1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về tín dụng nhà nước công tác huy động vốn trong nước và nước ngoài lấy số liệu minh họa tại địa phương các dự án vay nước ngoài để phát triển và mức độ tác động đến nợ công

31 528 37

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 168,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạnhiện nay, nước ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từngười dân , từ việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốcdoanh, từ nguồn vốn nước

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN 1 TÌM HIỂU VỀ TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC 4

I Những vấn đề chung về tín dụng: 4

1 Khái niệm: 4

2 Bản chất của tín dụng: 4

3 Chức năng của tín dụng: 5

4 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường: 5

II Tín dụng nhà nước: 7

1 Khái niệm: 7

2 Phân loại: 8

3 Ưu và nhược điểm của tín dụng nhà nước: 8

III Kết luận 9

PHẦN 2 CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI .11

I Những vấn đề lý luận về vốn phục vụ cho phát triển kinh tế VN: 11

II Công tác huy động vốn trong nước và nước ngoài của VN trong thời gian vừa qua: 13

1 Thực trạng huy động vốn trong nước 13

2 Thực trạng huy động vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 15

PHẦN 3 CÁC DỰ ÁN VAY NƯỚC NGOÀI TẠI HẢI PHÒNG VÀ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ CÔNG 22

I Siêu dự án 1,5 tỷ USD của LG 22

II Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện 23

III DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG ĐÔ THỊHẢI PHÒNG 24

KẾT LUẬN 29

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng chomọi hoạt động của nền kinh tế Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề cấpbách, trong đó đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởngkinh tế Do đó, để thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế trong giai đoạnhiện nay ở nước ta cần đến một lượng vốn lớn

Vốn cho phát triển kinh tế - xã hội chính là tiền đề để duy trì những thànhquả đã đạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừa qua, đồng thời giữvững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụthậu so với nhiều nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạnhiện nay, nước ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từngười dân , từ việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốcdoanh, từ nguồn vốn nước ngoài ODA ( hỗ trợ phát triển chính thức ), NGOs( nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài ) và đầu tư trực tiếpnước ngoài FDI Tuy nhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong nước là chủ yếu, nguồnvốn trong nước vừa phong phú vừa chủ động nằm trong tầm tay Hơn nữa,nguồn vốn trong nước chính là tiền đề cũng như điều kiện để “đón” các nguồnvốn từ nước ngoài Ngược lại, nguồn vốn nước ngoài sẽ không huy động đượcnhiều và sử dụng có hiệu quả khi thiếu nguồn vốn “bạn hàng” trong nước

Mặc dù điều kiện quốc tế thuận lợi đã mở ra những khả năng to lớn để huyđộng nguồn vốn từ bên ngoài, nhưng nguồn vốn ở trong nước được xem là quyếtđịnh cho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kinh tế

Qua nghiên cứu thực tế, với cơ sở kiến thức đã tích lũy được trong thời gianqua, em nhận thấy tầm quan trọng của việc huy động vốn đầu tư trong nước vànước ngoài, cũng như hoạt động tín dụng đảm bảo nhu cầu về vốn phục vụ chophát triển kinh tế VN trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ tính cấp thiết củavấn đề này, em đã chọn chuyên đề: “Tìm hiểu về tín dụng nhà nước? Công táchuy động vốn trong nước và nước ngoài? Lấy số liệu minh họa tại địa phươngcác dự án vay nước ngoài để phát triển và mức độ tác động đến Nợ công?”

Nội dung của chuyên đề này bao gồm các nội dung sau:

Trang 3

Phần 1: Tìm hiểu về tín dụng nhà nước.

