Tiên mao trùng ký sinh trong máu của động vật có xương sống, được truyền từ động vật này sang động vật khác theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu thuộc họ mòng Tabanidae,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU THUỶ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH
DO LOÀI TIÊN MAO TRÙNG PHÂN LẬP TỪ TRÂU CỦA TỈNH TUYÊN QUANG TRÊN CHUỘT VÀ NGỰA THÍ NGHIỆM”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2013
Thái Nguyên - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp tại phòng thí nghiệm khoa Chăn nuôi Thú y Em luôn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giảng dạy dìu dắt em trong suốt thời gian qua
Lời đầu tiên em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo, cán bộ phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang, cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, cô giáo Th.s NCS Phạm Thị Trang đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa
luận này
Qua đây em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, dành những tình cảm vô cùng quý báu giúp em hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy, cô giáo trong trường và các thầy
cô trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công tác và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một bác sỹ thú y tương lai, ngoài việc phải trang bị cho mình những kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn thực tập thử thách về thực tế Chính vì vây thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng đối với các trường đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng
cố và hệ thống lại kiến thức đã học trong nhà trường đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, rèn luyện, nâng cao tay nghề, tích lũy kinh nghiệm chuyên môn, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất góp phần vào sự phát triển của nền nông nghiệp của nước ta
Thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian để mỗi sinh viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết về xã hội để khi ra trường sẽ trở thành những cán bộ kỹ thuật vừa có trình độ chuyên môn vừa có năng lực để công tác
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự phân công
và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo hướng dẫn, tôi đã tiến hành thí
nghiệm đề tài "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài
tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang trên chuột và ngựa thí nghiệm"
Đến nay thời gian thực tập đã kết thúc và khóa luận tốt nghiệp của tôi
đã hoàn thành Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm còn hạn chế nên kết quả của báo cáo khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy,
cô và bạn bè đồng nghiệp để khóa luận của em được đầy đủ và hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
CATT : Card Agglutination Test of Trypanosomiasis
cs : Cộng sự ELISA : Enzym Linked Immunosorbent Asay IFAT : Indirect Fluorescent Antibody Test KgTT : Kilogam thể trọng
PCR : Polymerrase Chain Reaction SAT : Slice Agglutination Test SDS : Sodium Dodecyl Sulfat
TMT : Tiên mao trùng
Tr : Trang VAT : Variable Antigen Type
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Kết quả định danh loài mao trùng ở trâu tại tỉnhTuyên Quang 41
Bảng 4.2 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 44
Bảng 4.3 Tần xuất xuất hiện T evansi trong máu chuột gây nhiễm 45
Bảng 4.4 Triệu chứng lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm 46
Bảng 4.5 Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 47
Bảng 4.6 Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do
gây nhiễm 48
Bảng 4.7 Khả năng gây bệnh của T evansi trên ngựa gây nhiễm 50
Bảng 4.8 Diễn biến thân nhiệt của ngựa gây nhiễm 51
Bảng 4.9 Một số triệu chứng lâm sàng ở ngựa gây nhiễm 54
Bảng 4.10 Sự thay đổi một số chỉ tiêu máu của ngựa gây nhiễm 55
Bảng 4.11 Bệnh tích đại thể của ngựa bị bệnh tiên mao trùng do
gây nhiễm 57
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cấu tạo cơ bản của T evansi 5
Hình 4.1 Hình ảnh gen Rotat 1.2 của loài tiên mao trùng ở Tuyên Quang 42
Hình 4.2 Trình tự gen Rotat 1.2 của tiên mao trùng ở Tuyên Quang 43
Hình 4.3: Đồ thị diễn biến thân nhiệt ngựa gây nhiễm số 1 sau 3 tuần
thí nghiệm 52
Hình 4.4: Đồ thị diễn biến thân nhiệt ngựa gây nhiễm số 2 sau 3 tuần
thí nghiệm 52
Hình 4.5: Đồ thị diễn biến thân nhiệt ngựa gây nhiễm số 3 sau 3 tuần
thí nghiệm 53
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 3
2.1.1.1 Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học 3
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng 4
2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi 6
2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò 8
2.1.2.1 Phân bố của bệnh 8
2.1.2.2 Vật chủ, vật môi giới truyền bệnh, phương thức lây truyền bệnh tiên mao trùng 9
2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh 12
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh tiên mao trùng 13
2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý 13
2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa 14
2.1.3.3 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng 16
2.1.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 17
2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng 17
2.1.4.2 Chuẩn đoán thí nghiệm 18
2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa 23
