LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIHiệu quả kinh doanh của ngân hàng thông thường được đo lường bằng khả năngsinh lợi.. Và trên thực tế đã có nhiều nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-Đề tài môn Nghiệp Vụ Ngân hàng Thương Mại
TÁI CẤU TRÚC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI HIỆU QUẢ NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU TẠI CÁC NHTM
VIỆT NAM
GV: Cô Trần Thị Xuân Hương Thực hiện: Nhóm 9
Thành viên: Bùi Thị Thủy Dương
Lê Thị Khá
Lê Mi Na Đào Mỹ Loan Trương Nhân Nghĩa
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2I LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thông thường được đo lường bằng khả năngsinh lợi Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động hay khả năng sinh lợi của ngân hàng cơbản dựa trên hai lý thuyết: lý thuyết quyền lực thị trường (MP – Market power) và lýthuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure)
Lý thuyết MP có hai hướng tiếp cận chính: lý thuyết Cấu trúc – Hành vi- Hiệu quả(SCP – Structure –Conduct- performance) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối(RMP – Relative Market Power) Lý thuyết SCP cho rằng, cấu trúc của thị trường quyếtđịnh hành vi của công ty, và rằng hành vi quyết định kết quả trên thị trường, chẳng hạnnhư khả năng sinh lợi, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng Đặc biệt nhiều ngành có sự tậptrung cao tạo ra những hành vi dẫn đến kết quả kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảmsản lượng và hình thành giá cả độc quyền (Bain, 1951) Lập luận theo lý thuyết SCB, thịtrường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao và lãi suất huy động càngthấp vì mức độ cạnh tranh bị giảm đi.Trong khi đó, lý thuyết RMP gợi ý rằng, các công
ty có thị phần lớn và các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường vàkiểm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995a).Chẳng hạn một số ngân hàng lớn với
ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm, dịch vụ
và thu được nhiều lợi nhuận hơn
Ngược lại lý thuyết ES cho rằng, mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu suấtcông ty, hay nói cách khác, hiệu suất của công ty tạo nên cấu trúc thị trường Theo đó cácngân hàng đạt lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho,2011) Lý thuyết ES thường được đề suất theo hai hướng tiếp cận khác nhau, tùy thuộcvào loại hiệu suất được xem xét Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X (X – Efficiency), cáccông ty hiệu quả hơn thường đạt được lợi nhuận cao và thị phần lớn hơn, bởi vì họ có khảnăng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào Đối với hướng tiếp cậnhiệu quả theo quy mô, mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa trên quy mô.Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ vàotính kinh tế theo quy mô
Trang 3Bên cạnh 2 lý thuyết trên, lý thuyết về danh mục đầu từ cân bằng cũng đã được sửdụng để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn trong việc nghiên cứu về khả năng sinh lợi củangân hàng (Nzogang và Atemnkeng, 2006) Lý thuyết này cho rằng, nhà đầu tư có thể tốithiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức lợi nhuận kỳ vọng thông qua việc tạo ra danhmục đầu tư đa dạng hóa Theo đó, việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và các thành phầndanh mục đầu tư mong muốn của các NHTM là kết quả của các quyết định của ban quảntrị ngân hàng.
Như vậy có thể thấy lý thuyết MP cho rằng , khả năng sinh lợi của ngân hàng làmột hàm theo các yếu tố thị trường , trong khi lý thuyết ES và lý thuyết danh mục đầu tưlại cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ, và các quyếtđịnh quản trị, tức các yếu tố bên trong.Như vậy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng chịutác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Và trên thực tế đã có nhiều nhà nghiêncứu đã sử dụng các lý thuyết trên để đo lường các yếu tố tác động đến hiệu quả kinhdoanh của ngân hàng.Tuy nhiên, không có một lý thuyết nào có thể liệt kê đầy đủ cả yếutố bên trong và bên ngoài đó để giải thích cho sự thay đổi về hiệu quả kinh doanh củangân hàng thương mại
Các yếu tố bên trong dựa trên nền tảng khung phân tích CAMELS và bộ chỉ sốlành mạnh tài chính theo mẫu IMF
Khung phân tích CAMELS:
Hiện nay việc phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân hàng thườngđược thực hiện bằng khung phân tích CAMELS CAMELS đã được áp dụng từ nhữngnăm 1970, là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ bao gồm 6 yếu tố:Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản có (Asset Quality), Quản lý(Management), khả năng sinh lợi (Earning), thanh khoản (Liquidity), mức độ nhạy cảmvới rủi ro thị trường (Sensitivity to Market risk) CAMELS được Ủy ban giám sát ngânhàng BASEL và Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) đề xuất sử dụng
Bộ Chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs):
Trang 4Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bộ Chỉ số lành mạnh tài chính do IMF xâydựng và ban hành nhằm giúp lành mạnh hóa hệ thống tài chính, cũng như cảnh báo sớmnhững nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra cho hệ thông tài chính của các quốc gia thành viên.