Phần 2: Công tác huy động vốn trong nước và nước ngoài

Phần 3: Các dự án vay nước ngoài tại Hải Phòng và mức độ tác động đến Nợcông

Trang 4

PHẦN 1 TÌM HIỂU VỀ TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC

I Những vấn đề chung về tín dụng:

Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với kinh tế hàng hóa Sự ra đời

và tồn tại của nó bắt nguồn từ đặc điểm của chu chuyển vốn tiền tệ và sự cầnthiết sinh lợi đối với vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và nhu cầu vốn nhưng chưatích lũy kịp dẫn đến sự hình thành quan hệ cung cầu tiền tệ giữa người đi vay vàngười cho vay, do đó tín dụng xuất hiện, tồn tại như là một sự cần thiết kháchquan trong nền kinh tế

1 Khái niệm:

Tín dụng là các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụngquỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình táisản xuất và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả

2 Bản chất của tín dụng:

Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Ở bất cứphương thức sản xuất nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài là sự vay mượntạm thời một vật hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụngđược giá trị của hàng hóa trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi

Để vạch rõ bản chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tếcủa tín dụng trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối liên hệ của nó vớiquá trình tái sản xuất Về sự vận động của tín dụng, tín dụng là mối quan hệ kinh

tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau, thôngqua vận động giá trị vốn, tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ Hoặcquá trình vận động của nó thông qua các quá trình sau:

- Thứ nhất: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay

- Thứ hai: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất

- Thứ ba: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuầnhoàn của tín dụng

Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tíndụng, là dấu ấn phân biệt tín dụng với các phạm trù kinh tế khác

Trang 5

“tham dự phân phối” ở các cơ sở đi vay theo số lượng cho vay với tỷ suất lợi tức

đã ghi trong hợp đồng

- Chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của tín dụng có liên quan đếnđặc điểm quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn, đến mối quan hệ giữa ngườicho vay và người đi vay thông qua sự quản lý của Nhà nước

- Người có vốn cho vay luôn quan tâm đến sự an toàn của vốn, khôngnhững thế, họ còn mong muốn vốn của họ khi sử dụng có khả năng sinh lợi để

họ có thể thu về thêm khoản lợi tức Muốn vậy, người cho vay phải am hiểu vàkiểm soát hoạt động của người đi vay, từ khâu xem xét tư cách pháp nhân ngườivay, tình hình vốn, mặt hàng sản xuất kinh doanh cả về chất lượng và số lượng,khả năng trả nợ nói riêng và tình hình tài chính nói chung, quan hệ với các chủ

nợ khác… Sau khi xem xét tư cách pháp nhân để cho vay, người cho vay cònphải kiểm soát việc sử dụng vốn cho vay có đúng mục đích không, có hiệu quảkhông để điều chỉnh lượng vốn và để thu hồi vốn đúng thời hạn, kèm theo lợitức

4 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường:

Để thực hiện tốt các chức năng trên, tín dụng có vai trò sau:

a, Hoạt động tín dụng đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh vŕ nhu cầu tięu důng cho các cá nhân trong nền kinh tế:

Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp Việcphân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điềukiện cho quá trình sản xuất được liên tục

Trang 6

Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kíchthích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn cho đầu tư phát triển.Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hìnhthành vốn lưu động và cố định của các doanh nghiệp Vì vậy tín dụng đã gópphần động viên vật tư đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất.

Riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, lạmphát và thất nghiệp vẫn còn ở mức độ cao Vì vậy, thông qua việc đầu tư tíndụng sẽ góp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợplý

Mặt khác, thông qua hoạt động tín dụng mà sử dụng nguồn lao động vànguồn nguyên liệu một cách hợp lý, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồngthời góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

b, Thông qua hoạt động tín dụng, các tổ chức tín dụng tăng cường giám sát đối với khách hàng vay vốn, từ đó nâng cao hiệu quả chung trong toàn bộ nền kinh tế.

c, Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất:

Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, màvốn này nằm phân tán ở khắp mọi nơi, trong tay các nhà doanh nghiệp, các cơquan nhà nước và của cá nhân, trên cơ sở đó cho các đơn vị kinh tế vay Tuynhiên, quá trình đầu tư tín dụng không phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu,

mà việc đầu tư được tiến hành một cách tập trung, chủ yếu là cho các doanhnghiệp lớn, những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Đầu tư tập trung là quátrình tất yếu, vừa đảm bảo tránh rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy quá trình tăngtrưởng kinh tế

d, Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn:

Trong điều kiện nước ta nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầucần thiết cho xã hội, là ngành chịu tác động nhiều nhất của quá trình tự nhiên và

là ngành đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Vì vậy, trong giai

Trang 7

đoạn trước mắt, nhà nước cần tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp để giảiquyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồng thời tạo điều kiện để phát triểncác ngành kinh tế khác.