2.1.5.1 Phòng bệnh 24
2.1.5.2 Điều trị bệnh 26
2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
Trang 82.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 29
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 33
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 33
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 35
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 35
3.3 Nội dung nghiên cứu 35
3.3.1 Định loại tiên mao trùng ký sinh trên trâu của tỉnh Tuyên Quang 35
3.3.2 Khả năng gây bệnh của T evansi trên chuột bạch 35
3.3.3 Đặc tính gây bệnh của T evansi trên ngựa gây nhiễm 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu 36
3.4.1 Phương pháp định loại tiên mao trùng phân lập từ trâu bệnh ở
Tuyên Quang 36
3.4.2 Gây nhiễm T evansi phân lập từ trâu bị bệnh ở tỉnh Tuyên Quang cho động vật thí nghiệm (chuột bạch, ngựa) 36
3.4.2.1 Phương pháp gây nhiễm cho động vật thí nghiệm 36
3.4.2.2 Các phương pháp phát hiện TMT trong máu ngựa thí nghiệm 37
3.4.3 Phương pháp xác định thời gian T evansi bắt đầu xuất hiện trong máu động vật gây nhiễm 38
3.4.4 Phương pháp theo dõi thân nhiệt và triệu chứng lâm sàng 38
3.4.5 Phương pháp xác định thời gian động vật thí nghiệm chết sau gây nhiễm 38 3.4.6 Phương pháp mổ khám bệnh tích 38
3.4.7 Phương pháp xác định bệnh tích vi thể 39
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 39
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Kết quả định danh tiên mao trùng Trypanosoma gây bệnh trên trâu ở Tuyên Quang 41
4.2 Khả năng gây bệnh của T evansi trên chuột bạch 43
4.2.1 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 43
Trang 94.2.2 Tần xuất xuất hiện T evansi trong máu chuột gây nhiễm 45
4.2.3 Thời gian xuất hiện và triệu chứng lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm 46
4.2.4 Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 47
4.2.5 Bệnh tích ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 48
4.3 Đặc tính gây bệnh của T evansi trên ngựa gây nhiễm 50
4.3.1 Khả năng gây bệnh của T evansi trên ngựa gây nhiễm 50
4.3.2 Diễn biến thân nhiệt của ngựa gây nhiễm 51
4.3.3 Triệu chứng lâm sàng ở ngựa gây nhiễm 54
4.3.4 Sự thay đổi một số chỉ tiêu máu ở ngựa gây nhiễm 55
4.3.5 Bệnh tích đại thể của ngựa gây nhiễm 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Tồn tại 59
5.3 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
I Tài liệu tiếng Việt 60
II Tài liệu tiếng Anh 63
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội theo hướng hội nhập khu vực
và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng chiếm
vị trí hết sức quan trọng Chăn nuôi trâu, bò cung cấp thịt, sữa có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp nguồn phân hữu cơ lớn cho ngàng trồng trọt
Muốn phát triển chăn nuôi, song song với làm tốt công tác giống, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, cần phải làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh Khí hậu nước ta nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển Hiện nay, một số bệnh do vi khuẩn, virus cơ bản đã được ngăn chặn bằng cách tiêm phòng định kỳ các loại vacxin có chất lượng cao, nhưng các bệnh ký sinh trùng vẫn lưu hành đang gây tác hại âm ỉ và lâu dài Trong đó phải kể đến bệnh tiên mao trùng - một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm trên đàn trâu bò
Bệnh tiên mao trùng là bệnh truyền lây giữa người và gia súc do ký
sinh trùng đơn bào (Protozoa), lớp trùng roi (Flagellata) gây ra Có nhiều loài thuộc giống Trypanosoma, như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma cruzi, Trypanosoma evansi, Trypanosoma congolense, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma vavax, Trypanosoma siminae…
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982), Phan Địch Lân và cs (2004), Phan Văn Chinh (2006), bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên bò là 7 - 14%, trong
đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc lên tới 6,3 - 20%
Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc bệnh tiên mao trùng ở gia súc vùng núi và trung du cao hơn vùng đồng bằng và ven biển Trong khi
đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du - là các vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương còn yếu kém; dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn
Trang 11Để có cơ sở xác định các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do
Trypanosoma evansi gây ra ở trâu và ngựa tại tỉnh Tuyên Quang giúp cho
công tác chẩn đoán và phòng, trị bệnh được tốt hơn, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng cho gia súc chúng tôi tiến hành đề
tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng
phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang trên chuột và ngựa thí nghiệm"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu tại tỉnh Tuyên Quang trên động vật thí nghiệm (chuột, ngựa)
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra; góp phần nâng cao
năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
2.1.1.1 Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax Loài trypanosome (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanosoma Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Trang 13Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài đã được tổ chức dịch tễ quốc tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có