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 1998), tái cấu trúc ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng
Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu, tái cấu trúc ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng Theo quan điểm này thì tái cấu trúc ngân hàng bao gồm tái cấu trúc
tài chính (financial restructuring), tái cấu trúc hoạt động (operational restructuring) vàgiám sát an toàn Trong đó, tái cấu trúc tài chính hướng đến việc phục hồi khả năng thanhkhoản bằng cách cải thiện bảng cân đối của các ngân hàng thông qua các biện pháp nhưtăng vốn, giảm nợ, hoặc nâng giá trị tài sản Tái cấu trúc hoạt động hướng đến mục tiêunâng mức lợi nhuận bằng cách chú trọng hơn đến chiến lược hoạt động, cải thiện hiệuquả và năng lực quản lý và hệ thống kế toán, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng Việcgiám sát và các quy tắc an toàn được đặt ra nhằm mục tiêu cải thiện năng lực hoạt độngcủa toàn bộ hệ thống ngân hàng dưới vai trò là trung gian tài chính
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thươngmại là thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngânhàng thương mại nhằm mục đích duy trì sự phát triển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệuquả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế,đặc biệt là chức năng thanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các NHTM
Trang 52.2 Đặc điểm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
- Một là, tính quyết liệt trong của công cuộc tái cấu: Hoạt động của NHTM có tầmảnh hưởng rộng khắp và lan truyền, chính vì vậy khi hệ thống ngân hàng yếu kém sẽ kéotheo sự suy yếu của tất cả các lĩnh vực khác Chỉ cần một ngân hàng đổ vỡ, nguy cơ đổ
vỡ toàn hệ thống rất lớn, và lan truyền rộng khắp còn gọi là hiện tượng Domino Chính vìvậy tái cơ cấu hệ thống NHTM đòi hỏi phải thực hiện một cách quyết liệt
- Hai là, tái cơ cấu hệ thống NHTM là chương trình mang tầm cỡ quốc gia: Nhưtrên đã đề cập về tầm ảnh hưởng của hệ hống NHTM đối với nền kinh tế xã hội của mộtquốc gia, vì vậy tái cơ cấu hệ thống ngân hàng không chỉ liên quan đến riêng ngành ngânhàng mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác Nếu chỉ để riêng hệ thống ngân hàng táicấu trúc thì sẽ không đạt mục tiêu đề ra Như vậy, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phảiđảm bảo có sự tham gia, phối hợp tích cực, hiệu quả của nhiều cơ quan quản lý nhà nước
2.3 Lý do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Lý do thứ nhất để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM khi hệ thống ngân hàng
phát sinh những vấn đề bất ổn và có nguy cơ đẩy hệ thống NHTM rơi vào khủng hoảngkéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủnghoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống Trong trường hợp này tái cấu trúc hệ thốngngân hàng là nhằm hồi sinh hệ thống NHTM Những dấu hiệu cho thấy hệ thống NHTM
có bất ổn trầm trọng cần phải thực hiện tái cấu trúc nhằm hồi sinh:
+ Khủng hoảng kinh tế kéo dài, môi trường kinh doanh của ngân hàng xấu đi dẫnđến các mặt hoạt động của ngân hàng kém hiệu quả, nợ xấu gia tăng, tỷ lệ an toàn vốngiảm sút Khi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao, nguy cơ mất vốn của ngân hàngngày càng lớn Hệ thống NHTM có nguy cơ mất thanh khoản, rủi ro vỡ nợ ngày càng lớn,hệ thống ngân hàng suy yếu, đe dọa sự bất ổn cho cả nền kinh tế, xã hội của một quốcgia, thậm chí cả khu vực.Trong bối cảnh đó niềm tin của các chủ thể trong nền kinh tế xãhội và hệ thống ngân hàng giảm sút và ảnh hưởng ngược lại cho chính các ngân hàng.Vòng xoáy đó ngày càng lan rộng, hướng giải quyết duy nhất là tái cấu trúc hệ thốngNHTM
Trang 6+ Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu: Khi khuôn khổ giám sát của chính phủ,ngân hàng trung ương chưa hoàn thiện, nhiều khe hở Khuôn khổ giám sát kém cộngthêm với cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM và sự quản lý yếu kém trong chính từngNHTM dẫn đến sự bùng phát những bất ổn trong cả hệ thống Đây cũng chính là lý do đểtái cấu trúc hệ thống NHTM.
