Nó giúp các emchiếm lĩnh được tri thức, hình thành trong các em các kĩ năng cơ bản nhất Nghe-Nói- Đọc- Viết và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiế
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN PHÙ CỪ
TRƯỜNG TIỂU HỌC TỐNG TRÂN
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU 3
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
PHẦN II PHẦN NỘI DUNG 8
I THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY LẬP DÀN Ý VĂN MIÊU TẢ 8
II GIẢI PHÁP THỰC HIỆN VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 12
III KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 31
PHẦN III KẾT LUẬN 34
I BÀI HỌC KINH NGHIỆM 34
II ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 37
III KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 38
LỜI CẢM ƠN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 3Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng giáodục nói chung phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc học Tiểu học Mụctiêu Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự pháttriển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và kỹ năng cơ bản
để học sinh tiếp tục học lên các bậc học trên
Trong các môn học ở bậc Tiểu học thì môn Tiếng Việt chiếm một vị trí rất quantrọng nó không chỉ được thể hiện ở thời lượng của môn học trong chương trình bậchọc mà nó còn thể hiện ở nội dung, mục tiêu của chương trình Nó giúp các emchiếm lĩnh được tri thức, hình thành trong các em các kĩ năng cơ bản nhất Nghe-Nói- Đọc- Viết và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập
và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, thông qua việc dạy và họcTiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy để từ đó các em có cơ hộihọc tập các môn học khác cũng như vận dụng những hiểu biết của mình vào cuộc
Trang 4sống, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách củahọc sinh Thông qua môn học mà hình thành nên con người mới với vốn kiến thức,với trình độ văn hóa, có năng lực kết hợp những tinh hoa văn hóa dân tộc kết hợpvới sức mạnh thời đại Thực tiễn đã chứng minh điều đó Do đó việc quan tâm, bồidưỡng để các em có kiến thức, kĩ năng và qua đó bồi dưỡng tình cảm cho các em làviệc không thể thiếu.
Phân môn Tập làm văn trong chương trình Tiếng Việt hội tụ đầy đủ kiến thức, kĩnăng của nhiều phân môn khác của chương trình Tiếng Việt Nó phản ánh tươngđối đầy đủ kết quả học tập các phân môn khác, môn học khác, vốn hiểu biết, kĩnăng và đặc biệt nó thể hiện tình cảm, nhân cách của các em qua bài tập làm văn Bên cạnh đó phân môn còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản vềTiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hoá,văn học Việt Nam và nước ngoài
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,giàu đẹp của tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa
Học Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng, học sinh đượctrang bị những kiến thức cơ bản và tối cần thiết giúp các em hoà nhập với cộngđồng và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Cùng với môn Toán và một sốmôn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn sẽ lànhững hành trang trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứuthế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài người Trong đó phân mônTập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc mônTiếng Việt (Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện ) Chính vì thế, việcdạy và học Tập làm văn đặc biệt là thể loại văn miêu tả là vấn đề luôn luôn cần có
sự đổi mới Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp, kĩ thuật, ứng dụng cũ, “ giáo
án cũ” vào dạy học mà lại mong có chất lượng thực sự được
Trang 5Đối với việc dạy học cùng với việc kế thừa cái cũ, cái vốn có đòi hỏi phải
