Sự ổn định về chính trị, đường lối đối ngoại cởi mở và sự hội nhập của nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế thế giới đang tạo ra cho chúng ta triển vọng tiếp thu công nghệ tiên tiến được
Trang 1BÀN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC TỰ NHIÊN NƯỚC TA
GIAI ĐOẠN 2011 – 2020
VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Nguyễn Văn Hiệu
Hà Nội Tháng 11 năm 2009 – Tháng 4 năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
1 BỐN SỨ MẠNG CỦA KHOA HỌC TỰ NHIÊN NƯỚC TA 01
2 PHƯƠNG HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC TỰ
NHIÊN NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 05 2.1 Các hướng nhằm thực hiện sứ mạng làm giàu kho tàng tri thức
Việt Nam để đảm bảo cho dân tộc ta làm chủ được thiên nhiên
05
2.1.1.1 Từ kiểm soát ô nhiễm đến đánh giá chất lượng môi trường nước 05
2.1.1.3 Xử lý ô nhiễm môi trường bằng các phương pháp sinh học 06
2.1.1.4 Tạo ra polyme tự phân huỷ sinh học và tái chế polymer 07
2.1.3.3 Di dời dân cư ra khỏi vùng bị ngập lụt nước biển 18 2.1.4 Làm chủ lãnh hải và thực hiện đặc quyền quốc gia trên vùng đặc
quyền kinh tế
19
2.2 Các hướng nhằm thực hiện sứ mạng tăng cường tiềm lực khoa
học để làm chủ công nghệ cao được chuyển giao từ nước ngoài
20
2.2.1 Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin 20
Trang 32.2.2.1 Sử dụng năng lượng hạt nhân 22
2.2.2.4 Thăm dò và chuẩn bị khai thác bể than đồng bằng sông Hồng 24
2.2.4 Phát triển công nghiệp đóng tàu và công nghiệp xây dựng các công
trình biển
26
2.3 Các hướng nhằm thực hiện sứ mạng phát triển tiềm lực khoa
học để sáng tạo ra những kỹ thuật và công nghệ cần thiết cho sự
phát triển của đất nước mà không cần hoặc không thể được
chuyển giao từ nước ngoài
2.4 Các hướng phát triển khoa học theo những hướng là sở trường
của người Việt Nam và do đó có khả năng đạt trình độ tiên tiến
trên thế giới sau hai thập kỷ
39
2.4.2 Phát triển Khoa học Thông tin và Máy tính 39
3 NHỮNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KHOA HỌC TỰ NHIÊN NƯỚC TA
ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 41
3.3.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước 42
Trang 43.3.4 Làm giàu thêm quỹ đất nông nghiệp 42
4 CÁC HƯỚNG ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN KHOA HỌC TỰ NHIÊN VIỆT
4.4.2 Lĩnh vực Khoa học về trái đất và không gian 49
5.2.1 Nâng cao chất lượng việc lập kế hoạch nghiên cứu khoa học 58
Trang 55.2.2 Nâng cao năng lực quản lý việc sử dụng vốn đầu tư của nhà nước
cho khoa học
58
5.2.3 Nâng cao chất lượng đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 58
5.3 Tăng cường công tác tổ chức cán bộ trong hệ thống các đơn vị
khoa học hoạt động bằng ngân sách nhà nước
59
5.3.2 Tinh giản hệ thống các đơn vị nghiên cứu 59
5.3.3 Chú trọng công tác chính trị tư tưởng trong đội ngũ khoa học 59
5.5.2 Thu hút vốn ODA xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc đào tạo nguồn
nhân lực và phát triển công nghệ cao
60
5.5.3 Thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư phát triển công nghiệp
công nghệ cao
60
5.6 Tăng cường sự đầu tư của nhà nước và khuyến khích sự đầu tư
của các doanh nghiệp
61
5.6.3 Đầu tư của Ủy ban Nhân dân các Tỉnh/Thành phố trực thuộc Trung
ương
61
Trang 6BÀN VỀ
Chiến lược phát triển khoa học tự nhiên nước ta giai đoạn 2011 – 2020
và Tầm nhìn đến năm 2030
Trong thập kỷ đầu tiên vừa qua của thế kỷ 21 đất nước ta đã nhanh chóng phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Trình độ công nghệ được nâng cao một cách rõ rệt, một số tập đoàn công nghiệp hiện đại như dầu khí, điện lực, đóng tàu, v.v đã hình thành Sự ổn định về chính trị, đường lối đối ngoại cởi mở và
sự hội nhập của nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế thế giới đang tạo ra cho chúng ta triển vọng tiếp thu công nghệ tiên tiến được chuyển giao từ các nước có công nghiệp phát triển cùng với vốn đầu tư và vốn vay tín dụng của nước ngoài để phát triển một số lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao sản xuất ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và được tiêu thụ trên thị trường thế giới, cũng như khả năng ứng dụng các thành tựu hiện đại của khoa học thế giới vào sản xuất và đời sống ở nước ta Chẳng hạn như các tập đoàn công nghiệp công nghệ cao trên thế giới như Intel (Hoa Kỳ), Samsung (Hàn Quốc), Hồng Hải (Đài Loan), v.v đều có dự định sẽ xây dựng các nhà máy sản xuất các vật liệu, linh kiện và thiết bị điện tử và công nghệ thông tin ở nước ta với doanh thu của mỗi tập đoàn nhiều tỷ USD một năm Trước thời cơ thuận lợi đó, Chính phủ đã có chủ trương tăng tốc phát triển công nghệ thông tin để trở thành một nước mạnh trên thế giới về công nghệ thông tin Muốn làm cho các triển vọng tốt đẹp đó trở thành hiện thực phải có đủ nội lực để nắm bắt thời cơ Nội lực đó rõ ràng không phải là tiền vốn,
vì vốn là do nước ngoài đầu tư hoặc đi vay của nước ngoài Nội lực đó là nguồn nhân lực chất lượng cao và trình độ cao, là tiềm lực khoa học của đất nước, là trí tuệ của cộng đồng khoa học Việt Nam Nội lực ấy không thể nhập khẩu từ nước ngoài, mà phải
do chính người Việt Nam chúng ta tạo nên với sự hợp tác, giúp đỡ của bè bạn trên thế giới Nội lực ấy chỉ có thể được tạo nên nhờ phát triển khoa học, chỉ có thể là thành quả của sự nghiệp phát triển khoa học ở nước ta
Đồng thời với thời cơ thuận lợi trình bày ở trên, chúng ta lại đang đứng trước những thử thách gay go, những khó khăn lớn, có thể sẽ trở thành nguy cơ: đó là sự ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp nơi do nước thải công nghiệp và khí thải của các phương tiện giao thông không được xử lý hoặc chưa được xử lý đúng mức nhưng không bị ngăn chặn kịp thời; đó là sự ô nhiễm môi trường nuôi thuỷ sản do quy trình
Trang 7sản xuất thiếu cơ sở khoa học; đó là sự tàn phá nặng nề tài nguyên rừng không phải chỉ
do lâm tặc mà còn do kế hoạch phát triển kinh tế và cơ chế quản lý của các địa phương thiếu cơ sở khoa học v.v , dẫn đến hậu quả là sự gia tăng thiên tai lũ lụt và hạn hán Đồng thời với các khó khăn đó, nước ta lại đang đối mặt với hiểm hoạ biến đổi khí hậu toàn cầu đang đe doạ sẽ gây ra các tác hại to lớn mới: gia tăng bão lụt, hạn hán, tạo cồn, tạo bãi bồi dẫn đến hiện tượng bồi lấp dòng sông làm cho nước sông vào mùa khô
bị chặn lại, không chảy được ra biển và bị tù đọng ở vùng hạ lưu sông gây ra sự biến đổi hệ sinh thái, huỷ diệt một số loài thuỷ sinh, còn ở ven biển thì sóng biển làm xói lở
bờ biển, nước biển dâng gây ngập lụt và xâm nhập mặn làm cho diện tích trồng trọt và sinh sống của dân cư đồng bằng bị thu hẹp, đe doạ an ninh lương thực v.v
Muốn cho sự phát triển đất nước được bền vững, một mặt chúng ta nỗ lực tham gia các chương trình hành động quốc tế ngăn chặn sự biến đổi khí hậu, mặt khác phải chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp hữu hiệu để đối phó với các tác hại cũng như sự gia tăng các thiên tai bão, lụt, hạn hán do biến đổi khí hậu gây ra và thích ứng với các điều kiện tự nhiên bị thay đổi do có sự biến đổi khí hậu
Tham gia các chương trình hành động quốc tế thì còn có thể tiếp thu công nghệ
từ nước ngoài, chứ phòng, tránh và giảm nhẹ hoặc loại trừ các thiên tai lũ lụt, bão, hạn hán, sạt lở bờ sông, bờ biển v.v càng ngày càng gia tăng do sự biến đổi khí hậu, và thích nghi với các điều kiện tự nhiên bị thay đổi do mực nước biển dâng lên thì lấy đâu
ra các công nghệ, các giải pháp đã có sẵn ở nước ngoài mà tiếp thu, nhất là nước ta lại nằm trong số rất ít nước bị tác hại mạnh nhất của sự biến đổi khí hậu Chỉ có một con đường duy nhất là nghiên cứu khoa học để tìm ra các giải pháp cần được thực hiện, các công nghệ cần được áp dụng để ứng phó có hiệu quả với hiểm hoạ biến đổi khí hậu Đương nhiên là chúng ta sẽ hợp tác với bè bạn trên thế giới, trong đó có những nước cũng có hoàn cảnh như nước ta, và sẵn sàng cùng với bè bạn trên thế giới chia sẻ cho nhau những thành quả khoa học
Đồng thời với hiểm họa biến đổi khí hậu và cũng liên quan đến sự biến đổi khí hậu, chúng ta còn đứng trước một nguy cơ thứ hai là môi trường sống đang bị ô nhiễm
và tàn phá nghiêm trọng Để ngăn chặn nguy cơ đó đương nhiên phải thực hiện các biện pháp quản lý mạnh mẽ và kiên quyết áp dụng các công nghệ xử lý đã có, song như thế chưa đủ Còn phải có công nghệ phát hiện tức thời việc xảy ra ô nhiễm môi trường trên một mạng lưới các điểm quan trắc và trong nhiều trường hợp muốn xử lý ô nhiễm phải áp dụng công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài với chi phí quá cao Khoa học
Trang 8Việt Nam phải có đủ năng lực tạo ra được công nghệ phát hiện và công nghệ xử lý mới với chi phí chấp nhận được
Không phải chúng ta chỉ cần phát triển khoa học nhằm mục đích tìm ra các giải pháp kỹ thuật, các công nghệ không thể được chuyển giao từ nước ngoài để ứng phó với sự biến đổi khí hậu cũng như để cảnh báo kịp thời sự ô nhiễm môi trường vừa xuất hiện Còn có những kỹ thuật và công nghệ cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội mà chúng ta phải nghiên cứu khoa học để tự sáng tạo ra, hoặc là vì không có sẵn ở nước ngoài mà chuyển giao vào nước ta, hoặc là muốn tiếp nhận được từ nước ngoài phải trả giá tiền quá cao, song nếu cố gắng nghiên cứu khoa học thì cũng có thể tự lực tìm ra được mà lại ít tốn kém hơn Vả lại chúng ta cũng không cam chịu suốt đời này qua đời khác mãi mãi lúc nào cũng chỉ đi nhập công nghệ có sẵn ở nước ngoài, mà phải lựa chọn những hướng khoa học cần cho nước ta và nếu nỗ lực thì chúng ta cũng có đủ sức giải quyết, rồi tăng cường hợp tác quốc tế, học tập bè bạn và nhờ bè bạn giúp đỡ, tiếp thu những thành tựu mới của nước ngoài và quyết chí nghiên cứu bằng được để vừa đóng góp vào sự phát triển đất nước, vừa vươn lên theo kịp bè bạn Người Nhật Bản, người Hàn Quốc trước đây đã làm như vậy và đã thành công, người Trung Quốc cũng đang làm như vậy và ai cũng thấy rằng họ sẽ thành công, chẳng lẽ giới khoa học Việt Nam chúng ta lại không có ý chí bằng họ hay sao?