Lý do thứ hai để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM là nhằm mục đích duy trì
sự phát triển ổn định, hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM
+ Khi nền kinh tế phát triển sẽ đòi hỏi hệ thống NHTM phải thay đổi để thích ứng,đảm bảo các mặt hoạt động có hiệu quả Sự thay đổi trong điều kiện này phải theonguyên lý vòng xoáy ốc dẫn đến, do vậy cần thiết phải tái cấu trúc hệ thống NHTM chomục tiêu phát triển
+Việc tái cấu trúc không chỉ thực hiện khi hệ thống NHTM trong tình trạng khủnghoảng với mục tiêu hồi sinh, mà việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng còn là công việcthường xuyên ngay cả khi hệ thống NHTM đang hoạt động bình thường hay hoạt độngtốt hướng tới mục tiêu phát triển Tái cấu trúc hệ thống NHTM nếu được xem là côngviệc thường xuyên sẽ tránh gây những hậu quả xấu cho hệ thống ngân hàng và nền kinhtế, giảm thiểu được chi phí cho việc tái cấu trúc
Như vậy lý do để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là:
(i) Hồi sinh hệ thống NHTM yếu kém;
(ii) Duy trì sự phát triển ổn định và hiệu quả của hệ thống
2.4 Nội dung tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
2.4.1 Tái cấu trúc tài chính
Nội dung trọng tâm của tái cấu trúc tài chính một NHTM là xử lý nợ xấu, tăng quy
mô và chất lượng vốn tự có cho các NHTM
+ Xử lý nợ xấu
Một trong những nội dung cần thiết trong tiến trình tái cấu trúc tài chính NHTM là phải xác định, nắm chính xác con số nợ tồn đọng của các ngân hàng được táicấu trúc là bao nhiêu, trên cơsở đó để có các bước xử lý có hiệu quả Để xử lý nợ xấu
Trang 7có thể áp dụng các biện pháp như: cấu trúc lại nợ, xử lý tài sản đảm bảo, bán cho công tymua bán nợ, chuyển nợ thành vốn góp,
+ Tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của các NHTM Ngân hàng là loại hìnhkinh doanh đặc biệt – kinh doanh ở lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, vốn tự có chỉ chiếm tỷtrọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh nhưng vốn tự có có ý nghĩa rất lớn đối với sựtồn tại và phát triển của NHTM vì nó không chỉ là yếu tố tạo nền tảng cho hoạt động củangân hàng, bảo bảo đảm sự an toàn cho ngân hàng trước những rủi ro không lường trước
mà còn duy trì niềm tin với khách hàng và điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, cụ thể:
o Tạo nền tảng cho hoạt động của NHTM: Vốn tự có là nguồn vốn dài hạn để đầu tưcho văn phòng, thiết bị, công nghệ Mặt khác nó còn là nguồn vốn để góp vốn, mua cổphần của các công ty khác hoặc thành lập các công ty trực thuộc (cho thuê tài chính, bảohiểm, công ty chứng khoán, …)
o Bảo đảm sự an toàn cho NHTM: Vốn tự có là nguồn bù đắp các tổn thất khi có rủi
ro trong cho vay và đầu tư; kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán; rủi ro hoạt động,… màkhông có nguồn bù đắp Vì vậy, mặc dù không thể thay thế cho việc quản trị điều hànhkém hiệu quả nhưng vốn tự có của ngân hàng cần thiết như là “tấm đệm”, tăng khả năngcủa ngân hàng trong việc chống đỡ những rủi ro không dự tính trước được
o Duy trì niềm tin và điều chỉnh hoạt động của NHTM: Vốn tự có một mặt tạo niềmtin đối với khách hàng, mặt khác là yếu tố điều chỉnh chính sách của ngân hàng như chovay, đầu tư, các trạng thái kinh doanh của ngân hàng
2.4.2 Tái cấu trúc hoạt động kinh doanh:
Cùng với việc làm sạch và tái cấu trúc Bảng cân đối kếtoán theo hướng lành mạnh,các NHTM cần phải triển khai các giải pháp củng cố, chấn chỉnh lại hoạt độngnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng và đáp ứng các chuẩn mực theothông lệquốc tế Tái cấu trúc hoạt động của các NHTM bao gồm các nội dung chính:
+ Thứ nhất, tái cấu trúc về sản phẩm, dịch vụ của NHTM:
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bao hàm toàn bộ các hoạt động mà ngân hàng cung ứngcho khách hàng liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán,… thông qua các
Trang 8kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu dịch vụ tài chính của khách hàng
mà pháp luật cho phép
Danh mục sản phẩm dịch vụ của ngân hàng càng đa dạng, càng thỏa mãnnhiều nhu cầu của khách hàng, dễdàng thu hút khách hàng, tăng doanh thu, giúp ngânhàng phát triển ổn định, bền vững Chính vì vậy, các NHTM cần phải:
- Tập trung củng cố, phát triển các hoạt động kinh doanh chính, loại bỏ các lĩnhvực kinh doanh rủi ro, kém hiệu quảvà từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh củacác NHTM theo hướng giảm bớt sựphụthuộc vào hoạt động tín dụng và tăng nguồn thunhập từ hoạt động dịch vụphi tín dụng
- Tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng truyền thống và nghiên cứu,triển khai, phát triển nhanh các dịch vụngân hàng hiện đại (dịch vụthanh toán điện tử,ngoại hối, đầu tư, quản lý tài sản, quản lý rủi ro cho khách hàng,…), đáp ứng những nhucầu khác nhau của khách hàng
- Mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động ngân hàng ở khu vực có tiềm năng pháttriển và giảm các chi nhánh, điểm giao dịch hoạt động kém hiệu quả
+ Thứ hai, tái cấu trúc về nhân sự
Nguồn nhân lực ở bất cứ ngân hàng nào là lợi thế so sánh quan trọng vì chính conngười là yếu tố“động nhất” trong mọi quá trình sản xuất Nguồn nhân lực của NHTMđược đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là số lượng lao động và chất lượng nguồnnhân lực
- Số lượng lao động: là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh nguồn nhân lực của mộtNHTM Nếu số lượng lao động hợp lý ở mỗi chi nhánh, mỗi điểm giao dịch thì sẽ tạođiều kiện thuận lợi để mở rộng các hoạt động kinh doanh cho các chi nhánh và toàn bộhệ thống NHTM
- Chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực của một ngân hàng đượcđánh giá qua các chỉ tiêu: trình độ học vấn; trình độ ngoại ngữ; trình độ tin học; các kỹnăng mềm như giao tiếp, thuyết trình, năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh, tinh thầntrách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm chuyên môn Chất lượngnguồn nhân lực là yếu tố quan trọng góp phần trong quá trình chực hiện việc nâng cao
Trang 9năng lực tài chính của NHTM Nguồn nhân lực đồng đều và chất lượng sẽgiúp triển khaicác hoạt động kinh doanh nhanh chóng và hiệu quả, ngăn ngừa, hạn chế được các rủi rotrong hoạt động về quy trình, nghiệp vụ và pháp lý Vì vậy, không những trong lĩnh vựctài chính mà hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế đều xem chất lượng nhân sự là yếu tốquyết định Đặc biệt, bộ máy quản trị ngân hàng cấp cao lại càng phải có chất lượng vìđây là bộ phận “đầu não” trong việc xây dựng, hoạch định và giám sát thực thi cácchiến lược ở cả hệ thống NHTM.