là một sự sáng tạo Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi mới nộidung và phương pháp dạy học có chỉ ra quy trình các bước lên lớp rất cụ thể, rõràng Còn với phân môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra quy trìnhchung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo sự vận dụng những phươngpháp, kĩ thuật, ứng dụng mới của giáo viên khi lên lớp
2 Cơ sở thực tiễn
Là GV đứng lớp nhiều năm ở bậc Tiểu học, qua kết quả kiểm tra định kìhằng năm, tôi nhận thấy kết quả học lực môn Tiếng Việt nói chung, môn Tập làmvăn nói riêng của học sinh từ khối 1 đến khối 3 đạt nhiều học sinh khá, giỏi hơnkhối lớp 4 ; 5 Thời gian gần đây và năm nay, tôi được BGH nhà trường phâncông dạy khối lớp 5, qua nhiều lần kiểm tra, chấm bài bản thân tôi rất trăn trở vềchất lượng của học sinh ở môn Tập làm văn, cùng với việc kết hợp rút kinhnghiệm qua các tiết học và tình hình học tập trên lớp của học sinh qua các nămhọc Tôi thấy, phần mà học sinh khối lớp 5 vướng phải nhiều nhất ở môn Tập làmvăn là học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc lập dàn ý để chuẩn bị cho bàiviết văn đặc biệt là thể loại bài văn miêu tả Đây là vấn đề cấp thiết mà nhiều giáoviên và các nhà quản lí trăn trở song tìm ra lời giải đáp thì quả thật không đơngiản
Năm học 2012-2013, trong chương trình tập huấn bồi dưỡng giáo viên,Phòng GD- ĐT Phù Cừ triển khai tập huấn chuyên đề Ứng dụng Sơ đồ tư duytrong dạy học bậc Tiểu học, tôi đã được tiếp cận và cảm thấy thật sự mình đó tìm
ra chìa khóa giải quyết vấn đề mà bản thân và các đồng nghiệp đặt ra Sơ đồ tưduy giúp gì cho HS trong môn Tập làm văn ? Qua việc giảng dạy, ứng dụng Sơ
đồ tư duy vào môn học, bản thân tôi thấy được vai trò rất lớn của việc ứng dụng
Sơ đồ tư duy vào môn học
Trang 6Qua thực tế giảng dạy tôi thấy được vướng mắc của học sinh khi học tập phânmôn này Trăn trở và suy nghĩ đã lôi cuốn tôi đi phân tích, tìm hiểu nguyên nhân vàtìm tòi những biện pháp giúp học sinh vượt qua khó khăn để học tốt hơn Nhữngbiện pháp, ứng dụng của tôi đã được thử nghiệm và áp dụng có hiệu quả cao.Vớikinh nghiệm nhiều năm là giáo viên đứng lớp, nhiều năm trực tiếp dạy ở tổ 4-5 tôinhận rõ vị trí và tầm quan trọng của việc dạy và học môn Tiếng Việt Trong đó, dạy
và học phân môn Tập làm văn đặc biệt là lập dàn ý cho bài văn thể loại văn miêu
tả
Từ những lý do khách quan và chủ quan trên, để khắc phục những hạn chế trongviệc dạy Tập làm văn ở Tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Với tinh thần học hỏi, dám nghĩ dám làm vươn lên trong đổi mới sáng tạo, tôi mạnh dạn trao đổi kinh nghiệm về “Ứng dụng Sơ đồ tư duy để lập dàn ý trong dạy học văn miêu tả lớp 5” Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài “Ứng dụng Sơ đồ
tư duy để lập dàn ý trong dạy học văn miêu tả lớp 5” này để nghiên cứu
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Chỉ ra cách sử dụng Sơ đồ tư duy, vận dụng Sơ đồ tư duy vào việc lập dàn ý
trong dạy học văn miêu tả lớp 5
Đề xuất cách ứng dụng Sơ đồ tư duy vào việc lập dàn ý trong dạy học văn miêu
tả lớp 5, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả lớp 5 nói riêng và Tập làmvăn nói chung
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng của việc dạy học lập dàn ý văn miêu tả lớp 5
Cách ứng dụng Sơ đồ tư duy vào việc lập dàn ý trong dạy học văn miêu tả lớp 5,nhằm nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả lớp 5 nói riêng và Tập làm văn nóichung
2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 7Ứng dụng Sơ đồ tư duy vào việc lập dàn ý trong dạy học văn miêu tả lớp 5
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng của việc dạy học lập dàn ý văn miêu tả lớp 5
Tìm các giải pháp thực hiện và cách tổ chức các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học lập dàn ý bài văn miêu tả lớp 5
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát
- Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm,
Trang 8PHẦN II NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN MIÊU TẢ.