Bên cạnh đó, nhà nước cần tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh

tế mũi nhọn, nhằm tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành kinh tế khác

e, Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp:

Đặc trưng cơ bản của tín dụng là hoạt động trên cơ sở hoàn trả và có lợitức Vì vậy, hoạt động của tín dụng đã góp phần kích thích sử dụng vốn vay cóhiệu quả Khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì các doanh nghiệp phải tôn trọnghoạt động tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay theo đúng thời hạn vàtôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng Bằng cách tác độngnhư vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sửdụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để nângcao doanh lợi doanh nghiệp

II Tín dụng nhà nước:

1 Khái niệm:

Tín dụng nhà nước ( TDNN ) là quan hệ tín dụng giữa một bên là nhà nước

và một bên là các thành phần khác của nền kinh tế và nhà nước là người đi vay.Chủ thể trong quan hệ TDNN bao gồm người đi vay là nhà nước trungương, nhà nước địa phương Người cho vay là dân chúng, các tổ chức kinh tế vàngân hàng nước ngoài Trong nền kinh tế nhà nước là một chủ thể có ngân sáchriêng và kho bạc nhà nước là người đại diện thực hiện các khoản thu và chi ngânsách

Thu và chi ngân sách có thể diễn ra trong ba trường hợp sau:

- Thăng bằng ngân sách: Là trường hợp các khoản thu ngân sách đúng bằngcác khoản chi ngân sách Trong các khoản thu và chi này không tính các khoảnvay nợ và trả nợ

Trang 8

- Thặng dư ngân sách: Là trường hợp mà thu lớn hơn các khoản chi ròng.Phần thặng dư có thể sử dụng để trả các khoản nợ đã vay trong các tài khoảntrước hoặc gửi vào ngân hàng để dùng cho các mục đích sau này.

- Thiếu hụt ngân sách: Là các khoản thu nhỏ hơn các khoản chi ròng Để bùđắp các khoản chi này, kho bạc nhà nước phải đi vay phần thiếu hụt đó Nhưvậy, mục đích đi vay của tín dụng nhà nước là bù đắp khoản bội chi ngân sách

2 Phân loại:

Tín dụng nhà nước phân ra hai loại:

- Tín dụng ngắn hạn: Là khoản vay ngắn hạn của kho bạc nhà nước để bùđắp các khoản bội chi tạm thời Ví dụ, đầu năm ngân sách cần khoản chi ngay,nhưng tạm thời chưa có các khoản thu, cần phải đi vay để bù đắp, thời hạn vaythường dưới một năm Tín dụng ngắn hạn của nhà nước được thực hiện bằngcách phát hành kỳ phiếu kho bạc

- Tín dụng dài hạn: Là các khoản vay dài hạn của kho bạc nhà nước Thờihạn thường từ 5 năm trở lên, việc đi vay dài hạn được thực hiện bằng việc pháthành công trái

3 Ưu và nhược điểm của tín dụng nhà nước:

a, Ưu điểm:

- Đây là hình thức tín dụng có ưu thế tuyệt đối, là con đường tốt nhất khôngdẫn đến lạm phát và các vấn đề kinh tế xã hội

- Góp phần ổn định kinh tế xã hội và nâng cao phúc lợi xã hội

- Đây là hình thức tín dụng mà nhà nước không bao giờ phải trả nợ, việcthanh toán sẽ được thực hiện bằng cách phát hành ra đợt mới để trả nợ cũ