Ngoài ra, chúng ta còn có cơ sở để nuôi kỳ vọng về một sứ mạng vinh quang nữa: phát triển một vài hướng khoa học hợp sở trường người Việt Nam mà lại không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, sau hai thập kỷ đạt được trình độ tiên tiến ở châu Á Đó là một
số ngành khoa học lý thuyết, trong đó trước hết phải kể đến Toán học, nhưng không phải chỉ có Toán học thuần tuý
Nói tóm lại, trong thập kỷ này khoa học Việt Nam có bốn sứ mạng sau đây Một
là, đảm bảo cho dân tộc ta làm chủ được thiên nhiên: bảo vệ được môi trường sống, dự báo, đề phòng, né tránh và giảm nhẹ các thiên tai và ứng phó với hiểm họa biến đổi khí hậu có hiệu quả, đảm bảo cho đất nước ta phát triển một cách bền vững trong hoàn cảnh đầy khó khăn Hai là, đảm bảo cho người Việt Nam chúng ta ứng dụng có hiệu quả các thành tựu hiện đại của khoa học thế giới vào sản xuất và đời sống, làm chủ được công nghệ tiên tiến được chuyển giao từ những nước công nghiệp phát triển rồi dần dần tiến lên sáng tạo ra công nghệ mới, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển với các nước có nền công nghiệp tiên tiến Ba là, nghiên cứu khoa học để có đủ tri thức đặng tìm ra những giải pháp kỹ thuật, những công nghệ cần thiết cho sự phát triển của đất nước mà không thể hoặc không cần được chuyển giao từ nước ngoài Bốn là,
Trang 9nghiên cứu những hướng nghiên cứu khoa học là sở trường của người Việt Nam, nhất
là những hướng vừa là sở trường của người Việt Nam, vừa có đóng góp thiết thực vào
sự phát triển bền vững của đất nước Thực hiện bốn sứ mạng đó, khoa học tự nhiên nước ta góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta, góp phần làm cho nước ta trở thành một quốc gia văn minh, dân giàu, nước mạnh
Trang 102 PHƯƠNG HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC TỰ
NHIÊN NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Sự phát triển khoa học tự nhiên nước ta phải định hướng vào việc thực hiện
thành công những sứ mạng của khoa học tự nhiên Việt Nam đã được trình bày ở trên 2.1 Các hướng nhằm thực hiện sứ mạng làm giàu kho tàng tri thức Việt Nam
để đảm bảo cho dân tộc ta làm chủ được thiên nhiên
2.1.1 Bảo vệ môi trường
2.1.1.1 Từ kiểm soát ô nhiễm đến đánh giá chất lượng môi trường nước
Nhiều dòng sông đang bị ô nhiễm trầm trọng vì các doanh nghiệp xả nước thải không được xử lý hoặc được xử lý chưa đạt yêu cầu ra sông mà cơ quan bảo vệ môi trường chưa có phương tiện để phát hiện ngay khi sự ô nhiễm vừa mới xảy ra và kịp thời ngăn chặn Muốn kiểm soát được môi trường trên một địa bàn rộng lớn phải xây dựng một mạng lưới các trạm quan trắc, tại mỗi trạm đều đặt thiết bị cảm biến có chức năng phát hiện trạng thái ô nhiễm trên mức được phép và tự động báo ngay về trung tâm Với trình độ kỹ thuật điện tử và công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay, việc tự động báo tin về trung tâm hoàn toàn có thể giải quyết được Mặc dầu đã có nhiều chục
đề tài nghiên cứu các cấp về cảm biến, song cho đến nay chúng ta vẫn chưa có công nghệ chế tạo hàng loạt các loại cảm biến cần thiết với giá thành chấp nhận được, vì trình độ khoa học trong lĩnh vực này còn thấp, mà nhập khẩu từ nước ngoài thì quá tốn kém, cho nên đành bất lực không kiểm soát được môi trường Muốn khắc phục tình trạng này phải tổ chức nghiên cứu khoa học về cảm biến đến nơi đến chốn Đó là một nhiệm vụ cấp bách của vật lý và hoá học nước ta
Một loại môi trường nước khác có diện tích rất lớn mà chúng ta cũng cần kiểm soát chất lượng thường xuyên để phát hiện ngay lập tức sự suy thoái chất lượng và xử
lý kịp thời là môi trường nước trong các đầm nuôi tôm Lâu nay vẫn thường xảy ra hiện tượng tôm chết hàng loạt vì sự ô nhiễm môi trường phát sinh ra trong chính quá trình nuôi tôm, hoặc là vì sự thay đổi các tham số hoá học, vật lý của nước do các nguyên nhân từ bên ngoài như do nước lũ tràn vào, do trời nắng, v.v , gây thiệt hại rất lớn Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là năng suất tôm có xu hướng giảm dần trên nhiều vùng mà chưa biết nguyên nhân, nhưng chắc là do chất lượng nước đã bị thay đổi Muốn kiểm soát được chất lượng nước để đảm bảo nuôi tôm đạt năng suất cao và ổn định phải dùng các loại cảm biến khác cảm biến dùng để phát hiện ô nhiễm
do nước thải công nghiệp Muốn chế tạo được hàng loạt các loại cảm biến kiểm soát
Trang 11chất lượng môi trường nước nuôi tôm phải có sự kết hợp của các nhà vật lý, các nhà hoá học và các nhà sinh học cùng nghiên cứu các quá trình vật lý lượng tử, các quá trình hóa học, các vấn đề sinh học phân tử và di truyền phân tử để tìm ra nguyên lý xác định các tham số vật lý và thành phần hoá học của môi trường, phát hiện ra sự tồn tại của các loại vi sinh vật gây bệnh, các vi-rút và vi khuẩn trong môi trường, trên cơ sở đó thiết lập phương pháp chế tạo ra các loại cảm biến cho phép xác định nhanh sự ô nhiễm môi trường và nguyên nhân ô nhiễm để xử lý kịp thời Đó là những nội dung nghiên cứu khoa học rất hay và rất thiết thực
2.1.1.2 Xử lý khí thải
Nếu không kể đến việc giảm sự phát thải khí nhà kính thì có ba loại khí thải cần phải được xử lý để bảo vệ môi trường không khí: khí thải (bao gồm cả bụi) từ các cơ sở công nghiệp (bao gồm cả các làng nghề), khí do các phương tiện giao thông thải ra và khí thải từ các lò đốt chất thải y tế Giới khoa học Việt Nam đã biết rõ nguyên lý các công nghệ xử lý khí thải công nghiệp Trong giai đoạn 2001–2010 các nhà khoa học vật liệu nước ta đã thu được nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị về các vật liệu xúc tác
xử lý khí thải từ các phương tiện giao thông và từ các lò đốt chất thải y tế, song vẫn còn nhiều nội dung khoa học cần được tiếp tục nghiên cứu để có cơ sở khoa học hoàn thiện công nghệ đến mức có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn
Về việc xử lý khí thải từ các phương tiện giao thông trước hết cần nghiên cứu ứng dụng các vật liệu xúc tác mới tìm ra trong thời gian gần đây để chế tạo ra các bộ lọc khí thải của ô tô và xe máy được sử dụng một cách phổ biến, ngoài ra vẫn nên tiếp tục nghiên cứu cơ bản để tìm ra các vật liệu mới hoàn hảo hơn
Trong thời gian qua các nhà khoa học nước ta đã nghiên cứu thành công một số vật liệu xúc tác đã được sử dụng để sản xuất ra các lò đốt chất thải y tế có khí thải hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn Việt Nam, song vì các lò này phải đốt các chất thải ở nhiệt
độ còn cao cho nên chưa được sản xuất trên quy mô công nghiệp Việc nghiên cứu khoa học cần dấn lên một bước nữa, trong đó có việc nghiên cứu để tìm ra các chất xúc tác cấu trúc nanô, hoạt động ở nhiệt độ thấp hơn các chất xúc tác hiện có, nhằm hạ thấp nhiệt độ đốt chất thải, giảm chi phí vận hành đến mức có thể sử dụng rộng rãi trong toàn quốc
2.1.1.3 Xử lý ô nhiễm môi trường bằng các phương pháp sinh học
Phương pháp phân huỷ sinh học, sử dụng các vi sinh vật để chuyển hoá và phân huỷ các chất gây ô nhiễm, là phương pháp xử lý ô nhiễm do nước thải công nghiệp,
Trang 12sinh hoạt và chăn nuôi v.v rất có hiệu quả Muốn thiết lập được phương pháp cụ thể phù hợp với từng hoàn cảnh phải nghiên cứu đa dạng vi sinh vật (đa dạng chủng loại,
đa dạng gen, enzym tham gia các cơ chế trao đổi chất trong quá trình chuyển hoá chất gây ô nhiễm), các cơ chế phân huỷ sinh học, các điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các gen v.v
Nghiên cứu các quá trình sinh học trong một số loài thực vật để tìm ra phương pháp xử lý ô nhiễm bằng các loài thực vật kết hợp với vi sinh vật vùng bộ rễ cũng là một hướng nghiên cứu rất có triển vọng
Để xử lý các chất thải rắn hữu cơ và chuyển hoá thành phân bón hữu cơ cần thiết cho sự phát triển nền nông nghiệp sạch có thể áp dụng công nghệ hiếu khí, sử dụng các chế phẩm vi sinh vật và chế phẩm enzym Việc nghiên cứu để tạo ra các chế phẩm này là hết sức cần thiết
2.1.1.4 Tạo ra polymer tự phân huỷ sinh học và tái chế polymer
Việc khắc phục sự ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra sẽ có bước tiến có tính chất đột phá nếu chúng ta sản xuất ra được polymer tự phân huỷ sinh học trên quy mô công nghiệp để làm các loại túi và bao bì thay cho các loại túi và bao bì ny lông hiện nay đang sử dụng, hoặc có thể làm biến tính các loại polymer khó phân huỷ hiện nay đang sử dụng thành các polymer tổng hợp tự phân huỷ sinh học Trên thế giới hiện nay
đã có nhiều công bố khoa học về polymer tự phân huỷ sinh học, bao gồm cả các loại có được do biến tính polymer thông thường, song cho đến nay chưa ở đâu có công nghệ sản xuất polymer tự phân huỷ sinh học dưới dạng một thương phẩm có giá thành chấp nhận được, hoặc công nghệ biến tính polymer thông thường khó phân huỷ để trở thành polymer tổng hợp tự phân huỷ sinh học Có thể là vì ở các nước tiên tiến môi trường được bảo vệ tốt, chưa có nhu cầu cấp bách về các loại công nghệ nói trên, cho nên người ta mới chỉ nghiên cứu các vấn đề có tính chất khoa học cơ bản Còn ở nước ta thì
đó lại là nhu cầu cấp bách, cho nên phải quyết tâm nghiên cứu khoa học để tự sáng tạo
ra công nghệ