1 Về phía giáo viên
Để giảng dạy chương trình Tập làm văn lớp 5 đạt hiệu quả cao thì cần mộtđội ngũ giáo viên không chỉ có lòng nhiệt tình, có kinh nghiệm mà còn phải có kiếnthức, có trình độ, có năng lực giải quyết các vấn đề, tư duy luôn luôn đổi mới.Mạnh dạn áp dụng những phương pháp, kĩ thuật, những ứng dụng mới là rất quantrọng Dạy Tập làm văn là việc rèn luyện cho học sinh khả năng tổ chức giao tiếp,
tổ chức lời nói ngay từ khi học sinh học sinh bắt đầu đi học, đây là một việc làm hếtsức khó khăn mà không phải giáo viên nào cũng thực hiện được Thường thì giáoviên nào cũng dạy đúng, đủ quy trình các phân môn như Tập đọc, Luyện từ vàcâu…, thậm chí có nhiều giáo viên còn dạy rất tốt các phân môn này Nhưng vớiphân môn Tập làm văn thì rất hiếm khi có giáo viên nào có đủ dũng cảm chọn nólàm phân môn hội giảng, cũng có rất ít giáo viên có khả năng dạy một giờ Tập làmvăn sinh động, hấp dẫn
Qua thực tế tôi thấy :
- Một số giáo viên còn lúng túng trong việc hoạch định chương trình, chưahiểu hết ý đồ của sách giáo khoa, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạyTập làm văn
- Việc dạy học theo phương pháp cũ bấy lâu nay đã làm cho việc xử lí cáctình huống của một số giáo viên trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt, giáo viên chưabiết cách nêu vấn đề để khơi gợi, kích thích học sinh nói năng,…
Trang 9- Việc sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mới áp dụngphương pháp dạy học tích cực, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, dạy học nêuvấn đề, trò chơi học tập, nhiều lúc chưa hài hoà, thiếu sáng tạo nên tiết học nhiềukhi chưa sinh động, hiệu quả giáo dục chưa đạt được như mong muốn Một bộ phậngiáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc dạy văn theo phương pháp mới màthường chỉ áp đặt máy móc theo chủ ý của người lớn, bắt trẻ nhỏ làm theo, dẫn đếntình trạng trong lớp có 30 em thì có tới khoảng 20- 25 em cùng tả chung một conmèo hay một cây bàng… không phát huy được sự sáng tạo, không vượt qua được
“Chuẩn”
- Trong môn Tiếng Việt Tiểu học rất chú trọng đến việc sử dụng đồ dùng dạyhọc, nhưng trên thực tế trong giờ Tập làm văn có giáo viên rất ngại sử dụng đồdùng dạy học hoặc sử dụng chỉ mang tính hình thức
- Một thực trạng khác cũng phải kể đến đó là tâm lí ngại dạy Tiếng Việt nóichung và Tập làm văn nói riêng của giáo viên nên học sinh chưa thấy được cái hay,cái đẹp mà phân môn đem lại
- Cá biệt còn có giáo viên chưa nắm vững nguyên tắc định hướng xây dựngchương trình Tập làm văn, chưa nắm được cơ bản điểm khác nhau giữa sách giáokhoa cũ và sách giáo khoa mới, chủ quan dạy theo lối mòn, chưa chú ý rèn kĩ năngnói, viết theo yêu cầu
- Các tiết lập làm văn “khởi động” chuẩn bị cho tiết viết văn đó là tiết lậpdàn ý cho bài văn thường bị xem nhẹ bởi tính chủ quan cá nhân giáo viên vì chínhgiáo viên, học sinh luôn có suy nghĩ đối tượng các em sẽ viết, sẽ tả sắp tới sẽ viết,
sẽ tả về đối tượng gần gũi, đơn giản, không cần chuẩn bị, chú ý nhiều cũng viếtđược
2 Về phía học sinh
Ở tiểu học, lần đầu tiên học sinh được học viết văn miêu tả Các em gặpnhiều khó khăn cả về tri thức, phương pháp hiểu biết và cảm xúc về đối tượng miêu
Trang 10tả Các em lấy đâu ra hiểu biết về cây đang ra hoa, ra quả, về anh công nhân đangxây nhà, thày cô đang giảng dạy trên lớp, bố, mẹ chuẩn bị bữa ăn hay chăm sóc concái, Nếu không được quan sát hầu như các em sẽ không có gì hồi tưởng về cácđối tượng miêu tả nếu liền ngay trước tiết làm bài văn các em không được đến tậnnơi xem xét, nhận xét Ngoài ra, miêu tả theo đầu bài cho sẵn liệu các em có cảmxúc để làm bài không ? Những khó khăn về nội dung càng được nhân lên do các