vú, đó là: T brucei, T congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T kysiminae,
T vivax
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng
Phạm Sỹ Lăng (1982) [17], cho biết: T evansi thuộc giống Trypanosoma Gruby (1843), là những tiên mao trùng có hình suốt chỉ thon,
mảnh, hai đầu thót tròn hoặc nhọn Thân là một khối nguyên sinh chất, giữa
có một nhân, cuối thân có một thể cơ động (kinetoblast), hay còn gọi là hạch
cơ động Từ thể cơ động hoặc gần thể cơ động xuất hiện một roi đính vào thân, chạy dọc lên phía trước tạo thành màng rung động nhiều nếp gấp do có một đoạn tự do ở phía trước
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11],
Trypanosoma evansi là loại ký sinh trùng ký sinh ngoài hồng cầu, có hình
thoi, dài 18 - 34µm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi
T evansi khoảng 1,5µm Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung
động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu tạo thành roi tự do Nhờ có roi,
màng rung động mà T evansi chuyển động được trong máu của động vật Tiêu bản máu nhuộm giemsa, nguyên sinh chất của T evansi bắt màu xanh
nhạt, nhân bắt màu hồng Tiên mao trùng ký sinh trong máu của động vật có xương sống, được truyền từ động vật này sang động vật khác theo phương
thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae
Tiên mao trùng T evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là
một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34µm (trung bình là 25µm), chiều rộng 1,5 - 2µm Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân
Trang 14nhọn Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài
vào trong được chia thành 3 phần chính:
- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 -15nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp
vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử Glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface - VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [44]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [17]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [7])
- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: Ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), Mitochrondno, Reticulum (lưới nội bào)
Hình 2.1 Cấu tạo cơ bản của T evansi
Trang 152.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết
thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi, Kageruka (1982), đã phát hiện tới 30
thành phần kháng nguyên khác nhau Có ba loại kháng nguyên không biến đổi
ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG
65, ISG 75, ISG 100 Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997)
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969), đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Cross (1975), đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này
Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ Tuy nhiên, Van Meirvenne (1975), cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ) Theo Hajduc và Vickernlan (1981), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy
Trang 16ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [12], khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì
đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hóa của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này
Theo Barry và Tumer (1991) [39], các VSG được mã hóa nhờ các gen chuyên biệt Từ kho chứa hàng nghìn đến khác nhau, một gen VSG được hoạt hóa một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG mới Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao trùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc
bị mắc bệnh mãn tính Cơ chế biến đổi kháng nguyên theo hai cách: cách thứ nhất là, sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện trên khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hóa tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này Cách thứ hai là, tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hóa được thay thế bằng bản sao chép của một gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng
Trang 172.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò
2.1.2.1 Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng có một phạm vi phân bố địa lý cực kỳ rộng, nó được
phát hiện ở vật nuôi trong nhà và các động vật hoang dã T.evansi phân bố rộng
nhất trong các loài tiên mao trùng gây ra bệnh cho động vật, chúng đã gây bệnh
ở bắc Phi, Trung Đông, dọc theo Ấn Độ Dương tới gần đại lục châu Âu và châu
Á, ở vùng đất mới như Trung và Nam Mỹ cũng đã tìm thấy T evansi
Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải
Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi “bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,
Yemen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan
Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine
Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)
Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia
Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Ried, 2002 [48]; Losos G J 1972 [46]), cho rằng: Bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất là ở châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Iran, Philippine