Để xử lý polymer rác thải khó phân huỷ người ta đã nghiên cứu phương pháp tái chế bằng cách giải trùng hợp polymer thành các monomer và sử dụng các monomer này làm nguyên liệu sản xuất polymer mới Vì các phương pháp giải trùng hợp đều đòi hỏi phải được thực hiện ở nhiệt độ cao, sử dụng các dung môi chọn lọc hoặc các thiết
bị cao áp đặc biệt, nên chưa thể áp dụng vào thực tiễn được Rất nên nghiên cứu các vấn đề khoa học để tìm ra phương pháp tái chế polymer khó phân huỷ thành polymer
Trang 13tự phân huỷ sinh học mà ta có thể thực hiện trên quy mô công nghiệp với chi phí chấp nhận được
Ngoài các polymer được chế tạo từ các nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ cần nghiên cứu biopolymer tự phân huỷ sinh học được chế tạo từ các nguyên liệu thực vật Các loại biopolymer này thường dễ thấm nước và không bền bằng polymer đi từ dầu
mỏ Có thể chế tạo vật liệu composite kết hợp cả hai loại đó để vừa thấm nước chậm, vừa tương đối bền, song lại dễ phân huỷ sinh học Cũng cần nghiên cứu tác động của các chủng vi sinh vật lên các loại vật liệu này để làm cơ sở khoa học cho công nghệ phân huỷ nhanh rác thải chứa các loại polymer đó thành phân bón hữu cơ Thật là cả một loạt các vấn đề khoa học có định hướng ứng dụng rất thiết thực, song rất khó và đòi hỏi phải kiên trì nghiên cứu trong nhiều năm mới có thể tìm ra công nghệ
Một vài nhà hoá học hàng đầu ở nước ta, tác phong nghiên cứu rất nghiêm chỉnh, lâu nay vẫn theo dõi các công bố khoa học ở nước ngoài về polymer tự phân huỷ sinh học, cũng có lần đã từng đăng ký đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, song vì tiêu chí
để đề tài được xét duyệt còn bất cập cho nên không được chọn, còn người khác có bản đăng ký đạt các tiêu chí, được chọn và đã hoàn thành đề tài, được nghiệm thu, thì nghiệm thu xong lại chỉ có thể đưa báo cáo tổng kết vào lưu trữ Tôi mong cơ quan quản lý rút kinh nghiệm, hoàn thiện hơn nữa cơ chế quản lý, đặc biệt là chú trọng đúng mức sự cần thiết phải nghiên cứu khoa học, không nên quá nóng vội muốn có công nghệ ngay khi chưa nghiên cứu khoa học Trong thời gian làm công tác quản lý tôi đã thành công trong việc chỉ đạo không ít đề tài nghiên cứu đòi hỏi thời gian tương đối dài, đầu tiên nghiên cứu khoa học đến nơi đến chốn, khi đã nắm vững nguyên lý khoa học rồi thì tiến hành nghiên cứu công nghệ Nghiên cứu khoa học rồi đến công nghệ polymer tự phân huỷ sinh học là một đề tài nghiên cứu phải được thực hiện theo cách
đó với sự hợp lực của các nhà hoá học và các nhà nghiên cứu vi sinh vật Tôi tin rằng nếu cách quản lý như tôi đã trình này ở trên được chấp nhận thì khoảng đến năm 2015 chúng ta sẽ sản xuất được polymer tự phân huỷ sinh học với giá thành chấp nhận được
để sử dụng rộng rãi, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường
2.1.1.5 Phát triển năng lượng xanh
Việc phát triển năng lượng xanh vừa góp phần giải quyết nhu cầu về năng lượng đang tăng lên nhanh chóng, vừa bảo vệ môi trường, trong đó có việc tham gia chương trình hoạt động quốc tế ngăn chặn biến đổi khí hậu toàn cầu Có ba loại nguyên liệu nguồn gốc sinh học để sản xuất năng lượng xanh có tiềm năng rất lớn ở nước ta là các cây có dầu, các phế thải nông nghiệp và rong biển
Trang 14Những năm gần đây các nhà hoá học nước ta đã nghiên cứu thành công công nghệ chế tạo biodiesel không phế thải từ các loại dầu thực vật ở nước ta Sản phẩm đồng hành có giá trị khoa học và kinh tế cao của biodiesel là các chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật và tự huỷ sau khi sử dụng Nguyên liệu để chế tạo biodiesel lại có thể
là các loại hạt có dầu phế thải như hạt cao su, hạt chôm chôm của các nhà máy hoa quả hộp, một số loại cây cho hạt có dầu làm nguyên liệu lại có tác dụng phủ xanh đất trồng đồi trọc hoặc là cây rừng đầu nguồn như cây sở Nghiên cứu các chất có hoạt tính sinh học trong bã thải sau khi tách chiết dầu từ các loại hạt có dầu là một hướng nghiên cứu vừa có giá trị thực tiễn, vừa có ý nghĩa khoa học
Nền nông nghiệp nước ta hàng năm có một lượng lớn rơm rạ, thân cây ngũ cốc
và phân động vật, có thể được chế tạo thành nhiên liệu sinh học Biến các phế thải đó thành nhiên liệu vừa tạo thêm một nguồn năng lượng lớn cho đất nước, vừa góp phần bảo vệ môi trường Ở một vài nơi trên thế giới, cả châu Âu lẫn châu Á, đã bắt đầu có các nhà máy sảm xuất nhiên liệu sinh học từ phế thải nông nghiệp, song công nghệ chưa được phổ biến rộng rãi Chúng ta phải bắt đầu ngay việc nghiên cứu các vấn đề khoa học làm cơ sở cho công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học từ phế thải nông nghiệp
để xây dựng tiềm lực theo hướng khoa học rất quan trọng này, tiến tới sáng tạo ra công nghệ hoặc ít nhất thì cũng có đủ vốn kiến thức để thực hiện việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước ta đạt hiệu quả cao Có hai loại phương pháp chuyển hoá cellulose từ phế thải nông nghiệp thành ethanol: các phương pháp hoá học và các phương pháp sinh học Các phương pháp hoá học dựa vào các phản ứng hoá học xảy ra
ở nhiệt độ cao và cần sử dụng các chất xúc tác mới mà chúng ta phải nghiên cứu, còn theo các phương pháp sinh học thì nguyên liệu được xử lý bằng cách sử dụng enzym và nấm men để thuỷ phân và lên men Nên đồng thời nghiên cứu cả hai loại phương pháp rồi sẽ lựa chọn phương pháp có hiệu quả hơn, hoặc tìm ra phương pháp kết hợp hoá học và sinh học
Rong biển, cỏ biển cũng là một nguồn nguyên liệu cho nhiên liệu sinh học có tiềm năng rất lớn ở nước ta Diện tích nuôi trồng rong biển để sản xuất nhiên liệu sinh học có thể lên đến hàng triệu hecta, và sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự dâng nước biển Cần bắt đầu ngay việc nghiên cứu các vấn đề là cơ sở khoa học của kỹ thuật nuôi trồng rong biển và công nghệ sản xuất nhiên liệu từ rong biển
Năng lượng hydro là một dạng năng lượng xanh có triển vọng và có trữ lượng
có thể xem là vô tận Trên thế giới đã có nhiều công bố khoa học với nội dung liên quan đến sự tách hydro từ nước, lưu giữ hydro thời gian lâu để sử dụng khi chưa dùng
Trang 15đến và nhả hydro ra khi cần sử dụng Cho đến nay ở trong nước chưa ai dám nghiên cứu các vấn đề này, cho nên cần khuyến khích một vài cơ quan khoa học sớm tổ chức nghiên cứu khoa học về các phương pháp tách hydro từ nước, về các vật liệu lưu giữ hydro và về các phương pháp nhả hydro từ các vật liệu đó để sử dụng
Nước ta có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời và đã bắt đầu sử dụng pin mặt trời từ những năm 80 thế kỷ trước Mặc dầu không thể sáng tạo ra công nghệ sản xuất pin mặt trời với công suất và quy mô có thể cạnh tranh được với nước ngoài, song cũng cần nghiên cứu khoa học để có kiến thức mà thực hiện chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả cao Việc nghiên cứu các phương pháp trực tiếp biến năng lượng mặt trời thành nhiệt năng để sử dụng rộng rãi trong đời sống, mang tính chất vật lý ứng dụng, có khả năng tiết kiệm đáng kể nhu cầu sử dụng điện năng trong đời sống và cần được khuyến khích
Một số vấn đề về năng lượng sau này sẽ còn được trình bày thêm trong các phần
dự báo khí tượng thủy văn nước ta đã dự báo khá tốt nhiều cơn bão xảy ra trong những năm qua Tuy nhiên, do những biến động về thời tiết càng ngày càng khắc nghiệt, thỉnh thoảng lại xảy ra một cơn bão có diễn biến quá phức tạp, thành thử nếu chỉ bằng phưưong pháp truyền thống dựa vào suy luận đã có thì không có tài gì dự báo chính xác được Trên cơ sở các số liệu đo được bằng các thiết bị quan trắc và thu được từ các thông báo của các cơ quan khí tượng các nước trong khu vực, phải tính ra được các tham số về chuyển động của bão như vị trí, hướng đi và tốc độ của trung tâm bão, tại từng thời điểm trong một khoảng thời gian tương lai nào đó, vài ba ngày chẳng hạn
Trang 16hoặc lâu hơn một chút, và điều chỉnh dần cho chính xác hơn Làm như thế có nghĩa là phải thiết lập và giải một bài toán khí động lực học trong một khoảng không gian rộng lớn là vùng biển nước ta Điều kiện biên của bài toán đó phụ thuộc vào các điều kiện địa lý của nước ta cho nên không có sẵn bài toán đó ở nước ngoài để có thể tiếp thu
ngay lời giải, mà phải nghiên cứu khoa học để tìm ra Trước hết phải phát triển khí tượng học, hải dương học, vật lý khí quyển và khí động lực học rồi thiết lập bài toán
Có đầu bài rồi, lại phải giải rất nhanh, vì nếu giải chậm quá thì bão đã đi vào lãnh thổ rồi mà vẫn chưa dự báo xong! Muốn giải nhanh các bài toán khí động lực học với điều kiện ban đầu và điều kiện biên phức tạp như là bài toán cần phải giải để dự báo bão,
phải phát triển khoa học tính toán
Nói tóm lại, muốn dự báo bão được chính xác phải phát triển các chuyên ngành khí tượng học, vật lý khí quyển, khí động lực học và khoa học tính toán để sử dụng
thành thạo phương pháp số trị Đó là một nhiệm vụ cấp bách nhưng chưa được thực
hiện
2.1.2.2 Giảm nhẹ tác hại của lũ
Khác với đồng bằng sông Cửu Long là nơi mà con người có thể và cần phải chung sống với lũ, ở miền Bắc và miền Trung lũ là một thiên tai phải tránh Trước kia, nước lũ từ thuợng nguồn các con sông dồn về hạ lưu không kịp thoát ra biển nên dâng cao lên, tràn qua các con đê hoặc làm vỡ đê, khiến đồng ruộng và các khu dân cư bị ngập lụt Ta gọi loại lũ đó là lũ lụt Trong những năm gần đây tại các vùng núi lại hay xảy ra lũ quét từ trên núi cao bất thình lình dội xuống, thường là dọc theo các con suối, kéo theo cả đất đá, gây ra thiệt hại lớn về nhà cửa và sinh mạng của dân cư sinh sống dọc bờ suối Muốn tìm được các biện pháp giảm nhẹ tác hại của các thiên tai này phải nghiên cứu một loạt các vấn đề khoa học sẽ được trình bày dưới đây