em chưa nắm được phương pháp quan sát, bố cục bài miêu tả, sử dụng ngôn ngữmiêu tả Vì vậy, cần xem xét các bài miêu tả ở bậc Tiểu học là những bài tập banđầu luyện các kĩ năng miêu tả Có như vậy việc đánh giá mới phản ánh đúng yêucầu của chương trình và có tác dụng đối với học sinh
Hiện nay có rất nhiều loại sách tham khảo cho H, giúp cho H có cái nhìn đadạng, phong phú hơn Nhưng những cuốn sách tham khảo của phân môn Tập làmvăn lại thường đưa ra các bài văn mẫu hoàn chỉnh nên khi làm văn các em thườngdựa dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, có khi còn sao chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làmcủa mình Cách cảm, cách nghĩ của các em không phong phú mà thường đi theo lốimòn khuôn sáo, tẻ nhạt Một thực tế nữa đó là học sinh lớp 5 tuy các em đó đượctiếp xúc và thực hành các bài tập làm văn ở lớp 2 và lớp 3 và đặc biệt chương trìnhTLV lớp 4 thể loại miêu tả xong các em vẫn viết văn theo kiểu công thức cứngnhắc, câu văn chỉ dừng ở mức độ có đủ chủ ngữ, vị ngữ rất ít những câu văn có sửdụng các biện pháp nghệ thuật, bài văn thiếu sinh động, hấp dẫn
Thực tế cho thấy, khá nhiều học sinh Tiểu học ham thích học văn và có khảnăng viết văn nhưng thực tế việc dạy văn cho các em chưa đạt kết quả cao nhưmong muốn Rất nhiều các bài văn được viết theo một dàn ý giống nhau, rất máymóc, rất thiếu cảm xúc và thiếu tính chân thực, cả giáo viên và học sinh nhiều khicòn lệ thuộc vào bài văn mẫu
Trang 11Khi học văn miêu tả, học sinh hiểu về văn miêu tả còn chưa sâu, nghèo nàn,
tư duy hình tượng chưa rõ nét, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc học và làmvăn
Qua thực tế, tôi tiến hành khảo sát chất lượng phân môn Tập Làm Văn củaKhối lớp 5 Trường Tiểu học Tống Trân ngay từ tuần 2 :
Đề bài: Em hãy tả lại một con vật mà em yêu thích.
Kết quả thu được như sau :
Đặc biệt các ý các em đưa ra còn yếu, thiếu, rất sơ sài có thể thấy được ngay lỗinày là do các em chưa lập được dàn ý chi tiết cho bài văn tả con vật
Tóm lại: Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn Luyện từ và câu
và các môn khác tốt nhưng khi áp dụng vào viết văn thì các em thường không nêuđược hết các ý, diễn đạt chưa tốt nên đã mắc phải một số lỗi như sơ sài, chi tiếtmiêu tả chưa nhiều, chưa chi tiết, chỉ tập trung vào chi tiết đơn giản dễ bắt gặp Từchỗ mắc lỗi về câu cộng với việc chưa biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật,
Trang 12vốn từ lại nghèo nàn nên bài văn miêu tả của các em thường khô khan, lủng củngnghèo cảm xúc, bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết thậm chí chưa đầy đủ
về đối tượng miêu tả
II CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN VÀ CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để viết được một bài văn miêu tả hoàn chỉnh, học sinh (H) cần có rất nhiều kĩ năng như : xác định đúng yêu cầu của đề bài ; quan sát, tìm ý miêu tả ; lập dàn ý ; viết đoạn văn, viết bài, trình bày ý định miêu tả ; chỉnh sửa hoàn thiện bài viết, Trong các kĩ năng trên, lập dàn ý là khâu vô cùng quan trọng và không dễ đối với
H SĐTD là một công cụ có thể sử dụng để tập hợp và triển khai một cách hiệu quả Những ứng dụng của SĐTD vào dạy học Tập làm văn cho H Tiểu học bước đầu đã có hiệu quả rõ rệt
SĐTD được xem là một phương tiện trực quan đơn giản có ưu điểm trong việc
giúp sản sinh, hình dung cũng như cấu trúc và phân loại các ý tưởng Trong dạy học, công cụ này có thể được sử dụng để biến những ý tưởng và suy nghĩ rời rạc, tản mạn thành SĐ có cấu trúc và hình ảnh rõ ràng Hơn nữa , nó giúp H liên kết và gợi nhớ lại những kinh nghiệm đã có, làm cho ý tưởng của các em thêm phần phong phú, sáng tạo Việc dạy học sinh ứng dụng SĐTD vào lập dàn ý cho bài văn miêu tả được thực hiện qua :
