1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHƯƠNG PHÁP SỬA LỖI DÙNG TỪ CHO HỌC SINH THCS

15 829 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 83,5 KB
File đính kèm sửa lỗi dùng từ.rar (19 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như các môn khoa học khác, môn Tiếng Việt là môn học khó song đóng vai trò hết sức quan trọng trong nhà trường cũng như trong cuộc sống của mỗi con người. Bởi Tiếng Việt là một công cụ để nhận thức các môn khoa học khác. Dạy Tiếng Việt là dạy cho các em tiếng nói của dân tộc, học Tiếng Việt là học tiếng mẹ đẻ.

Trang 1

MỤC LỤC

I Đặt vấn đề Trang 2 II.Nội dung Trang 2

III Kết luận và kiến nghị Trang 13

1/ So sánh đối chứng trước khi thực hiện đề tài: Trang 13 2/ Tính giáo dục, tính thực tiễn: Trang 14

Trang 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ:

PHƯƠNG PHÁP SỬA LỖI DÙNG TỪ CHO HỌC SINH THCS

I – Đặt vấn đề

Cũng như các môn khoa học khác, môn Tiếng Việt là môn học khó song

đóng vai trò hết sức quan trọng trong nhà trường cũng như trong cuộc sống của mỗi con người Bởi Tiếng Việt là một công cụ để nhận thức các môn khoa học khác Dạy Tiếng Việt là dạy cho các em tiếng nói của dân tộc, học Tiếng Việt là học tiếng mẹ đẻ Đó là thứ tiếng nói quen thuộc gắn bó với đời sống hàng ngày của chúng ta Tiếng Việt là môn học góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách và tâm hồn con người Việt Nam

Hiện nay trong các nhà trường THCS việc nói và viết Tiếng Việt của học sinh còn nhiều điều bất cập đó là: Học sinh nói và viết chưa đạt kết quả như mong muốn của giáo viên Học sinh còn mắc nhiều lỗi như: Lỗi ngữ âm, lỗi ngữ pháp, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu Tình hình đó ảnh hưởng không ít đến chất lượng dạy và học của nhà trường

Chính vì những lý do trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Phương pháp

sửa lỗi dùng từ cho học sinh THCS”

II - Nội dung

1/ Khảo sát thực trạng

- Đối với giáo viên: Để thực hiện đề tài này tôi đã tìm hiểu các giáo viên

giảng dạy bộ môn ngữ văn về vấn đề sửa lỗi dùng từ của học sinh, giáo viên đều

có chung một ý nghĩ và cho rằng: Đây là một việc làm rất cần thiết bởi qua việc sửa lỗi dùng từ người giáo viên sẽ giúp cho học sinh thấy được cái đúng, cái sai, hiểu được cái bản chất của từ ngữ Từ đó các em sẽ sử dụng chúng trong khi nói

Trang 3

và viết một cách thích hợp Song để làm được việc này không phải là một sớm một chiều mà mất rất nhiều thời gian và công sức Hơn nữa thời gian dạy lớp còn ít, số tiết trong phân phối chương trình so với yêu cầu còn nhỏ vì vậy mà hiệu quả của nó chưa cao

- Đối với học sinh: Qua nhiều năm công tác, tôi nhận thấy các bài viết tập

làm văn của các em còn mắc rất nhiều lỗi Một trong những lỗi đó là lỗi dùng từ

2/ Biện pháp thực hiện

Để học sinh có thể sử dụng từ ngữ một cách chuẩn mực, chính xác người giáo viên phải chú ý đến những điểm sau:

- Làm phong phú hoá vốn từ ngữ của các em, cung cấp thêm các từ ngữ cần thiết (mở rộng vốn từ về mặt số lượng) cung cấp thêm ngữ nghĩa của các từ

đã biết (đào sâu vốn từ về mặt chất lượng hiểu sai, dùng sai) giúp các em nắm chắc mặt nghĩa, các loại nghĩa của từ

- Làm tích cực hoá vốn từ của trò Trẻ có nhiều từ ngữ chúng nghe hiểu, những từ chúng dùng thì không dùng được các từ ấy Người giáo viên phải giúp các em tích luỹ được vốn từ thụ động thành vốn từ chủ động

- Làm chuẩn mực hoá vốn từ của trò Do con đường tự phát nên vốn từ của trẻ thường mang nặng phương ngôn thổ ngữ nhiều khi lệch cả hình thức và ngữ âm Đặc biệt với các từ Hán Việt