- Việc mua công trái đem lại cho người nông dân những khoản thu nhập vàhơn nữa mua công trái tương tự như gửi tiết kiệm nhưng có thể giàu lên mộtcách nhanh chóng mà không phải chịu rủi ro

b, Nhược điểm:

Tín dụng nhà nước có thể dẫn đến tình trạng chen lấn đầu tư của tư nhân dogây sức ép tăng lãi suất khiến cho đầu tư của tư nhân giảm xuống trong trườnghợp mức độ huy động tín dụng nhà nước không hợp lý

Trang 9

III Kết luận

Tình hình tăng trưởng tín dụng trong các năm từ 2001 - 2012

Qua những phân tích trên, có thể thấy quan hệ tín dụng có vai trò rất quantrọng trong nền kinh tế nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Việt Nam nói riêng Nó như một loại dầu nhớt bôi trơn giúp cho cỗmáy nền kinh tế vận hành một cách hiệu quả Nhìn từ khía cạnh kinh tế thì quan

hệ tín dụng góp phần tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội do nó làm tăng vòngchu chuyển của tiền tệ, giảm thiểu lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội Còn nhìn từkhía cạnh xã hội thì quan hệ tín dụng cũng có nhiều ưu điểm mang tính tích cực.Tuy nó không phải là nhân tố trực tiếp tác động nâng cao đời sống của dân cưnhưng nhờ có nó mà của cải xã hội được tạo ra nhiều hơn, như vậy một cáchgián tiếp quan hệ tín dụng đã tạo ra tiền đề vật chất để nâng cao đời sống nhândân, giúp chất lượng cuộc sống được cải thiện Và đó cũng chính là mục tiêu màtoàn Đảng toàn dân ta đang phấn đấu thực hiện, mang lại một cuộc sống ấm nohạnh phúc cho nhân dân

Trong thời gian qua, tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhưngquan hệ tín dụng ở Việt Nam cũng đã bộc lộ những điểm hạn chế nghiêm trọng.Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân, chủ quan có, khách quan có Nhưng đểthực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì tacần tiếp tục tích cực tiến hành đổi mới, hoàn thiện quan hệ tín dụng, để phát huy

Trang 10

hơn nữa những thành tựu và hạn chế tới mức thấp nhất những điểm yếu trongquan hệ tín dụng ở VN.

Hiện nay, xu hướng thế giới là toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới là một nềnkinh tế mở, việc thông thương ngày càng trở nên không có biên giới Chúng tacùng hy vọng rằng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước sẽ tậndụng được những thời cơ, đẩy lùi những thách thức, làm cho nền kinh tế ngàycàng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nhanh chóng đưanước ta vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa

Trang 11

PHẦN 2 CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI

I Những vấn đề lý luận về vốn phục vụ cho phát triển kinh tế VN:

Trước hết, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất, đồngthời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh tế

Nó bao gồm những nguồn vật tư và tài sản trong các doanh nghiệp, nguồn tiềnmặt hoặc các tài sản khác dự trữ của người dân Vì vậy, chính sách tạo vốn cơbản phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích của người có vốn và do đó, việc sử dụngvốn nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả kinh tế

Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết và chủ yếu là tạo ra môi trườngkinh tế và tiền đề pháp lý để biến mọi nguồn tiền tệ thành tư bản sinh lợi và tăngtrưởng trong quá trình tái sản xuất xã hội Các nguồn chủ yếu bao gồm: vốn đầu

tư kinh tế của nhà nước, vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền và tiềnnhàn rỗi của dân cư và vốn của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính quốc tế.Trong giai đoạn hiện nay, vốn là yếu tố vật chất quan trọng nhất cho tăngtrưởng Để tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7-8% thì cần tích lũy một lượngvốn từ 20-25% GDP Nếu trong những năm tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế làhai con số trong vài thập niên tới thì cần tỷ lệ tích lũy vốn phải lên tới trên 30%GDP Đây là một nhu cầu lớn cần phải giải quyết để khai thác nguồn vốn đặcbiệt là nguồn vốn trong nước