+ Thứ ba, tái cấu trúc về công nghệ
Công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt là trongthời kỳ hội nhập, sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng mạnh trên thế giới Theo quyluật, ngân hàng yếu sẽ bị thất bại, ngân hàng mạnh sẽ giành thế chủ động trên thịtrường
Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng bao gồm:
- Hiện đại về trang thiết bị, máy móc - Đây là những yếu tố cốt lõi để tạo ra cácsản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích và an toàn - Hiện nay bên cạnh các nghiệp vụtruyển thống các ngân hàng muốn thu hút khách hàng cần phải đa dạng hoá các loại hìnhdịch vụ Dịch vụ ngân hàng trong giai đoạn hiện nay chủ yếu là dịch vụ ứng dụng côngnghệ Nếu không hiện đại hoá công nghệ chắc chắn sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng sẽkhông được nâng cấp và rơi vào tình trạng lạc hậu Chẳng hạn, các loại thẻ thanh toánphải có tính đa năng, tiện ích và an toàn Đểcó được những tính năng quan trọng đó đòihỏi NHTM phải đầu tư vào công nghệ
- Hiện đại hoá công nghệ còn thể hiện ở các quy trình làm việc trong hệthống ngân hàng Giao dịch một cửa; bộ máy làm việc tách rời nhưng cùng hệthống, … Tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng, giảm chi phí nhân lực cho ngân hàng
- Hệ thống kiểm tra, giám sát, theo dõi thông tin về khách hàng, hệ thống kế toán,
… của NHTM đòi hỏi phải có sựchuẩn xác và hợp lý Giúp cho các NHTM chủ độngtrong việc dự báo, phòng ngừa và hạn chế rủi ro
Ngân hàng thuộc lĩnh vực cung ứng dịch vụtài chính, hầu hết các mảng hoạt độngcủa khu vực ngân hàng đều gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin Việc ứng dụngcông nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và có hiệu quả
Trang 10của từng ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung Do đó, hiện đại hoá côngnghệ ngân hàng là một nội dung tất yếu trong lộ trình tái cấu trúc các NHTM bởi khôngthể tách rời cơ cấu nội dung khác với công nghệ ngân hàng
+ Thứ tư, hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động
Thông thường cơcấu tổchức hoạt động của các NHTM trước khi tái cấu trúcthường mang tính chồng chéo và thiếu khoa học dẫn đến việc điều hành cũng như thựchiện các hoạt động trong hệ thống ngân hàng không có hiệu quả Bởi vậy, khi tái cấu trúcNHTM, nội dung về hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động ngân hàng được xem như mộttất yếu
Các nội dung cơ bản khi tiến hành tái cấu trúc tổ chức và quản lý NHTM:
- Rà soát và tái cấu trúc bộ máy tổ chức sao cho vừa tinh gọn vừa đảm bảo thựchiện hoạt động của ngân hàng được tiến hành thông suốt, hiệu quả, phòng ngừa rủi rohữu hiệu
- Phân tách giữa chức năng điều hành và chức năng giám sát để đảm bảo sự kiểmtra toàn diện và cân bằng về nguồn lực
2.4.3 Tái cấu trúc hệ thống quản trị:
Các NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt với đặc thù là tổchức kinh doanh “tiền”nên có độrủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn đối với hệthống tài chính và toán bộ nềnkinh tế Chính vì vậy, quản trị công ty đối với NHTM càng có ý nghĩa đặc biệt quantrọng
Vấn đề quản trị công ty đối với hoạt động của các NHTM đã được Ủy ban Baselban hành năm 1999, sửa đổi năm 2006, bao gồm 14 nguyên tắc cơ bản và chia thành sáunhóm:
+ Bốn nguyên tắc đầu tiên quy định rõ trách nhiệm chung, trình độnăng lực,thông lệ và cơ cấu riêng của Hội đồng quản trị cũng như cấu trúc công ty
+ Nguyên tắc thứ 5 quy định ban điều hành phải đảm bảo tất cả các hoạt độngcủa công ty phải phù hợp với chiến lược kinh doanh, mức độ chấp nhận và chính sách rủi
ro đã được Hội đồng quản trị phê duyệt
Trang 11+ Các nguyên tắc từ 6 đến 9 yêu cầu doanh nghiệp phải thiết lập các hệ thốngkiểm soát nội bộvà quản trị rủi ro hiệu quả Các rủi ro cần phải được phát hiện, theo dõitrên phạm vi toàn hệ thống, và cụ thể cho từng bộ phận kinh doanh Doanh nghiệp cần cómạnh lưới truyền thông nội bộ đối với các rủi ro, Hội đồng quản trị và ban điều hànhphải sử dụng kết quả làm việc của bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài mộtcách có hiệu quả
+ Nguyên tắc 10 và 11 quy định về chế độ đãi ngộ Hội đồng quản trị phải chủđộng giám sát việc thiết lập và thực thi chế độ đãi ngộ, chính sách đãi ngộphải gắn liềnvới quan điểm chấp nhận rủi ro một cách thận trọng