Muốn đề phòng lũ phải dự báo được khi nào và ở đâu sẽ có lũ Lũ lụt chỉ xảy ra khi có mưa lớn ở thượng nguồn hoặc khi nước lũ từ nước ngoài chảy vào theo các con sông có thượng nguồn ở nước ngoài dâng cao Chúng ta đã có các trạm thuỷ văn quan trắc nước lũ từ nước ngoài chảy vào Muốn dự báo lũ lụt do mưa cần dự báo thời tiết chính xác và nắm chắc các quy luật của lũ trên các lưu vực sông
Miền Trung thường hay bị lũ lụt tàn phá mà chưa đề phòng, chưa né tránh được tốt là vì chúng ta chưa biết đầy đủ các quy luật về lũ trên hệ thống sông ngòi từng khu vực, ngay cả khi còn chưa có các hồ chứa nước của các nhà máy thuỷ điện Nay còn có thêm hiện tượng xả lũ của các nhà máy thuỷ điện, các quy luật về lũ lại càng trở nên phức tạp Nghiên cứu các quy luật về lũ, trên cơ sở đó điều chỉnh thiết kế các hồ chứa
Trang 17nước, thiết lập quy trình xả lũ đồng bộ, hợp quy luật của các nhà máy thuỷ điện trong khu vực của từng con sông hoặc trên từng hệ thống các con sông thông với nhau ở miền Trung, là một nhiệm vụ cấp bách của khoa học Việt Nam Việc xây dựng và vận hành hệ thống các hồ chứa nước của các nhà máy thuỷ điện có cơ sở khoa học chắc chắn góp phần làm giảm lũ lụt Ở những nơi chưa giảm được lũ thì phải né tránh lũ, di dời dân cư ra khỏi các khu vực thấp dễ bị ngập lụt, ít nhất là từ khi được dự báo có nguy cơ bị ngập lụt cho đến khi hết nguy cơ đó Việc bảo vệ rừng và trồng lại những diện tích rừng đã bị tàn phá đương nhiên phải do chính quyền thực hiện, song cũng cần
sự đóng góp của khoa học Thí dụ như để trồng lại rừng trên những diện tích rừng đã bị tàn phá nên nghiên cứu các điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu rồi tìm ra các loại cây thích hợp với các điều kiện đó và đồng thời là một loại cây cho ta một dạng lâm sản có giá trị kinh tế, như các hạt có dầu để làm nguyên liệu sản xuất biodiesel
Trong những năm gần đây lũ quét xảy ra luôn, lúc ở chỗ này, lúc ở chỗ khác, mà chúng ta chưa thể cảnh báo kịp thời để cho dân tránh đi Mặc dầu chưa thể cảnh báo được việc xảy ra lũ quét, song chúng ta hoàn toàn có thể và cần phải nghiên cứu các điều kiện địa lý, địa mạo, địa chất các khu dân cư dưới chân núi hoặc ven bờ suối để chỉ ra những nơi có nguy cơ bị lũ quét khi có mưa lớn, đồng thời đề xuất các biện pháp đối phó để tránh thiệt hại về người và ít thiệt hại về của khi lũ quét xảy ra như di dời dân cư đến nơi an toàn, hoặc các biện pháp ngăn ngừa, trước hết lại vẫn là việc bảo vệ rừng hoặc trồng lại rừng ở các quả núi phía trên khu dân cư Chỉ ra được tất cả các khu dân cư có nguy cơ bị lũ quét khi có mưa lớn trong cả nước là một khối lượng công việc khổng lồ, cần có nhiều người tham gia thực hiện Trước hết phải nghiên cứu để xác định cụ thể các điều kiện địa lý, địa mạo, địa chất được dùng làm tiêu chí để tìm ra những địa điểm có nguy cơ lũ quét và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa hoặc né tránh Ngoài lũ quét, một hiện tượng tương tự là sự trượt lở đất trên các sườn núi cũng đã xảy
ra ở nhiều nơi trên các vùng núi phía Bắc và miền Trung Trong mùa mưa vừa qua dọc theo đường Hồ Chí Minh vừa xây dựng xong có tới mấy trăm điểm bị trượt lở, thiệt hại rất lớn Rõ ràng là việc thiết kế con đường này đã không có căn cứ khoa học Rất cần nghiên cứu khoa học để tìm ra các biện pháp khắc phục hiện tượng trượt lở dọc đường
Hồ Chí Minh và tránh bị trượt lở khi xây dựng các công trình ven sườn núi từ nay trở
đi cũng như để di dời các khu dân cư khỏi các địa điểm có nguy cơ trượt lở đất
2.1.2.3 Ngăn ngừa xói lở
Từ nhiều năm nay trên nhiều con sông từ bắc chí nam vẫn hay xảy ra hiện tượng xói lở bờ sông, có nơi cả nhà dân lẫn trụ sở Ủy ban nhân dân làm trên bờ sông đều đã
Trang 18sụp đổ xuống sông Ở nhiều vùng ven biển và cửa sông, sóng nước đánh vào cũng gây
ra hiện tượng xói lở bờ sông, bờ biển, đê biển Nguyên nhân gây xói lở bờ sông thường
là tác động của dòng nước chảy tự nhiên trên sông từ phía thượng nguồn xuống hạ lưu
Phát triển thuỷ động lực học, nghiên cứu các quy luật động lực học của dòng chảy trong khu vực xung quanh nơi xảy ra xói lở, áp dụng các phương pháp của khoa học tính toán và dùng các máy tính điện tử hiệu năng cao để giải các bài toán thuỷ động
lực học có liên quan, sẽ tìm ra cách điều chỉnh dòng chảy phía thượng lưu để ngăn chặn hiện tượng xói lở Đó thực sự là một bài toán thú vị và rất thiết thực
Sự xói lở đê biển, bờ biển và bờ sông ở các vùng cửa sông do sóng đánh vào gây ra sẽ bị giảm đi nhiều, thậm chí có thể không xảy ra nữa, nếu ở ven bờ biển hoặc
ven bờ sông nơi có nguy cơ bị xói lở có rừng ngập mặn Có thể nói rằng rừng ngập
mặn được trồng một cách thích hợp là lá chắn rất tốt ngăn không cho sóng đánh vào bờ gây xói lở Ngoài tác dụng ngăn sóng, rừng ngập mặn còn là môi trường sinh thái thích hợp cho sự sinh sống của các loài thủy sinh ven biển và do đó có thể được dùng làm diện tích nuôi tự nhiên một số loài thuỷ sản Việc nghiên cứu các vấn đề khoa học về rừng ngập mặn đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và cần được chú trọng phát triển ở nước ta
Ngược lại với sự xói lở bờ sông, bờ biển, đê biển là hiện tượng bồi lấp lòng sông, cửa sông, cảng biển do sự lắng đọng cát và phù sa Để đảm bảo giao thông đường thuỷ ở nhiều nơi hàng năm phải nạo vét, hút cát và bùn đổ sang chỗ khác nên rất tốn
kém Nạo vét xong, sau một thời gian lại bị bồi lấp Phát triển thuỷ động lực học,
nghiên cứu các quy luật động lực học của dòng chảy đưa cát và phù sa đến các vùng bị bồi lấp, áp dụng các phương pháp của khoa học tính toán, có thể tìm ra các giải pháp khắc phục hiện tượng bồi lấp một cách cơ bản Việc khắc phục hiện tượng bồi lấp lòng
sông, cửa biển còn làm cho lũ thoát nhanh hơn, giảm nhẹ thiên tai lũ lụt
2.1.2.4 Chống hạn hán và ngăn ngừa hoang mạc hoá
Trong những năm gần đây không những bão lụt càng ngày càng trở nên trầm trọng hơn mà hạn hán cũng gia tăng, ở vùng này nước lụt mênh mông ngập hết xóm làng vừa rút thì ở vùng kia ruộng đồng lại trở nên khô cằn nứt nẻ vì hạn hán Rồi chưa biết chừng chính nơi năm nay bị ngập lụt thì năm sau lại bị hạn hán, còn nơi năm nay
bị hạn hán thì năm sau lại bị ngập lụt Khi đồng ruộng bị hạn hán thì nước là một tài nguyên thiên nhiên quý giá, nhưng khi lũ lụt tàn phá xóm làng thì nước là tác nhân gây
ra thiên tai Giới khoa học Việt Nam có nhiệm vụ cấp bách là nghiên cứu một cách
toàn diện các vấn đề khoa học về tài nguyên nước trong từng vùng lãnh thổ nước ta để
Trang 19xây dựng cơ sở khoa học cho các chương trình hành động của xã hội nhằm khai thác có hiệu quả những lợi ích mà tài nguyên nước có thể đem lại cho con người, đặc biệt là việc đảm bảo nước cho sinh hoạt của dân cư và đáp ứng các nhu cầu về nước của nông nghiệp
Chúng ta đã nghiên cứu từ lâu về trữ lượng nước ngầm và khả năng khai thác nước mặt trong từng vùng lãnh thổ và có dữ liệu khá đầy đủ Trên cơ sở những dữ liệu
đã có, chúng ta đã xây dựng nhiều hồ chứa nước nhân tạo để dự trữ nước cho việc chống hạn và đồng thời dùng cho các nhà máy thuỷ điện Đồng bằng sông Hồng vừa trải qua một trận hạn hán khắc nghiệt chưa từng có, song nhờ các hồ chứa Thác Bà, Tuyên Quang và Hoà Bình đồng loạt xả nước, chúng ta đã khắc phục được hạn hán Còn ở miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long thì lại khác Tệ nạn phá rừng trầm trọng ở miền Trung đang làm suy giảm nguồn tài nguyên nước ở vùng này và gây ra nguy cơ hạn hán Sự suy giảm lưu lượng nước chảy theo sông Mêkông từ nước ngoài vào lãnh thổ nước ta cùng với các biến động bất thường về thời tiết cũng đang đe doạ gây ra hạn hán và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long Đương nhiên ở miền Trung thì chặn đứng nạn phá rừng phải là công việc cấp bách, song đó là vịệc quản lý nhà nước Hãy cứ cho là nhà nước đã ngăn chặn được nạn phá rừng và quyết tâm trồng lại những khu rừng đã bị phá Muốn trồng lại rừng cho nhanh, thay cho các loại cây gỗ
có từ trước và đã bị chặt cần nghiên cứu để tìm ra mà trồng các loại cây có bộ rễ sâu giữ nước trong đất rừng, có cành lá xum xuê chống xói mòn, mà lại mọc nhanh Hơn nữa, để tăng thu nhập cho người dân giữ rừng nên chọn các loại cây cho thêm một loại lâm sản không phải là gỗ, như các cây có dầu để lấy dầu làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất biodiesel, hoặc bằng những kết quả nghiên cứu về sinh thái học tạo ra những vùng sinh thái dưới tán rừng thích hợp cho việc trồng một số loại cây thuốc hoặc cây lương thực như cây rong giềng ở Việt Bắc Khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc trồng lại các khu rừng đã bị phá Để khắc phục nguy cơ hạn hán và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và nguy cơ hạn hán ở miền Trung cần nghiên cứu về tài nguyên nước trong hai vùng lãnh thổ này để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất và thực hiện các biện pháp trữ nước ngọt từ cuối mùa mưa đủ để đáp ứng các nhu cầu về nước ngọt của sản xuất nông nghiệp trong mùa khô
