Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến kinh tế và xã hội của nông hộ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.Bao gồm những tài liệu về biến đổi khí hậu (chẳng hạn như nhiệt độ, mưa, lũ lụt, mực nước biển dâng cao và xâm nhập mặn) có được từ các đài khí tượng trong khu vực và các dữ liệu và tài liệu có sẵn. Ý kiến chuyên gia từ các nhà nông học ở các trang nghiên cứu và ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA KINH TẾ, LUẬT
ĐỀ CƯƠNG
MÔNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
CỦA NÔNG HỘ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH
MSHV: 212215010 Lớp: CA15QKD Khóa: 2015
Trà Vinh - Năm 2015
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Căn cứ theo Quyết định số 264/QĐ-UBND tỉnh Trà Vinh ký ngày 11 tháng 02 năm 2010 về
kế hoạch hành động thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, mục tiêu là xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trước mắt và lâu dài nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, ổn định kinh tế-xã hội, khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả trên địa bàn tỉnh trong nổ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, nâng cao nhận thức và trách nhiệm tham gia của cộng đồng ứng phó một cách
có hiệu quả với biến đổi khí hậu tác động đến tỉnh Trà Vinh Đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần đáp ứng thực thiển đặt ra cho Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu này tại tỉnh Trà Vinh Trọng tâm của đề tài là đánh giá khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu ở cấp độ nông hộ nuôi trồn thủy sản trên địa bàn tỉnh sẽ đóng gớp vào thực hiện thành công nhiệm vụ đặt ra cho
“Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu tại tỉnh Trà Vinh
Đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh, thành phố, là một vùng đất thấp, khác bằng phẳng, đặc trưng bởi hoạt động tương tác mạnh và đan xen giữa các hệ nước mặn với nước biển ngọt trên một không gian rộng lớn Toàn vùng có 22 cửa sông, lạch lớn, nhỏ với diện tích vùng triều khoảng 800.000 ha Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản trên cả 3 loại hình mặt nước: nước mặn, nước lợ, nước ngọt Hàng năm đóng gớp khoảng 60% kim nghạch xuất khẩu thủy sản của cả nước Tuy nhiên do địa hình thấp hơn mực nước biển, nằm ở vùng hạ lưu sông Mêkôn, tiếp giám với biển nên Đồng Bằng sông Cửu Long phải đối mặt với nhiều thách thức môi trường, đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu làm ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân
Trà Vinh là một tỉnh nằm ở phía Đông Nam của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, nằm giửa
2 con sông lớn là Sông Tiền và Sông Hậu Diện tích tự nhiên 2.292,8 km2, dân số khoảng 1.062 nghìn người, chiếm 5.65% diện tích và 5,96% dân số Đồng Bằngsông Cửu Long Địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với tốc độ cao trên dưới 1m so với mặt biển, riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũn cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-08 m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời igan 3-5 tháng Với khí hậu nhiệt đới gió mùa , biển, chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình năm 26-27oC, số giờ nắng trung bình là 2.556 giờ/năm, lượng mưa hàng năm vào khoản 1.520, độ ẩm trung bình năm là 84% Tuy nhiên, yếu tố hạn chế của khí hậu là lượng mưa ít, lại tập trung theo mùa kết hợp với địa hình thấp, chịu ảnh hưởng của gió chướng, thuỷ
Trang 3dân tỉnh.