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Năm 1911, một ổ dịch làm chết nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều trường hợp chết tại chuồng ngựa của công ty Khai thác rừng Hà Nội Năm 1992 - 1926 ở Nam bộ, ngựa, chó mắc bệnh tiên mao trùng đã chết hàng trăm con, Phạm Sỹ Lăng (1982) [17]
Trịnh Văn Thịnh (1982) [34], cho biết: năm 1925, bệnh tiên mao trùng xảy ra ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây, Vĩnh Yên làm chết 148 ngựa, bò Trước năm 1945 ngựa nước ta chủ yếu phục vụ cho mục
Trang 18đích của thực dân Pháp như vận chuyển, đi lại, chiến đấu Vì thế lúc đó con ngựa được quan tâm bảo vệ sức khỏe, bệnh tật của ngựa được phát hiện, điều trị trong đó có bệnh tiên mao trùng Những gia súc khác thì rất quan trọng đối với người nông dân nhưng không được chú ý tới Sau khi đất nước được giải phóng, đàn trâu, đàn bò mới được quan tâm tới, bệnh tật của nó mới được tập trung nghiên cứu phòng trị Những năm sau này tiên mao trùng và bệnh tiên mao trùng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều
Lê Ngọc Mỹ, Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng (1994) [24], điều tra tình
hình nhiễm T evansi ở trâu, bò cho thấy, ở miền núi, trung du, đồng bằng trâu, bò vẫn bị nhiễm T evansi với tỷ lệ tương đối cao Tỷ lệ nhiễm T evansi
ở các tỉnh miền núi, trung du cao hơn ở đồng bằng
Phan Địch Lân (1983) [20], trong đợt điều tra cơ bản về côn trùng thú y tại các vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc cho biết: trâu, bò ở miền núi, trung
du nhiễm ký sinh trùng đường máu nói chung là cao hơn trâu, bò ở vùng đồng bằng ven biển Các giống bò ngoại có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu nói chung là cao hơn các giống bò lai, bò nội Bò nhiễm ghép 2 loài ký sinh
trùng máu là phổ biến, ít gặp nhiễm ghép 3 loài Tỷ lệ bò nhiễm T evansi
chung toàn đàn là 0,29%
Hồ Thị Thuận và cs (1987) [37], điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên đàn bò ở các tỉnh phía Nam cho biết: tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu nói chung từ 20 - 60%, trong đó đàn bò sữa ở trại thực nghiệm Đà Lạt nhiễm ký sinh trùng máu với tỷ lệ 22,7%, đàn bò ở xí nghiệp
Bò sữa An Phước, Đồng Nai nhiễm T evansi với tỷ lệ 12,6%
2.1.2.2 Vật chủ, vật môi giới truyền bệnh, phương thức lây truyền bệnh tiên mao trùng
Trypanosoma evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất trong các loài tiên
mao trùng, chúng gây bệnh cho hầu hết các loài gia súc trên thế giới: trâu, bò, ngựa, chó, mèo, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, lạc đà, voi… Ở các
nước trâu, bò đều nhiễm T evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm hơn và thường ở thể mãn tính, mang trùng Lạc đà thường nhiễm T evansi ở thể cấp
tính, chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á
Trang 19Ngoài những động vật bị nhiễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí
nghiệm có thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ như: thỏ, chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột bạch…
Theo Nguyễn Thị Lim Lan (2012) [15], sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khỏe là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ
Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và
mòng hút máu của các gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khỏe, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khỏe Sự lây truyền này mang tính chất cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng
Theo Trịnh Văn Thịnh (1982) [34], cho biết: năm 1949, Brumpt E đã
tìm ra những loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ Tabanidae đóng vai trò môi giới truyền bệnh chủ yếu của T evansi T.evansi không có
chu kỳ phát triển trong ký chủ trung gian, mà chỉ được truyền theo phương
thức cơ giới Ngoài ra T evansi còn có khả năng truyền bệnh nhờ một loại ve,
nhuyễn thể khác
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [17], ở Nam Mỹ, Ligniere, Elmasson, đã
truyền bệnh thực nghiệm thành công bằng cách cho ruồi Stomoxys calcitrans
và xác định khoảng cách ruồi đốt vật ốm sang vật khỏe không quá 24 giờ
Ở các nước nhiệt đới, người ta còn nghĩ tới khả năng lan truyền của T.evansi nhờ những loài nhuyễn thể hút máu như: đỉa, vắt
Phan Địch Lân (1983) [20], cho biết: ở nước ta khi hậu, điều kiện sinh
thái thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cư trú, đẻ trứng, cần khí
hậu nóng (160 C - 300C), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai đoạn ấu trùng phát triển, cuối cùng cần có trâu, bò, động vật thích hợp để hút máu, duy trì sự sống đồng thời truyền bệnh cho những động vật này Ở miền Bắc Việt Nam mòng hoạt động tới 9 tháng, ruồi hút máu hoạt động quanh năm Nhưng tập trung vào những tháng nóng nực Điều kiện này giải thích tại sao bệnh tiên mao trùng phân bố rộng rãi, mang tính chất mùa vụ
Trang 20Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [17], từ những nghiên cứu về ký chủ trung gian đều đã khẳng định mùa phát triển, lây lan của bệnh xảy ra vào những tháng thời tiết ấm áp, ruồi, mòng xuất hiện và hoạt động mạnh Ở Liên Xô mùa phát bệnh khoảng 3,5 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 Ở các nước nhiệt đới thì mùa lây lan bệnh có thể xảy ra quanh năm
Ở nước ta họ mòng môi giới trung gian truyền T evansi đã được các nhà