Vốn ngân sách nhà nước một thời gian giảm xuống nay đã bắt đầu tăng lên,năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đã tăng lên 44% ngân sách Để đạt được kếtquả đó thì nguyên nhân cơ bản là chính sách thuế đã được cải cách một cáchtoàn diện và thu được nhiều kết quả cho ngân sách Năm 1990 thu ngân sách từthuế phí chiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó là 93,8% Nếu so với GDP thìcác tỷ trọng tương tự là 17,3% và 17,06% Vốn huy động từ các nguồn kháccũng có xu hướng tăng do chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân và tạo dựngđược môi trường đầu tư cho mọi thành phần kinh tế phát triển

Trong việc huy động vốn để đầu tư phát triển, chúng ta cần phải khẳng địnhnguồn vốn trong nước đóng vai trò quan trọng và quyết định Mặc dù nguồn vốn

Trang 12

này còn thấp so với vốn dài hạn, khó huy động trong hiện tại, nhưng theo ý kiếncủa các chuyên gia trong và ngoài nước, cùng với kinh nghiệm của các nướcđang phát triển cho thấy: Nguồn vốn trong nước vẫn là nguồn vốn có tính chấtquyết định, người dân trong nước vẫn chưa dám bỏ vốn ra đầu tư thì người nướcngoài cũng chưa mạnh dạn bỏ vốn đầu tư vào VN.

Điều mà ai cũng có thể đồng ý với nhau là một nền kinh tế kém phát triển

có thể cất cánh được hay không còn phụ thuộc vào sự tham gia của các nguồnvốn từ nước ngoài Có thể thấy vai trò của nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa quantrọng nhằm hỗ trợ khai thông những cản ngại, tạo sức bật cho nền kinh tế pháttriển Vì vậy chúng ta nên nỗ lực huy động nguồn vốn từ bên ngoài dưới nhiềuhình thức khác nhau

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng đặc biệt với phần lớn cácnước đang phát triển và là điều kiện để nhanh chóng thiết lập các quan hệ kinh

tế quốc tế, gắn thị trường nội địa với thị trường thế giới trên cả bốn mặt: thịtrường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường lao động và thị trường thôngtin Vì vậy, phải xây dựng một chiến lược kinh tế đối ngoại đúng đắn, phù hợpvới những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị - xã hội và khoa học hiện nay.Cần có chính sách tài chính thích hợp để khuyến khích đầu tư nước ngoài dướihình thức vay nợ, đầu tư tài chính, đầu tư trực tiếp, mở chi nhánh kinh doanh,thuê chuyên gia… Thực hiện chế độ tài chính ưu tiên như thuế nhập khẩu vật tư

kỹ thuật, dịch vụ thông tin, thuế xuất nhập khẩu thành phẩm, thuế thu nhập,quyền được đảm bảo tài sản, điều kiện chuyển lợi nhuận và vốn về nước và cácdịch vụ đầu tư ưu đãi khác Khuyến khích đặc biệt đối với đầu tư nước ngoàicho các công trình cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, công nghệ mũi nhọn, cácngành sử dụng nhiều lao động và những dự án khai thác tài nguyên có số vốnkhổng lồ Mở rộng thị trường hối đoái bằng cách cho phép nhiều ngân hàngthương mại có đủ điều kiện về vốn và nghiệp vụ, được kinh doanh ngoại hối vàthực hiện dịch vụ thanh toán ngoại thương nhanh chóng, thuận lợi cho các doanhnghiệp trong và ngoài nước

Trang 13

Tóm lại, việc kết hợp giữa “khơi trong” và “hút ngoài”, giữa vốn tập trungcủa Nhà nước và vốn doanh nghiệp ( có được từ mọi nguồn ) theo một địnhhướng đầu tư đúng đắn, trong một cơ chế hoạt động tài chính thích hợp với từnggiai đoạn phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta là yếu tố có ýnghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài chính quốc gia,đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bước chuyển biến có ý nghĩa cơ bản của côngcuộc đổi mới cơ chế kinh tế.