Sự suy giảm các chất dinh dưỡng cho cây trồng cũng như sự xói mòn đất do quy trình canh tác bất hợp lý cùng với nạn hạn hán đang làm đất nông nghiệp ở nhiều nơi bị thoái hoá và trở nên cằn cỗi, có nguy cơ sẽ không trồng trọt được nữa: bị hoang mạc hoá Nếu đất bị hoang mạc hoá trở nên cứng như đá thì gọi là hoang mạc hoá đá, còn
Trang 20nếu đất bị hoang mạc hoá trở nên giống như cát thì gọi là sa mạc hoá Muốn tìm ra các biện pháp ngăn chặn hiện tượng hoang mạc hoá đá hoặc sa mạc hoá phải nghiên cứu
khoa học về tài nguyên đất và khoa học về tài nguyên nước Đất trở nên hoang mạc
hoá do bị nhiễm mặn trong mùa khô vì thiếu nước ngọt, gọi là hoang mạc hoá mặn, mà không có nước ngọt để ngọt hoá, thì phải nghiên cứu để chuyển thành diện tích nuôi
trồng hải sản
2.1.2.5 Cảnh báo động đất và sóng thần
Ngành địa chấn nước ta đã được phát triển ở miền Bắc ngay từ khi hoà bình được lập lại theo hiệp định Genève Sau khi đất nước được thống nhất, Viện Vật lý địa cầu đã xây dựng các trạm địa chấn ở các tỉnh phía Nam Trong mấy chục năm qua, ngành địa chấn đã từng bước được hiện đại hoá và đã lập được bản đồ phân vùng động đất phù hợp với tình hình xảy ra động đất ở nước ta trong thời gian qua Từ khi sóng thần xảy ra trên thế giới, Viện Vật lý địa cầu được giao thêm nhiệm vụ cảnh báo sóng thần
Một vài năm gần đây trên thế giới đã xảy ra các trận động đất ngoài dự báo, tàn phá các thành phố hết sức nặng nề Đó có thể là dấu hiệu của một hoạt động địa chấn
mà trước đây chưa biết Để đảm bảo an toàn cho các thành phố và các công trình lớn sẽ được xây dựng trong tương lai cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực địa chấn
để nắm bắt được các thành tựu mới trên thế giới, tăng cường hiện đại hoá mạng lưới
quan trắc địa chấn và các phương tiện xử lý thông tin địa chấn, tăng cường nghiên cứu địa chấn học
2.1.3 Thích nghi với khí hậu bị biến đổi
Chúng ta sẽ nỗ lực thực hiện cam kết cùng với cộng đồng quốc tế ngăn chặn sự biến đổi khí hậu, song ngăn chặn được đến đâu thì điều đó không tuỳ thuộc chúng ta Các nhà khí tượng thuỷ văn nước ta đã dự báo những hậu quả tại hại của sự biến đổi khí hậu đối với nước ta, trong đó trước hết phải kể đến sự gia tăng các thiên tai bão, lũ lụt, xói lở, hạn hán Các biện pháp dự báo, phòng ngừa, né tránh và giảm nhẹ các thiên tai đó đã được trình bày trong phần trước Các thiên tai đó càng gia tăng do biến đổi khí hậu thì các biện pháp trình bày trong phần trên càng phải được thực hiện khẩn trương và quyết liệt hơn
Các giải pháp khác trình bày trong Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu đã được Chính phủ phê duyệt đều là các giải pháp hết sức cần thiết, song chưa
đủ vì mới chỉ là các giải pháp được đề ra trong hoàn cảnh chưa kịp nghiên cứu các vấn
Trang 21đề khoa học là cơ sở để tìm ra các giải pháp tích cực hơn, chủ động hơn Tôi xin đề xuất một số vấn đề khoa học cần nghiên cứu ngay để kịp tìm ra các giải pháp tích cực hơn, chủ động hơn, nhằm thích nghi với những điều kiện tự nhiên mới đầy khó khăn khi khí hậu bị biến đổi, và thực hiện sự phát triển đất nước một cách bền vững trong bối cảnh gặp phải các điều kiện tự nhiên đầy khó khăn đó
2.1.3.1 Chung sống với nước biển dâng
Khi nước biển dâng thì các diện tích thấp ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung bị ngập nước biển dần dần, rồi trong mùa khô nước mặn lại còn theo các con sông thông với biển xâm nhập sâu vào đồng bằng làm hỏng đất trồng lúa ở cả những nơi không bị ngập, làm cho diện tích đất trồng lúa bị thu hẹp Không thể tránh được tình huống đó, nhưng chúng ta không bó tay chịu
để mất trắng một vùng đất nông nghiệp rộng lớn Phải nghiên cứu khoa học để tìm ra các biện pháp làm cho các vùng bị ngập nước biển trở thành các vùng sinh thái nuôi hải sản, gồm các diện tích nuôi thâm canh xen kẽ các rừng ngập mặn là nơi nuôi hải sản tự nhiên Tạo ra một vùng sinh thái ổn định là công việc đòi hỏi một thời gian dài, nhưng nước biển lại cũng chỉ dâng lên dần dần nên chúng ta có đủ thời gian, miễn là có khoa học Chính phủ đã quyết định giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển Nhờ thực hiện chủ trương này đất nước ta sẽ được chắn từ phía biển và ở các cửa sông bởi những cánh rừng ngập mặn bao la, dân ven biển và ở các vùng cửa sông trồng rừng ngập mặn thành thạo và có sẵn các giống cây ngập mặn thích hợp với vùng triều ở từng nơi Nước biển sẽ dâng lên dần dần, đồng bằng bị ngập đến đâu ta trồng ngay rừng ngập mặn đến đó Ngoài tác dụng chắn sóng bảo vệ bờ và làm sạch môi trường nước bị ô nhiễm, rừng ngập mặn còn là nơi sinh đẻ và nuôi dưỡng nhiều loại hải sản Hệ sinh thái rừng ngập mặn có năng suất sinh học cao, đặc biệt là nguồn lợi hải sản Ở phía tây Malaysia mỗi hecta rừng ngập mặn cho phép thu 2500 USD/năm nhờ đánh bắt hải sản, còn ở Australia hơn 60% sản lượng hải sản đánh bắt được là các hải sản hàng năm có thời kỳ cư trú trong các rừng ngập mặn ở cửa sông Muốn khai thác được tiềm năng đó của rừng ngập mặn nước ta, chúng ta cần nghiên cứu những vấn đề là cơ sở khoa học của quy trình nuôi tự nhiên các loài hải sản có giá trị kinh tế như tôm, cua, nghêu, sò trong rừng ngập mặn Ở bên trong rừng ngập mặn cũng có thể làm các đầm nuôi tôm thâm canh, miễn là có quy mô và mật độ vừa phải để rừng ngập mặn có thể xử lý hết các chất phế thải do nuôi tôm mà ra Nhờ có cây ngập mặn che bóng cho nên khi trời
Trang 22nắng nóng nước ở trong rừng ngập mặn vẫn mát và làm dịu bớt sự nóng nực trong toàn vùng
Nói tóm lại, chúng ta không thể mất trắng các vùng đồng bằng bị ngập nước biển, mà phải bằng khoa học và sự lao động sáng tạo biến các diện tích bị ngập đó thành các rừng ngập mặn vừa được bảo tồn, vừa được khai thác một cách hợp lý theo
mô hình các khu dự trữ sinh quyển Cũng không đợi đến khi có rừng ngập mặn được trồng trên các diện tích bị ngập nước biển, mà ngay bây giờ đã cần phải nghiên cứu khoa học để tìm ra các biện pháp tăng năng suất, nuôi tự nhiên các loại hải sản có giá trị kinh tế trong các rừng ngập mặn hiện có
Hiện tượng xâm nhập mặn dọc theo các con sông lớn chảy ra biển thì không cản được, nhưng bằng các biện pháp công trình hoàn toàn có thể ngăn sự xâm nhập mặn từ biển dọc theo các kênh và các sông nhánh nhỏ thông với các sông lớn bị nước biển xâm nhập Còn các diện tích trên sông lớn bị nhiễm mặn vẫn có thể dùng để muôi hải sản nước lợ
2.1.3.2 Chung sống với thời tiết nóng lên
Thời tiết nóng lên, mùa hè dài ra, nóng bức hơn, mùa đông bị rút ngắn lại, thậm chí trên một số vùng mùa đông sẽ không còn nữa Sự thay đổi đó của thời tiết tác động đến các hệ sinh thái tự nhiên trong cả nước và trước hết là ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, cùng với sự thu hẹp diện tích đồng bằng đe dọa an ninh lương thực quốc gia Là một nước mà phần lớn dân số là nông dân, chúng ta phải vượt qua thử thách đó
và bằng trí tuệ mà tìm ra các giải pháp tiếp tục phát triển nông nghiệp một cách bền vững Đó là một mục tiêu rất quan trọng của chiến lược phát triển sinh học và khoa học nông nghiệp nước ta trong giai đoạn một – hai thập kỷ sắp tới
Sự nóng lên của thời tiết có thể có tác động xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng và làm giảm năng suất trồng trọt, làm thay đổi thời vụ gieo trồng, làm tăng khả năng phát triển và lây lan các loài sâu bệnh, đồng thời cũng ảnh hưởng xấu đến sự sinh sản và sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm cho các dịch bệnh trong chăn nuôi dễ phát sinh và lây lan hơn Để thắng được mối đe doạ đó chúng ta phải nỗ lực nghiên cứu
khoa học, ứng dụng các thành tựu mới và các phương pháp hiện đại của sinh học và công nghệ sinh học trên thế giới để tạo ra các loại giống cây trồng và vật nuôi cũng
như kỹ thuật canh tác và chăn nuôi thích hợp với điều kiện thời tiết của khí hậu bị biến đổi, vừa cho năng suất và phẩm chất cao, vừa có khả năng chống sâu bệnh hoặc dịch
bệnh, xây dựng một nền khoa học nông nghiệp (nông học) tiên tiến ở Việt Nam
Trang 23Trời nóng ẩm không những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, mà còn làm cho dân cư, nhất là dân nghèo và dân cư các vùng còn nghèo dễ bị mắc các bệnh nhiệt đới, làm cho các loài vi khuẩn và côn trùng mang bệnh sinh trưởng nhanh và do
đó dịch bệnh dễ lây lan, lại có thể xuất hiện các dịch bệnh mới trước đây chưa từng xảy
ra cho nên chưa ai biết cách chữa, phải nghiên cứu khoa học để tìm cách chữa Y học
đã và đang là một lĩnh vực khoa học đa ngành quan trọng, ngày nay lại càng trở nên quan trọng hơn và phải được ưu tiên phát triển
2.1.3.3 Di dời dân cư ra khỏi vùng bị ngập lụt nước biển
Một phần dân cư vùng bị ngập nước biển sẽ chuyển từ nghề trồng trọt sang nghề nuôi trồng hải sản trong rừng ngập mặn và trồng rừng ngập mặn, còn phần lớn phải được di dời lên các vùng không bị ngập và có mật độ dân số thấp Ngay sau khi miền Nam vừa được giải phóng, chúng ta đã thực hiện thành công vệc di dời dân cư ngoại thành Hà Nội vào Lâm Đồng xây dựng hai khu kinh tế mới Nam Ban và Lán Tranh, sau này được sáp nhập thêm một số xã để trở thành huyện Lâm Hà Về mặt tổ chức có thể học kinh nghiệm của đợt di dời dân cư từ Hà Nội vào Lâm Đồng cách đây đã hơn