khoa học nghiên cứu về thành phần, khả năng truyền bệnh của chúng Theo Phan Địch Lân (1974), (2004) [19], [21], phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000m so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần 9 (độ cao trên 1.000m chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500m so với mực nước biển) có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài
mòng phổ biến nhất ở tất cả các vùng là: Tabanus rubidus, T striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T fumifer, Chrysops vander Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở những vùng có độ cao dưới 1.000 m), loài Stomoxys indica (chỉ thấy
xuất ở vùng núi Thủy Cầm - Thanh Hóa)
Phan Địch Lân (2004) [21] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai
loài mòng T rubidus và T striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ
12,5% Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng Sau khi theo máu từ vòi hút ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất
là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34, trung bình là 24 giờ Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42 Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động
Hoạt động của mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền
bệnh của chúng Trong một ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du,
Trang 21đồng bằng giống nhau xuất hiện lúc 6 - 8 giờ, nhiều nhất 12 - 14 giờ, ít dần, mất
đi 16 - 18 giờ Ở miền núi Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 - 10 giờ, 17 - 18 giờ,
vào 10 - 14 giờ xuất hiện ít
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau
khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: thời gian từ giờ thứ 1 đến
thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh
cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus
2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất
Phan Địch Lân (2004) [21], đã tổng lợp kết quả điều tra 3172 trâu ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,1%), trâu 3 - 5 tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi
Theo Phan Văn Chinh (2006) [2], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở
4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng
ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, hút máu súc vật
và truyền tiên mao trùng
Theo Luckins (1988), sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở
Trang 22trâu, bò, dê, lạc đà Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu bò bị
đổ ngã hàng loạt Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh tiên mao trùng
2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Ta có thể quan sát được phản ứng viêm ở da qua thỏ, dê, cừu và bò gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền, một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển tại chỗ viêm này
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch huyết và ở trong các mô khác nhau của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là sự biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1ml máu có thể có 10.000 - 30.000 tiên mao trùng Với số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật mắc bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác
Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin,
độc tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống và độc tố do xác chết của tiên mao trùng phân hủy trong máu sau
Trang 2315 - 30 ngày Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hòa thân nhiệt , gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loại về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá hủy hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố còn tác động đến bộ máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, làm con vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh
Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thủy thũng chất keo vàng dưới da
2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa
* Ở trâu, bò
Trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu sau:
- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,70C) kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tùy theo thể trạng con vật Khi con vật sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng
- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện triệu chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính
Trâu bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết
- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như ở 4 chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu,
bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (cùi nhãn) kéo che kín giác mạc
Trang 24- Hội chứng tiêu hóa: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được Có khoảng 30% trâu, bò bệnh thể hiện viêm ruột, ỉa chảy kéo dài sau cơn sốt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [14]
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu,
bò dễ chết Trong thực tế có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khỏe, làm việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Ở nước ta năm 1972, Phạm Sỹ Lăng [16] cũng đã phát hiện thấy trâu bị bệnh cấp tính rất nặng, sốt cao, bỏ ăn, điên loạn và chết nhanh Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, chân sau và chết do kiệt sức
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T evansi gây ra Theo