Ví dụ “Hội chẩn” thành “Hội chuẩn”

Muốn tìm hiểu được các lỗi dùng từ sai của học sinh thì chúng ta phải tìm hiểu và điều tra xem tình hình học sinh dùng từ sai về những mảng nào, do đâu

mà sai Từ đó người thầy có hướng giải quyết để giúp các em sử dụng đúng, không pha trộn, không sáo rỗng

Vấn đề là người thầy phải chú ý sự đồng nhất giữa sách giáo khoa và giáo

án lên lớp Đây thực chất là mối quan hệ giữa vai trò của người thầy với học trò

Trang 4

Giữa giáo viên và học sinh phải có sự kết hợp hài hoà Người giáo viên phải mang hết khả năng và tri thức của mình truyền đạt lại cho các em một cách cặn

kẽ và thấu đáo

Một bài giảng Tiếng Việt có tính sư phạm cao theo tôi cần đáp ứng mấy điểm sau:

- Bài giảng phải chứa đựng đủ khái niệm cần dạy trong bài

- Nó được rút ra từ thực tế lời nói chứ không phải người dạy đặt ra Thường người ta tìm mẫu trong các ngôn bản văn xuôi của các nhà văn có uy tín như Nam Cao, Tô Hoài, Tố Hữu…

- Mẫu phải có tần số sử dụng trong bài dạy cao, ngắn gọn, tiết kiệm thì giờ

- Mẫu phải có nội dung lành mạnh, phù hợp với đối tượng học sinh

Trong khi giảng dạy thấy không nhất thiết phải lệ thuộc vào sách giáo khoa mà có thể tự tạo bài tập miễn sao các em nắm vững bài học hiểu thấu khái niệm đã đạt

Qua việc thống kê điều tra cho thấy ở nhà trường phổ thông các em thường mắc một số lỗi sau:

- Dùng từ không chính xác: Dùng từ thuần Việt sai

- Dùng từ không giản dị: Sáo rỗng, rập khuôn

- Dùng từ không có tính hình ảnh, hình tượng

- Dùng từ sai - viết sai chính tả

- Lỗi dùng từ

Thực tế qua giảng dạy tôi rút ra mấy trường hợp sai cơ bản sau đây và cách khắc phục

Dùng từ không chính xác

* Dùng từ thuần Việt sai:

Trang 5

Ví dụ 1: Sau buổi thăm quan chúng em trở về yên nghỉ.

Giữa yên nghỉ và nghỉ ngơi học sinh hiểu chưa rõ nghĩa mà các em chỉ nhớ mang máng không nhớ rõ yếu tố đứng sau đó là từ nào nữa do đó các em tự tiện thêm từ “yên” đứng trước từ “nghỉ” và các em cho thế là hợp Nhưng không biết rằng mình đã dùng sai ở đây phải sửa lại là:

Sau buổi thăm quan chúng em trở về nghỉ ngơi

Ví dụ 2: Quân và dân Miền Nam đã bắn cho Mỹ một đòn mạnh.

ở đây học sinh dùng từ bắn là chưa chính xác, chỉ có thể nói: bắn một mũi tên, bắn một phát súng không thể nói là bắn cho Mỹ một đòn mạnh.

Giáo viên phải sửa là:

Quân và dân Miền Nam đã giáng cho Mỹ một đòn rất mạnh

Từ “giáng” mang ý nghĩa khái quát cao Thể hiện được ý chí chiến đấu của quân và dân Miền Nam

Việc các em dùng từ sai là do không hiểu thấu đáo nghĩa của yếu tố trong các từ Hán Việt Mặt khác tuổi các em còn nhỏ, vốn sống nông cạn, vốn từ còn nghèo Đặc biệt khi dùng từ các em không biết cân nhắc lựa chọn cho phù hợp

Để khắc phục lỗi này giáo viên phải hướng dẫn học sinh có ý thức tích luỹ vốn hiểu biết về từ ngữ Thầy phải giúp học sinh nên có cuốn sổ tay dùng từ

Dùng từ không giản dị - sáo rỗng

Ví dụ : Lớp em có nhiều tiến bộ đã hỗ trợ nhau trong học tập.