30 năm, song có thể nói ngay rằng các nơi trực tiếp nhận dân cư từ những vùng bị ngập nước biển di dời đến là những vùng có những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hơn nhiều
so với hai khu kinh tế mới ở Lâm Hà Đó là những nơi mà rừng đã bị tàn phá, đất nông nghiệp bắt đầu bị hoang mạc hoá đá hoặc sa mạc hoá Để phủ xanh lại những vùng đất trước đây là rừng, nhiều nơi không thể trồng những loại cây gỗ đã bị chặt vì mọc lâu quá, mà phải tìm những giống cây mới thích hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, mọc nhanh, có bộ rễ sâu để giữ nước, có nhiều lá để chống xói mòn, lại cho một sản phẩm có giá trị kinh tế không phải là gỗ để nuôi người giữ rừng, nếu không phải là cây cao su thì là một loại cây có dầu như cây cọc rào, cây sở, v.v , hoặc tạo ra vùng sinh thái dưới tán rừng thích hợp với việc trồng một vài loại cây thuốc, hoặc cây lương thực như cây rong giềng
Phải phát triển khoa học về đất và các lĩnh vực khoa học công nghệ có liên
quan, xây dựng cơ sở khoa học cho việc tìm ra các biện pháp khôi phục lại các vùng đất bị hoang hoá khi cần di dời dân cư từ nơi bị ngập nước biển lên khai khẩn các vùng đất này Người Do Thái đã từng làm việc đó và đã thành công nhờ có trí tuệ Chúng ta
nên theo gương họ và nỗ lực nghiên cứu khoa học về tài nguyên đất, khoa học về tài nguyên nước, khoa học nông nghiệp (nông học) và các lĩnh vực khoa học có liên
quan Đó cũng chính là chiến lược của Sơn Tinh để thắng Thuỷ Tinh trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh
Trang 242.1.4 Làm chủ lãnh hải và thực hiện đặc quyền quốc gia trên vùng đặc quyền kinh
tế
Lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta trên biển Đông và biển Tây, sau đây gọi tắt là vùng biển nước ta, do ông cha ta giành được và tốn bao xương máu để gìn giữ sau mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, là tiềm năng to lớn mà chúng ta phải bảo vệ và cần phát huy để phát triển kinh tế Muốn làm được việc đó phải nghiên cứu nhiều vấn đề khoa học về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trên vùng biển nước ta
Muốn phát hiện, thăm dò các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất phía
dưới đáy biển phải thành thạo các phương pháp thăm dò địa vật lý Để có cơ sở khoa học và dữ liệu cho việc thiết kế các công trình biển phải nghiên cứu hải dương học, thuỷ động lực học biển, vật lý khí quyển và khí tượng học biển, địa chất biển, v.v , phải áp dụng khoa học tính toán Mặt nước biển là môi trường nuôi trồng hải sản có tiềm năng hết sức lớn Muốn biến tiềm năng này thành hiện thực cần nghiên cứu sinh học biển và phải có đủ trình độ khoa học để dự báo bão và sóng thần, kịp thời thu các
sản phẩm và các phương tiện nuôi trồng về các địa điểm an toàn trên bờ hoặc trên các hải đảo Muốn đưa dân ra định cư ở các hải đảo để sử dụng mặt nước biển phải ứng
dụng các thành tựu của vật lý và hoá học để xác định phương pháp giải quyết yêu cầu
về năng lượng (điện và đun nóng) và nước ngọt cho dân cư Muốn xây dựng các công
trình biển và các công trình trên hải đảo, muốn cho các thiết bị được sử dụng ở các hải
đảo không chóng hỏng vì bị ăn mòn, phải có trình độ khoa học về ăn mòn vật liệu ít
nhất đủ để có khả năng lựa chọn các vật liệu chịu đựng được các điều kiện trong môi trường nước biển và khí quyển trên biển, tốt hơn nữa là có đủ khả năng tìm ra công nghệ sản xuất các vật liệu có tính năng hoàn hảo đó
Xung quanh các hải đảo phải trồng rừng ngập mặn, vừa để bảo vệ bờ biển của hải đảo khỏi bị sóng đánh sạt lở, vừa là môi trường nuôi tự nhiên các loài hải sản Cây ngập mặn trồng quanh các đảo khác nhau có thể phải khác nhau, phải nghiên cứu để lựa chọn giống cây và quy trình trồng thích hợp với từng đảo
Nói tóm lại, để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển của nhà nước, khoa học Việt Nam phải đi tiên phong ra biển
Trang 252.2 Các hướng nhằm thực hiện sứ mạng tăng cường tiềm lực khoa học để làm
chủ công nghệ cao được chuyển giao từ nước ngoài
2.2.1 Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin
Cách đây khoảng một thập kỷ, sau khi biết được thông tin về sự thành công tốt đẹp của Ấn Độ và Ái Nhĩ Lan trong việc phát triển công nghệ phần mềm, Chính phủ đã
có chủ trương ưu tiên phát triển mạnh công nghệ thông tin để xây dựng công nghiệp phần mềm ở nước ta thành một lĩnh vực kinh tế tri thức có kim ngạch xuất khẩu lớn, người lao động có thu nhập cao, không gây ô nhiễm môi trường, lại không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đồng thời bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra một bước tiến vượt bậc trong hoạt động quản lý bộ máy hành chính và quản lý xã hội của Chính phủ
Đó là một chủ trương đúng, song vì việc tổ chức thực hiện có sai lầm cho nên chưa đạt kết quả đáng kể Gần đây lại mới có chủ trương soạn thảo đề án tăng tốc phát triển công nghiệp công nghệ thông tin để nước ta sớm trở thành một cường quốc trong lĩnh vực kinh tế này Dù cho vốn có thể đi vay hoặc do các tập đoàn kinh tế kỹ thuật nước ngoài đầu tư, công nghệ tiên tiến có thể chuyển giao từ nước ngoài, song để thực hiện thắng lợi chủ trương mới nói trên nhất thiết phải nhanh chóng phát triển một số lĩnh vực khoa học có liên quan Chính vì chưa quan tâm đúng mức đến việc nghiên cứu khoa học thông tin và máy tính điện tử cho nên trong thập kỷ vừa qua công nghệ thông tin chưa phát triển được như mong muốn
Ra đời và phát triển trên cơ sở những thành tựu của khoa học thông tin và máy tính, công nghệ thông tin đã tạo ra cho con người một loại sản phẩm trí tuệ có giá trị kinh tế, trước đây chưa từng có, mà việc sản xuất ra các sản phẩm đó không cần dùng nguyên liệu được chế tạo từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên – các phần mềm Sự thâm nhập của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực công nghệ điện tử, truyền thông tin, hiển thị thông tin, tự động hoá, v.v đã tạo ra những sản phẩm tích hợp gồm cả phần cứng lẫn phần mềm và dẫn đến sự tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực công nghệ này Muốn thực sự trở thành một cường quốc về công nghiệp công nghệ thông tin, nền công nghiệp đó của nước ta phải sản xuất ra các sản phẩm nói trên để tiêu thụ cả trên thị trường quốc tế lẫn thị trường trong nước
Vốn không có thì có thể đi vay hoặc do các tập đoàn công nghiệp nước ngoài đầu tư, công nghệ chưa có thì cũng có thể chuyển giao từ nước ngoài, song nguồn nhân lực thì chủ yếu phải là nguời Việt Nam Các tập đoàn công nghiệp công nghệ thông tin
có danh tiếng ở các nước tiên tiến đang thiếu nhân lực có đủ kiến thức và trình độ kỹ
Trang 26thuật để sản xuất các sản phẩm công nghiệp công nghệ thông tin, cho nên đã có chủ trương đầu tư vào các nước đang phát triển có khả năng đào tạo được nguồn nhân lực
mà họ cần, trong đó có Việt Nam Đây là một thời cơ mới cho sự phát triển công nghiệp công nghệ thông tin ở nước ta Muốn chớp được thời có đó chúng ta phải có một đội ngũ chuyên gia có đủ năng lực đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu
về kiến thức và trình độ kỹ thuật mà các tập đoàn công nghiệp nước ngoài đòi hỏi Đó
là chưa nói rằng chúng ta cần phải nuôi kỳ vọng về việc từ vai trò làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài ở ngay trên đất nước mình chúng ta sẽ phấn đấu để làm chủ công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài rồi dần dần tiến lên có đủ năng lực sáng tạo ra công nghệ mới Muốn vậy phải phát triển khoa học, nghiên cứu các hướng có liên quan
của khoa học thông tin và máy tính và của khoa học vật liệu tiên tiến Nhật Bản, Hàn
Quốc đã từng phát triển công nghiệp trên cơ sở các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài, rồi nhờ quyết tâm xây dựng tiềm lực khoa học ngày nay họ đã trở thành các quốc gia có một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến đứng hàng đầu trên thế giới Đó là tấm gương rất đáng để chúng ta noi theo
Việc sản xuất được ở Việt Nam nhiều loại sản phẩm công nghiệp công nghệ thông tin thúc đẩy sự ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quản lý nhà nước, điều hành kinh tế, quản lý doanh nghiệp đến nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển giáo dục, phát triển dịch vụ, v.v , tạo tiền đề cho việc xây dựng một xã hội điện tử ở nước ta Tất cả các hoạt động đó muốn đạt hiệu quả
đều cần có cơ sở khoa học và đòi hỏi sự phát triển các hướng có liên quan của khoa học thông tin và máy tính
Không phải việc nghiên cứu để sáng tạo ra công nghệ sản xuất mọi loại sản phẩm của công nghiệp công nghệ thông tin đều đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật với vốn đầu tư lớn Công nghệ phần mềm là lĩnh vực công nghệ mà việc nghiên cứu không đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn và do đó cách đây hơn mười năm đã từng được chọn làm hướng phát triển ưu tiên đi tiên phong xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta Rất đáng tiếc là vì nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng cơ sở khoa học cho sự phát triển công nghệ phần mềm, cho nên chúng ta chưa đạt được kết quả mà chúng ta hằng mong đợi Lần này làm lại, chúng ta hãy rút kinh nghiệm không thành công của lần trước và bắt đầu bằng việc xây dựng cơ sở khoa học cho công nghệ phần