1 Hướng dẫn học sinh vẽ Sơ đồ tư duy trong văn miêu tả (Giai đoạn 1).
Cấu trúc của một SĐTD gồm có : Phần chủ đề (nội dung chính) ; Các nhánh chính (triển khai cho cho chủ đề) ; Nhánh phụ (triển khai cho nhánh chính) ; Phần
kí hiệu, biểu tượng, tranh ảnh, kèm theo để làm cho sơ đồ thêm sinh động, dễ hình dung, liên tưởng
Trang 13- Trước khi giúp học sinh vận dụng SĐTD vào việc lập dàn ý cho bài văn miêu tả nhất thiết giáo viên phải giúp H hiểu về SĐTD, biết cách vẽ SĐTD, ứng dụng trongmôn học, các dạng bài mà giáo viên định sẽ ứng dụng SĐTD.
- Công việc này là rất quan trọng, giáo viên cần thực hiện một cách nghiêm túc, có
sự chuẩn bị kĩ, dự trù tốt những tình huống xảy ra khi hướng dẫn H
Giáo viên giúp H thấy được các công việc sau :
a) Chuẩn bị
- Vật dụng : Tờ giấy trắng với kích thước phù hợp mục đích dạy học của G, bài họccủa H, hộp bút sáp nhiều màu
- Xác định yêu cầu của đề, các từ khóa để làm chủ đề cho Sơ đồ
- Tập hợp ý, tranh, ảnh liên quan đến chủ đề Công việc này cả G và H đều cần phảichuẩn bị (G để dạy, đưa ra khi chốt bài, nhấn mạnh, tổng kết còn đối với H để thực hiện vào SĐTD của mình)
b) Tiến hành
- G mô tả, giúp H mô tả chủ đề của Sơ đồ bằng một từ, cụm từ ngắn gọn (có thể là
từ khóa trong đề bài) hoặc có thể mô tả chủ đề bằng hình ảnh và đặt hình ảnh ở vị trí phù hợp sao cho nổi bật nhất về màu sắc, kích thước,…
- Đặt và trả lời các câu hỏi liên quan đến chủ đề (sử dụng phương pháp động não) Những câu hỏi này tự H đặt ra và trả lời khi hoàn thiện hoặc do G đặt ra để giúp đỡ cho H khi các em vẽ Chú ý, giáo viên có thể hỗ trợ cho H ở bước này bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi gợi ý mang tính tập trung, tránh tình trạng HS nêu các ý chung chung, tản mạn, không nổi bật đặc trưng đối tượng miêu tả
- Từ chủ đề, G vẽ hoặc hướng dẫn để H vẽ những nhánh đậm (nhánh chính) và gắn
từ, cụm từ khóa (hay hình ảnh) trên nhánh Có thể thêm tranh ảnh minh họa cho sinh động tùy theo mạch liên tưởng, tưởng tượng
- Từ nhánh chính, mở ra các nhánh phụ với kích thước nhỏ hơn và tiến hành tương
tự Gắn kết ý bằng cách đánh dấu mũi tên hoặc đánh số thứ tự trước sau Chú ý,
Trang 14những nhánh chính và nhánh phụ nên vẽ các đường cong để tạo sự mềm mại cho sơ
đồ đường cong, sự phân bậc phải được thể hiện bằng màu sắc khác nhau
c) Hoàn thiện
- Bổ sung hình ảnh, màu sắc cần thiết cho đẹp, sinh động, bắt mắt, tạo hứng thú
- Kiểm tra lại từ khóa (hình ảnh chủ đạo)
- Kiểm tra lại tổng thể Sơ đồ xem có cân đối và hợp lí chưa
d) Thể hiện
Từ SĐTD mà H đã hoàn thành, H phải :
- Diễn đạt bằng ý lời nói
- Diễn đạt ý bằng cách viết câu, đoạn, bài
* Một số lưu ý khi hướng dẫn H vẽ SĐTD :
- Để đảm bảo cho yêu cầu xác lập trọng tâm miêu tả, màu sắc và kích thước của cácnhánh (chính, phụ) phải thể hiện điểm nhấn của các trọng tâm miêu tả ; thể hiện sự liên kết giữa các ý khác bậc và cùng bậc ; màu sắc còn có thể dùng thể hiện cảm xúc, đặc trưng của đối tượng miêu tả