Silva Ram và cs (1995), Smith R D (1995), số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu Lympho, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và Albumin giảm rõ rệt Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15], hồng cầu bị phá hoại nên số lượng hồng cầu và hàm lượng Hemoglobin giảm
Phạm Sỹ Lăng (1982) [17] cho biết, khi protein tổng số và Albumin giảm thì các thành phần α, β và γ Globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5
Theo một số tác giả trong và ngoài nước, một số trâu, bò cái có thể sảy
thai khi có nhiều Trypanosoma evansi ký sinh Ở Việt Nam, Bùi Quý Huy
(1998) [9] đã xác nhận một ổ dịch ở trâu Murrah (Cúc Phương - Ninh Bình) sẩy thai, thai có tiên mao trùng trong máu Nguyễn Đăng Khải (1995) [10] chi biết, năm 1987 lần đầu tiên những ca sẩy thai do tiên mao trùng đã được chẩn đoán và ghi nhận trên đàn trâu Murrah nuôi tại trung tâm Phùng Thượng Tổng số có 28 con bị sẩy thai chiếm 46,6% số trâu chửa đẻ Qua xét nghiệm toàn đàn 34/78
trâu dương tính với Trypanosoma evansi sau khi đã loại trừ Blucella và
Trang 25Leptospira Sử dụng Naganin để điều trị bệnh, hiện tượng sẩy thai đã được ngừng lại nhanh chóng Tác giả còn cho biết tháng 1 năm 1991 tại huyện Mường Khương, bệnh tiên mao trùng đã làm chết 26 trâu và sẩy thai 60 trâu
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [14], hầu hết trâu, bò sữa bị bệnh thì suy nhược, mất dần khả năng sinh sản và giảm lượng sữa 30 - 50%,
có thể chết do kiệt sức Trâu cái bị sẩy thai vào tháng thứ 7 - 8 khi bị bệnh tiên mao trùng
Theo Nguyễn Quốc Doanh và cs (1998) [6], các triệu chứng lâm sàng
chủ yếu ở thỏ nhiễm T evansi gồm:
- Thủy thũng tai (tai cụp xuống) ở ngày 25 - 52
Hiện tượng thủy thũng xuất hiện ở vùng thấp của cơ thể (ngực, bụng,
âm hộ, vú) sau 1 - 2 tuần kể từ khi phát bệnh Ngựa đi đứng siêu vẹo, gầy sút rất nhanh, ăn kém, da khô, lông dựng, bốn chân run rẩy, hay nằm, dần dần liệt chân, nằm một chỗ rồi chết
Một số tác giả quan sát triệu chứng lâm sàng ngựa nhiễm bệnh tiên mao trùng cho biết: ở ngựa, bệnh thường biểu hiện ở cấp tính, rất nặng so với trâu, bò: sốt cao, phù thũng ở dịch hoàn, trước ngực, chân bị bại liệt nặng, nhưng vẫn ăn đến khi chết
2.1.3.3 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng
Trypanosoma evansi ký sinh trong máu gây cho gia súc một thể bệnh toàn thân Trong quá trình ký sinh, T evansi lấy các chất dinh dưỡng trong
Trang 26máu, thải ra các chất cặn bã, các chất này là độc tố cho cơ thể Khi T evansi chết đi thì xác chết của chúng cũng là chất độc Những chất độc do T evansi
thải ra các tác giả gọi là Trypanotoxin Độc tố theo máu đi khắp cơ thể, tác động lên các nội quan của vật bệnh, gây ra một số bệnh tích đặc biệt
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15]: con vật mắc bệnh tiên mao trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt ở
hệ tuần hoàn và hô hấp: tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng; phổi sung huyết và tụ máu từng đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và có tụ máu trong hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt
Elamin, E A (1992) [42], thấy dê nhiễm T evansi thì Hemosiderin lắng
đọng trong tế bào kupffer gan, bạch cầu đơn nhân thấm qua ống cửa gan làm cho tế bào gan bị hoại tử, dẫn đến cơ tim thoái hóa, bạch cầu đơn nhân chui qua phế quản gây sung huyết và khí thũng phổi, tế bào ống thận bị hoại tử, bong ra
Hồ Văn Nam (1963) [26] và các tác giả khác cũng thấy những bệnh tích đặc trưng do bệnh tiên mao trùng gây ra ở nước ta: trâu, bò chết thường
bị thủy thũng, ở ức có dịch màu vàng lầy nhầy; thịt nhão chứa nhiều nước; trong xoang bụng, xoang ngực có dịch màu vàng chanh; gan sưng to, có khi cứng lại, có màu xám nhạt; cơ tim nhão, đáy tim thủy thũng
2.1.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15], việc chẩn đoán tương đối khó khăn vì căn bệnh có khi có ở mạch máu ngoại vi, có khi không Do đó phải chẩn đoán tổng hợp, gồm các biện pháp sau:
- Căn cứ vào triệu chứng điển hình: Sốt lên xuống, thủy thũng, có triệu chứng thần kinh…
- Dựa vào đặc điểm dịch tễ của bệnh: Vùng mắc bệnh, mùa phát bệnh, vật môi giới truyền bệnh…
- Điều trị, chẩn đoán: Dùng các loại thuốc đặc hiệu để điều trị chẩn đoán
2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Rất nhiều gia súc mang bệnh
Trang 27nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh tiên mao trùng mãn tính Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm phúc mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982 [17]) Triệu chứng sẩy thai cũng
có thể thấy ở trâu cái có chửa ở tháng thứ 7 - 8 bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [14]
2.1.4.2 Chuẩn đoán thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi;
vì vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho một giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt nước muối sinh lý, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40)
để phát hiện tiên mao trùng sống
- Phương pháp nhuộm giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phương pháp giọt dầy: Đặt một giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một góc của một đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đường kính khoảng 1 - 1,25 cm Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm giemsa (pha dung dịch giemsa mẹ với nước cất theo tỷ lệ 1 : 9) trong 25 phút Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90)