mềm, hết sức chú trọng các hướng có liên quan trong khoa học thông tin và máy tính
Nói tóm lại, để đảm bảo cho sự thành công của đề án tăng tốc phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, làm cho nước ta trở thành cường quốc về công nghiệp
Trang 27công nghệ thông tin sau một – hai thập kỷ, ngay bây giờ cần ưu tiên phát triển khoa học thông tin và máy tính theo một số hướng có chọn lọc trực tiếp là cơ sở khoa học
của công nghệ phần mềm, công nghệ sản xuất các sản phẩm tích hợp cho công nghệ điện tử, truyền thông tin, hiển thị thông tin và tự động hoá, cũng như làm cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý và phát triển kinh tế xã
hội đa dạng, đồng thời chú trọng phát triển khoa học về các vật liệu và linh kiện điện
tử, quang điện tử và quang tử để có lực lượng khoa học thực hiện việc đào tạo nhân
lực cho công nghiệp sản xuất các sản phẩm tích hợp, tiến lên làm chủ được công nghệ trong tương lai
2.2.2 Phát triển công nghiệp năng lượng
Nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng ở nước ta không thể giải quyết được bằng cách gia tăng việc khai thác các nguồn nguyên liệu hoá thạch Nhà nước đang thực hiện việc khai thác tối đa năng lượng thuỷ điện và đã quyết định sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân Các nguồn năng lượng tái tạo khác cũng sẽ đóng góp đáng kể vào việc giải quyết nhu cầu năng lượng của đất nước Trong phần này tôi xin trình bày về các hướng khoa học cần nghiên cứu nhằm thực hiện tốt sứ mạng tăng cường tiềm lực khoa học để làm chủ được các công nghệ năng lượng mới đã và sẽ được chuyển giao từ nước ngoài vào nước ta
2.2.2.1 Sử dụng năng lượng hạt nhân
Việc đào tạo nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân cũng như để đảm bảo an toàn phóng xạ sẽ được bắt đầu trong thời gian sắp tới Mặc dầu nội dung đào tạo chủ yếu là các vấn đề kỹ thuật và công nghệ, song để hiểu được thấu đáo các nội dung đó những người được đào tạo cũng phải được học những kiến thức cơ bản về cấu tạo hạt nhân, về các quá trình biến đổi của hạt nhân, về các phản ứng hạt nhân dây chuyền, về nhiên liệu hạt nhân, về tương tác của bức xạ hạt nhân với các vật liệu, về nguyên lý hoạt động của các lò phản ứng hạt nhân và của các loại nhà máy điện hạt nhân, v.v Một đất nước xây dựng nhà máy điện hạt nhân, dù cho là nhà máy được nhập khẩu nguyên vẹn từ nước ngoài theo phương thức chìa khoá trao tay, không thể không có một tiềm lực nhất định về khoa học hạt nhân, ít nhất là để tham gia đào tạo nhân lực về công nghệ hạt nhân và làm tư vấn khoa học cho các cơ quan có trách nhiệm khi cần thiết Một biện pháp rất hữu hiệu để phát triển vật lý hạt nhân mà ít tốn kém là tham gia các dự án nghiên cứu tại các trung tâm vật lý hạt nhân có danh tiếng trên thế giới, trong đó có Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna, mà nước ta là
Trang 28một thành viên sáng lập từ năm 1956 Một biện pháp khác là xây dựng các phòng thí nghiệm có thiết bị tạo ra chùm bức xạ hạt nhân ở trong nước Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và microtron của Viện Vật lý là hai thiết
bị loại này Rất cần phát huy ngay các thiết bị lớn đó để bắt đầu chương trình đào tạo nhân lực cho ngành năng lượng hạt nhân nước ta Gần đây nhà nước lại mới đầu tư xây dựng cycrotron ở Hà Nội để sản xuất đồng vị phóng xạ ngắn ngày Chỉ cần đầu tư một
số thiết bị đo và một kênh dẫn chùm hạt từ cycrotron đến chỗ làm thí nghiệm phản ứng hạt nhân là chúng ta có thêm một phòng thí nghiệm nghiên cứu cơ bản về vật lý hạt
nhân trên cycrotron Đó là sự đầu tư rất có hiệu quả và cần được thực hiện
2.2.2.2 Sử dụng năng lượng mặt trời
Các tỉnh phía nam nước ta có tiềm năng đáng kể về năng lượng mặt trời Việc nghiên cứu công nghệ sản xuất pin mặt trời trên thế giới đang hứa hẹn khả năng xây dựng nhà máy điện dùng pin mặt trời trên quy mô công nghiệp với giá thành điện năng chấp nhận được trong một tương lai không xa Việc nghiên cứu các vấn đề khoa học về pin mặt trời cũng đã được thực hiện từ nhiều năm nay ở nước ta, song mới chỉ ở mức có đủ trình độ khoa học để hiểu được những thành tựu mới đạt được ở nước ngoài Trong thời gian tới nên tiếp tục thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản về các tính chất quang học của các vật liệu pin mặt trời để theo dõi thông tin về sự phát triển công nghệ pin mặt trời trên thế giới, chuẩn bị cho sự chuyển giao công nghệ vào Việt Nam
Việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị biến năng lượng ánh sáng mặt trời thành nhiệt năng cũng đã được tiến hành ở Việt Nam Công việc đó một mặt đóng góp vào sự tiết kiệm điện năng, mặt khác cũng tạo điều kiện theo dõi tình hình phát triển công nghệ điện mặt trời bằng phương pháp biến năng lượng ánh sáng mặt trời thành nhiệt năng để chạy tuốc-bin Việc nghiên cứu công nghệ các nhà máy điện mặt trời loại này đòi hỏi sự áp dụng sáng tạo các định luật đã biết của vật lý
2.2.2.3 Đón đầu năng lượng hydro
Hydro là một nhiên liệu sạch có thể được tách ra từ các loại nhiên liệu truyền thống hoặc từ nước (H2O) Việc sản xuất hydro từ nước sẽ biến nước có trong tự nhiên thành một nguồn nhiên liệu rất dồi dào của các quốc gia ven biển Bộ Năng lượng Hoa
Kỳ đang tổ chức một chương trình nghiên cứu cơ bản về các vật liệu dùng để tách hydro, các vật liệu lưư giữ hydro, về các quá trình vật lý, hoá học, sinh học trong các vật liệu đó để làm cơ sở khoa học cho việc tạo ra công nghệ sản xuất và sử dụng hydro
Trang 29trên quy mô công nghiệp Trong số các vật liệu đó có các chất xúc tác cấu trúc nanô, các chất bán dẫn quang điện và quang xúc tác cấu trúc nanô, các chất xúc tác có nguồn gốc sinh học, đặc biệt là các enzym Việc nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu lý thuyết, mô hình hoá và mô phỏng được tiến hành đồng thời, có sự đối chiếu, so sánh kết quả tính toán lý thuyết với các số liệu thực nghiệm
Gần đây ở Tây Ban Nha người ta đã xây dựng một pilốt gọi tên là Hydrosol-2
có công suất 100kW dùng chất xúc tác thực hiện phản ứng tách hydro ở nhiệt độ cao và dùng hydro làm nhiên liệu để phát điện Để tạo ra nhiệt độ cao ở vùng xảy ra phản ứng nhiệt hoá học người ta dùng một hệ thống gương phản chiếu ánh sáng mặt trời tập trung vào vùng cần thực hiện phản ứng hoá học
Ngoài việc trực tiếp dùng hydro làm nhiên liệu, người ta cũng đã tính đến việc sau khi tách hydro khỏi nước thì cho hydro phản ứng với CO2 dưới tác dụng của một tác nhân nào đó để tạo thành một loại nhiên liệu có thể lưu giữ và sử dụng theo một cách đã biết Nguồn cung cấp CO2 có thể được thu hồi lại từ các nhà máy hiện nay đang thải CO2 ra khí quyển
Là một nước sẽ thiếu hụt năng lượng một cách trầm trọng trong tương lai, chúng
ta cần khuyến khích giới khoa học nước ta bắt đầu nghiên cứu cơ bản các vấn đề có liên quan đến công nghệ năng lượng hydro để xây dựng tiềm lực khoa học, kịp thời có
đủ năng lực lựa chọn và thực hiện việc chuyển giao công nghệ năng lượng hydro từ nước ngoài vào Việt Nam khi công nghệ đó được triển khai trên quy mô công nghiệp ở nước ngoài và đạt hiệu quả kinh tế
2.2.2.4 Thăm dò và chuẩn bị khai thác bể than đồng bằng sông Hồng
Nước ta có một bể than ngầm dưới đất trong vùng chấu thổ sông Hồng với trữ lượng rất lớn Đó là một tài nguyên năng lượng hết sức quý giá mà chúng ta không thể
bỏ sót Nhà nước đã quyết định cho phép nghiên cứu, đánh giá mỏ than này Đó là một quyết định đúng đắn và rất cần thiết Nhằm thực hiện chủ trương đó trước hết phải hết sức khẩn trương xây dựng tiềm lực khoa học để tiến hành thăm dò, đánh giá nguồn tài nguyên và khả năng khai thác không gây ra những biến động lớn về môi trường và dân sinh, đồng thời dần dần xây dựng tiềm lực khoa học để tiếp thu công nghệ khai thác được chuyển giao từ nước ngoài
Muốn điều tra, thăm dò và đánh giá nguồn tài nguyên ở sâu dưới đất, trước
tiên cần áp dụng các phương pháp địa vật lý, phát xuống dưới đất một loại sóng vật lý
có khả năng truyền sâu xuống đất và phản xạ trở lại khi gặp mặt phân cách hai môi trường có các tham số vật lý khác nhau, và thu nhận lại sóng phản xạ Trên cơ sở các
Trang 30phương trình truyền sóng (và phản xạ sóng) của vật lý, bằng việc ứng dụng các phương
pháp của khoa học tính toán giải bài toán ngược của hệ phương trình vi phân diễn tả
sự truyền sóng đó, thì xác định được các tham số vật lý trong các vùng không gian khác nhau dưới lòng đất, từ đó phán đoán về vị trí các thân quặng Sau khi có các kết quả nghiên cứu thăm dò bằng các phương pháp địa vật lý mới tiến hành khoan lấy mẫu
để kiểm nghiệm Các thiết bị địa vật lý hiện đại đã có ở nước ngoài, công nghệ sử dụng thiết bị thì cần phải được chuyển giao từ nước ngoài, song việc xử lý các số liệu đo được trên các thiết bị để đi đến kết luận về sự phân bố của tài nguyên quặng than dưới lòng đất đòi hỏi phải có một tiềm lực khoa học nhất định Với trình độ phát triển của vật lý, địa vật lý, khoa học tính toán và kỹ thuật điện tử nước ta hiện nay, tiềm lực đó
có thể được xây dựng nhanh chóng
