TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHVIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC BỘ MÔN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỀ TÀI SỐ 12: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NỢ XẤ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BỘ MÔN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI SỐ 12:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU VÀ GIẢI PHÁP
HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
NHÓM 12 – GIẢNG ĐƯỜNG A314 – CHỦ NHẬT
TP HỒ CHÍ MINH Tháng 5/2016
Trang 2DANH SÁCH PHÂN CÔNG THÀNH VIÊN NHÓM
Nghiên cứu 2 paper:
(1)Non-performing loans, moral hazard andregulation of the Chinese
commercial banking system
(2)Determinantsofnon-performingloans:Evidence from Euro-areacountries
4 Nguyễn Thành Nam
Làm và thuyết trình mục 4
Nghiên cứu 1 paper:
(1)Macroeconomic Determinants of BadLoans: Evidence from Italian Banks
5 Võ Lê Minh Tâm
Làm và thuyết trình mục 5
Nghiên cứu 2 paper:
(1)Economic Determinants of Performing Loans: Perception ofPakistani Bankers
Non-(2) The Determinants of NPLs in EmergingEurope, 2000-2011
Trang 3MỤC LỤC
1 KHÁI NIỆM NỢ XẤU, ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ XẤU 1
1.1 KHÁI NIỆM NỢ XẤU 1
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ XẤU 2
2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU 3
2.1 CÁC YẾU TỐ VI MÔ 3
2.2 CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ 5
2.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH ĐỒNG THỜI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VI MÔ VÀ YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN NỢ XẤU NGÂN HÀNG 6
2.4 MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 9
3 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TẠI CHÂU Á 10
3.1 KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC 10
3.2 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 12
3.3 KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN 14
4 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM 16
4.1 THỰC TRẠNG VỀ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM 16
4.2 CÁC PHƯƠNG THỨC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 21
5 GỢI Ý CHÍNH SÁCH 23
5.1 ĐỐI VỚI NHÀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 23
5.2 ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 24
Trang 41 KHÁI NIỆM NỢ XẤU, ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ XẤU
1.1 Khái niệm nợ xấu
Khái niệm:
- Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan”(NPL), “doubtful debt”, thông thường nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thểquá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều nàythường xảy ra khi khách hàng vay đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Tuy nhiênhiện nay đang tồn tại khá nhiệu khái niệm nợ xấu khác nhau:
+ Khái niệm về nợ xấu của Uy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS):
BSBC không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về cácthông lệ chung tại nhiều quôc gia về quản lý rủi ro tin dụng, BCBS xác định: việc khoản nợ
bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngânhàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hànhđộng gì để cố gắng thu hồi, người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày Dựa trên hướng dẫnnày, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người
đi vay không trả được nợ
+ Khái niệm nợ xấu của tổ chức tiền tệ IMF:
Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS)2, IMF đưa
ra định nghĩa về nợ xấu như sau:
Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn;khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trìhoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhậnthấy những dấu hiệu ro ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vayphá sản)
+ Khái niệm của Ngân hàng Thế giới (World Bank):
Nợ xấu tiếng anh là gì? Nợ xấu (Bad Debt) là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bịnghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khicác con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản
Trang 5- Tại Việt Nam, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22-4- 2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì “nợ xấu” được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là các
khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này Tỷ lệ nợxấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng”
Cũng theo Quyết định này thì
+ Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; Cáckhoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại”
+ Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các khoản
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.+ Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Cáckhoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạntrên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại
1.2 Ảnh hưởng của nợ xấu
Theo nhận định của ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Namthì “Nợ xấu đang trở thành gánh nặng không chỉ cho hoạt động ngân hàng, doanh nghiệp màcho cả nền kinh tế”
Khi có nợ xấu ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể Đầu tiên là bản thâncác ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó là tác động đến cả nền kinh tế
+ Ảnh hưởng của nợ xấu ngân hàng đối với ngân hàng
- Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn vốn của các NHTM
bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạtđộng, làm cho lợi nhuận bị giảm sút Nếu lợi nhuận không đủ thì ngân hàng còn phải dùngchính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy môhoạt động của các NHTM
- Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngânhàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêm trọnghơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự
ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng
+ Ảnh hưởng của nợ xấu ngân hàng đối với nền kinh tế
Trang 6- Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và cung cấptiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Do đó, rủi ro tín dụng cóảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế.