Trong trường hợp này, học sinh dùng từ không giản dị-sáo rỗng, dùng sai từ hỗ

trợ

- Cách chữa: Lớp em có nhiều tiến bộ và đã giúp đỡ nhau trong học tập

- Học sinh dùng từ sai, không giản dị có khi các em còn dùng theo kiểu công thức đã có sẵn để đặt câu cho đoạn văn đó

Trang 6

Đối với việc dùng từ không giản dị - sáo rỗng người thầy phải chỉ ra cho học sinh biết đặt từ ngữ đó trong một văn cảnh thích hợp và tìm từ thích hợp sao cho câu văn hợp với lôgíc của nó Để làm được điều đó, học sinh cần có vốn từ thật phong phú và đa dạng Điều này tự các em không thể làm được mà phải có

sự hỗ trợ đắc lực của thầy Một mặt giúp các em tích luỹ vốn từ mặt khác kịp thời uốn nắn sửa chữa cho các em trong từng tiết học

Dùng từ không có hình ảnh, hình tượng

* Dùng từ không có hình ảnh:

Học sinh chưa chú ý tới việc sử dụng các hình ảnh trong câu Sử dụng các biện pháp tu từ

Ví dụ: Trời tối, mưa to các anh bộ đội vẫn đi ra chiến trường.

- Cách chữa: Trời tối đen như mực, mưa to như trút nước, đường trơn như

đổ mỡ, các anh bộ đội vẫn hăng hái đi ra chiến trường

* Dùng từ không hình tượng:

Bất cứ nhà thơ hoặc nhà văn nào khi cầm bút viết thì thơ hoặc văn của họ đều có tính hình tượng

Ví dụ 1: Chị Dậu là một người phụ nữ rất chịu thương, chịu khó, một

lòng vì chồng, vì con

Tác giả Ngô Tất Tố đã đưa hình tượng chị Dậu vào trong văn học yêu cầu học sinh phải phân tích được hình tượng con người chị Dậu

- Cách chữa: Chị Dậu là một người phụ nữ đảm đang, nhẫn nhục chịu đựng mọi khó khăn để tìm cách cứu chồng, chị đã day dứt khi phải bán đứa con mình đứt ruột đẻ ra

Ví dụ 2: Bác đã đi rồi sao Bác ơi?

Trang 7

Ở đây giáo viên phải lý giải từ “đi” trong câu thơ của Tố Hữu - phải cung cấp kiến thức về từ thật đầy đủ và chính xác cho học sinh Nếu không các em sẽ chẳng hiểu được “đi” ở đây định diễn đạt điều gì và tác giả muốn nói lên điều gì?

Như vậy, với học sinh THCS thường thì viết văn không biết sử dụng hình ảnh - hình tượng vào trong câu văn, bài văn của mình Nhiệm vụ của người thầy qua mỗi bài giảng cần phải chỉ ra cho các em nên dùng từ như thế nào cho thích hợp và góp phần tạo được hình ảnh, hình tượng trong bài viết của mình, giúp các em biết tiếp thu có sáng tạo truyền thống văn hoá của cha ông

Dùng sai, viết sai chính tả

- Bản chất chữ Việt Nam không khó viết nhưng do tâm lý coi thường nên học sinh thường hay phạm lỗi khi viết, ở THCS cũng như ở các lớp học trên đều

có thể mắc lỗi chính tả

- Trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là ở nam Bộ các em thường mắc các lỗi sai chính tả như sau: Viết hoa không đúng chỗ, thanh điệu (dấu hỏi, ngã) và các

âm cuối(n/ng; c/t)

+ Quy tắc viết hoa, học sinh thường hay viết hoa lung tung không có dấu chấm, dấu phẩy có khi sau dấu phẩy cũng viết hoa mà sau dấu chấm lại không viết hoa, giáo viên phải chỉ rõ và thường xuyên nhắc nhở để các em viết đúng những danh từ riêng phải viết hoa những chữ đầu của âm tiết

Ví dụ 1: Kim Sơn, Thanh Hương

Ví dụ 2: Trời hôm nay thật mát mẻ.