+ Nguyên tắc 12 và 13 quy định Hội đồng quản trị và Ban điều hành tại cáccông ty có cơ cấu phức tạp phải nắm vững cơcấu hoạt động và rủi ro mà công ty phải đốimặt, phải hiểu rõ và tìm biện pháp phân tán rủi ro phát sinh
+ Nguyên tắc 14 quy định quản trịngân hàng phải đảm bảo tính công khai vàminh bạch đối với cổ đông và các bên liên quan đến ngân hàng
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới luôn biến động khó lường thì quản trị công tynói chung và quản trị NHTM càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết Chính vì vậy, một trongnhững trọng tâm của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam là nâng caonăng lực quản trị công ty của các ngân hàng, cải thiện và hướng tới chuẩn mực quốc tế vềquản trị công ty, đảm bảo an toàn, tăng cường tính minh bạch, từ đó nâng cao năng lựccạnh tranh và phát triển bền vững
2.4.4 Tái cấu trúc sở hữu
Sở hữu là quan hệ cơ bản, quan hệ xuất phát trong quan hệ sản xuất Khi phântích đặc trưng của mọi phương thức sản xuất người ta phải chỉrõ vai trò quy định của cácquan hệ sở hữu đó với các quan hệ sản xuất và đối với toàn bộ các mặt của xã hội nóichung Bản chất của sở hữu là lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế Nếu không có lợi ích thìbản thân sở hữu sẽ không có ý nghĩa Sở hữu không có ý nghĩa tựthân mà là phương tiệnđểcon người thông qua nó mà thực hiện lợi ích của mình
Với tư cách là quan hệ chi phối lao động, sở hữu đồng thời quy định cả phươngthức
Trang 12hoạt động của các chủ thể ở mọi lĩnh vực sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng.Trong lĩnh vực ngân hàng, sở hữu quyết định chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động
và việc tuân thủ quy định pháp luật của từng loại hình NHTM
Theo hình thức sở hữu, có thể phân chia các NHTM thành những nhóm sau: + Ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân
Là ngân hàng do cá thể thành lập bằng vốn của cá nhân Loại ngân hàng nàythường nhỏ, phạm vi hoạt động thường là trong từng địa phương và thường gắn liền vớidoanh nghiệp và cá nhân ở địa phương
+ Ngân hàng thuộc sở hữu của các cổ đông (Ngân hàng thương mại cổ phần) Ngân hàng này được thành lập thông qua phát hành cổphiếu, việc nắm giữ các cổphiếucho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của ngân hàng, thamgia chia cổtức từthu nhập của ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất có thểxảy ra Cácngân hàng cổphần có khảnăng huy động vốn nhanh, quy mô lớn, vì vậy các NHTMCPthường là các ngân hàng lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng, có nhiều chi nhánhhoặc công ty con
+ Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước
Đây là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp Các ngân hàng nàythường được thành lập nhằm thực hiện một sốmục tiêu nhất định của chính phủ CácNHTM thuộc sở hữu công thường được nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh pháthành giấy nợ, do vậy rất ít khi bịphá sản Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các ngânhàng này phải thực hiện các chính sách của nhà nước có thể dẫn đến những bất lợi tronghoạt động kinh doanh của mình
+ Ngân hàng liên doanh
Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường làgiữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau.Hiện nay sự chuyển biến về sở hữu trong ngành ngân hàng gắn chặt với quá trình cảicách hệ thống ngân hàng Ở hầu hết các quốc gia, quá trình này diễn ra theo các hướngchính là tư nhân hóa, quốc hữu hóa hay sáp nhập, mua lại và cổ phần hóa Việc thay đổicấu trúc sở hữu sẽ hỗ trợ nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh, tạo
Trang 13điều kiện trao đổi kinh nghiệm, nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ giữa các đốitác, giúp các ngân hàng tăng vốn đáp ứng theo yêu cầu của Chính phủ từ đó góp phầnnâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển hiệu quả, bền vững cho hệ thốngnày Xu hướng chung tại các quốc gia, việc sắp xếp lại hệ thống ngân hàngthương mại là quá trình thay đổi cấu trúc sở hữu theo xu hướng giảm dần tỷ lệ sở hữunhà nước, tăng dần tỷ lệ sở hữu trong lĩnh vực này cho các thành phần kinh tế khác Mộttrong những chuyển biến tích cực là các quốc gia chú trọng thu hút vốn đầu tư nướcngoài thâm nhập vào lĩnh vực ngân hàng.