+ Ở mức độ thấp, rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăngtrưởng của nền kinh tế
+ Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thìhiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảngđối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đấtnước
- Mặt khác, khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vô hình đối với
+ Ảnh hưởng của nợ xấu ngân hàng đối với khách hàng
- Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì họ gầnnhư không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn kháctrong nền kinh tế do đã mất đi uy tín
- Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi rotín dụng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động
- Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãinếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản
2.1 Các yếu tố vi mô
Phần nội dung bên dưới chủ yếu dựa trên bài nghiên cứu:
Trang 72.1.1 Bài nghiên cứu thứ nhất: “Non-Performing Loans: Affecting Factor for the
Sustainability of Vietnam Commercial Banks” của tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ (2015)
Nội dung bài nghiên cứu: Bài nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra các yếu tố tác động
đến nợ xấu tại các NHTM tại Việt Nam Trong đó, bao gồm 4 yếu tố: Tỷ lệ nợ xấu nămtrước, Tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng tài sản, hình thức sở hữu
Mô hình nghiên cứu:
NPLsit = β + β1Dloansit + β2totalAit + β3NPLit-1 + β4DTrong đó:
TotalAit: Giá trị tổng tài sản năm t
NPLs: Tỷ lệ nợ xấu (= Giá trị nợ xấu/ tổng nợ)
Dloans: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (= Δ Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng = tỷ lệ tăng nợ năm t –(trừ) Tỷ lệ tăng nợ năm t-1)
D: biến giả hình thức sở hữu
Dummy = 0 nếu là ngân hàng Thương mại
Dummy = 1 nếu là ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước
Kết quả nghiên cứu:
xấu năm t-1 có mối tương quan dương với tỷ lệ nợ xấu năm t
- Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng có tương quan dương với tỷ lệ nợ xấu.
các Ngân hàng thương mại
- Biến giả hình thức sở hữu(D): có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê cho thấy các Ngân
hàng Quốc doanh có tỷ lệ nợ xấu cao hơn các Ngân hàng thương mại
2.1.2 Bài nghiên cứu thứ hai: “Non-performing loans, moral hazard and regulation of the
Chinese commercial banking system” của Dayong Zhang, Jing Cai, David G Dickinson, Ali
M Kutan (2016)
Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu này xem xét nhân tố hành vi cho vay tác động đến tỷ
lệ nợ xấu như thế nào tại Trung Quốc Hành vi cho vay được đo lường bởi các chỉ tiêu: tỷ lệtăng trưởng tín dụng, tốc độ tăng trưởng tiền gưi, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Trang 8Mô hình nghiên cứu:
DGR: tốc độ tăng trưởng tiền gửi
ER: vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản
CAR: tỷ lệ an toàn vốn
Kết quả nghiên cứu: Các kết quả ủng hộ giả thuyết rủi ro đạo đức, cho thấy sự gia tăng
trong tỷ lệ nợ xấu làm tăng rủi ro cho vay, có nguy cơ gây suy giảm hơn nữa chất lượng chovay và ổn định hệ thống tài chính
2.2 Các yếu tố vĩ mô
Phần nội dung bên dưới chủ yếu dựa trên bài nghiên cứu:
2.2.1 Bài nghiên cứu thứ ba: “Economic Determinants of Non-Performing Loans: Perception of Pakistani Bankers” của Muhammad Farhan, Ammara Sattar, Abrar Hussain
Chaudhry, Fareeha Khalil (2012)
Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu này đưa ra các yếu tố kinh tế gây ảnh hưởng đến nợ
xấu của các ngân hàng ở Pakistan từ năm 2006 Tác giả phân tích tác động của các yếu tốkinh tế vĩ mô là: lãi suất, khủng hoảng năng lượng, thất nghiệp, lạm phát, tăng trưởng GDP
và tỷ giá hối đoái đến nợ xấu của các ngân hàng
Mô hình nghiên cứu:
NPLzi = α0 + α1 IRi + α2 ECi + α3 UEi + α4 IFi + α5 GDPi + α6 ERi + €Trong đó:
- IR: Lãi suất
- EC: Khủng hoảng năng lượng
- UE: Tỷ lệ thất nghiệp
- IF: Tỷ lệ lạm phát
- GDP: Tốc độ tăng trưởng GDP
Trang 9- ER: Tỷ giá hối đoái
Kết quả nghiên cứu:
- Lãi suất, Khủng hoảng năng lượng, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái: cómối tương quan dương với nợ xấu của Ngân hàng
- Tốc độ tăng trưởng GDP: có mối tương quan âm với nợ xấu của ngân hàng
2.2.2 Bài nghiên cứu thứ tư: “Macroeconomic Determinants of Bad Loans: Evidence from
Italian Banks” của Bofondi, M and Ropele, T; (2011)
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến
chất lượng tín dụng tại các ngân hàng ở Ý trong vòng 20 năm Nhằm xem xét: Ảnh hưởngcủa các biến vĩ mô; những thay đổi của biến vĩ mô ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và dựbáo chất lượng tín dụng khi có sự thay đổi
Mô hình nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu:
- Tỷ lệ nợ xấu cho vay hộ gia đình tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng GDP và giá nhà đất
trong khi tỷ lệ thuận với tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất danh nghĩa ngắn hạn
- Nợ xấu đối với doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tỷ lệ thất nghiệp, và chi phí lãi vay ròng dùng
để phát triển hoạt động sản xuất
- Các biến kinh tế nêu trên ảnh hưởng đến nợ xấu của các đôi tượng có đỗ trễ khác nhau.
- Suy thoái kinh tế cũng làm gia tăng nợ xấu nhưng chủ yếu là do gia tăng tỷ lệ thất nghiệp 2.3 Các mô hình nghiên cứu phân tích đồng thời ảnh hưởng của các yếu tố vi mô và yếu tố vĩ mô đến nợ xấu Ngân hàng
2.3.1 Bài nghiên cứu thứ năm: “Micro and Macro Determinants of Non-performing
Loans” của Ahlem Selma Messai (2013)
Trang 10Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu đưa ra các yếu tố quyết định đến nợ xấu của 85 ngân
hàng tại 03 nước là Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha trong giai đoạn 2004 – 2008 Các biến được
sử dụng bao gồm cả các biến kinh tế vĩ mô (bao gồm: tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thấtnghiệp, tỷ lệ lãi suất thực tế) và các biến kinh tế vi mô (bao gồm: lợi nhuận trên tổng tài sản,
NPL / TLi,t: Tỷ lệ nợ xấu/ tổng nợ năm t;
Δ GDPt-1: Tốc độ tăng trưởng GDP năm t-1;
UN t: Tỷ lệ thất nghiệp năm t;
RIRt: Lãi suất thực năm t;
ROAi, t-1: LN/ tổng TS năm t-1;
LLR / TLi,t: Tỷ lệ trích lập dự phòng năm t;
ΔLoans i, t: Tốc dộ tăng trưởng tín dụng năm t
Kết quả nghiên cứu:
- Tốc dộ tăng trưởng GDP và LN/ tổng tài sản có tương quan âm với tỷ lệ nợ xấu.
- Tỷ lệ thất nghiệp, Lãi suất thực và tốc độ tăng trưởng tín dụng có tương quan dương với tỷ
lệ nợ xấu
- Tỷ lệ trích lập dự phòng không có ý nghĩa thống kê.
