1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin

71 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 599,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HẰNG TÊN ĐỀ TÀI : “TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI TÂN THÁI – ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA HAI LOẠI THUỐC K

Trang 1

NGUYỄN THỊ HẰNG

TÊN ĐỀ TÀI :

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI TÂN THÁI – ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA HAI LOẠI THUỐC

KHÁNG SINH QM – NEOLIN, ENROFLOXACIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Thú y

Khoa : Chăn nuôi thú y

Khóa học : 2009 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : ThS Hà Thị Hảo

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện và đóng góp

ý kiến quý báu của cô giáo ThS Hà Thị Hảo để xây dựng và hoàn thiện khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu nhà trường, toàn thể các thầy cô giáo khoa chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là cô giáo ThS Hà Thị Hảo đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận

Tôi xin chân thành cảm ơn: Toàn bộ cán bộ công nhân viên Trại giống lợn Tân Thái, Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Để góp phần cho việc hoàn thành khoá luận đạt kết quả tốt, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Sinh viên

NGUYỄN THỊ HẰNG

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.1.1 Vị trí địa lý 1

1.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn 1

1.1.1.3 Đất đai 2

1.1.1.4 Giao thông, thuỷ lợi 3

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội 3

1.1.2.1 Tình hình dân cư xung quanh trại 3

1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại 3

1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật 4

1.1.3 Tình hình sản xuất 5

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 5

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 6

1.1.4 Đánh giá chung 7

1.1.4.1 Thuận lợi 7

1.1.4.2 Khó khăn 7

1.1.5 Phương hướng sản xuất 8

1.1.5.1 Ngành chăn nuôi 8

1.1.5.2 Ngành trồng trọt 8

1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT 8

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 8

1.2.2 Phương pháp tiến hành 9

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 9

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 9

1.2.3.2 Công tác thú y 10

1.3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 13

1.3.1 Kết luận 13

Trang 4

1.3.2 Đề nghị 14

Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 15

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 15

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 16

2.1.2 Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn Error! Bookmark not defined 2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 16

2.2.1 Cơ sở khoa học 16

2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con 16

2.2.1.2 Những hiểu biết về vi khuẩn E.coli 23

2.2.1.3 Những hiểu biết về bệnh lợn con phân trắng 27

2.2.1.4 Các biện pháp phòng và trị lợn con phân trắng 33

2.2.1.5 Giới thiệu về thuốc sử dụng trong nghiên cứu 36

2.2.1.6 Đặc điểm một số giống, dòng lợn ngoại được nuôi tại trại 37

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 39

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 39

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 41

2.3.2 Địa điểm và thời gian thực tập 41

2.3.3 Nội dung và các chỉ tiêu theo dõi 41

2.3.3.1 Nội dung 41

2.3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 41

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 42

2.3.4.1 Phương pháp theo dõi 42

2.3.4.2 Phương pháp so sánh hiệu quả điều trị của hai loại kháng sinh 42

2.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

2.4.1 Tỷ lệ chết và mắc bệnh phân trắng lợn con qua các năm của Trại 45

2.4.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo đàn tại Trại 47

2.4.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo các tháng trong năm 48

2.4.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi 50

Trang 5

2.4.5 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 52

2.4.6 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo dòng 53

2.4.7 So sánh hiệu lực của hai loại thuốc trong điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai loại thuốc QM - Neolin và Enrofloxacin 54

2.4.7 Ảnh hưởng của hai loại thuốc đến khả năng sinh trưởng 56

2.4.8 Chi phí thuốc kháng sinh trong quá trình điều trị bệnh phân trắng lợn con 57

2.5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

2.5.1 Kết luận 58

2.5.2 Tồn tại 59

2.5.3 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 62

II TÀI LIỆU DỊCH TỪ TIẾNG NƯỚC NGOÀI 64

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình hàng năm của huyện Đồng Hỷ 2

Bảng 1.2 Kết quả sản xuất của trại Tân Thái từ năm 2011 - 10/2013 6

Bảng 1.3 Lịch tiêm phòng cho đàn lợn thịt, lợn hậu bị và lợn nái của trại Tân Thái 10

Bảng 1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 12

Bảng 2.1 Tỷ lệ chết và mắc bệnh phân trắng lợn con qua các năm của Trại 45 Bảng 2.2 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở đàn lợn của trại 47

Bảng 2.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo các tháng trong năm 48

Bảng 2.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi 50

Bảng 2.5 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn theo tính biệt 52

Bảng 2.6 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo dòng 53

Bảng 2.7 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai loại thuốc 54

Bảng 2.8 Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn 57

Bảng 2.9 Chi phí thuốc kháng sinh trong quá trình điều trị bệnh phân trắng lợn con 57

Trang 8

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại giống lợn Tân Thái là một đơn vị trực thuộc Trung tâm khuyến nông giống và kỹ thuật nông lâm Thái Nguyên, đóng trên địa bàn của xóm Tân Thái - xã Hoá Thượng - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên Trại cách thị trấn Chùa Hang 2 km về phía Bắc, trên trục đường từ thị trấn đi xã Khe

Mo Nhìn chung, đây là một vị trí khá thuận lợi để một trại chăn nuôi lợn phát triển do cách xa khu công nghiệp, khu dân cư, bệnh viện, trường học và đường giao thông chính nhưng vẫn thuận tiện cho việc giao thông vận tải và thông thương

1.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn

Theo phân vùng của nhà khí hậu thuỷ văn thành phố, trại giống lợn Tân Thái nằm trong khu vực có khí hậu đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc, đó

là nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc

- Mùa mưa: Nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9)

Nguồn nước dùng trong chăn nuôi được lấy từ giếng khoan

Nguồn nước dùng trong trồng trọt được lấy từ ao nuôi cá

Trang 9

Với điều kiện khí hậu, thuỷ văn như vậy nhìn chung là thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt lẫn chăn nuôi Tuy nhiên, cũng có những giai đoạn điều kiện khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, lũ lụt, mùa hè có ngày nhiệt độ rất cao (380C - 390C), mùa đông có ngày nhiệt độ rất thấp (dưới 100C), đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp

Bảng 1.1 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình hàng năm của huyện Đồng Hỷ Yếu tố khí hậu

Tháng

Nhiệt độ không khí

( o C)

Lượng mưa (mm)

Âm độ không khí (%)

Trang 10

1.1.1.4 Giao thông, thuỷ lợi

Giao thông:

Đồng Hỷ có hệ thống giao thông khá tốt, hầu hết các đường giao thông đều được rải nhựa và bê tông hoá Trại Tân Thái ở vị trí khá thuận lợi về giao thông, nằm gần đường quốc lộ Vì vậy, rất thuận lợi cho việc vận chuyển thức

ăn, thuốc thú y cũng như tiêu thụ sản phẩm

Thuỷ lợi:

Hệ thống thuỷ lợi tương đối rộng khắp và phần lớn đã được kiên cố hoá

hệ thống kênh mương Diện tích trồng trọt của trại sử dụng nguồn nước của

hệ thống thuỷ lợi và những ao hồ chứa nước để phục vụ trồng trọt

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

1.1.2.1 Tình hình dân cư xung quanh trại

Trại Tân Thái thuộc địa bàn xã Hoá Thượng là một xã nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ Cho nên, dân cư xung quanh trại chủ yếu làm nông nghiệp Ngoài ra, còn một phần ít dân cư sống bằng nghề thủ công buôn bán nhỏ và một số gia đình viên chức nhà nước