Với những đặc thù về điều kiện tự nhiên trên cho thấy ít nhiều cũng có sự ảnh hưởng đến phát triển của tỉnh, trong đó có ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngông nghiệp nới chung, cũng như ảnh hưởng đến sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh nói riêng Hiện tượng biến
đổi khí hậu đang là thách thức rất to lớn đối với phát triển kinh tế của tỉnh Do đó đề tài “Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội của nông hộ nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” nhằm góp phần vào sự hiểu biết về tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh nhà
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1.Mục Tiêu Chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến kinh tế và xã hội của nông hộ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
2.2.Mục tiêu cụ thể
Xác định khả năng tổn thương, thích ứng của nông hộ nuôi trồng thuỷ sản do tác động của biến đổi khí hậu, tập trung ảnh hưởng của mực nước biển dâng
Đo lường mức độ thiệt hại đến sản lượng và thu nhập của nông hộ
Tìm hiểu nhận thức của hộ nông dân đối với vấn đề (BĐKH) và các biện pháp ứng phó được triển khai của hộ
Xem xét và đánh giá việc lựa chọn các biện pháp đối phó hiện có đang được triển khai ở cộng đồng
Lựa chọn và đề xuất các phương án ứng phó và thích nghi cho hộ nuôi trồng thủy sản
3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, chủ yếu ở 3
huyện (Cầu Ngang, Duyên Hải và Trà Cú)
3.2.Thời gian:
Thời gian sử dụng số liệu thứ cấp để phân tích: 2001 và 2009
Thời gian thu thập số liệu: 20/5/2016 - 4/6/2016
3.3.Đối tượng nghiên cứu
Nông hộ tham gia nuôi trồng thuỷ sản theo nhiều hình thức khác nhau (xen canh, luân canh, độc canh) trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
4.LƯỢC KHẢO TÀI IỆU
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1.Phương pháp thu thập số liệu
Trang 4Số liệu thứ cấp: Bao gồm những tài liệu về biến đổi khí hậu (chẳng hạn như nhiệt độ,
mưa, lũ lụt, mực nước biển dâng cao và xâm nhập mặn) có được từ các đài khí tượng trong khu vực và các dữ liệu và tài liệu có sẵn Ý kiến chuyên gia từ các nhà nông học ở các trang nghiên cứu và ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Số liệu sơ cấp: thu thập thông qua phần khảo sát kinh tế - xã hội của những hộ nông dân
nuôi trồng thuỷ sản bằng việc sử dụng bảng câu hỏi được thiết kế sẳn
Số mẫu sẽ được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng, khoảng 200 hộ sẽ được chọn ngẫu nhiên để thực hiện phỏng vấn trực tiếp theo bảng câu hỏi cấu trúc Các hộ này được chia theo 3 huyện (Cầu Ngang, Trà Cú, Duyên Hải) tùy theo tỷ lệ số hộ tham gia sản xuất thủy sản của từng huyện, và từng mô hình
Dự kiến khoảng 30 mẫu theo bảng câu hỏi cấu trúc
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn địa điểm và mẫu nghiên cứu: Tỉnh Trà Vinh
Phương pháp thu thập số liệu: điều tra phỏng vấn hộ gia đình nuôi trồng thủy sản và các số liệu thứ cấp
Phương pháp điều tra phỏng vấn : phỏng vấn trực tiếp hộ
Phương pháp và quy trình phân tích: phân tích thống kê mô tả và mô hình định lượng biến nhị phân, mô hình hàm sản xuất
6.CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Ảnh hưởng của (BĐKH) đến sản xuất và thu nhập của nông hộ đến phạm vi và mức độ nào?
- Nông dân nhận định như thế nào về vấn đề biến đổi khí hậu trước đó và trong thời gian tới? (Chẳng hạn như nhiệt độ, hiện tượng mưa, mức độ ngập lụt, mực nước biển dâng, xâm nhập mặn…)
- Những biện pháp thích ứng nào mà nông hộ đã thực hiện để thích ứng với vấn đề (BĐKH)?
- Đâu là những yếu tố chính ảnh hưởng đến các quyết định thích ứng của nông hộ đối với vấn đề (BĐKH)?
- Đâu là những trở ngại đối với việc thích ứng và vai trò của các hộ nông dân, cộng đồng, chính quyền địa phương trong việc khắc phục những trở ngại trên?
- Đâu là những ảnh hưởng tiềm ẩn của (BĐKH) đối với nông hộ nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn?
7.GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu tình trạng biến đổi khí hậu kéo dài, có lẻ các hộ nông dân sẽ thu hẹp vùng canh tác nuôi
Trang 5trồng thuỷ sản, hậu quả là việc thiếu nguồn lương thực thuỷ sản cung cấp cho tỉnh nhà và các công ty xuất khẩu ra nước ngoài
8.MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
KHẢO SÁT, PHỎNG VẤN TRỰC TIẾP
Tiền kiếm, đưa ra giải pháp tối ưu
Làm đề cương nghiên cứu Quan sát thực tế
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Một số khái niệm