.Chỉ ra cho các em một số danh từ chung song nó gắn với tên từng nổi tiếng thì cũng viết hoa chữ đầu âm tiết

Ví dụ: Tú Xương, Đồ Chiểu, Ba Giai

.Chỉ cho học sinh thấy tên tác phẩm thì cũng phải viết hoa chữ đầu

Ví dụ: Tác phẩm “Tắt đèn”

Trang 8

.Bên cạnh đó tên đất, tên người phiên âm tiếng nước ngoài thì phải viết hoa chữ đầu của âm tiết đầu cụm

Ví dụ: Mátxcơva, Calipoolia:

Tên các tổ chức viết hoa chữ đầu của âm tiết đầu

Ví dụ: Đội, Đoàn, Đảng.

Có những chữ bình thường không viết hoa nhưng biểu thị sắc thái tình cảm trân trọng thì phải viết hoa

Ví dụ: Người đi tìm Hình của nước

Người giáo viên phải uốn nắn học sinh THCS viết chính tả sao cho đúng, nếu được như vậy thì đòi hỏi người thầy dạy Ngữ văn phải phát âm chuẩn Nói

có đúng thì viết mới đúng được chính âm và cơ sở của chính tả

Học sinh phải có sổ tay chính tả để viết những từ khó ngoài ra cần kết hợp chặt chẽ với các môn học khác để viết cho đúng chính tả

+ Học sinh thường không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã

Ví dụ 1:

Vui vẻ thì viết vui vẽ.

Trắng trẻo thì viết trắng trẽo.

Lỏng lẻo thì viết lõng lẽo

Đẹp đẽ thì viết đẹp đẻ.

Sẽ thì viết sẻ.

Mạnh mẽ thì viết mạnh mẻ

Đã thì viết đả.

Ví dụ 2:

Mãi mãi thì viết mải mải.

Choãi ra thì viết choải ra.

Trang 9

Giãn ra thì viết giản ra.

Buông thõng thì viết buông thỏng.

Cái rãnh thì viết cái rảnh.

Dài nhẵng thì viết dài nhẳng.

Rã rượi thì viết rả rượi.

+ Học sinh thường không phân biệt được các âm cuối như: n/ng; c/t Ví dụ 1: n/ng

Cái thang thì viết cái than.

Con mương thì viết con mươn.

Bâng khuâng thì viết bân khuân.

Chàng thì viết chàn.

Đương nhiên thì viết đươn nhiên.

Thiêng liêng thì viết thiên liên.

Băn khoăn thì viết băng khoăng.

Than vãn thì viết thang vãn.

Ngăn chặn thì viết ngăng chặng.

Than thở thì viết thang thở.

Ví dụ 2: c/ t

Cắt đứt thì viết cắc đức.

Tóm tắt thì viết tóm tắc

Cót két thì viết cóc kéc.

Mực thước thì viết mựt thướt.

Mức độ thì viết mứt độ.

Lệch lạc thì viết lệch lạt.

Trang 10

Đặc sắc thì viết đặt sắt.

Rất tiếc thì viết rất tiết.

Mộc mạc thì viết mộc mạt.

Dù là nhầm lẫn ở góc độ nào thì việc giáo viên uốn nắn những sai lầm trên là rất quan trọng

Tuỳ từng trường hợp người thầy phải biết xử lý cho phù hợp giúp các em nhớ được lâu mà không tái phạm nữa

Lồi dùng từ

Ví dụ 1: Năm nay, con trai tôi đã ngoài 3 tuổi

Ví dụ 2: Trước nhà em có một con đường rộng bát ngát chạy qua.

Trong cả hai ví dụ học sinh đều dùng từ sai do không hiểu bản chất của từ Không ai nói là “ngoài 3 tuổi” và “con đường rộng bát ngát”

Nguyên nhân của việc dùng từ sai do học sinh còn nhỏ, vốn sống nông cạn, vận dụng từ ngữ yếu đặc bịêt rất cẩu thả, viết xong không đọc lại

Khi gặp những câu như vậy giáo viên phải phân tích cho học sinh hiểu được bản chất của từ và sửa lại cho các em

Sửa lại như sau:

-Năm nay, con trai tôi đã 3 tuổi rồi

-Trước nhà em, có một con đường rộng chạy qua

Trên đây là một số lỗi thông thường mà học sinh THCS hay mắc phải và

để khắc phục tình trạng đó người giáo viên cần làm gì?