Theo dự đoán của tôi, để khai thác bể than sông Hồng, nhất thiết phải sử dụng phướng pháp biến than thành nhiên liệu khí dưới lòng đất và sau đó khai thác nhiên liệu khí Công nghệ khí hoá than cũng đã được nhiều nước nghiên cứu Khi nhà nước quyết định cho khai thác thì có thể chuyển giao công nghệ từ nước ngoài Mặc dầu đã biết trước từ bây giờ là không đủ sức và cũng không cần thiết phải nghiên cứu khoa học và công nghệ để tự tìm ra công nghệ khí hoá than, song nhất thiết chúng ta phải nghiên cứu những vấn đề khoa học làm cơ sở cho việc xác lập công nghệ khí hoá than để có đủ trình độ khoa học làm tư vấn cho nhà nước quyết định có khai thác hay không, và trong trường hợp nhà nước quyết định khai thác thì đã có sẵn tiềm lực khoa học để lựa chọn và tiếp thu công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài Để có cơ sở khoa học cho việc xác lập quy trình khai thác khí được tạo ra từ than, còn cần nghiên
cứu về cấu trúc địa chất của vùng lãnh thổ mà ở đó sẽ tiến hành khai thác
2.2.3 Phát triển công nghiệp dược liệu
Là một nước ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm, điều kiện sống của phần lớn dân cư lại còn thiếu thốn, dân ta thường hay mắc các bệnh truyền nhiễm, các dịch bệnh thỉnh thoảng vẫn xảy ra, số người mắc bệnh hiểm nghèo ngày càng tăng Với một dân số gần 100 triệu dân, nhu cầu về các loại vắc-xin để phòng bệng và các loại thuốc chữa bệnh của nước ta rất lớn Từ nhiều năm nay Chính phủ rất chú trọng việc xây dựng tiềm lực khoa học về vắc-xin và thực hiện chuyển giao công nghệ tiên tiến sản xuất vắc-xin từ nước ngoài, cho nên chúng ta đã đảm bảo sản xuất đủ vắc-xin để phòng các bệnh thông thường Tình hình sản xuất thuốc chữa bệnh thì lại không khả quan như vậy Tất cả các loại biệt dược, chiếm khoảng 50% tổng giá
Trang 31trị thuốc tân dược tiêu thụ trên thị trường trong nước, đều nhập khẩu từ nước ngoài, còn khoảng 50% là tổng giá trị các loại thuốc thông thường được bào chế ở trong nước chủ yếu bằng các nguyên liệu nhập từ nước ngoài Ta quy ước gọi các chất tinh khiết dùng làm nguyên liệu để bào chế thuốc là dược liệu Phát triển công nghiệp dược liệu
là một nhu cầu cấp bách của đất nước ta
Các nước tiên tiến trên thế giới đã có một nền công nghiệp dược liệu rất phát triển và vẫn đang tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học để phát triển hơn nữa lĩnh vực công nghiệp hết sức cao cấp này Nước ta hiện nay cũng đã có một tiềm lực khoa
học nhất định về hoá học các hợp chất thiên nhiên và công nghệ sinh học để thực
hiện việc chuyển giao một số công nghệ tiên tiến từ nước ngoài Để phát triển công nghiệp dược liệu ở Việt Nam cần có sự quyết tâm của Chính phủ thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam Vừa thực hiện việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, chúng ta vừa tiếp tục xây dựng tiềm lực khoa học
2.2.4 Phát triển công nghiệp đóng tàu và công nghiệp xây dựng các công trình biển
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển của nhà nước, ngành công nghiệp đóng tàu đã lớn mạnh nhanh chóng Với kinh nghiệm đã được tích luỹ trong một thời gian dài, đi từ sửa chữa tàu biển đến đóng mới các con tàu từ nhỏ đến lớn, lực lượng đóng tàu nước ta có năng lực tiếp thu tốt công nghệ tiên tiến của nước ngoài Để nâng cao năng lực thiết kế tàu biển, nhà nước đã đầu tư cho ngành đóng tàu phòng thí nghiệm có bể thử tàu biển Ngoài việc xây dựng cơ sở thử nghiệm này cần thiết phải
phát triển thuỷ động lực học và khoa học tính toán định hướng vào việc nghiên cứu
các vấn đề khoa học cần thiết cho sự phát triển công nghệ thiết kế tàu biển
Việc xây dựng các công trình biển, như các cảng biển, các dàn khoan dầu khí,
.v.v , đòi hỏi phải vận dụng các kết quả nghiên cứu hải dương học, trong đó có việc
nghiên cứu các vấn đề về sự vận chuyển cát và phù sa trong vùng biển ven bờ, sự bồi lấp các của sông và các cảng, sự tương tác của sóng biển lên các công trình biển, cũng
như nghiên cứu về địa chất và địa mạo biển, đòi hỏi phải ứng dụng các phương pháp của khoa học tính toán vào việc giải quyết các bài toán thuỷ động lực học
Các vật liệu được sử dụng để xây dựng các công trình biển và các công trình dân dụng khác trên các hải đảo và các vùng ven biển cũng như để chế tạo các thiết bị được sử dụng trong các vùng nói trên thường xuyên chịu tác động phá huỷ của các điều kiện khí hậu và môi trường biển khắc nghiệt Muốn có đủ năng lực lựa chọn và tiếp thu công nghệ tiên tiến từ nước ngoài để sản xuất ra các vật liệu có độ bền cao dưới tác
Trang 32dụng của các điều kiện khí hậu và môi trường biển khắc nghiệt cần nghiên cứu về ăn mòn kim loại và sự phá huỷ vật liệu trong các điều kiện đó
2.3 Các hướng nhằm thực hiện sứ mạng phát triển tiềm lực khoa học để sáng
tạo ra những kỹ thuật và công nghệ cần thiết cho sự phát triển của đất nước mà không cần hoặc không thể được chuyển giao từ nước ngoài
2.3.1 Phát triển Khoa học Nông nghiệp
Trong hai thập kỷ vừa qua ngành nông nghiệp (bao gồm cả thuỷ sản) nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực, kim ngạch nông sản xuất khẩu rất nhỏ bé, trở thành một quốc gia xuất khẩu nông sản các loại đều thuộc hạng cao trên thế giới Đội ngũ những người làm khoa học kỹ thuật trong ngành nông nghiệp đã có đóng góp lớn lao vào những thành tựu phát triển nông nghiệp nước
ta Tuy vậy ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn đang đứng trước một số thách thức, trong đó có những thách thức đang trở nên càng nặng nề hơn vì có sự biến đổi khí hậu Mặc dầu chúng ta đang ra sức phát triển công nghiệp, nhưng trong vòng hai thập kỷ tới nông dân vẫn là thành phần dân cư chiếm đa số, câu phương ngôn "phi nông bất ổn" vẫn đúng Nghị quyết của Hội nghị Trung ương về Nông nghịệp, Nông dân và Nông thôn đã khẳng định đường lối phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn ở nước ta trong giai đoạn chiến lược sắp tới Dưới đây tôi xin trình bày những luận cứ làm cơ sở
cho quan điểm của tôi về việc nước ta rất cần có một nền khoa học nông nghiệp tiên
tiến để vượt qua mọi thử thách, tiến lên xây dựng nước ta thành một cường quốc nông nghiệp Tôi sẽ dẫn ra một số thí dụ để khẳng định rằng việc phát triển khoa học nông
nghiệp ở nước ta đòi hỏi sự đóng góp của nhiều ngành khoa học tự nhiên khác và do đó
đủ mạnh nên chúng ta mới tiếp thu được những thành tựu của nước ngoài, và sự tiếp
Trang 33thu thành công những thành tựu đó lại thúc đẩy sự phát triển tiềm lực khoa học kỹ thuật nông nghiệp nước ta
Song với trình độ phát triển tốt của khoa học kỹ thuật nông nghiệp nước ta hiện nay muốn đạt được nhiều thành tựu lớn hơn nữa, nhất là trong bối cảnh sự biến đổi khí hậu, không thể chỉ tiếp thu những tiến bộ của nước ngoài, mà còn phải nỗ lực phát triển
nền khoa học nông nghiệp nước ta Tôi không thể đề xuất chi tiết các hướng chiến
lược phát triển khoa học nông nghiệp nước ta, mà chỉ có thể bình luận về một số vấn đề
rõ ràng là những đối tượng nghiên cứu rất thiết thực của khoa học nông nghiệp Việt Nam, theo quan điểm của một người được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển nền nông nghiệp nước ta
Các giống cây trồng, vật nuôi được chuyển giao từ nước ngoài vào nước ta có thể cho năng suất cao, cho các sản phẩm có chất lượng tốt, song lại kém khả năng chống chọi với các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và sâu bệnh, dịch bệnh; các giống bản địa cùng một loại có khả năng chống chọi giỏi với các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và sâu bệnh, dịch bệnh thì lại cho năng suất thấp, cho các sản phẩm chất lượng thấp Trên cơ sở cả hai loại giống nói trên, bằng các phương pháp khoa học, trong đó
có các phương pháp công nghệ sinh học, tạo ra loại giống mới có được các ưu điểm của cả hai loại giống đó, vừa cho năng suất cao, chất lượng cao, lại vừa giỏi chống chọi với các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và sâu bệnh, dịch bệnh, là một nhệm vụ rõ ràng của nền khoa học nông nghiệp nước ta
Việc trồng trọt ở nước ta hàng năm phải sử dụng một lượng phân bón hoá học rất lớn Với quy trình canh tác hiện nay ở nước ta, theo ước tính của các nhà nông nghiệp, chỉ mới có khoảng một nửa lượng phân bón hoá học được lưu giữ lại trong đất
để cây trồng hấp thụ, còn khoảng một nửa trôi tuột theo dòng nước ra sông, ra biển Sự lãng phí rất là lớn Muốn hạn chế sự lãng phí đó phải có sự kết hợp giữa các nhà nghiên cứu về trồng trọt và các nhà khoa học thuộc các ngành khác như hoá học, vật lý hạt nhân, v.v nghiên cứu quá trình vận chuyển và lưu giữ phân bón trong đất, trong cây trồng, từ đó mới đề ra các giải pháp kỹ thuật
Mặc dầu đã có quy trình trồng rau an toàn, song việc phun thuốc trừ sâu hoá học trực tiếp lên lá rau vẫn là một mối lo ngại của người ăn rau và làm cho rau sản xuất ở nước ta không thể xuất khẩu được Khoa học nông nghiệp phải nghiên cứu về sinh lý, sinh thái các loài sâu hại rau để tìm ra các quy trình phòng trừ sâu rau không cần dùng thuốc trừ sâu, hoặc nghiên cứu các loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc hoặc các chế phẩm sinh học, sau khi được phun lên rau sẽ tự phân huỷ và không có tác hại lên