Nuôi trồng thuỷ sản: là các hoạt động nuôi trồng động vật, thực vật thuỷ sinh mang lại phúc lợi kinh tế cho con người, có tác động tố về mặc xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lợi tự nhiên
Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hay gián tiếp bởi các hoạt
động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu Biến đổi khí hậu xác định
sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ (Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2012)
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu: là nghiên cứu xác định các ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu lên môi trường và các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương Ngoài các ảnh hưởng bất lợi còn có thể có các ảnh hưởng có lợi Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cũng bào gồm việc xác định và đánh giá của các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu (IMHEN, 2011)
1.2.Khung lý thuyết về vấn đề nghiên cứu
Đề cương tập trung xem xét mối quan hệ tác động qua lại giửa nuôi trồng thuỷ sản và biến đổi khí hậu để xác định tác động của biến đổi khí hậy để đưa ra các biện pháp ứng phó Biến đổi khí hậu có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nuôi trồng thuỷ sản về các khía cạnh như suy giảm sức đề kháng của vật nuôi, vật nuôi dễ nhiễm bệnh, hư hỏng cơ sở hạ tầng), thất thoát vật nuôi, thay đổi năng suất, sản lượng, chi phí sản xuất, thu nhập của cộng đồng người nuôi và tác động đến các hệ sinh thái có liên quan, Vì vậy cần phải ứng phó với biến đổi khí hậy trong nuôi trồng thuỷ sản như thế nào để đảm bảo sản xuất ổn định và bền vững Việc xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong nuôi trồng thuỷ sản chính là nhằm đáp ứng lại với các thay đổi của khí hậu và thời tiết, như vấn đề về cải tiến kỹ thuật nuôi, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải tiến việc giám sát và quản lý môi trường ao nuôi và nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương
Trang 7Hình 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu
- Thay
đổi nhiệt
độ
- Thay
đổi
lượng
mưa
- Thay
đổi tần
suất và
cường
độ bão
lũ
- Nước
biển
dâng
Hệ thống nuôi:
- Thuỷ sản (tỷ lệ sống, sinh trưởng, dịch bệnh, mùa vụ)
-Môi trường ao nuôi
Hệ sinh thái liên quan:
-Chất lượng môi trường nước
- Chất lượng các hệ sinh thái
Điều kiện kinh tế xã hội cộng đồng người nuôi:
- Cơ sở hạ tầng vùng nuôi và vật tư, thiết bị trang trại nuôi
- Sản lượng tôm nuôi
- Diện tích nuôi
- Thu nhập hộ nuôi
- Rủi ro về sức khoẻ của người nuôi
Giải pháp ứng phó với sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa
Giải pháp ứng phó với sự thay đổi tần suất và cường độ của bão lũ
Giải pháp quản lí môi trường, dịch bệnh và quản lý chât thải
Giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH và ý thức phòng chống thiên tai cho cộng đồng
Trang 8CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN TẠI TRÀ VINH 2.1.TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN TRÀ VINH
Trà Vinh với diện tích tự nhiên là 2.341 km2, gồm 1 thành phố và 7 huyện, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu và ở phía Đông Nam của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bến Tre, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông giáp biển với chiều dài bờ biển 65 km, mặt giáp biển thông qua 3 cửa sông chính là Cổ Chiên, Cung Hầu
và Định An Khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ
Dân số toàn tỉnh 1,007 triệu người, dân tộc Kinh chiếm 69%, dân tộc Khmer 29%, còn lại là dân tộc Hoa, Ấn,…
2.2.THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Tài nguyên biển và thủy hải sản của Trà Vinh có tiềm năng rất lớn, các loài thủy hải sản sinh sống tại đây điều có giá trị kinh tế Diện tích nuôi trồng thủy sản hơn 49.523 ha (tôm và cá da trơn), sản lượng hàng năm khoảng 146.000 tấn Diện tích nuôi trồng vùng nước ngọt khoảng 13.000 ha, sản lượng cá da trơn đạt 15.000 tấn Nhưng trong những năm gần đây biến đổi khí hậu gây nên những tác động nghiêm trọng đến nuôi trồng thuỷ sản tại Trà vinh, riêng đợt triều cường vừa qua từ ngày 26-31/10/2011, trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có hơn 5.000 mét đê bao bị vỡ, gây ngập từ 0,5-1 mét khoảng 1.000 căn nhà, hơn 2.000 ha vườn cây ăn trái và nhiều diện tích ao nuôi thủy sản Riêng tỉnh lộ 915 dài gần 8 km nằm trên địa bàn xã Ninh Thới (huyện Cầu Kè) bị nước tràn qua, làm khoảng 250 ha nuôi tôm, cá trong mương vườn của hai huyện Cầu Kè và Càng Long bị thiệt hại từ 80%-100% [theo Tổng cục môi trường]
Tình trạng biến đổi khí hậu nêu trên có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