Phương pháp sửa chữa, phương pháp khắc phục

trong giảng dạy

-Yêu cầu của bộ môn Tiếng Việt trong nhà trường THCS là Tiếng Việt thực hành Vậy từ ngữ phải đảm bảo nguyên tắc thực hành, học lý thuyết đến

Trang 11

đâu phải được thực hành ngay đến đó, vấn đề rèn luyện từ ngữ phải hướng tới rèn luyện kỹ năng

Kỹ năng nhận biết từ

Kỹ năng phân loại từ ngữ

Kỹ năng giải nghĩa từ

Kỹ năng dùng từ đặt câu

Kỹ năng sử dụng các lớp từ trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau

- Trong giờ lên lớp người giáo viên cho học sinh tiếp xúc với nhiều loại ngôn ngữ, từ ngữ, câu, văn bản, sai đúng cho học sinh tự làm và giáo viên bổ sung

- Giáo viên sửa lỗi cho HS chủ yếu trong các giờ trả bài kiểm tra và trả bài viết tập làm văn Bên cạnh đó, người giáo viên còn phải theo dõi HS viết bài trong các giờ dạy trên lớp để sửa cho các em khi phát hiện các em viết sai

- Đặc biệt phải có sự thống nhất với sách giáo khoa để các em tiện theo dõi

- Vì dạy học từ ngữ theo phương pháp quy nạp - thực hành Do đó, sau mỗi tiết học giáo viên phải cho làm bài tập để củng cố kiến thức Cho học sinh luyện tập cách dùng từ đặt câu, viết đoạn, sửa chữa câu sai ngay trên lớp, giải thích cho học sinh thật cặn kẽ để các em hiểu

- Cung cấp cho học sinh nguyên tắc dùng từ:

+ Dùng từ phải chính xác: Biết lựa chọn từ có nghĩa đúng nhất vào hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể đảm bảo tính chính xác, phản ánh đúng tư tưởng, tình cảm, diễn tả trung thành và sáng tỏ những điều muốn nói Từ dùng chính xác là những từ rõ ràng làm cho người nghe, người đọc hiểu một cách rõ nét Đồng thời từ đó cũng phải biểu hiện sự suy nghĩ sâu sắc của bản thân người viết

Ví dụ: Củi một cành khô lạc mấy dòng

Trang 12

Nếu như chỉ cần thay đổi trật tự nào đó thì ý nghĩa diễn đạt của nó sẽ kém

đi Muốn học sinh dùng từ chính xác điều cơ bản là phải hướng dẫn học sinh chọn lấy một từ thích hợp hay nhất trong những từ đồng nghĩa

+ Dùng từ giản dị:

Từ giản dị là những từ không quá cầu kỳ và sáo rỗng, những từ đó gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày; từ mà ai nghe, đọc đều hiểu được

+ Dùng từ phải gợi hình:

Văn chương phản ánh hiện thực khách quan bằng hình tượng khi sử dụng

từ phải gợi hình tượng Các từ ngữ phải góp phần tạo nên hình ảnh Việc tạo nên hình ảnh của từ có tác dụng to lớn làm thúc đẩy những suy nghĩ, những cảm xúc khiến người ta nghe thấy như có âm thanh nhạc điệu trong câu văn, câu thơ, giúp người đọc tìm thấy niềm vui khi đọc văn thơ

Qua thời gian đi sâu tìm hiểu về các lỗi dùng từ của học sinh, tôi nhận thấy việc học sinh dùng từ sai là do các em không hiểu bản chất của từ, bên cạnh

đó việc viết sai chính tả, đặt câu sai… việc này không thể làm ngay trong một vài tuần mà là cả một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực của cả thầy và trò Bản thân thầy phải là tấm gương mẫu mực viết chuẩn chính là đọc phát âm đúng, đúng từ, viết văn trong sáng để các em học tập Khi phát hiện trò dùng sai phải sửa ngay

và thường xuyên uốn nắn các em trong tất cả các giờ học của bộ môn mình đảm nhiệm

3/ Kết quả đạt được

Sau khi thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy hiệu quả trong các giờ sửa lỗi dùng từ cho học sinh được nâng cao Cụ thể trong các bài viết văn, các bài kiểm tra … hiện tượng học sinh nói sai, viết sai lỗi dùng từ giảm hẳn

Qua đó, giáo viên thấy được ý nghĩa to lớn đối với việc rèn viết, rèn nói cho học sinh trong giờ học và việc làm này mỗi giáo viên phải thường xuyên thực hiện

Ngày đăng: 05/06/2016, 14:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w