2.3.2 Bài nghiên cứu thứ sáu: “The Determinants of NPLs in Emerging Europe,
2000-2011” của Didar ERDİNÇ and Eda ABAZİ (2014)
Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu tập trung vào các mối liên kết giữa các biến vĩ mô
(gồm GDP, tín dụng tư nhân so với GDP, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước và tỷ lệlạm phát) và một loạt các biến cụ thể của ngân hàng trong trường mới nổi ở châu Âu trongthời gian 2000-2011
Mô hình nghiên cứu:
NPLit = δ0NPLit-1 + ∑ββjMacroVarit-1 + ∑βγ) + kBankVarit-1 + δ1dPostCrit + εit
Trang 11Trong đó:
MacroVar: Các biến vĩ mô gồm:
RGRWTH: Tốc độ tăng trưởng GDP thực
BPRIVCGDP: Tín dụng ngân hàng đối với khu vực tư nhân so với GDP
CRGRWTH: Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước
INF: Lạm phát
BankVar: Các biến về ngân hàng gồm:
LENDR: Lãi suất cho vay
ROA: Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản
LOANLOSS: Dự phòng rủi ro tín dụng
DPostCr: biến giả hậu khủng hoảng
Kết quả nghiên cứu:
- GDP và lạm phát có mối quan hệ tiêu cực với nợ xấu
- BPRIVCGDP và CRGRWTH: có mối quan hệ tích cực với nợ xấu =>ngân hàng hạn chếtăng trưởng tín dụng quá mức để đảm bảo sự ổn định tài chính
- Lãi suất cho vay: có mối quan hệ tích cực
- Lợi nhuận Ngân hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến nợ xấu
- An toàn vốn, thanh khoản, thị trường tập trung và mức độ sở hữu nước ngoài: không đóngvai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng mức độ nợ xấu
2.3.3 Bài nghiên cứu thứ bảy: “Determinants of non-performingloans: Evidencefrom
Euro-area countries” của Anastasiou Dimitrios,Louri Helen, Tsionas Mike (2016)
Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu đưa ra các yếu tố tác động đến nợ xấu, kiểm định cả
yếu tố vĩ mô và yếu tố vi mô, đặc biệt đưa vào hai yếu tố là thuế thu nhập và khoảng cáchsản lượng
Mô hình nghiên cứu:
NPLit = a0 + cNPLit-1 + biXit + βiXit-1 + aiMt + βiMt-1 + εit
Trong đó:
- NPL: tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn vay là biến phụ thuộc.
- ROE, ROA
Trang 12- LTD: tỷ lệ cho vay trên tiền gửi
- UNEMP: thất nghiệp
- TAXINC: thuế thu nhập tính theo % GDP
- FISAL: thâm hụt ngân sách chính phủ / thặng dư và nợ công theo% GDP
- DEBT: tổng nợ của chính phủ theo %GDP
- GROWTH: tăng trưởng GDP
- INFLRAT: tỷ lệ lạm phát
OUTPUT_GAP: khoảng cách sản lượng
Kết quả nghiên cứu:
- Các biến vĩ mô như tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng đều có ảnh hưởng mạnh mẽ.
- Thuế thu nhập và khoảng cách sản lượng có ảnh hưởng đáng kể.