Với tình hình dân cư, dân trí như vậy rất thuận lợi để tuyên truyền, khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn để cải thiện thêm mức thu nhập của người dân nơi đây và cũng phát huy hơn nữa vai trò cung cấp giống lợn ngoại của trại Tân Thái

1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại có đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế,

có ban lãnh đạo năng động, nhiệt tình và giàu năng lực Hơn nữa, trại có một đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề và đã có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề

Trại gồm 20 cán bộ, trong đó có 4 cán bộ là đảng viên

- Lao động gián tiếp: 3 người

+ Trại trưởng: là kỹ sư chăn nuôi chịu trách nhiệm quản lý và điều hành sản xuất

+ Trại phó: Là kỹ sư chăn nuôi

+ Kế toán kiêm cả thủ quỹ: 1 người

Trang 11

Cán bộ kế toán kiêm thủ quỹ có trình độ trung cấp tài chính kế toán, chịu trách nhiệm hạch toán ngân sách, quản lý thu chi

- Lao động trực tiếp:

+ Tổ chăn nuôi gồm 8 người: 2 kỹ sư chăn nuôi, 1 bác sỹ thú y chịu trách nhiệm về kỹ thuật và 5 công nhân

+ Tổ trồng trọt: 3 người trong đó có 1 kỹ sư trồng trọt chịu trách nhiệm

về kỹ thuật và 2 công nhân

Khu chuồng dành cho chăn nuôi có tổng diện tích 1.717 m2 Trại được nhà nước và tỉnh hỗ trợ kinh phí để nâng cấp hệ thống chuồng trại Hiện nay trại đã xây dựng xong với quy mô phù hợp theo hướng chăn nuôi kiểu công nghiệp Hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái chờ phối và lợn nái chửa Chuồng lồng, nền sàn nhựa cho lợn nái đẻ, lợn con và lợn sau cai sữa cùng với hệ thống nước uống tự động Hệ thống che chắn kín đáo thoáng mát

về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hệ thống mái che hai ngăn có độ thông thoáng tốt, có tường rào bao quanh để ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu chăn nuôi Ở cuối mỗi ô chuồng đều có hệ thống thoát phân và nước thải

Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng, đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày Trại đã lắp đặt hệ thống nước máy đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho lợn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại

* Các công trình khác

Gần khu chuồng, trại cho xây dựng một phòng kỹ thuật, một nhà kho, phòng thay đồ, phòng tắm, nhà vệ sinh Phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ

Trang 12

dụng cụ thú y như: panh, dao mổ, bơm tiêm, kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân, các loại thuốc thú y đồng thời cũng là phòng trực của các cán bộ kỹ thuật

Nhà kho được xây dựng gần khu chuồng, là nơi chứa thức ăn và các chất độn chuồng phục vụ cho sản xuất

Bên cạnh đó, trại còn cho xây dựng một giếng khoan, bể chứa nước, máy bơm nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho sản xuất sinh hoạt

Khu hành chính của trại gồm có: Một phòng làm việc của ban lãnh đạo trại cùng cán bộ hành chính, một phòng hội trường rộng rãi làm nơi hội họp, học tập cho cán bộ công nhân viên

1.1.3 Tình hình sản xuất

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Trại giống lợn Tân Thái là một trại giống trực thuộc Trung tâm khuyến nông giống và kỹ thuật nông lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên, có chức năng và nhiệm vụ chính:

Trại là một cơ sở cung cấp con giống nên được giao nhiệm vụ nuôi giữ, nhân giống và chọn lọc đàn lợn ông bà giống ngoại để sản xuất đàn lợn giống

bố mẹ, cung cấp giống cho bà con nông dân và các cơ sở chăn nuôi khác quanh vùng và khu vực lân cận Nhằm mục đích tăng đàn nái ngoại trong nhân dân, cung cấp đủ đực giống cho lai kinh tế và một phần nhân thuần nuôi thịt để tăng tỷ lệ nạc trong thịt lợn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Trại có đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi chuyên môn, trại còn tham gia chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho chăn nuôi cho các hộ gia đình quanh vùng, hướng dẫn, giúp đỡ người dân chăn nuôi về khâu kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng và công tác thú y

Trại còn khảo nghiệm các loại cây, con mới cho các chương trình, các

dự án và các đề tài khoa học

Với chức năng và nhiệm vụ trên, đánh giá được những khó khăn và thuận lợi của trại, cho nên trong những năm vừa qua ngành chăn nuôi lợn của trại có những bước phát triển đáng kể Cho đến nay trại đã tiến hành khoán sản phẩm đến từng công nhân Chính vì vậy, đã kích thích tinh thần làm việc,

Trang 13

tinh thần trách nhiệm của mỗi công nhân Kết quả sản xuất trong những năm vừa qua của trại được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Kết quả sản xuất của trại Tân Thái từ năm 2011 - 10/2013

Khối lượng (kg)

Số con

Khối lượng (kg)

Số con

Khối lượng (kg)

Số con

Khối lượng (kg)

2011 2210 73.246 165 7.425 470 12.894 2845 93.565

2012 2740 96.453 143 6.435 510 17.850 3393 120.738 10/2013 3100 192.200 125 5.625 652 23.341 3877 221.166

(nguồn trích: thu thập tử kết quả theo dõi của trại qua các năm)

Ngoài lĩnh vực sản xuất chính là chăn nuôi, trại còn sử dụng diện tích

ao hồ chăn nuôi cá thịt để tận dụng chất thải từ chăn nuôi, góp phần tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Nhiệm vụ chính của trại Tân Thái là chăn nuôi Cho nên trong những năm vừa qua việc phát triển ngành trồng trọt chỉ là một lĩnh vực phụ nhằm phục vụ cho chăn nuôi và tận dụng chất thải của chăn nuôi là chủ yếu

Tổng diện tích trồng trọt của trại là 28.090m2 Một phần diện tích trên trại khoán cho các hộ gia đình là công nhân viên trong trại để tăng thêm thu nhập gia đình, phần còn lại triển khai trồng cây ăn quả như: Vải, nhãn, xoài, chuối… nhằm xây dựng thành một mô hình sản xuất khép kín, cân bằng sinh thái

Trang 14

1.1.4 Đánh giá chung

1.1.4.1 Thuận lợi

Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ của các ngành, các cấp có liên quan như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trung tâm khuyến nông, Chi cục thú y, Công ty vật tư nông nghiệp Cho nên trại thường được áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và phục vụ sản xuất

Trại có vị trí địa lý khá thuận lợi về giao thông vận tải và giao lưu với dân cư quanh vùng Đồng thời sản phẩm của trại là lợn nái ngoại hậu bị, lợn thịt có tỷ lệ nạc cao phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hiện nay

Ban lãnh đạo có năng lực, nhiệt tình, đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi, đội ngũ công nhân nhiệt tình có kinh nghiệm lâu năm trong nghề Toàn bộ công nhân viên trong trại là một tập thể đoàn kết, có ý thức trách nhiệm cao và có lòng yêu nghề

Trại được nhà nước quan tâm, đầu tư kinh phí để xây dựng thêm hệ thống chuồng trại hiện đại phù hợp theo hướng chăn nuôi công nghiệp, tạo điều kiện cho trại mở rộng quy mô sản xuất

Công tác thú y, phòng bệnh thực hiện nghiêm túc nên tỷ lệ mắc bệnh thấp

1.1.4.2 Khó khăn

Kinh phí đầu tư cho sản xuất còn hạn hẹp, trang thiết bị thú y còn thiếu

và chưa đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất

Do trại nằm giữa địa bàn đông dân, thời tiết diễn biến phức tạp cho nên chưa tạo được vành đai phòng dịch triệt để

Do là một cơ quan nhà nước hoạt động trong cơ chế thị trường cho nên sản xuất của trại cũng gặp không ít khó khăn Một mặt phải đảm bảo chức năng chuyển giao khoa học kỹ thuật tới tay người dân, mặt khác phải tự hạch toán kinh doanh sao cho có lãi để đứng vững và phát triển

Điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao trong mùa mưa đã tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn nói chung và vi khuẩn đường tiêu hóa nói riêng phát triển mạnh, dẫn đến vật nuôi dễ bị mắc bệnh phân trắng lợn con với tỷ lệ nhiễm rất cao

Trang 15

1.1.5 Phương hướng sản xuất

Căn cứ cơ sở vật chất và điều kiện của trại, đánh giá những thuận lợi, khó khăn và tình hình phát triển chăn nuôi - thú y trong những năm gần đây của địa phương Trung tâm khuyến nông tỉnh và trại chăn nuôi Tân Thái đã vạch ra phương hướng phát triển sản xuất của trại trong những năm tới như sau:

1.1.5.1 Ngành chăn nuôi

Duy trì đàn nái ngoại để sản xuất và cung cấp con giống về các chủng loại: Đực giống, nái hậu bị và lợn nuôi thịt theo nhu cầu của nhân dân Tiếp tục xây dựng vùng dân nuôi lợn nái ngoại ở những nơi có điều kiện kinh tế khá bằng cách chuyển giao kỹ thuật cho người chăn nuôi

Tăng cường công tác thú y, thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh một cách chặt chẽ hơn

1.1.5.2 Ngành trồng trọt

Xây dựng vườn cây ăn quả: Vải, nhãn, cam, quýt, xoài… với diện tích 2,3 ha

1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất

Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn”, căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, tôi nhận thấy trong quá trình thực tập tốt nghiệp, không chỉ cần hoàn thành tốt bản khoá luận tốt nghiệp, mà còn phải tích cực, năng động tham gia vào công tác chăn nuôi thú y ở trại để nâng cao tay nghề kỹ thuật và hiểu biết của mình Trong thời gian thực tập tốt nghiệp chúng em đều tham gia ở các công tác sau:

* Công tác chăn nuôi: Tham gia vào chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn trong trại

được phân công

* Công tác thú y:

+ Tham gia tiêm phòng vaccine theo định kỳ cho lợn các lứa tuổi

+ Chẩn đoán và điều trị một số bệnh mà đàn lợn mắc phải như: Bệnh đường hô hấp, hội chứng tiêu chảy, phân trắng lợn con, viêm khớp, ghẻ, viêm

da, viêm kết mạc mắt

+ Phun thuốc sát trùng và thuốc diệt nội, ngoại ký sinh trùng cho đàn lợn

* Tham gia các công tác khác: Đỡ đẻ, bổ sung sắt, cho lợn uống Baycox, thụ

tinh nhân tạo…

Trang 16

1.2.2 Phương pháp tiến hành

- Vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn sản xuất một cách hợp lý Đề ra kế hoạch cho bản thân, sắp xếp thời gian biểu hợp lý để thu được kết quả tốt nhất

- Có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Nghiêm chỉnh chấp hành các nội quy, quy định của nhà trường và cơ sở thực tập

- Khiêm tốn học hỏi cán bộ, công nhân cán bộ kỹ thuật tại cơ sở, tham khảo các tài liệu để nâng cao trình độ chuyên môn

- Thường xuyên liên hệ với giáo viên hướng dẫn để xin ý kiến về chuyên môn và nhiều lĩnh vực khác

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi

* Vệ sinh, sát trùng và nuôi dưỡng lợn

Đây là một trong những khâu quan trọng, nó quyết định đến thành quả trong chăn nuôi Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này nên trong suốt thời gian thực tập chúng tôi đã cùng với công nhân tổ chăn nuôi của trại thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y, tham gia quét dọn vệ sinh chuồng nuôi như thu phân trong các ô chuồng, quét dọn thức ăn rơi vãi, phụt rửa gầm nền chuồng, rắc vôi khử trùng xung quanh chuồng nuôi, vệ sinh cống rãnh thoát nước, hố sát trùng để tránh mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi

* Phối giống cho lợn

Với nhiệm vụ chính là cung cấp nái hậu bị có chất lượng cao nên công tác giống của trại rất được coi trọng

Trong công tác thụ tinh nhân tạo, tinh lợn giống do trung tâm cung cấp theo yêu cầu của trại Thụ tinh đúng thời điểm nhưng thường vào khoảng 8 -9 giờ sáng và 17 giờ chiều, vì khi đó thời tiết mát mẻ

Tôi đã thực hiện thụ tinh nhân tạo cho 8 lợn nái, kết quả 100%

* Đỡ đẻ lợn, bổ sung sắt và thiến lợn con:

- Đỡ đẻ 20 ca với mỗi ca đều đạt về số lượng lợn con sơ sinh đúng theo tiêu chuẩn của trại giao khoán cho công nhân Trước khi đỡ đẻ chuẩn bị khăn lau, ổ úm lợn con, kìm bấm nanh, panh kẹp, kéo, bông cồn, xilanh, oxytocine

Trang 17

- Khi lợn con đẻ ra dùng khăn lau sạch nhớt ở mũi, miệng, toàn thân, bôi bột khoáng khắp cơ thể Sau đó bấm nanh, cắt đuôi, cho uống một giọt Baytril và dùng bông cồn sát trùng vị trí cắt đuôi, tranh thủ cho lợn con bú sớm sữa đầu, ghi số liệu vào thẻ lợn nái

- Bổ sung sắt: Tiêm bắp cho lợn con 3 ngày tuổi, mỗi con 1- 2ml prolongal

1.2.3.2 Công tác thú y

* Công tác tiêm phòng

Thực hiện phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, trại Tân Thái thực hiện quy trình tiêm phòng rất nghiêm ngặt

Bảng 1.3 Lịch tiêm phòng cho đàn lợn thịt, lợn hậu bị

và lợn nái của trại Tân Thái

3 - 3,5 tháng Lở mồm long móng Vô hoạt

Tôi đã cùng cán bộ kỹ thuật của trại tiêm phòng các loại vaccine và kết quả đều đạt 100% an toàn

* Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh

Để việc điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao thì việc chẩn đoán kịp thời và chính xác giúp đưa ra các phác đồ điều trị phù hợp sẽ làm giảm được: tỷ lệ tử vong, thời gian sử dụng thuốc và thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày tôi cùng với cán bộ kỹ thuật của trại tiến hành theo dõi lợn ở tất cả các ô chuồng, nhằm phát hiện lợn ốm Khi quan sát thấy những triệu chứng như: ủ rũ, mệt mỏi, giảm ăn uống, ít hoạt động, thân nhiệt cao thì chúng tôi

Trang 18

tiến hành tập trung theo dõi và chẩn đoán bệnh Trong thời gian thực tập tôi

đã chẩn đoán và điều trị được một số bệnh xẩy ra trên đàn lợn của trại:

- Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa, nái hậu bị

và lợn thịt

+ Triệu chứng: Phân lỏng, màu vàng hay màu trắng đục dính ở hậu môn, hậu môn ướt đỏ, lợn sút cân nhanh chóng, mắt lờ đờ, dáng đi siêu vẹo, chán ăn

+ Điều trị:

Dùng: Coli - 200 pha nước uống (đối với lợn con theo mẹ) với liều điều trị 10g/ thể trọng/ ngày, điều trị 3 - 5 ngày Dùng kết hợp với Hamcoli - S Tiêm bắp hoặc dưới da với liều 1ml/10kg thể trong/ngày, dùng liên tục trong 3 - 5 ngày

Hoặc dùng Norphacoli tiêm bắp hoặc dưới da với liều 1ml/20kg thể trọng/ngày, dùng liên tục trong 3 - 5 ngày

Hoặc đối với lợn con theo mẹ ta dùng QM - Neonin cho uống 1ml/10kg thể trọng, dùng liên tục trong 3 - 5 ngày

Navet-Analgin C: 1ml/10 - 15kg thể trọng có tác dụng giảm đau, hạ sốt, tăng sức đề kháng

Bromhexin có tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho

B.complex, vitamin C có tác dụng tăng cường sức đề kháng

- Bệnh viêm khớp

+ Triệu chứng: Lợn thường bị viêm khớp gối, khớp bàn và khớp ngón Lúc đầu con vật thường đi khập khiễng, sau nặng dần và bị què, ngại vận động, đứng dậy khó khăn, chỗ viêm thường sưng đỏ, sờ vào con vật có biểu hiện né tránh Lợn ủ rũ, lông xù, nằm một chỗ

+ Điều trị: Dùng Bio genta - tylosin liều 1ml/20kg thể trọng và Diclofenac 2,5% liều 1,5ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, dùng liên tục 3 - 5 ngày

Trang 19

- Bệnh viêm da do tụ cầu

+ Triệu chứng: lợn sốt, gầy, viêm da tiết dịch toàn thân Lúc đầu lấm tấm như đầu tăm, về sau to dần lên, tạo nhiều đường nứt Dịch viêm đóng vẩy khô màu nâu làm cho lông dính bết vào nhau Lợn bệnh không bị ngứa

+ Điều trị: Dùng dung dịch Casstellanil bôi không quá 1/3 cơ thể

Bảng 1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Phun thuốc sát trùng chuồng

Qua bảng 1.4 đã tổng hợp kết quả của công tác chăn nuôi tại trai Về vệ sinh nuôi dưỡng hàng ngày tôi và các cô công nhân vệ sinh chuồng trại như quét dọn chuồng, rửa máng ăn… được 10 dãy, nuôi dưỡng 120 con lợn nái chửa và hậu bị, phun thuốc sát trùng ở các ô chuồng, xung quanh chuồng được

Trang 20

24000m2, vệ sinh hố sát trùng 17 lần Việc thực hiện công tác chăn nuôi một cách nghiêm ngặt đã hạn chế được mầm bệnh phất triển và lây lan ở trại Đỡ đẻ được 20 con, bổ sung sắt và cho uống Baycox 5% được 122 con, thụ tinh nhân tạo được 8 con Các công tác được thực hiện với mức an toàn 100%

Công tác tiêm phòng và điều trị bệnh tại trại được thực hiện rất nghiêm ngặt chính vì vậy dịch bệnh ở trại thường xảy ra ít, đồng thời tăng tốc độ sinh

trưởng và phát triển của lợn, mang lại hiệu quả năng suất, kinh tế cao cho trại

- Biết cách chẩn đoán một số bệnh thông thường xảy ra ở đàn lợn ngoại

và biện pháp phòng trị

- Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh

- Nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn

Qua thực tế sản xuất tôi đã mạnh dạn và tự tin vào khả năng của mình, củng cố được lòng yêu nghề Bên cạnh đó, tôi tự nhận thấy mình cần phải học hỏi thêm rất nhiều về kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của các thầy, cô giáo, các đồng nghiệp đi trước Đồng thờ, còn phải tích cực nghiên cứu, tham khảo tài liệu và kiến thức mới để cập nhật những thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nghề nghiệp

Trong quá trình đi sâu vào thực tiễn sản xuất của trại Tân Thái, tôi nhận thấy một số tồn tại cần khắc phục, cụ thể là:

- Hầu như những lợn ốm không cách ly mà vẫn nhốt chung cùng lợn khoẻ, nên không ngăn chặn được bệnh kịp thời

- Vấn đề quản lý giết mổ, chôn xác lợn chết do bệnh ở trại còn nhiều bất cập

Trang 21

- Việc vệ sinh, sát trùng chỉ được coi trọng khi có dịch bệnh xảy ra

- Công tác quản lý nhân sự của trại cần được quan tâm hơn nữa

- Nên cánh ly lợn ốm ngay khỏi đàn lợn khi con vật mới có triệu chứng

- Trại cần có phương pháp quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị cần phù hợp với nhu cầu, tránh lãng phí để tối thiểu hoá chi phí, dẫn đến tối đa hoá lợi nhuận cho trại

Trang 22

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Tên đề tài:

“Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoan sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Tân Thái - Đồng Hỷ - Thái Nguyên và so sánh hiệu quả của hai loại thuốc kháng sinh QM - Neolin, Enrofloxacin”

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nghành chăn nuôi hiện nay, chăn nuôi lợn là một trong các ngành đem lại hiệu quả kinh tế, chính vì vậy trong những năm qua, chăn nuôi lợn nước ta đã đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hoá sản xuất, chăn nuôi trong các trang trại tập trung càng phổ biến Tuy nhiên trong chăn nuôi muốn thu được lợi nhuận cao ngoài các vấn đề về con giống, dinh dưỡng thì thú y là vấn đề cấp bách, quyết định thành công trong chăn nuôi

Một trong những bệnh thường gặp gây nhiều thiệt hại trong chăn nuôi

là bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis) Bệnh này phát triển mạnh, đặc

biệt ở các vùng chăn nuôi lợn tập trung Nếu không được quan tâm chăm sóc,

hộ lý tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên tới 100% và tỷ lệ chết cũng rất cao, nhất

ở giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, nhằm mục đích hiểu kỹ hơn về bệnh này, cũng như ảnh hưởng của nó tới chăn nuôi lợn, để tìm ra được giải pháp phòng chống hữu hiệu nhất, làm giảm thiệt hại đến mức nhỏ nhất của dịch bệnh và tăng năng suất của chăn nuôi lợn Được sự đồng ý của cơ sở thực tập

và dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Hà Thị Hảo em tiến hành nghiên cứu

đề tài:“Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoan sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Tân Thái - Đồng Hỷ - Thái Nguyên và so sánh hiệu quả của hai loại thuốc kháng sinh QM - Neolin, Enrofloxacin”

Trang 23

* Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại Tân Thái - Đồng Hỷ - Thái Nguyên

- Biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con

- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của 2 loại thuốc kháng sinh QM - Neolin, và Enrofloxacin

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con

* Đặc điểm về sinh trưởng phát dục của lợn

Lợn con hay gia súc nói chung trong thời kỳ phát triển của bào thai mà

phát triển tốt thì sự phát triển sau này cũng sẽ tốt

Theo Trần Văn Phùng và CS (2004)[20] sau sơ sinh lợn con tăng trọng nhanh, sinh trưởng với tốc độ cao, so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Theo Vũ Đình Tôn và CS (2006) [25], khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan tỉ lệ thuận với nhau khá chặt chẽ Khối lượng sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà còn liên quan tới tỉ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỉ lệ sống đến cai sữa Ở lợn ngoại khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35 kg thì tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 75% Trong khi khối lượng sơ sinh 0,57 kg hoặc nhỏ hơn nữa chỉ sống sót hơn 2% khi cai sữa Thời kỳ này chủ yếu là sự thành thục của cơ quan sinh dục đực nên cần phải tiến hành thiến

Theo Lê Hồng Mận và CS (2004)[9], lợn con lúc bú sữa sinh trưởng

Trang 24

nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm xuống Điều này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin giảm Thời gian giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng lợn con Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn này bằng cách cho lợn tập ăn sớm và bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3- 7 ngày tuổi

Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14 g protein/kg khối lượng Trong khi đó, lợn lớn chỉ tích luỹ được 0,3- 0,4 g protein/kg khối lượng Qua đó, ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch khá lớn Mặt khác, ta biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính Vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành

Theo Nguyễn Khánh Quắc và CS (1993)[24] cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều Hàm lượng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21- 56 ngày tuổi giảm không đáng kể

* Đặc điểm về cơ quan tiêu hóa

Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển thể hiện sự tăng nhanh dung tích

dạ dày, ruột non, ruột già Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa xellulozơ khá cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi

Trang 25

Mặc dù sinh trưởng nhanh nhưng các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Vì vậy, lợn con phản ứng chậm với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa Do một số men tiêu hóa thức ăn ở lợn con chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh như Pepsin, Amilaza, Maltaza Saccaraza Nhìn chung, Lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa các chất bổ sung kém (Trần Văn Phùng và CS (2004) [20])

- Đặc điểm tiêu hóa ở dạ dày

Theo Phan Đình Thắm, (1995)[37] lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong

dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do Lúc này lượng axit nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này gọi là Hypoclohydric và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con Trong dịch vị của lợn con mới đẻ trong khoảng 20 - 25 ngày thiếu HCl Lợn con 3 - 4 tuần tuổi thì dạ dày chưa có HCl tự do, vì lúc này lượng HCl tiết ra ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch dạ dày Hiện tượng thiếu HCl này là đặc điểm quan trọng trong quá trình tiêu hóa ở dạ dày Dịch vị thu được ở lợn con 7 ngày tuổi có pH 2,8;

ở 10 ngày tuổi có pH 2,8 - 3,1; ở 12 ngày tuổi có pH 2,7; ở 20 ngày tuổi có

pH 2,4 - 2,7 Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày có điều kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu

hóa ở lợn con như bệnh phân trắng, tiêu chảy

Cũng do thiếu HCl tự do trong giai đoạn này nên men Pepsin không hoạt động, khả năng tiêu hóa thuộc về men Lipaza và Kimuzin Hai men này

tăng dần từ lúc sơ sinh đến 3 tuần tuổi sau đó giảm dần Sức tiêu hóa của dịch

vị tăng dần theo tuổi một cách rõ rệt Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh nhất, dịch vị thu được khi cho ăn thức

ăn hạt chứa HCl nhiều hơn và sức tiêu hóa nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa

Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con, vì

nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thường nữa Việc cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triến

Trang 26

nhanh và sớm hoàn thiện, vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào thành dạ dày tiết ra HCl

ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị

Theo Trần Văn Phùng và CS (2003) [20], dịch tụy có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiêu hóa Nó phân giải từ 60 - 80% protein, gluxit và lipit trong thức ăn Dịch tụy bao gồm các bicacbonat và chứa các enzyme giúp cho quá trình tiêu hóa tinh bột, protein, chất béo…Các enzyme đó là Trypsine, Cacboxypeptiaza, Elactaza, Dipeptitaza, Protaminaza, Nucleaza…

Lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng thức dịch tụy phân tiết trong một ngày

là 150 - 300ml Sự phân tiết dịch tụy tăng theo tuổi: Ở 40 ngày tuổi là 460ml,

3 tháng tuổi là 3 - 5 lít và 7 tháng tuổi là 10 lít Trong thời gian thiếu HCl, hoạt tính của dịch tụy rất cao bù lại khả năng tiêu hóa kém của dạ dày

Dịch mật do tuyến mật tiết ra, một ngày đêm lợn tiết khoảng 2,4 - 3,8 lít dịch mật Dịch mật làm giảm sức căng bề mặt ngoài của dung dịch và làm nhũ hóa mỡ, ở dạng này mỡ dễ bị tác động của Lipaza

- Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở ruột

Theo Nguyễn Như Pho, (1999)[18] cho biết: Phân tiết các men tiêu hóa

ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu hóa được protein của gạo, bột cá

Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ

dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao xuống từ dạ dày Trong thành phần của dịch ruột chứa các men tiêu hóa như: Aminopeptidaza, Dipeptidaza, Mantaza, Lactaza và Enterokinaza (men này

có tác dụng hoạt hóa men Trypsin ở dạng không hoạt động (Trypsinnogen)) Các men này đều tham gia tích cực vào quá trình tiêu hóa thức ăn

Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chưa triệt để Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nước và chất khoáng Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ

12 - 16 giờ Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein được tiêu hóa Các chất không tiêu hóa hết được các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc

Trang 27

như Crezol, Phenol… Các sản phẩm này được hấp thu vào máu và được giải độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, được tạo thành khuôn phân và được thải ra ngoài

Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển rất nhanh, song khả năng chống

đỡ bệnh tật lại rất kém Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và có các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hóa cho lợn con (giữ ấm, ẩm độ ổn định, tiêm phòng )

* Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt

Lợn con lúc mới sinh có khả năng điều hòa thân nhiệt kém, do nhiều nguyên nhân: Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt hoạt động kém

vì vỏ đại não phát triển chưa hoàn chỉnh, năng lực phản ứng còn yếu Đồng thời lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt để chống rét hạn chế và khả năng giữ nhiệt kém Ngoài ra, do diện tích bề mặt cơ thể lợn so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên dễ bị mất nhiệt khi lạnh (Trần Văn Phùng và CS (2004)[21] )

Trong bào thai, dinh dưỡng chuyển qua hệ tuần hoàn nhau thai, khi đẻ nguồn dinh dưỡng đó mất đột ngột Vì vậy trong vòng 30 phút đầu tiên, thân nhiệt lợn con giảm đột ngột từ 38,9 - 39,10C xuống còn 36,7 - 37,10C Sau khi

đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt ổn định Nếu 4 giờ sau đẻ, lợn con mới được bú sữa đầu thì phải mất 18 - 24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường

Nhiệt độ cao hay thấp đều ảnh hưởng tới quá trình điều tiết thân nhiệt của lợn con Nhiệt độ bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tỏa nhiệt và tốc

độ sinh trưởng của lợn con Khi nhiệt độ ngoại cảnh là 55 - 750

F (13 - 230C) thì thân nhiệt của lợn con có thể bị giảm từ 3 - 120F Nếu nhiệt độ môi trường

< 550F thì sau 2 ngày thân nhiệt của chúng trở lại bình thường; nếu nhiệt độ môi trường giảm xuống dưới 250F thì sau 10 ngày thân nhiệt của lợn con mới trở lại bình thường (Lê Hồng Mận và CS, (2004)[9])

Nhiệt độ là mét chỉ tiêu ảnh hưởng lớn đến đặc điểm, chức năng của cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con Nếu nhiệt độ thấp lợn con mất nhiều nhiệt và

Trang 28

có thể dẫn tới chết Trong tuần lễ đầu thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Ở hai ngày đầu nhiệt độ từ 5 - 60C lợn con

có thể chết do lạnh và mất nhiệt Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh, nhất là bệnh ỉa phân trắng

Các kết quả nghiên cứu của Cù Xuân Dần, (1996) [5] cho biết: khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con phụ thuộc nhiều vào tuổi hơn là khối lượng lợn Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 380C, sau 10 ngày tăng lên 39,5 đến 39,70C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10C

Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70%

Các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy rằng khả năng chịu đựng và sự thích nghi của lợn con đối với môi trường bên ngoài còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con bị hạn chế, và

có thể dễ nhiễm bệnh dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp Trong chăn nuôi, chúng ta thường sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để hạn chế những tác động của các yếu tố nói trên, đối với lợn con như điều hòa nhiệt độ và ẩm độ ở tiểu khí hậu chuồng nuôi sao cho thích hợp, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi

* Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch

Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do vậy, các mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Theo Barbara Straw (2001)[43], hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển

ở thai lợn chửa khoảng 50 ngày Khoảng 70 ngày tuổi thai lợn có thể phản ứng với các tác nhân lạ với sự sản sinh ra kháng thể Tuy nhiên trong nhiều

Trang 29

trường hợp thì môi trường dạ con là vô khuẩn và lợn con đẻ ra không có kháng thể nào Vì vậy lợn con mới sinh phụ thuộc vào kháng thể có chứa trong sữa non trong vài tuần đầu, cho tới khi hệ thống miễn dịch có thể phản ứng thách thức với kháng nguyên từ nhiều tác nhân lây nhiễm gặp phải trong môi trường

Ở lợn con mới đẻ, trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể nhưng lượng kháng thể tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Do vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và CS (2004)[21], trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới để hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 - 19 %, trong đó γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%), γ - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu γ - globulin bằng con đường ẩm bào Phân tử γ - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột non tốt nhất trong 24h đầu sau khi đẻ ra Do đó lợn con được

bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Những con lợn không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh tỷ lệ chết là rất cao

Theo Phùng Ứng Lân (1996) [10], lợn con mới đẻ ra trong máu không

có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu tăng lên một cách nhanh chóng, sau 3 -

4 tuần lại giảm, đến 5 - 6 tháng nó lại tăng lên và đạt đến chỉ số bình thường

Trang 30

khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng phát dục nhanh Đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7- 10 ngày tuổi

Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: Là thời kỷ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi từ bú sữa mẹ đến cai sữa hoàn toàn Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này nếu chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ

bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp

2.2.1.2 Những hiểu biết về vi khuẩn E.coli

* Đặc điểm hình thái

Hình thái: E.coli là một trực khuẩn ngắn, hai đầu tròn, kích thước

2-3µm x 0,6µm những loại này thường gặp trong canh khuẩn già Phần lớn

E.coli di động có lông ở quanh thân, nhưng một số không thấy di động Vi

khuẩn không sinh nha bào, có thể sinh giáp mô, dưới kính hiển vi điện tử có thể quan sát thấy cấu trúc Pili mang kháng nguyên bám dính

Khi nhuộm Gram thì thấy vi khuẩn bắt màu Gram âm, có thể bắt màu sẫm ở hai đầu Lấy vi khuẩn từ các khuẩn lạc nhầy để nhuộm thì có thể thấy giáp mô, khi soi tươi thì không thấy được

* Đặc điểm nuôi cấy:

Trực khuẩn đường ruột ưa khí và nghi kị khí mọc trên môi trường dinh dưỡng bình thường, chúng vẫn có khả năng sinh sản cao thậm chí trong môi trường nước sinh lý ở nhiệt độ 15-16oC nhưng nhiệt độ thích hợp nhất là từ

Trang 31

37-38oC Độ pH thích hợp nhất là từ 7,2-7,4 Chúng có thể tồn tại ở môi trường toan tính hoặc kiềm tính

Trên môi trường dung dịch đặc như thạch thịt pepton, qua 18h - 24h bồi dục trong tủ ấm, chúng mọc thành những khuẩn lạc ẩm ướt, ánh màu trắng xanh, có kích thước trung bình dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên, có nếp nhăn, bề mặt bóng

Trong môi trường lỏng, trực khuẩn đường ruột sinh sản và làm môi trường vẩn đục, có màu trắng, khí lắc mạnh cặn tan đều trong môi trường Ngoài ra còn

có một số biến chủng của chúng tạo trên bề mặt môi trường một màng mỏng

Trên môi trường phân biệt - môi trường Endo, chúng mọc thành những khuẩn lạc có màu thẫm tím hoặc màu đen

*Đặc tính sinh vật học

Trực khuẩn đường ruột lên men lactoza tạo axit và sinh hơi như các đường: glucoza, mannit, duxit, sachroza Phần lớn chúng tạo thành indol làm vón sữa, kết quả dương tính với phản ứng methyrot, không mọc trên môi trường axit, không phân hủy ure, không làm rữa gelatin, làm vón sữa, làm xanh methylen trong sữa

*Cấu trúc kháng nguyên

Vi khuẩn E.coli có 3 kháng nguyên là O,H,K

-Kháng nguyên O là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun ở 100oC trong 2h30’ vẫn giữ được kháng nguyên, khả năng ngưng và kết hợp

-Kháng nguyên K: Là kháng nguyên bề mặt (hoặc kháng nguyên vỏ, hoặc kháng nguyên bao) chúng có 3 loại được ký hiệu là L,B, A

+ Kháng nguyên L: Không chịu được bị phân hủy ở nhiệt độ 100oC trong vòng 1 giờ trong điều kiện đó kháng nguyên mất khả năng ngưng kết, kết tủa và không giữ được tính kháng nguyên

+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên chịu được nhiệt, bị phá hủy với nhiệt độ 100oC trong vòng 1 giờ, nhưng khác với kháng nguyên L, khi bị đun kháng nguyên B chỉ bị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa Kháng nguyên này rất đặc hiệu cho các type trong các nhóm trực khuẩn đường ruột

Trang 32

+ Kháng nguyên A là kháng nguyên vỏ chịu nhiệt không bị phá hủy khi đun ở nhiệt độ 100o

C trong vòng 2h30’, tính kháng nguyên, khả năng ngưng kết, kết hợp đều được giữ nguyên

- Kháng nguyên H: là kháng nguyên không có tính chịu nhiệt cao, vì vậy khi đun ở nhiệt độ 100oC trong 2h30’ tính kháng nguyên, khả năng ngưng kết, kết tủa đều bị phá hủy Tất cả các kháng nguyên O khác nhau thuộc E.coli đều có một loại type kháng nguyên tốt

Mặc dù trong thực tế trực khuẩn đường ruột có rất nhiều serotyp nhưng chỉ có một nhóm trong số đó được xác định là nguồn gây các bệnh tiêu hóa

Ở lợn thường do các serotyp sau gây bệnh: 041, 0139, 0138, 0149,

0147, 086, 026, 015, 08, 0177, 0115, 09, 0101

*Độc tố

- Vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố

+ Ngoại độc tố: là chất không chịu được nhiệt dễ bị phá hủy ở nhiệt độ

56oC trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của Formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây hoại tử

+ Nội độc tố: là yếu tố gây độc chủ yếu của trực trùng đường ruột,

chúng có tế bào vi khuẩn và gắn vào trong tế bào vi khuẩn một cách chặt chẽ Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: như phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học, chiết xuất bằng axit trichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym

• Độc tố chịu nhiệt (ST = heat - stable - toxin): chịu được nhiệt độ

100oC trong vòng 15 phút

• Độc tố chịu nhiệt kém (LT = heat - labile - toxin): vô hoạt ở 60o

C trong 15 phút

• Độc tố ST chia làm 2 nhóm: Sta và STb, dựa trên tính hòa tan trong methanol và hoạt tính sinh học

• Độc tố LT có trọng lượng phân tử cao nó gồm 5 nhóm B có khả năng bám dính trên bề mặt biểu bì của bề mặt ruột và một nhóm A có hoạt tính sinh học cao Ngoài ra nó còn có veryocytotoxin (VT) cũng tham gia vào quá trình gây bệnh của E.coli

Trang 33

*Sức đề kháng:

Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao, ở 60oC E.coli chết trong vòng 15 phút và chết ngay ở nhiệt độ 100oC Trong đất và nước E.coli chỉ sống được vài tháng, các chất tiêu độc như: axit phenol, formol, crezin, vôi, axit nồng độ thường dùng cũng làm E.coli bị chết rất nhanh Chúng có độ nhạy cảm với nhiều loại kháng sinh

* Đặc tính gây bệnh

Bình thường vi khuẩn E.coli sống cộng sinh thường trực trong đường ruột gia súc, gia cầm Bệnh xảy ra do nhiễm trùng kế phát dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Dinh dưỡng, sự thiếu hụt kháng thể sữa đầu, thời tiết khí hậu, nhiệt độ, ẩm

độ, trạng thái stress, loạn khuẩn đường ruột, sự có mặt của chủng E.coli độc…

E.coli trở thành tác nhân gây bệnh khi sản sinh ra các yếu tố gây bệnh như

enterotoxin, endotoxin, verotoxin, yếu tố bám dính, yếu tố gây dung huyết

Theo Cù Hữu Phú và CS (2004) [19]: Bệnh tiêu chảy ở lợn do

E.coli gây ra đã và đang là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các tác

giả trên thế giới Các chủng vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC (Entero

Toxigenic E.coli) tham gia vào quá trình gây bệnh nhờ 2 đặc tính:

+ Khả năng bám dính vào các tế bào biểu mô ruột nhờ các yếu tố bám dính ở

bề mặt vi khuẩn (fimbriae) như: F4 (K88), F5 (K99), F6 (9871), F41, F17 và F18

+ Khả năng sinh sản một hoặc nhiều độc tố đường ruột bao gồm độc tố không chịu nhiệt (LT1 và LT2) và độc tố chịu nhiệt (ST1 và ST2) (ST- Heat stable toxin; LT- Heat labile toxin)

Theo Trương Quang (2005) [23], tỷ lệ các chủng E.coli phân lập từ các lợn bị tiêu chảy có độc lực mạnh và các yếu tố gây bệnh cao hơn rất nhiều so với lợn không bị tiêu chảy, cụ thể: Yếu tố bám dính là 93,33% so với 33,33%, cũng như vậy khả năng dung huyết là 53,33% so với 25,92%, độc tố chịu nhiệt (ST) là 90,0% so với 14,81%, độc tố không chịu nhiệt (LT) là 90,0% so với 11,11%, cả hai loại ST+LT là 73,33% so với 1,4%, độc lực mạnh (giết chết 100% chuột) là 90,0%

Một số chủng E.coli và biến chủng là nguyên nhân gây bệnh cho động

vật Hiện nay đã có rất nhiều thành tựu về xác định các serotype E.coli

Trang 34

Căn cứ vào sự tác động của các yếu tố gây bệnh khi cảm nhiễm E.coli, tuổi lợn mắc bệnh và triệu chứng mắc bệnh do E.coli gây ra, người ta chia bệnh do E.coli gây ra ở lợn thành 2 loại: Bệnh đường ruột do E.coli gây ra (thường gây tiêu chảy) và bệnh nhiễm trùng máu (thường gây bệnh phù đầu) Trong bệnh đường ruột do E.coli gây ra, căn cứ vào tuổi mắc bệnh của lợn và triệu chứng bệnh mà chia làm 2 giai đoạn: Bệnh phân trắng lợn con theo mẹ

và bệnh tiêu chảy của lợn (Lê Văn Tạo, (2007) [31])

2.2.1.3 Những hiểu biết về bệnh lợn con phân trắng

* Nguyên nhân

Theo Nguyễn Xuân Bình, (1996)[2], bệnh lợn con phân trắng thường xảy ra với heo con từ 2-30 ngày tuổi Do nhiều nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn tiết dịch nên chất đạm trong sữa là casein không được tiêu hóa khi bị thải

ra ngoài nên phân có màu trắng Các nguyên nhân đó là:

Do khẩu phần ăn của lợn mẹ thiếu chất dinh dưỡng Vitamin đặc biệt là vitamin A Nên sau khi sinh sữa mẹ thường thiếu chất, heo con thường bị thiếu chất, duy dinh dưỡng, màng nhầy của ruột không được bảo vệ nên rất rễ

bị cảm nhiễm với vi trùng colibacille, salmonella gây bệnh tiêu chảy

Do thay đổi đột ngột khẩu phần ăn của heo mẹ trong thời kỳ cho con

bú hoặc sữa mẹ quá nhiều heo con bị dư chất đạm không tiêu hóa được trôi xuống ruột già, ở đó có một số vi khuẩn như E.coli sử dụng, phân hủy chất đạm, sản sinh ra một số độc tố gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy

Do thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao, làm cơ thể heo con mất cân bằng giữa sản nhiệt và truyền nhiệt Do đó sẽ tiêu hao năng lượng của cơ thể để chống lạnh Nếu lạnh kéo dài thường xuyên đường huyết

sẽ giảm xuống, sự giảm xuống đường huyết độ ngột gây rối loạn cơ năng tiết dịch và nhu động của dạ dày, ruột dẫn tới rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy

Do thiếu các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Co vì trong thực tế heo con muốn phát triển bình thường một ngày cần cung cấp 7-10mg Fe, nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp 1mg Fe/ ngày Như vậy mỗi ngày cần bổ sung thêm 6-9mg Fe, khi thiếu Fe trong cơ thế sẽ ảnh hưởng tới chức năng của một số bộ phận có quan hệ sinh trưởng và phát triển của heo con, không chỉ giảm huyết

Trang 35

cầu tố mà giảm cả hoạt huyết của các men có chứa Fe Các men đó tham gia vào quá trình tổng hợp đạm và các chất tế bào quan trọng khác Vì vậy, thiếu

Fe là một nguyên nhân dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quan trong cơ thể nhất là bộ máy tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy

Theo Trương Lăng, (2004) [11] lợn từ khi sinh đến 20 ngày tuổi pH dịch vị trung tính không có axit đặc trưng là HCl tự do nên không đủ khả năng tiêu hóa Protein Nhược điểm này có thể là nguyên nhân phát sinh bệnh Đối với lợn con 1 tháng tuổi trở lên hàm lượng HCl và men pepsin dịch vị tăng nên tỷ lệ cảm nhiễm của bệnh giảm rõ rệt

Theo Erwyn R Miler, (2001) [44] cũng nêu ra một số nguyên nhân gây bệnh

Một số các yếu tố môi trường và ký chủ ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm E.coli ở lợn sơ sinh Dạ dày và ruột của lợn con nhanh chóng bị tràn ngập vi trùng, ngay sau khi sinh, rất nhiều trong số chúng "bất hại" nhưng nếu xuất hiện với số lượng lớn E.coli lợn con có thể bị nhiễm bệnh sau khi sinh

Số lượng lớn E.coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu ẩm ướt, bẩn và thông thoáng kém Tuy nhiên nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E.coli Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ E.coli/1ml phân lỏng

Nhiệt độ có thể là ảnh hưởng môi trường quan trọng nhất làm lợn khỏe lên Lợn con mẫn cảm lớn với cái lạnh và yếu tố stress này làm giảm sức đề kháng của lợn với các bệnh kể cả E.coli

Trong các tài liệu của các tác giả Phạm Sỹ Lăng và CS (1995) [13], Nguyễn Huy Hoàng, (1996) [7], Trương Lăng, (2004) [11], Phạm Sỹ Lăng và

CS (1997) [14] cũng có nhận xét chung về nguyên nhân gây bệnh nhưng chủ yếu do 2 nguyên nhân chính là:

+ Do vi khuẩn

+ Do các nguyên nhân không phải vi khuẩn

* Đặc điểm dịch tễ của bệnh

Đây là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn mới sinh ở

21 ngày tuổi Có con mắc sau khi sinh ngày 2-3 giờ và một số con mắc

Ngày đăng: 05/06/2016, 08:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Bình, Đỗ Văn Trung (2008), “Hiệu quả của vaccine chuồng (Autovaccine) trong thực nghiệm phòng bệnh phân trắng lợn con trên thực địa”, Tạp chí KHKT Thú y, XV (6), trang 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của vaccine chuồng (Autovaccine) trong thực nghiệm phòng bệnh phân trắng lợn con trên thực địa”," Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Đặng Văn Bình, Đỗ Văn Trung
Năm: 2008
2. Nguyễn Xuân Bình (1996), Điều trị bệnh cho heo nái, heo con, heo thịt, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, trang 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh cho heo nái, heo con, heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1996
3. Đào Xuân Cường (1981), “Bệnh lợn con ỉa phân trắng và cách phòng trị bằng vi sinh vật”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, trang 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con ỉa phân trắng và cách phòng trị bằng vi sinh vật”," Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Đào Xuân Cường
Năm: 1981
4. Đỗ Trung Cứ, Trần thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên (2002), “Sử dụng chế phẩm sinh học Biosubtyl để phòng và điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”, Tạp chí KHKT Thú Y, Tập 7, số 2/2000, trang 2- 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm sinh học Biosubtyl để phòng và điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa"”, Tạp chí KHKT Thú Y
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Trần thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2002
5. Cù Xuân Dần (1996), “Một số đặc điểm sinh lý của lợn con và lợn con ỉa phân trắng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, trang 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh lý của lợn con và lợn con ỉa phân trắng”", Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Cù Xuân Dần
Năm: 1996
6. Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002), “Chế tạo thử nghiệm một số chế phẩm sinh học phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do E.coli và Cl.pefringen”, Tạp chí KHKT thú y, IX (1), trang 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tạo thử nghiệm một số chế phẩm sinh học phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do E.coli và Cl.pefringen”," Tạp chí KHKT thú y
Tác giả: Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình
Năm: 2002
7. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Đồng Tháp, trang 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự trị bệnh cho heo
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1996
8. Lý Thị Liên Khai (2001), “Phân lập, xác định độc tố đường ruột của các chủng gây tiêu chảy cho lợn con”, Tạp chí KHKT Thú y, số 2, trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, xác định độc tố đường ruột của các chủng gây tiêu chảy cho lợn con”," Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Lý Thị Liên Khai
Năm: 2001
9. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004), Chăn nuôi gia súc gia cầm ở Trung Du miền núi - kỹ thuật chăn nuôi lợn, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội.Trang 14- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia súc gia cầm ở Trung Du miền núi - kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2004
10. Phùng Ứng Lân (1996), Chứng ỉa chảy ở lợn con theo mẹ,Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng ỉa chảy ở lợn con theo mẹ
Tác giả: Phùng Ứng Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
11. Trương Lăng, Xuân Giao (1999), Hướng dẫn và điều trị các bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn và điều trị các bệnh ở lợn
Tác giả: Trương Lăng, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
12. Trương Lăng (2004), Cai sữa sớm cho lợn con, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cai sữa sớm cho lợn con
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995), Phòng và trị bệnh cho lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh cho lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
14. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đình Lân (1997), Cẩm nang bệnh lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bệnh lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đình Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
15. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Công ty Dược và vật tư thú y - 88 Trường Chinh - Đống Đa - Hà Nội, trang 28 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Năm: 2004
16. Hồ Văn Nam và CS (1994), “Tình hình nhiễm Salmonella và vai trò của Salmonella trong bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”, Tạp chí KHKT thú y, Hộ thú y Việt Nam (số 2), Trang12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm Salmonella và vai trò của Salmonella trong bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”, "Tạp chí KHKT thú y, Hộ thú y Việt Nam
Tác giả: Hồ Văn Nam và CS
Năm: 1994
17. Sử An Ninh (1993), “Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, ẩm độ thích hợp trong phòng trị bệnh lợn con phân trắng”, Kết quả nghiên cứu khoa học, Khoa CNTY - Trường ĐH Nông Nghiệp 1 Hà Nội, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội, trang 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, ẩm độ thích hợp trong phòng trị bệnh lợn con phân trắng”, "Kết quả nghiên cứu khoa học
Tác giả: Sử An Ninh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1993
18. Nguyễn Như Pho (1999), “Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh, hóa học của chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp điều trị”, Tạp chí KHKT thú y 1996 - 2000, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, trang 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh, hóa học của chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp điều trị”", Tạp chí KHKT thú y 1996 - 2000
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
19. Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Thiện, Đỗ Ngọc Thúy (2004), “Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Samonella ở lợn con mắc tiêu chảy”, Kết quả nghiên cứu KHKT Thú y. Nxb Nông Nghiệp Hà Nội, trang 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Samonella ở lợn con mắc tiêu chảy”, "Kết quả nghiên cứu KHKT Thú y
Tác giả: Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Thiện, Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
20. Trần Văn Phùng, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 16- 23- 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Kết quả sản xuất của trại Tân Thái từ năm 2011 - 10/2013 - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 1.2. Kết quả sản xuất của trại Tân Thái từ năm 2011 - 10/2013 (Trang 13)
Bảng 1.3. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn thịt, lợn hậu bị - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 1.3. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn thịt, lợn hậu bị (Trang 17)
Bảng 1.4. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 1.4. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 19)
Sơ đồ bố trí điều trị - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Sơ đồ b ố trí điều trị (Trang 50)
Bảng 2.1. Tỷ lệ chết và mắc bệnh phân trắng lợn con qua các năm của Trại  Năm  Số con - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 2.1. Tỷ lệ chết và mắc bệnh phân trắng lợn con qua các năm của Trại Năm Số con (Trang 52)
Bảng 2.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 2.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi (Trang 57)
Bảng 2.7. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai phác đồ - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 2.7. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai phác đồ (Trang 61)
Bảng 2.8. Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 2.8. Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn (Trang 64)
Bảng 2.9. Chi phí thuốc kháng sinh trong quá trình điều trị bệnh phân - Tình Hình Mắc Bệnh Phân Trắng Lợn Con Giai Đoạn Sơ Sinh Đến 21 Ngày Tuổi Tại Trại Tân Thái – Đồng Hỷ - Thái Nguyên Và So Sánh Hiệu Quả Của Hai Loại Thuốc Kháng Sinh Qm – Neolin, Enrofloxacin
Bảng 2.9. Chi phí thuốc kháng sinh trong quá trình điều trị bệnh phân (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w