II Công tác huy động vốn trong nước và nước ngoài của VN trong thời gian vừa qua:

1 Thực trạng huy động vốn trong nước

Thực trạng huy động vốn trong nước của VN được phản ánh thông qua thịtrường vốn những năm gần đây, cụ thể:

a,Thị trường vốn tín dụng ngân hàng:

Sau khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),Việt Nam đã quan tâm đến việc tái cấu trúc thị trường tài chính nói chung và thịtrường vốn nói riêng, phù hợp với thông lệ quốc tế Các chủ thể tham gia thịtrường cũng được cải thiện về năng lực tài chính, quy mô, quản trị rủi ro, đểtừng bước tham gia vào chuỗi kinh tế toàn cầu Với độ mở của nền kinh tế và thịtrường vốn, đầu tư xã hội đã có sự bứt phá mạnh mẽ, đặc biệt là đầu tư trực tiếpnước ngoài, đã đưa Việt Nam lên nhóm các nước có quy mô đầu tư xã hội trênGDP cao nhất thế giới

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tổng đầu tư xã hội sau 4 năm hộinhập WTO đều ở mức cao; Đầu tư ngoài nhà nước cũng tăng mạnh; Xuất nhậpkhẩu liên tục ghi nhận các kỷ lục mới; đưa Việt Nam thoát ra khỏi nhóm nước

có thu nhập thấp vào năm 2011 Những động thái này đã tạo cung vốn lớn chonền kinh tế thông qua thị trường vốn Mặt khác, các chủ thể tham gia trên thịtrường (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, DN, các quỹ đầu tư ) cầnphải tăng quy mô hoạt động, cải thiện tiềm lực tài chính, mở rộng sản xuất, ápdụng công nghệ trong kinh doanh để nâng cao năng suất lao động.Điều này đã tạo ra những cơ hội phát triển mới về phía cầu Tuy nhiên, do thị

Trang 14

trường vốn Việt Nam lệ thuộc lớn vào chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, khikinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát tăng cao, chính sách tài chính – tiền tệ điều hànhtheo hướng thắt chặt để đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô nên mặtbất lợi của chính sách thắt chặt đã tác động tiêu cực đến thị trường vốn Có thểthấy rõ sự biến động thất thường của TTCK cũng như thị trường vốn tín dụngngân hàng, những rủi ro tiềm ẩn từ nội tại các chủ thể tham gia thị trường, tìnhtrạng sở hữu chéo giữa DN với ngân hàng, giữa ngân hàng với công ty bảohiểm, chứng khoán, giữa các ngân hàng với nhau…

Đến nay, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò chi phối trên thị trường vốn.Thị trường cổ phiếu tuy đã được chú ý phát triển song song với tiến trình cổphần hóa DN nhà nước (DNNN), nhưng quy mô thị trường cổ phiếu vẫn nhỏ.Mức độ vốn hóa trên thị trường (của các công ty niêm yết) so với GDP đã đượccải thiện và đạt 39%/GDP vào năm 2010 nhưng lại giảm mạnh xuống còn 26%vào năm 2012 (cho dù TTCK Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong số cácnước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới) Vì thế, khi tín dụng cho nềnkinh tế giảm, hệ số giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế giảm (năm

2010 là 4,8 lần, năm 2012 giảm còn 1,76 lần, 9 tháng năm 2013 chỉ còn 1,2 lần),điều này đã ảnh hưởng lớn đến công việc làm của người lao động

Mặc dù là thị trường cung cấp vốn chủ yếu cho DN nhưng do khó khăn từnền kinh tế, khó khăn từ nội tại các DN và ngân hàng, những điểm nghẽn củanền kinh tế (nợ xấu, hàng tồn kho) không được giải quyết rốt ráo, trong khi giávốn rất cao (lãi suất cho vay bình quân năm 2012 ở mức 13-15%/năm, năm