2.5 Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Đề án tái cấu trúc các tổ chức tín dụng giai đoạn năm 2011 – 2015 (ban hành kèmtheo quyết định số 254/QĐ-TTG ngày 01/03/2012 của Thủ tướng chính phủ
2.5.1 Mục tiêu:
Trong giai đoạn 2011 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củngcố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quảhoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trườngtrong hoạt động ngân hàng Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất 01 - 02ngân hàng thương mại có quy mô và trình độ tương đương với các ngân hàng trong khuvực
- Khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng theo nguyêntắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế củacác bên có liên quan theo quy định của pháp luật
- Thực hiện cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị của các tổ chức tíndụng theo các hình thức, biện pháp và lộ trình thích hợp
Trang 14- Không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soátcủa Nhà nước
2.5.3 Giải pháp chung:
- Cơ cấu lại tài chính:
Xử lý nợ xấu:
Bán nợ xấu có tài sản bảo đảm cho Công ty Mua bán nợ và Tài sản tồn đọng doanhnghiệp (DATC) hoặc cho các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng, công ty muabán nợ tư nhân và công ty mua bán nợ của các ngân hàng thương mại
+ Xóa nợ bằng nguồn dự phòng rủi ro; xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ Chuyểnnợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay; xóa nợ bằng nguồn vốn ngân sách nhànước
+ Chính phủ xem xét mua lại các bất động sản thế chấp vay ngân hàng sắp hoànthành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được để phục vụ cho mục đích an sinh xã hội
và hoạt động của các cơ quan nhà nước
Tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của NHTM: Bảo đảm mức vốn tự có khôngthấp hơn mức theo quy định của pháp luật và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn tối thiểutheo quy định của pháp luật thông qua:
+ Tăng vốn điều lệ bằng phát hành cổ phiếu bổ sung, tăng vốn góp từ các cổ đông,thành viên góp vốn hiện hành và các nhà đầu tư trong nước, ngoài nước; + Chuyển nợthành vốn góp, cổ phần của TCTD được cơ cấu lại
Đến cuối năm 2015, TCTD phải đạt mức vốn tự có đủ để bù đắp rủi ro tín dụng, rủi
ro thị trường và rủi ro tác nghiệp theo quy định của Basel II
- Cơ cấu lại hoạt động:
Tập trung củng cố, phát triển các hoạt động kinh doanh chính và loại bỏ các lĩnhvực kinh doanh rủi ro, kém hiệu quả
Tập trung tín dụng ngân hàng vào các ngành, lĩnh vực thuộc 3 khâu đột phá chiếnlược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và ưu tiênvốn tín dụng cho sản xuất, phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu,công nghiệp phụ trợ, sản xuất - chế biến, doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 15 Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại theohướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng nguồn thu nhập từhoạt động dịch vụ phi tín dụng
Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, trong đó tập trung nâng cao chất lượng dịch vụngân hàng truyền thống và phát triển nhanh các dịch vụ ngân hàng hiện đại (dịchvụ thanh toán, ngoại hối, đầu tư, quản lý tài sản, quản lý rủi ro cho khách hàng,
…)
Phát triển nhanh dịch vụ thanh toán một cách an toàn, hiệu quả, đặc biệt là các sảnphẩm, dịch vụ thẻ thanh toán trên cơ sở đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ, hệthống thanh toán và tăng các tiện ích thẻ thanh toán, điểm chấp nhận thẻ
Mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động ngân hàng ở khu vực nông thôn; phát triểnmạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùngxa; giảm các chi nhánh, điểm giao dịch hoạt động kém hiệu quả;
Nâng cao tính ổn định và bền vững khả năng chi trả của các TCTD: Tăng mức độ
ổn định nguồn vốn theo hướng tăng tỷ trọng nguồn huy động có kỳ hạn dài; cảithiện sự cân đối, hợp lý về kỳ hạn và đồng tiền giữa nguồn vốn và sử dụng vốn;từng bước giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng so với huy động vốn và đến cuối năm 2015đạt mức bình quân toàn hệ thống không quá 85%
- Cơ cấu lại hệ thống quản trị:
Củng cố và đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng phù hợp hơn các thông lệ chuẩn mựcquốc tế:
Tăng tính minh bạch hóa hoạt động ngân hàng thông qua việc áp dụng cơ chế mới
về công bố thông tin của các TCTD
Niêm yết cổ phiếu các ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường chứngkhoán
Tăng tính đại chúng của ngân hàng thương mại cổ phần và tăng số lượng các nhàđầu tư, cổ đông trong các đợt tăng vốn điều lệ
Trang 16 Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là cổ đông hoặc có vốn góp tại cácTCTD phải có kế hoạch hợp lý thoái vốn đầu tư và chấm dứt kinh doanh tronglĩnh vực ngân hàng