Phương pháp này có nhược điểm là dễ làm tổn thương tiên mao trùng,
do đó khó phân biệt được các loại khác nhau trong trường hợp gia súc nhiễm nhiều loài tiên mao trùng cùng một lúc
Trang 28+ Phương pháp giọt mỏng: Đặt một giọt máu cách 1 đầu phiến kính 2cm, dùng la men ria máu thành một lớp mỏng Để khô, cố định bằng cồn Methanol trong 2 phút Nhuộm giemsa trong 25 phút (pha dung dịch giemsa
mẹ với nước cất theo tỷ lệ 1 : 9) Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ, để khô, soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90)
Ưu điểm của phương pháp này là có thể phân biệt được hình thái của các loài tiên mao trùng khác nhau
+ Phương pháp làm tan hồng cầu: dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfat) là chất làm tan hồng cầu Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dẽ dàng được phát hiện trong máu Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da
và tránh hút bằng pipet Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thường trong nhiều tháng
* Phương pháp tập trung tiên mao trùng
Người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng ống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gel DEAE - cellulose
- Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit: cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly tâm với tốc độ 14.000 vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10)
Phương pháp này đơn giản, phát hiện tiên mao trùng tốt hơn phương pháp xem tươi và nhuộm giemsa song tỷ lệ phát hiện chưa cao
Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground: dùng cưa y tế cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyết tương và hồng cầu), nhỏ 1 giọt huyết tương lên phiến kính, đậy la men và kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40)
* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này
có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với
Trang 29số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được (Lê Ngọc Mỹ, 1994 [25]; Đoàn Văn Phúc và cs, 1994 [29])
* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:
Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test): hòa tan 1 giọt huyết thanh của gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao trùng vào, trộn đều, đậy la men và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10
x 20 hoặc 10 x 40) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại là (-) Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng
+ Phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T evansi gắn lên
các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên với kháng thể Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường, và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định quyết định tính kháng nguyên bề mặt (epitop surface) Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các điểm quyết định của kháng nguyên Do đó, khi kháng nguyên tiên mao trùng gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ có hiện tượng một phân tử kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngược lại Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại, tạo thành từng đám ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường Kháng nguyên dùng cho phản ứng là kháng
nguyên bề mặt được tinh chế từ chủng T evansi không nhuộm màu
Phương pháp này có thể ứng dụng trong kiểm tra dịch tễ và có thể ứng dụng ở cơ sở Tuy nhiên tỷ lệ phát hiện bệnh không cao do phương pháp này cho kết quả dương tính cả khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn
Trang 30tại trong huyết thanh; mặt khác, đối với những súc vật mới nhiễm tiên mao trùng trong huyết thanh chưa có kháng thể nên khi kiểm tra bằng phương pháp LATEX sẽ cho kết quả âm tính
Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu động vật nhiễm bệnh
Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể có trong máu của động vật tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh Cách tiến hành: dùng ống hút 2,5 ml dung dịch buffer cho vào lọ kháng nguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều Cho vào lọ kháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 ml dung dịch buffer, lắc đều Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ 1/8 Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45 µl) Sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùng que nhựa trộn đều Cuối cùng cho lên máy lắc 5 phút (60 - 70 lần/ phút) và đánh giá kết quả
* Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test)
Phản ứng trong phương pháp này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có
độ nhạy cao, được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa Ngoài việc được dùng làm phản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương pháp IFAT còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên, phát hiện kháng thể (Luckins, 1988 [47]; Davison, 1999 [41])
Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu
bò mắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu bò khỏe mạnh, huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh
Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu và cs (1994) [35], dã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng cho
Trang 31phản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ở 1/40 Độ nhạy của phương pháp IFAT là 71,25
