20 m, phân bố thành các dải song song với bờ biển hiện đại ở phía Bắc và Nam cửa Lở sông Vệ Thành phần gồm cát thạch anh hạt trung màu xám vàng, độ chọn lọc, mài tròn tốt Trầm tích chủ yếu là cát thạch anh hạt trung đến thô màu xám vàng Cát có độ chọn lọc tốt Bề dày của trầm tích biển - gió thay đổi từ 3 - 7 m
3
): Thành tạo trầm tích
sông - biển - đầm lầy Holocen muộn, phân bố ở địa hình thấp, trũng chủ yếu
ở phía Bắc cửa Lở
Trang 38+ Trầm tích biển (mQ2
2
): Các trầm tích biển tuổi Holocen giữa gồm
các thành tạo cát biển, bảo tồn trên độ cao 4 - 8 m, kéo dài song song với đường bờ ở phía Bắc sông Trà khu vực Mỹ Khê Mặt cắt chung gồm cát lẫn
ít sạn ở dưới, chuyển lên là cát lẫn bột sét màu xám vàng Cát thời kỳ này chứa lượng sét cao và chọn lọc kém hơn nhiều so với cùng thành tạo ở các
đồng bằng phía Bắc
3
): Trầm tích biển hiện đại gồm chủ yếu là các
thành tạo cát của các bãi biển phân bố thành các dải rộng từ vài chục mét đến trên 500 m dọc đường bờ biển ở phía Bắc và Nam cửa Cổ Luỹ sông Trà Khúc và từ vài chục mét đến trên 200 m dọc đường bờ biển phía Bắc và Nam cửa Lở sông Vệ Mặt cắt gồm chủ yếu là cát thạch anh mài tròn chọn lọc tốt, cấu tạo phân lớp ngang xen các tập phân lớp xiên, bề mặt lớp nghiêng thoải ra phía biển
Đá macma: Vùng hạ lưu sông Trà Khúc - sông Vệ có mặt các phức
hệ đá macma sau:
sông Trà (Núi Ấn) chúng bị phủ bởi phun trào bazan Thành phần thạch học gồm: granodiorit biotit horblend, ít hơn là granit biotit có horblend, đá có màu xám sáng đốm đen, cấu tạo định hướng, kiến trúc hạt trung không đều
Đá bị kataclazit hóa và rất phổ biến hiện tượng microclin hóa, thạch anh hóa
pha 3 của phức hệ Bến Giằng, phân bố ở phía Bắc và Nam sông Vệ thuộc địa phận xã Hành Thịnh, Hành Thiện huyện Nghĩa Hành
phức hệ Quế Sơn phân bố ở phía Nam sông Trà thuộc địa phận xã Nghĩa Phú, Nghĩa Phương, Nghĩa Thương huyện Tư Nghĩa; Nghĩa Dõng TP.Quảng Ngãi Diện lộ khoảng 0,2 - 0,5 km2
Trang 39- Phức hệ Hải Vân (G/T3hv) - Pha 1 (G/T3hv 1) , Pha 2 (G/T 3hv 2):
Các đá macma phức hệ Hải Vân - Pha 1 khu vực nghiên cứu lộ ra khối nhỏ khoảng 0,5 km2 ở phía bờ Bắc sông Vệ cách khoảng 1,5 km về phía Bắc, chúng nằm vào khoảng giữa đường sắt và đường quốc lộ 1A Pha 2 lộ ra ở
bờ Bắc cầu đường sắt sông Vệ, diện lộ nhỏ khoảng 0,3 km2, phía Bắc và Nam sông Vệ thuộc địa phận xã Hành Thịnh, Hành Thiện huyện Nghĩa Hành, diện lộ khoảng từ 0,5 km2 đến hàng chục km2
- Phức hệ Bà Nà - Pha 1 (G/K2bn 1): Lộ ra khối nhỏ ở phía Bắc cửa
Cổ Luỹ sông Trà Khúc Diện lộ khoảng 0,4 km2
I.3.2 Địa chất công trình:
Căn cứ trên số liệu khảo sát, số liệu thí nghiệm, tài liệu lỗ khoan ở khu vực đồng bằng hạ du ven sông Trà Khúc và sông Vệ (xem phụ lục 3, phụ lục 4), báo cáo kết quả lập bản đồ ĐCTV - ĐCCT tỉ lệ 1/200.000 vùng Quảng Ngãi - Bồng Sơn [33], báo cáo đặc điểm ĐCCT thành phố Quảng Ngãi [10], cho thấy khu vực hạ lưu sông Trà Khúc và sông Vệ có một số đặc điểm chính về cấu trúc ĐCCT dọc ven sông như sau:
1- Tầng cấu trúc cát hạt vừa - thô màu vàng nhạt tướng lòng sông lộ ngay trên bề mặt địa hình lòng dẫn hiện đại Thành phần chính là cát thạch anh từ hạt trung cho đến hạt thô, đôi chỗ còn là cuội sỏi lẫn đá tảng, kết cấu rời rạc, màu xám trắng, có nguồn gốc sông
2- Tầng cấu trúc cát hạt nhỏ - hạt vừa, màu vàng nhạt nguồn gốc bãi bồi sông tập trung chủ yếu dọc theo hai bên bờ sông Trà Khúc, sông Vệ Bề mặt của tầng này tương đối bằng phẳng, chiều dầy của tầng thay đổi từ vài mét đến hàng chục mét có xu thế tăng dần về phía lòng sông (LK4, LK7, LK9, LK17) Thành phần chính là cát thạch anh màu vàng nhạt, kết cấu xốp Thành phần hạt cát có kích thước d = 0,5 - 0,25 mm chiếm 45 - 50%, độ rỗng n = 0,57 - 0,86%, góc nghỉ tự nhiên từ 250 - 350
Trang 403- Tầng cấu trúc sét pha lộ ra trên bề mặt địa hình hiện đại nằm rải rác dọc hai bờ theo các sông Trà Khúc, sông Vệ và các nhánh của chúng Chiều dầy của tầng thay đổi từ 2 - 3 m tới hàng chục mét, mầu vàng nâu, lốm đốm nâu đỏ của oxit sắt, trạng thái tự nhiên đất ẩm đến bão hoà (độ bão hoà thay đổi từ 70% - 98%), dẻo cứng đến cuối tầng dẻo mền, tính dẻo trùng bình thấp (chỉ số dẻo thay đổi từ 5% - 20%) có nguồn gốc thềm sông (aQ1) Ở trong một số lỗ khoan (LK1, LK2, LK6, LK20, LK21) chiều dầy của tầng này khá lớn đạt tới trên 10,0 m
Thành phần chủ yếu của tầng này là cát pha sét đôi chỗ sét pha lẫn sỏi (LK6) kết cấu dẻo cứng cho tới dẻo mềm, trong đó cát chiếm từ 36 - 70%; sét chiếm từ 10 - 40%, còn lại là bột, kích thước hạt trung bình d = 0,2 - 0,1mm (chiếm tới 35%), chỉ số dẻo Id = 5 - 20% Đáy của tầng cấu trúc này không bằng phẳng và phủ trực tiếp nên các tầng cấu trúc khác nhau: cát, sét pha cát, cát sạn sỏi hoặc phủ nên tầng sét
4- Tầng cấu trúc cát chứa sạn Tầng này chủ yếu bắt gặp trong LK8 (P.Nghĩa Cánh), KL10 (X Nghĩa Hà), LK11, LK12 (X Tịnh Long), LK13, LK14, LK15 (X Nghĩa Hiệp), LK18 (TT sông Vệ), LK19 (X Đức Hiệp) LK22, LK23 (X Hành Phước) phổ biến ở độ sâu từ 3 m - 5 m Cát chứa sạn có màu vàng nhạt, trắng đục thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt thô - vừa ở trạng thái tự nhiên đất bão hoà, kết cấu xốp, nguồn gốc trầm tích sông (aQ1)
Thành phần chủ yếu của cấp hạt 0,1 - 0,25 mm chiếm từ 14 - 42%, cấp hạt từ 0,25 - 0,5 mm chiếm 20 - 25%, góc nghỉ tự nhiên 250 - 350 Hệ số rỗng thay đổi từ 0,5 - 1,1% Trong tầng cấu trúc này thường xen các thấu kính cát hạt hạt mịn Đáy của tầng cũng không bằng phẳng và phủ nên các tầng cấu trúc khác nhau
5- Tầng cấu trúc cát sạn sỏi đa khoáng Tầng cấu trúc này bắt gặp ở LK3, LK4 (X Nghĩa Thắng) nằm ở độ sâu 3 - 5 m, tại LK4 tầng này khoan