Hạn chế sự chi phối, thao túng của cổ đông lớn đối với ngân hàng thương mại cổphần; kiên quyết xử lý đối với các cổ đông lớn, người có liên quan vi phạm quyđịnh về giới hạn sở hữu cổ phần tại ngân hàng thương mại cổ phần và các TCTDsở hữu vốn chéo lẫn nhau Cổ đông, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng vi phạm quy định
về góp vốn, mua, sở hữu vốn, cổphần phải được xử lý theo quy định của pháp luật.Trường hợp tổ chức tín dụng mua lại cổ phiếu, vốn góp của tổ chức tín dụng cơcấu lại theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dẫn đến vượt quá giớihạn quy định sẽ được xử lý trong thời hạn chậm nhất là 5 năm kể từ khi thực hiện
Nâng cao các điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản trị, kinh nghiệm công tác vàtrình độ chuyên môn đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt của cácTCTD (Chủ tịch hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc/Giám đốc,Thành viên hội đồng quản trị/hội đồng thành viên,…)
Xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh mới
Triển khai các quy trình, chính sách kinh doanh nội bộ lành mạnh; Áp dụng cóhiệu quả cao các phương thức quản trị, điều hành tiên tiến phù hợp với thông lệ,chuẩn mực quốc tế và quy định của pháp luật
Phát triển các hệ thống quản trịrủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực củaỦy ban Basel, trong đó tập trung vào các hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản, rủi
ro tín dụng, rủi ro thịtrường (giá cả, lãi suất, tỷ giá) và rủi ro tác nghiệp; phát triểncác hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòngrủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế và mức độ rủi ro tín dụng; nâng cao năng lựcđánh giá, thẩm định tín dụng và quản lý, giám sát rủi ro tín dụng của TCTD
Đổi mới và nâng cao hiệu quả hệthống kiểm soát, kiểm toán nội bộ
Cơ cấu, sắp xếp lại các bộ phận chức năng kinh doanh, quản trị, điều hành; sắpxếp, bố trí hợp lý cán bộ và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngânhàng có trình độ cao, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp tốt
Trang 17 Hiện đại hóa hệ thống công nghệ; Phát triển hệ thống thông tin quản lý nội bộ, hạtầng công nghệ thông tin và hệthống thanh toán nội bộ của các ngân hàng thươngmại; Nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạtđộng và yêu cầu quản trị, điều hành của TCTD
2.5.4.Giải pháp cụ thể:
- Đối với ngân hàng thương mại Nhà nước:
Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước
Tăng nhanh quy mô và năng lực tài chính thông qua: phát hành cổ phiếu bổ sung
và nguồn vốn từ Chính phủ; Mua lại, sáp nhập tổ chức tín dụng; Mở rộng nguồnvốn huy động
Nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấudưới 3%
Đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng: hiện đại hóa hệ thống quản trị rủi ro, nângcao hiệu quả hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ
Hiện đại hóa hệ thống công nghệ để phát triển dịch vụ ngân hàng mới và nâng caochất lượng dịch vụ ngân hàng, hỗ trợ quản trị ngân hàng
Tiếp tục mở rộng mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch; ưu tiên khu vực nôngthôn; tích cực gia nhập thị trường tài chính quốc tế và khu vực
Tiến hành rà soát, củng cố các hoạt động kinh doanh chính; cơ cấu lại triệt để cáccông ty con; từng bước thoái vốn đầu tư ngoài ngành
Đa dạng hóa các phương thức huy động vốn; đến năm 2015 giảm tỷ lệ dư nợ tíndụng so với vốn huy động về mức không quá 90%
Phát triển đội ngũ cán bộ
- Đối với các NHTM cổ phần khác:
NHTM lành mạnh: tự củng cố, chấn chỉnh hoạt động và nâng cao năng lực cạnhtranh; Mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động; Tham gia xử lý các ngân hàng yếukém và thiếu hụt thanh khoản
Trang 18 NHTM thiếu thanh khoản tạm thời: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tái cấp vốn đểđảm bảo thanh khoản; giám sát chặt chẽ tình hình tài chính và hoạt động; khuyếnkhích sáp nhập và hợp nhất
NHTM yếu kém: NHNNVN tái cấp vốn để đảm bảo thanh khoản; kiểm soát đặcbiệt khi cần thiết Sáp nhập, hợp nhất và mua lại các NHTM yếu kém
2.5.5.Lộ trình thực hiện:
- Giai đoạn 2011 – 2012:
Đánh giá, xác định thực trạng hoạt động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các tổchức tín dụng;
Tiến hành đánh giá và phân loại tổ chức tín dụng;
Xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém và tổ chứctín dụng khác;
Tập trung hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm khả năng chi trả của các tổ chức tíndụng; thương mại nhà nước (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam);
Triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; * Tăng vốn điều lệ và xửlý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; * Cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị
Kết quả dự kiến: Khả năng chi trả của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản được