2.4 Mô hình đề xuất
Từ các mô hình nghiên cứu trên, nhóm đưa ra các biến như sau:
Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
1 Tỷ lệ nợ xấu
1 Tỷ lệ nợ xấu năm trước Biến vi mô dương
2 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng Biến vi mô dương
3 Lợi nhuận/tổng TS Biến vi mô âm
4 Tốc độ tăng trưởng GDP Biến vĩ mô âm
5 Tỷ lệ lạm phát Biến vĩ mô dương
6 Tỷ lệ thất nghiệp Biến vĩ mô dương
7 Lãi suất cho vay Biến vĩ mô dương
Mô hình nghiên cứu dự kiến:
NPL it = β + β 1 NPL it-1 + β 2 Dloans it + β 3 ROA i,t-1 + β 5 ΔGPDGPD t-1 + β 4 IF i + β 6 UE i + β 7 IR i
Trong đó:
NPL: tỷ lệ nợ xấu
Dloans: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (= tỷ lệ tăng nợ năm t –tỷ lệ tăng nợ năm t-1)
ROA: tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản
Trang 13ΔGPD: Tốc độ tăng trưởng GDP
IF: Tỷ lệ lạm phát
UE: Tỷ lệ thất nghiệp
IR: Lãi suất cho vay
Dữ liệu nghiên cứu:
Dữ liệu được sử dụng để tính các biến vi mô: bao gồm các số liệu của các NHTM đang
hoạt động tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2005 -2015 Số liệu được thu thập từbáo cáo của các Ngân hàng và từ Webside VietStock.vn
Dữ liệu được sử dụng để tính các biến vĩ mô: số liệu được thu thập từ các báo cáo của
tổng cục thống kê, Webside của IMF từ năm 2005-2015
CHÂU Á
3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tình hình nợ xấu tại Hàn Quốc trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997
Những yếu kém trong cấu trúc của nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào việc mởrộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nướcngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tín dụng
và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia này Tính đến cuối tháng 3/1998, tổng nợ xấucủa các tổ chức tài chính (TCTC) của Hàn Quốc lên tới 118 nghìn tỷ Won (18% tổng dư nợ),chiếm tới 27% GDP
Mô hình xử lý nợ xấu tại Hàn Quốc – KAMCO và KDIC
Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định nợ xấu cần được xử lý ngay lập tức bằng 2 biện pháp:(1) Buộc các tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để xử lý một nửa giá trị các khoản nợ xấubằng việc yêu cầu các khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp; (2) Để Công ty Quản lýTài sản Hàn Quốc (Korean Asset Management Corporation- KAMCO) mua lại một nửa cáckhoản nợ xấu
KAMCO, tiền thân là công ty con của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, đã được cải tiến lạichức năng và nhiệm vụ thành cơ quan chuyên giải quyết nợ xấu thông qua Đạo luật quản lýhiệu quả nợ xấu của các TCTC và sự thành lập Cơ quan quản lý tài sản Hàn Quốc (the
Trang 14KAMCO Act) Chủ sở hữu của KAMCO là Bộ Tài chính và Kinh tế, Ngân hàng Phát triểnHàn Quốc và các TCTC khác, được quản lý bởi ban điều hành là các đại diện đến từ các chủ
sở hữu cộng thêm đại diện từ Ủy ban Giám sát Tài chính, Công ty Bảo hiểm Tiền gửi, Hiệphội các ngân hàng và 3 chuyên gia độc lập, hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban Giám sáttài chính
Để thực hiện quá trình xử lý nợ xấu, Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng tiêu chuẩn phân loại
nợ quốc tế để đánh giá thực trạng nợ xấu của các TCTC ở mức độ thắt chặt hơn nữa
Chính phủ Hàn Quốc đã huy động tới 157 nghìn tỷ Won Trong số này, 60 nghìn tỷ Wonđược sử dụng để bơm vốn thêm vào cho các TCTC, 39 nghìn tỷ Won được sử dụng để muacác khoản nợ xấu từ các TCTC, 26 nghìn tỷ Won để trả cho người gửi tiền của các TCTC bị
vỡ nợ
Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu
KAMCO tiến hành đánh giá kỹ lưỡng các khoản nợ và ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể
dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ, giúp các TCTC khôi phục lại hoạt động và hình ảnhtrước công chúng, và các khoản cho vay đồng tài trợ Các khoản nợ do KAMCO mua lạiđược chia thành 6 nhóm tương ứng với mức giá so với giá trị từng khoản vay được phânnhóm Khoản nợ xấu được định giá dựa trên khả năng thu hồi nợ, tài sản bảo đảm và phươngpháp định giá được thay đổi tùy theo từng thời kỳ Sau khi mua lại, KAMCO nhóm cáckhoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên cáckhoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh.Luật Chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được ban hành để thúc đẩy việc bán cáckhoản nợ cho các công ty có chức năng chứng khoán hóa các khoản xấu và bán lại cho cácnhà đầu tư
Bên cạnh đó, KAMCO cũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bánthu hồi lại tiền KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái tài trợ haychuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất,giãn nợ… Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợxấu, bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mualại cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty… Trong