- SĐTD thường trình bày theo chiều ngang, mỗi dòng chỉ có một từ ngữ khóa (hoặctranh, ảnh) được đặt trên vạch liên kết và nhánh chính được nối với chủ đề bằng nétđậm ; sơ đồ là một hệ thống mở, không giới hạn những liên tưởng độc đáo về đối tượng miêu tả, bất kì từ ngữ nào trong sơ đồ cũng có thể mở rộng ý thành một chùm các liên kết Đây là những yêu cầu để đảm bảo tính mạch lạc và độc đáo của của SĐTD
- Để kích thích những liên tưởng thú vị, G có thể xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm khắc phục rào cản tư duy Hướng dẫn H dùng biện pháp so sánh, nhân hóa trong quá trình liên tưởng, diễn đạt
- Đây là việc làm rất cần thiết bởi trước khi ứng dụng SĐTD nhất thiết H phải hiểu
về SĐTD, biết cách vẽ rồi mới đến ứng dụng nó vào công việc lập dàn ý cho bài văn
Trang 15Sơ đồ minh họa :
Trang 16
2 Ứng dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho bài văn miêu tả ở lớp 5 - Nhận biết cấu tạo của bài văn miêu tả (Giai đoạn 2).
- Trước khi ứng dụng SĐTD, giáo viên giúp H hiểu thế nào là văn miêu tả qua kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài, hay nội dung bài trước khi bắt đầu dạy về tả cảnh ở những tiết đầu tiên trong chương trình Tập làm văn lớp 5
- Sau khi H nắm được cách vẽ, biết cách vẽ, trình bày nội dung của SĐTD G cho
H vận dụng vào bài cụ thể Vì thể loại văn miêu tả ở bậc học này bao gồm : Tả cây cối, đồ vật, con vật, cảnh và tả người Nhưng là đối tượng H lớp 5 nên G chỉ tập trung vào bài văn tả cảnh, tả người và việc ứng dụng này được tiến hành như sau :
1 Mục tiêu : G giúp H nắm được cấu tạo ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) củamột bài văn miêu tả
2 Cách tiến hành : Dùng SĐTD khái quát kiến thức về cấu tạo bài văn miêu tả
- Việc vẽ sơ đồ tư duy ở giai đoạn này cách tốt nhất là tổ chức cho H làm việc theo nhóm
- G tổ chức cho H thực hiện qua các bước cụ thể như sau :
Bước 1 Chuẩn bị
- Dụng cụ : Giấy trắng A4, bút màu
- Phương hướng : Xác định chủ đề chính của sơ đồ là “ Cấu tạo bài văn miêu tả”
Bước 2 Tiến hành
- Đặt tờ giấy A4 nằm ngang
- G giúp H cụ thể hóa chủ đề bằng các từ ngữ khóa (hoặc hình ảnh) Đặt bút vẽ vàogiữa trang giấy và làm nổi bật chủ đề (Cấu tạo bài văn miêu tả ) theo phong cách riêng
- Câu hỏi gợi mở của G :
+ Bài văn miêu tả được cấu tạo gồm mấy phần? (Bậc 1)
Trang 17+ Trong từng phần, nên trình bày những nội dung gì ? (Bậc 2 )
+ Trong từng nội dung, có thể triển khai ý chi tiết hơn nữa được không? (Bậc 3)
- G gợi ý cho H thấy được :
+ Mỗi câu hỏi gợi ý là một nội dung cần triển khai, mỗi nội dung là một nhánh của
sơ đồ Trên mỗi nhánh, H còn có thể triển khai tiếp các ý nhỏ, bổ sung hình ảnh, kí hiệu cho nhánh đó