bảo đảm, đồng thời xác định, kiểm soát được tình hình của tổ chức tín dụng yếu kém đểlàm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cơ cấu lại ở giai đoạn sau
- Giai đoạn 2013:
Hoàn thành sửa đổi, bổ sung các quy định an toàn hoạt động ngân hàng;
Tiếp tục triển khai lành mạnh hóa tài chính của các tổ chức tín dụng, bao gồm xửlý nợ xấu và tăng vốn điều lệ;
Triển khai cơ cấu lại hoạt động và quản trị;
Hoàn thành căn bản cơ cấu lại sở hữu, pháp nhân của ngân hàng thương mại cổphần yếu kém;
Hoàn thành cơ cấu lại các công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
Trang 19Kết quả dự kiến: Nguy cơ đổ vỡ hệ thống các tổ chức tín dụng được loại bỏ Các tổ chức
tín dụng yếu kém được xử lý về cơ bản Kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực ngân hàng đượclập lại và củng cố
- Giai đoạn 2014:
Hoàn thành căn bản cơ cấu lại tài chính của tổ chức tín dụng;
Các tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ mức vốn điều lệ thực và các chuẩn mực, giớihạn an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định pháp luật;
Tiếp tục triển khai cơ cấu lại hoạt động và quản trị;
Tiếp tục sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện
- Giai đoạn 2015: Hoàn thành cơ cấu lại hoạt động và quản trị
III MỐI QUAN HỆ GIỮA TÁI CẤU TRÚC VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NGÂN HÀNG
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng chịu tác động của nhiều yếu tố bên trong vàbên ngoài Và trên thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các lý thuyết về hiệuquả ngân hàng để đo lường các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
3.1 Một số paper đo lường các yếu tố bên trong tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng:
nội địa nước đó như: sự giám sát ngân hàng yếu kém, sự can thiệp về chính trị và do nguồn vốn không đủ Hay hệ thống ngân hàng của
một quốc gia có thể đã không còn hợp thời và đang cần thiết lập lại,giống như trong trường hợp của nhiều quốc gia đang phát triển và tấtcả các quốc gia chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sangkinh tế thị trường Các sức mạnh bên ngoài, ví dụ như sự rớt giá củahàng hóa dịch vụ xuất khẩu chính, có thể kích thích hay góp phầnlàm tệ hơn cuộc khủng hoảng
Trong một cuộc khủng hoảng ngân hàng, những người gửi tiền,những người vay tiền và các cổ đông (owners) của ngân hàng đềumất niềm tin và họ đồng thời tìm cách đề thu hồi vốn của họ bằng
Trang 20cách rút tiền ra Một ngân hàng đơn lẻ có thể không thất bại vớinhững ảnh hưởng mang tính quốc gia, nhưng khi có liên quan đếnmột lượng tiền gửi với quy mô mô lớn trong một hệ thống ngân hàngquốc gia, vấn đề sẽ trở thành hệ thống và gây tê liệt cho nền kinh tế.Chính phủ không có lựa chọn và phải hành động, và giải pháp có sẵntrong khủng hoảng là thắt chặt và tiết kiệm hơn.
Các quốc gia sử dụng nhiều phương pháp để giải quyết khủng hoảngngân hàng, với những mức độ thành công khác nhau Tác giả của bàinghiên cứu đã phân tích kinh nghiệm của 24 quốc gia đi đầu trongviệc sửa đổi vào những năm 1980 và những năm đầu thập niên 90: 4quốc gia công nghiệp, 15 quốc gia đang pháp triển và 5 quốc giatrong quá trình chuyển đổi sang định hướng thị trường
Tác động của M&A đến hiệu quả hoạt động tài chính (financial
performance) của các ngân hàng thương mại ở Kenya
M&A thể hiện một vai trò quan trọng trong việc làm cho các công ty
có thể đạt được nhiều mục tiêu và chiến lược tài chính khác nhau ỞKenya, các ngân hàng được sáp nhập với mục tiêu nâng cao năng lựctài chính của họ Nghiên cứu này thực hiện dựa trên các ngân hàng
mà có hoạt động sáp nhập hay mua lại ở Kenya trong giai đoạn từ
2000 – 2014 Mục đích của nghiên cứu này là phân tích liệu việc sápnhập có tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng không.Nghiên cứu này được thực hiện bởi các mục tiêu sau: để xác định tácđộng của M&A lên giá trị của cổ đông và để xác định mối liên hệ củahoạt động M&A lên khả năng sinh lợi Nghiên cứu này thống kê tấtcả 14 ngân hàng có hoạt động M&A trong giai đoạn từ 2000 – 2014.Dữ liệu được thu thập bằng việc sử dụng bảng câu hỏi bao gồm câuhỏi mở và đóng Tác giả sử dụng phần mềm SPSS để phân tích cácdữ liệu thu thập được Nghiên cứu tìm thấy rằng hoạt động M&A làmgia tăng giá trị cổ đông của các ngân hàng có hoạt động M&A ởKenya Nghiên cứu còn phát hiện ra lý do chính tại sao hầu hết cácngân hàng có hoạt động M&A có thể gia tăng khả năng sinh lợi củahọ Tác giả khuyến nghị rằng những nghiên cứu hoàn toàn khả thinên được thực hiện trước khi quá trình sáp nhập/ mua lại diễn ra Chonghiên cứu xa hơn, việc tìm hiểu tác động của hoạt động sáp nhập/mua lại trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế nên được thiết lập vớimột cái nhìn đồng thời với tác động của nó lên lĩnh vực ngân hàng