-Thứ nhất: Thứ nhất, những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế trong việc bảo vệ môi trường
-Thứ hai:quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Các cở sở pháp
lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình
Trang 9sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả
-Thứ ba: các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao
-Thứ tư: đông tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường
2.3.TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI CÁC HỘ DÂN NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Hạn hán, xâm nhập mặn đã làm 424.099 hộ thiếu nước sinh hoạt; thiệt hại 248.288 ha lúa, 18.874 ha hoa màu, 53.814 ha cây ăn quả, 105.211 ha cây công nghiệp, 5.703 ha nuôi trồng thủy sản Ước tính tổng thiệt hại: 6.392 tỉ đồng
Tôm bị thiệt hại nhiều nhất là ở các xã chuyên canh tôm Mỹ Long Nam, Hiệp Mỹ Đông và Hiệp Mỹ Tây với mức thiệt hại trên 22% diện tích thả nuôi Tôm chết trong độ tuổi từ 20 ngày đến hơn tháng tuổi, đặc biệt khoảng 2 tuần nay diện tích bị thiệt hại tăng nhanh chóng.Theo nhận định ban đầu, tôm chết hàng loạt là do nhiệt độ ban ngày tăng cao, đêm nhiệt độ hạ xuống đột ngột trong khi độ mặn lại cao bất thường khiến khả năng kháng bệnh của tôm giảm, nhất là bệnh gan tụy và bệnh đốm trắng Theo thống kê bước đầu, toàn huyện hiện có gần 40 hộ thả nuôi khoảng 2,5 triệu con giống trên diện tích 3,5 ha bị thiệt hại Trong đó, xã Định An có 20 hộ bị thiệt hại khoảng 1,3 triệu con giống; xã Đại An có 10 hộ bị thiệt hại khoảng 700 triệu con giống;
…Cá nuôi bị chết đa phần nhiễm bệnh đỏ thân, chết ở giai đoạn 30- 180 ngày tuổi, gây thiệt hại cho người nuôi ước khoảng 2,5 tỷ đồng
- Ông Trần Văn Út ở xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang cho biết, chưa có năm nào việc nuôi tôm lại gặp khó khăn như năm nay Bước vào vụ nuôi, gia đình ông thả nuôi 210.000 con tôm giống, trên diện tích 1,2 ha mặt nước, sau gần một tháng con tôm bị thiệt hại hoàn toàn Gần
100 triệu đồng tiền vốn cũng tan biến Hiện tại gia đình ông không đủ điều kiện tiếp tục vay vốn ngân hàng chỉ còn cách thả cua để ao nuôi khỏi bỏ trống
-Hàng trăm nông dân xã Thừa Đức và Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre bỗng nhiên trắng tay do hàu nuôi chết hàng loạt những ngày qua, lượng hàu chết lên đến 90% Hiện các cơ quan chức năng bối rối vì chưa rõ nguyên nhân nhưng nông dân nhận định: hàu chết do nước nhiễm mặn quá cao Anh Nguyễn Văn Hoàng - ấp Thừa Thạnh, xã Thừa Đức - cho biết mùa hàu năm nay gia đình anh nuôi khoảng 5 tấn, nhưng tính đến thời điểm hiện nay đã bị chết trắng
Trang 10CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Đối phó với biến đổi khí hậu và khả năng thích nghi.Việc đánh giá thích nghi dựa trên các tiêu chuẩn như chi phí, lợi ích, công bằng, hiệu quả, sự khẩn cấp, và khả năng thực hiện Smit và ctv (2001) đã nhận dạng 6 yếu tố phản ánh khả năng thích nghi với BĐKH: nguồn lực kinh tế (economic resources), kỹ thuật (technology), thông tin kỹ năng (information & skills), cơ sở hạ tầng (infrastructure), định chế (institutions), và công bằng (equity) Bảng 1 trình bày tóm tắt nội dung các yếu tố này
Bảng 1: Các định thức/yếu tố về khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu
T
STT
1
Nguồn lực kinh tế Nguồn lực kinh tế lớn hơn sẽ làm tăng khả năng thích
nghi Thiếu hụt nguồn lực tài chính làm giới hạn lựa chọn thích nghi
2
Kỹ thuật Thiếu kỹ thuật làm hạn chế lựa chọn thích nghi
3
3
Thông tin và kỹ năng Thiếu nguồn nhận lực được đào tạo, có kỹ năng sẽ làm
giảm khả năng thích nghi của từng cá nhân/hộ gia đình Làm chủ thông tin nhiều hơn sẽ làm tăng khả năng thích nghi
4
Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng tốt sẽ làm tăng khả năng thích nghi vì có
nhiều lựa chọn hơn; Tính chất và vị trí của cơ sở hạ tầng cũng tác động đến khả năng thích nghi
5
Định chế Các định chế xã hội hoàn thiện giúp giảm tác động của
rủi ro do BĐKH tạo ra và do đó làm tăng khả năng thích nghi Chính sách và thể chế có thể là trở ngại hay tăn cường khả năng thích nghi
6
Công bằng Phân phối công bằng các nguồn lực sẽ làm tăng khả
năng thích nghi Sự sẵn có và quyền sở hữu đối với nguồn lực là các yếu tố quan trọng
Nguồn: Swanson và ctv (2001).
Để phát triển nuôi trồng thuỷ sản thích ứng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, bên cạnh các giải pháp ứng phó ngắn hạn cũng cần xem xét, đánh giá lại quy hoạch nuôi tôm nước lợ và cá tra để có những bước điều chỉnh phù hợp, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả