1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chính sách đối ngoại đổi mới và quan hệ quốc tế của việt nam

17 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 33,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM 1.1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ THẾ GIỚI NHỮNG NĂM 80 VÀ ĐẦU THẬP KỶ 90 Sau những năm 80, quan hệ giữa Liên Xô Mỹ đã có dấu hiểu khởi sắc chuyển từ đối đầu sang đối thoại.Hai nước đã tiến hành cuộc họp thượng đinh giữa RiGin va GocoBaChốp, cuộc họp thượng đỉnh này đã giúp hai nước kí kết thành công trên các lĩnh vực kinh tế thương mại ,văn hóa, khoa học kĩ thuật, quan trọng hơn là hai nước ký kết hiệp ước thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu âu . Cũng từ năm 1987, hai nước Mỹ và Liên Xô đã thoả thuận giảm một bước quan trọng cuộc chạy đua vũ trang, từng bước chấm dứt cuộc diện “Chiến tranh lạnh”, cùng hợp tác với nhau giải quyết các cụ tranh chấp và xung đột quốc tế. Cuối năm 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Busơ và GoocBaChốp tại đảo Manta, hai nước Xô Mỹ đã chính thức tuyên bố chấm dứt cuộc “chiến tranh lanh” kéo dài trên 40 năm giữa hai nước này. Còn ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương kinh tế phát triển rất năng động, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định như xung đột ở Triều Tiên, tranh chấp quần đảo CuRin giữa Nhật Bản và Liên Xô, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải ở biển Đông và căng thẳng ở eo biển Đài Loan... Trong khu vực Đông Nam Á cũng chứa đựng nhiều nguy cơ xung đột bất ổn, trong đó vấn đề Campuchia. Những phản ứng từ của các ASEAN, Trung Quốc và các nước phương Tây khác cho rằng Việt Nam xâm lược Campuchia, họ tiến hành các hoạt động làm cho tình hình khu vực thêm căng thẳng. Trung Quốc cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đưa quân vào Việt Nam gây nên cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc nước ta. Một số nước ASEAN cô lập nước ta ở các diễn đàn, tổ chức quốc tế... Về phía Việt Nam, chúng ta trước sau vẫn khẳng định việc đưa quân vào Campuchia là giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đuổi bọn diệt chủng Pol Pot

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Những năm cuối thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của bộ phận lớn làm thay đổi

cơ bản cục diện chính trị của thế giới Bên cạnh đó, chủ nghĩa tư bản tận dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nên đã thích nghi và vẫn tiếp tục phát triển

Trật tự thế giới hai cực tan dã, quan hệ quốc tế chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, từ đó làm nảy sinh xu hướng đa dạng hoá, đa phương hoá trong tiến trình hội nhập toàn cầu Hoà bình, ổn định hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia Toàn cầu hoá về kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia,kinh tê được ưu tiên phát triển và trở thành chủ đề chính trong quan hệ quốc tế hiện nay

Trước bối cảnh quốc tế và xu thế chung của thế giới đang diễn ra như vậy, các quốc gia đều phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình để thích ứng với tình hình mới Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó

Chính sách đối ngoại là một bộ phận hợp thành đường lối đổi mới của Việt Nam trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh Được khởi xướng từ năm 1986 và sau hơn 10 năm thực hiện, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đã góp phần không nhỏ đến sự phát triển của đất nước, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nhân tố quốc tế, kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng và đi lên

Chính sách đối ngoại đổi mới là một trong những mốc đánh dấu thành tựu

to lớn của Việt Nam trong thế kỷ XX, tạo tiền đề cho Việt Nam vững bước đi vào thế kỷ XXI Với lý do đó cùng với ham muốn được tìm hiểu chính sách đối ngoại đổi mới và quan hệ quốc tế của Việt Nam giai đoạn này

Trang 2

NỘI DUNG

Chương I NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA

VIỆT NAM 1.1 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ THẾ GIỚI NHỮNG NĂM 80 VÀ ĐẦU THẬP

KỶ 90

Sau những năm 80, quan hệ giữa Liên Xô- Mỹ đã có dấu hiểu khởi sắc chuyển từ đối đầu sang đối thoại.Hai nước đã tiến hành cuộc họp thượng đinh giữa Ri-Gin va Goco-Ba-Chốp, cuộc họp thượng đỉnh này đã giúp hai nước kí kết thành công trên các lĩnh vực kinh tế thương mại ,văn hóa, khoa học- kĩ thuật, quan trọng hơn là hai nước ký kết hiệp ước thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu âu Cũng

từ năm 1987, hai nước Mỹ và Liên Xô đã thoả thuận giảm một bước quan trọng cuộc chạy đua vũ trang, từng bước chấm dứt cuộc diện “Chiến tranh lạnh”, cùng hợp tác với nhau giải quyết các cụ tranh chấp và xung đột quốc tế

Cuối năm 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Busơ và Gooc-Ba-Chốp tại đảo Manta, hai nước Xô - Mỹ đã chính thức tuyên bố chấm dứt cuộc

“chiến tranh lanh” kéo dài trên 40 năm giữa hai nước này

Còn ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương kinh tế phát triển rất năng động, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định như xung đột ở Triều Tiên, tranh chấp quần đảo Cu-Rin giữa Nhật Bản và Liên Xô, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải ở biển Đông và căng thẳng ở eo biển Đài Loan

Trong khu vực Đông Nam Á cũng chứa đựng nhiều nguy cơ xung đột bất

ổn, trong đó vấn đề Campuchia Những phản ứng từ của các ASEAN, Trung Quốc

và các nước phương Tây khác cho rằng Việt Nam xâm lược Campuchia, họ tiến hành các hoạt động làm cho tình hình khu vực thêm căng thẳng Trung Quốc cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đưa quân vào Việt Nam gây nên cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc nước ta Một số nước ASEAN cô lập nước ta ở các diễn đàn, tổ chức quốc tế Về phía Việt Nam, chúng ta trước sau vẫn khẳng

Trang 3

định việc đưa quân vào Campuchia là giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đuổi bọn diệt chủng Pol Pot

Tóm lại, hoà bình ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi búc xúc của các dân tốc và quốc gia trên thế giới Các nước giành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp mỗi nước

Tình hình đó tác động mạnh mẽ đối với việc hoạch định chính sách đối ngoại của các nước cũnh như ở Việt Nam Kiến định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng và Nhà nước ta khởi xưởng công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới chính sách đối ngoại trở thành một nội dung quan trọng đối với sự ngiệp phát triển của Việt Nam

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM SAU 1975 ĐẾN 1986.

Chiến thắng của Việt Nam sau 30/4/1975 là niềm vui thống nhất cả giang sơn về một mối Nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài để lại những khó khăn không nhỏ cho nhân dân

`Việt Nam: 1,1 triệu liệt sĩ, 60 vạn thương binh, 30 vạn người mất tích, gần

2 triệu người dân bị thiệt mạng, hơn 2 triệu người dân bị tàn tật và nhiễm chất độc hoá học

Hai cuộc chiến tranh biến giới phía Bắc (1979) và biên giới phía Tây Nam (1978) lấy đi thêm nhiều tài lực, vật lực của đất nước khiến cho nền kinh tế của Việt Nam đã khó khăn lại càng thêm khó khăn Mà hậu quả của nó là nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, lạm phát tăng phi mã (774,7%) năm

1986, nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp đình đốn

Thực tiễn tình hình trong nước và quốc tế đặt ra một yêu cầu khách quan, bức xúc có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp các mạng nước ta, là để làm xoay chuyển được tình thế, tạo ra một sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên bước đường đi lên Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo và chỉ đạo một cách mạnh mẽ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) được chuẩn bị và đáp ứng những yêu cầu đó

Trang 4

Tư tưởng cốt lõi của Đại hội VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện

có, khai thác mọi tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc

tế để phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa.1

Với ý nghĩa đó, chính sách đối ngoại đổi mới phải phá thế bao vây cấm vận,

cô lập của các thế lực thù địch từ đó lấy lại vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước phát triển, góp sức mình vào sự nghiệp chung của đất nước

Chương II QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI.

Mốc quan trọng nhất quyết định cho chính sách đối ngoại đổi mới là “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng” họp tại Hà Nội

Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật Đại hội VI đã thẳng thắn và khách quan chỉ ra những sai lầm thiếu sót trong chính sách kinh tế,

sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời

kỳ quá độ Sau khi nghiêm khắc kiểm điểm Đại hội cho rằng để khắc phục những sai lầm, khuyết điểm và những bất cập dẫn đến khủng hoảng Kinh tế - Xã hội đòi hỏi phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế Trong những năm tới nhiệm

vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là: “Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa”

Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta phải phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế với Campuchia và Lào Chúng ta cần tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa

1 4: TrÝch lÞch sö §¶ng CSVN - NXB Gi¸o dôc - 1997 trang 167

Trang 5

học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước khác

Tăng cường hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời tăng sự phối hợp với Liên Xô và các xã hội chủ nghĩa khác trong cuộc đấu tranh hoà bình và các mạng trên thế giới, trước hết là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng: “Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, đoàn kết và tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của ba dân tộc anh em”

Chúng ta tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế Chúng ta cũng mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác như Anbani, Triều Tiên

Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị Chúng ta chủ trương và ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình giữ các nước

có chế độ chính trị xã hội khác nhau, loại trừ chiến tranh xâm lược và mọi hình thức của chủ nghĩa khủng bố

Với Trung Quốc, Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung quốc bất kỳ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước,

vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới

Nhà nước ta chủ trương tăng cường và mở rộng quan hệ hữu nghị với Thuỵ Điển, Phần Lan, Pháp, Oxtraylia, Nhật Bản và với các nước phương Tây khác trên

cơ sở bình đẳng cùng có lợi Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ vì lợi ích của hoà bình ổn định ở Đông Nam Á

Đường lối đối ngoại đổi mới tiếp tục được khẳng định ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc

Trang 6

xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc.Cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp Trong điều kiện mới phải coi vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoàn bình Trước sau như một tăng cường đoàn kết và hợp tác với Liên Xô, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hợp tác Việt - Xô nhằm đáp ứng lợi ích của mỗi nước

Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, từng bước

mở rộng sự hợp tác Việt - Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng

Củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với Cu - Ba và các nước xã hội chủ nghĩa khác

Đảng cộng sản Việt Nam chủ trưng tăng cường quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân, góp phần tích cực vào sự đoàn kết và hợp tác giữa các Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mac - Lênin, đấu tranh vì những mục tiêu cao cả của thời đại

Đoàn kết với lực lượng đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xã hội - dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới

Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn

là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập, phát triển

Trang 7

Trước những thành tựu của đường lối đối ngoại đổi mới Đại hội VI và VII, Đại hội VIII tiếp tục đường lối đối ngoại đổi mới chỉ ra đường lối chính sách đối ngoại tới mọi chủ thể trên thế giới

Đại hội VIII chỉ rõ: “ Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệc tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển

Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm những giải pháp phù hợp giải quyết những vấn đề tồn tại và các tranh chấp, đảm bảo hoà bình, ổn định,

an ninh, hợp tác và phát triển

Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới Đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển ở Châu á, Châu Phi, Mỹ Latinh và phong trào không liên kết

Tăng cường quan hệ với các tổ chức của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác Tích cực hoạt động ở các diễn đàn quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu Ủng hộ cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân và các phương tiện giết người hàng loạt khác

2.2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI.

Chính sách đối ngoại đổi mới mà đại hội VI đề ra là kiên trì thực hiện nhiệm vụ chiến lược giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, tập

Trang 8

trung cao nhất, nhằm từng bước ổn định và tạo cơ sở cho phát triển kinh tế trong vòng 25 năm đến 30 năm (tức đến năm 2020), xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập của tổ quốc góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Đây là mục tiêu chiến lược và ích lợi cao nhất của toàn Đảng và toàn dân ta Chính sách đối ngoại đổi mới phải góp sức mình vào sự nghiệp chung đó

Ngay sau khi đưa chính sách đối ngoại vào thực hiện, Đảng và nhà nước đã

“đưa vấn đề Campuchia ra để giải quyết bằng con đường hoà bình” Việt Nam và ASEAN cùng tìm ra một giải pháp đồng bộ cho vấn đề này, từ đây 2 nhóm nước hiểu nhau hơn, tin tưởng nhau hơn Đây chính là thành công đầu tiên của chính sách đối ngoại đổi mới Bắt đầu từ thành công này tình hình ở Đông Nam Á được cải thiện từ đối đầu sang đối thoại, tạo xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác

Tháng giêng năm 1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước khác trong khu vực Ngày 22 tháng 7 năm 1992, Việt Nam tham ký hiệp ước thân thiện Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN

Có thể nói đây là một tiền đề quan trọng cho sự hội nhập của Việt Nam sau này Ngày 28/7/1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, đây là một thành công to lớn của ngoại giao Việt Nam, có ý nghiã quyết định cho tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam.Sau khi hội nhập ASEAN, Việt Nam đã trở thành nhân tố rất năng động của tổ chức này, sau sự tổ chức thành công của hội nghị cấp cao ASEAN tháng 12/1998 ở

Hà Nội, Việt Nam đã thể hiện được vai trò của nước minh

Năm 1994 thương mại 2 chiều đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 28% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam Đến năm 1996 tăng lên 6 tỷ USD chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu và 27% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Cho đến năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đang ở đỉnh cao thì các nước ASEAN vẫn chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu và 18% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 2

2 7: §HKTQD kinh tÕ quèc tÕ - NXB Thèng kª - Hµ Néi, 1998 trang 139

Trang 9

Tóm lại, việc gia nhập ASEAN của Việt Nam là hướng đúng Về kinh tế, ta

có thể tranh thủ được vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nước ASEAN tiên tiến Tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, mở rộng thị trường trong khu vực

*Đối với Trung Quốc

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng gần, có quan hệ hữu nghị văn hoá và lịch sử lâu dài Chúng ta luôn quý trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, với mong muốn khôi phục lại mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Trong yêu cầu để hai bên Việt - Trung có thể đi đến bình thường hoá quan hệ đó là thế giới đang tích cực chuyển từ đối đầu sang đối thoại, mọi vấn đề tranh chấp quốc tế, các quốc gia trên thế giới ngày càng đi theo xu thế giải quyết bằng thương lượng hoà bình và chỉ có hòa bình thì mới có thể “dồn sức cho phát triển kinh tế và mối quan hệ giữa hai nuocs mói phát triển bền vũng

Cùng với việc nối lại mối quan hệ ngoại giao hai nước còn tìm thấy ở nhau những tiềm năng có thể hợp tác được trong vấn đề kinh tế, như nhu cầu thị trường của hai bên đều lớn do hai nước cùng thi hành chính sách phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu là chính Việt Nam mong muốn được Trung Quốc giúp đỡ như trước kia,và giúp đỡ Việt Nam sửa chữa một số nhà máy xí nghiệp ,Phía Trung Quốc thì họ có nhu cầu về nhiên liệu về mặt này thì là thế mạnh của nước ta nên có thể đáp ứng được cho họ như than đá , Tuy nhiên các vấn đề cần giải quyết giữa hai nước là: vấn đề biên giới trên bộ, tranh chấp ở biển Đông, phân định vịnh Bắc

Bộ Đến ngày 30-12-1999, hai nước đã hoàn thành phân định 164 điểm còn tranh chấp biên giới trên bộ và ký kết Hiệp định biên giới trên bộ Còn những vấn đề còn lại như: phân định vịch Bắc Bộ và những vấn đề khác do lịch sử để lại.Trong chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng cộng sản Lê Khả Phiêu đầu năm 1999, hai bên đã thảo luận thống nhất về nguyên tắc quan hệ Việt - Trung

từ nay sẽ phát triển theo tinh thần 16 chữ:

“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện

Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”

Trang 10

* Đối với Mỹ.

Một thành công của công tác đối ngoại trong giai đoạn đổi mới là việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ vào ngày 11-7-1995, khép lại một quá khứ đau thương và mở ra tương lai trong quan hệ hai nước

Trước sự thay đổi của thế giới, trước chính sách đối ngoại đổi mới rộng mở cùng tồn tại hoà bình của Việt Nam (1986) và những thiện chí của Việt Nam trong vấn đề POW và MIA (người Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam), chính quyền Mỹ đã phải thay đổi chính sách của mình, đã tuyên bố xoá bỏ cấm vận đối với Việt Nam (3-2-1994) Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ra tuyên bố hoan nghênh tuyên bố của Chính phủ Mỹ và bày

tỏ sẵn sàng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”

Ngày 11-7-1995, Tổng thống Mỹ Clinton tuyên bố về việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam “Hôm nay tôi loan báo việc bình thường hoá các quan hệ ngoại giao với Việt Nam ”3

Đầu tháng 8/1995, Hoa Kỳ và Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và mở đại sứ quán ở thủ đô hai nước

Có thể thấy rằng chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam hiện nay là một bộ phận nằm trong chiếm lược toàn cầu của Mỹ Mỹ rất chú trọng đến vị trí chiến lược của Việt Nam ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong đó bao gồm cả Đông Nam Á

Nội dung chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay bao gồm những trọng điểm sau:

- Bình thường hoá quan hệ với Việt Nam giúp cho Mỹ có cơ hội xoá bỏ được những mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ Giải quyết hết những di sản của chiến tranh trước đây, đồng thời mở đường cho các nhà kinh doanh Mỹ thâm nhập thị trường Việt Nam buôn bán và đầu tư, đem lại thêm lợi nhuận, việc làm và lợi thế mới cho Mỹ trong cuộc cạnh tranh kinh tế và thương mại toàn cầu hiện nay

3 10: TrÝch Lu V¨n Lîi: 50 n¨m NGVN TËp II - NXB C«ng an nh©n d©n trang 280

Ngày đăng: 05/06/2016, 03:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w