+ Lưu ý về màu sắc, tính phân bậc của sơ đồ Cuối cùng, H dùng mũi tên chỉ sự gắn kết ý này ý kia, hoặc đánh số thứ tự , vẽ các đường bao quát gom ý
Bước 3 Hoàn thiện
- G quan sát khi H vẽ để giúp H ngay khi các em vẽ hoặc các em trình bày nội dung dàn bài để :
+ Bổ sung màu sắc cần thiết
+ Kiểm tra lại các chi tiết
+ Kiểm tra lại tổng thể sơ đồ có cân đối, đẹp mắt hay không
Bước 4 Thể hiện
- H thể hiện SĐTD vào giấy Sau đó kiểm tra lại độ chính xác về nội dung, màu sắc, cách thể hiện
Bước 5 Trình bày
- G tổ chức cho H dùng SĐTD để nêu miệng cấu tạo bài văn miêu tả
Một điều đương nhiên là sau khi H vẽ được SĐTD như minh họa trên thì H đã nắm được cấu tạo của bài văn miêu tả
Để biết chắc chắn H đã nắm chắc vấn đề, G yêu cầu H dùng chính sơ đồ các em vừa hoàn thiện trình bày lại cấu tạo bài văn miêu tả
Sơ đồ minh họa :
Trang 193 Ứng dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho bài văn miêu tả ở lớp 5- Cấu tạo bài văn tả cảnh (Giai đoạn 3)
1 Mục tiêu : Từ cấu tạo bài văn miêu tả G giúp H biết phân tích cấu tạo của một bài văn tả cảnh cụ thể
- Thông qua cấu tạo bài văn tả cảnh nói chung mà H có thể áp dụng cho mọi đối tượng miêu tả là cơn mưa, cảnh sông nước, hồ, cảnh đẹp quê hương, cảnh đẹp một nơi em được đến thăm,
2 Cách tiến hành : Dùng SĐTD để phân tích cấu của bài văn “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” (Tô Hoài ) (SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 10 ) - Bài minh họa.
- G tổ chức cho H thực hiện qua các bước cụ thể như sau :
Bước 1 Chuẩn bị
Dụng cụ : Giấy trắng A4, bút màu, một số tranh ảnh (G, H chuẩn bị trước)
Phương hướng : Xác định chủ đề chính của sơ đồ là “ Quang cảnh làng mạc ngày mùa”
Bước 2 Tiến hành
Đặt tờ giấy A4 nằm ngang
H cụ thể hóa chủ đề bằng các từ ngữ khóa (Tác giả miêu tả từng bộ phận của cảnhnên từ ngữ khóa để triển khai chủ đề là những từ thể hiện từng phần của cảnh) Câu hỏi gợi mở của G :
+ Tác giả miêu tả cảnh làng mạc ngày mùa theo trình tự nào ?
+ Tác giả chọn miêu tả những bộ phận nào của cảnh ? (Bậc 1)
+ Trong từng bộ phận của cảnh, tác giả đã chọn lọc những cảnh vật cụ thể nào ? Tác giả dùng các giác quan nào để qua sát từng cảnh vật đó ? (Bậc 2)
+ Tác giả miêu tả cảnh vật thông qua các từ ngữ nào ? (Bậc 3 )
+ Các em có thể dùng những hình ảnh nào để minh họa cho các từ ngữ đó ?
Bước 3 Hoàn thiện
- Bổ sung màu sắc cần thiết
Trang 20- Kiểm tra lại các chi tiết.
- Kiểm tra lại tổng thể sơ đồ có cân đối, đẹp mắt hay không
- Giáo viên giúp H chuyển các ý, các hình ảnh, chi tiết được thể hiện trên SĐTD thành các câu văn, đoạn văn, bài văn Tất nhiên H phải huy động vốn từ vựng, vốn kiến thức, hiểu biết, kĩ năng sử dụng câu, khả năng dùng các biện pháp nghệ thuật đặc biệt là việc thể hiện tình cảm vào việc viết câu, đoạn, bài văn
Sơ đồ minh họa : Cấu tạo bài văn tả cảnh