2013 ở mức 10 -12%/năm), quá sức chịu đựng của DN Tình trạng nhiều DNkhông tiếp cận được vốn, trong khi hàng tồn kho tăng cao (năm 2012 bình quânkhoảng 28-30%; 9 tháng năm 2013 tăng bình quân 9,3%), năng lực cạnh tranhthấp, kinh doanh thua lỗ (tính đến 30/9/2013, số DN kê khai lỗ chiếm gần 66%)

… dẫn đến nhiều DN phá sản, ngừng hoạt động, giải thể, kéo theo cầu về vốngiảm mạnh, khiến tăng trưởng tín dụng năm 2012 chỉ dừng lại ở con số 8,91%

so với mục tiêu được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra là 15-17%, 9 thángđầu năm 2013 tăng 6,14% so với chỉ tiêu 12%/năm Nợ xấu và tốc độ tăng nợ

Trang 15

xấu Điều này không có nghĩa là chất lượng nợ tốt lên mà do hệ thống ngân hàng

đã cơ cấu lại nợ, chiếm khoảng 10% tổng dư nợ, sử dụng dự phòng rủi ro để xử

lý khoảng 3%, bán nợ xấu qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụngViệt Nam (VAMC) khoảng 0,3% Với những giải pháp xử lý này, nợ xấu của hệthống ngân hàng đã giảm xuống còn 4,64%

b,Thị trường chứng khoán:

Mặc dù nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với không ít khó khăn nhưng kinh

tế vĩ mô dần ổn định đã góp phần tác động tích cực hơn đến tâm lý nhà đầu tư và

sự phát triển của TTCK Kết thúc quý II/2013, thị trường cổ phiếu đã tăng khámạnh Chỉ số VN-Index tăng lên mức 524,5 điểm với khối lượng giao dịch lêntới hơn 94 triệu cổ phiếu, tương đương gần 1.661 tỷ đồng/phiên Tuy nhiên, cácgiao dịch trên thị trường không ổn định, dòng vốn nội có dấu hiệu chững lại dothiếu thông tin hỗ trợ đủ mạnh, trong khi đó các quỹ đầu tư ngoại có những hoạtđộng thoái vốn Chỉ riêng trong tháng 6 và tháng 8/2013, khối ngoại đã bán ròngvới giá trị lần lượt là 1.543 tỷ đồng và 881 tỷ đồng, dẫn đến thị trường cổ phiếu

bị chững lại với nhịp giảm khá mạnh Như vậy, mặc dù vẫn được xem là thịtrường có tốc độ tăng trưởng khá so với năm 2012 nhưng TTCK vẫn tiềm ẩnnhững rủi ro ngắn hạn, tính thanh khoản còn thấp Thị trường trái phiếu DN vẫnchưa phát triển, ngân hàng vẫn là thành viên chủ chốt tham gia thị trường này.Những bất cập này đã hạn chế việc cung cấp vốn với giá cạnh tranh cho các DN

2 Thực trạng huy động vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế ViệtNam Đó vừa là nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, vừa là một cách để chuyển giaocông nghệ, cũng là một giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động,tạo nguồn thu cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế… Tuy nhiên, để huy động và sử dụng nguồn vốn này hiệu quả trong bốicảnh kinh tế khó khăn hiện nay không hề dễ dàng

Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam được thể hiện dưới 04 hình thứcchính: (a) Đầu tư trực tiếp (FDI); (b) Đầu tư gián tiếp (FII); (c) Tín dụng quốc tế

Ngày đăng: 05/06/2016, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Quản lý Tài chính công và Tài sản công, Đại học Hàng Hải Việt Nam Khác
2. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Luật đầu tư nước ngoài năm 2000; Luật Đầu tư năm 2005 Khác
3. Các văn bản pháp quy của Chính phủ và các bộ, ban, ngành Trung ương về Đầu tư nước ngoài trên cơ sở dữ liệu Công báo Chính phủ Khác
4. Một số vấn đề về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ( Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2000 ) Khác
5. Các báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở kế hoạch và Đầu tư về kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012, 2013, 2014 Khác
6. Cùng một số website khác như: vietnamnet.vn; ourcity.com.vn, fia.mpi.gov.vn; gso.gov.vn… Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w