Để tinh chế kháng nguyên T evansi dùng trong phản ứng miễn dịch
huỳnh quang gián tiếp để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu bò, Vương Thị
Lan Phương (2004) [31], đã nghiên cứu kháng nguyên bề mặt T evansi phân
lập từ trâu bò ở 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam và cho biết: đã thu được 6 mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (Variable Antigenic Type) và thu được 26 VAT thuộc 6 kho kháng nguyên khác nhau Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp thấm miễn dịch, tác giả đã xác định
được sự thay đổi kháng nguyên bề mặt của T evansi: đa số các VAT của các
kho kháng nguyên khác nhau là khác nhau, chỉ có 8/26 VAT có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo với các VAT của các kho kháng ngyên khác Các VAT trội xuất hiện sớm trong 4 tuần lễ đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh có thể nghiên cứu ứng dụng chế kháng nguyên chẩn đoán
Từ đó, tác giả đã tinh chế kháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng
để dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao
+ Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)
Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Glubulin (kháng kháng thể) có mang một enzyme (Phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn lên mảnh Fe, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó, cho
cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzyme và bị enzyme phân hủy tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng
Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [24], đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta
* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng
- Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)
Trang 32Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [25], đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Tuy nhiên, theo cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA) (1997), phương pháp ELISA kháng nguyên có độ nhạy kém hơn
so với các phương pháp phát hiện tiên mao trùng cổ điển Vì vậy, phương pháp này đã không được phổ biến trong thời gian hiện tại và tương lai (IAEA
đã không sản xuất đĩa Ag - ELISA cho nhiều nước trên thể giới)
- Phản ứng Suratex:
Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm tiên mao trùng Phản ứng này hiện đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa
* Phương pháp phát hiện AND của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerrase Chain Reaction)
PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đây
Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi polymerase để xác định sự có mặt gen AND của tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh
Phương pháp PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị hiện đại nên hiện nay mới đang được thử nghiệm tại một số phòng thí nghiệm hiện đại
2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa
Trypanosome evansi đã gây bệnh cho nhiều loài động vật như trâu, bò,
ngựa, lạc đà, nhiều loài thú hoang dã Khả năng phân bố T evansi rộng rãi
trong các loài tiên mao trùng, chúng có ở khắp các châu lục, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi trâu, bò
Ở nước ta các bệnh ký sinh trùng phát triển quanh năm trong đó có
bệnh tiên mao trùng gây nhiều thiệt hại cho đàn trâu, bò Năm 1963 - 1964 ở miền Bắc đã có trên 2 vạn trâu, bò chết trong vụ Đông - Xuân, Đoàn Văn
Phúc (1965) [27] Hiện nay T evansi không còn gây chết trâu, bò hàng loạt,
nhưng vẫn gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi trâu, bò Để phòng
Trang 33chống bệnh tiên mao trùng do T evansi, khoa học thế giới đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, nhiều loại hóa dược đặc hiệu đã được chế tạo, sử dụng
rộng rãi để phòng chống dịch Naganol được xem như một loại thuốc kinh điển có hiệu lực cao trong điều trị, phòng nhiễm T evansi cho hầu hết các loại
gia súc, ngựa, lạc đà, trâu, bò, chó, mèo kể cả tự nhiên cũng như thực nghiệm
Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học
đã đề nghị áp dụng các biện pháp sau:
2.1.5.1 Phòng bệnh
* Diệt tiên mao trùng trên cơ thể ký chủ
Trong vấn đề này, theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [17], diệt ký sinh trùng trên ký chủ không những đã ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng, mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biện pháp cụ thể là:
- Phát hiện những gia súc mắc tiên mao trùng ở vùng có bệnh, những vùng lân cận phải thường xuyên kiểm tra đàn gia súc, phát hiện những con ốm, những con mang trùng Nhốt riêng trong chuồng có lưới ngăn chặn côn trùng, điều trị cho khỏi bệnh Ngăn chặn không cho mầm bệnh lây lan sang gia súc
khỏe Không để các khu vực chăn thả còn tàng trữ mầm bệnh T evansi
- Ở những vùng không có bệnh thì không nên nhập gia súc từ những vùng đang có bệnh về Nếu cần thiết thì kiểm tra máu gia súc khi chuyển tới để xử lý những con mang trùng Chỉ nhập những gia súc khỏe, nếu gia súc bị nhiễm bệnh tiên mao trùng thì phải nhốt riêng, điều trị khỏi mới được nhập đàn Phát hiện, diệt những loài thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực sinh sống của các loài thú này
* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh
Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban khoa học quốc tế nghiên cứu về tiên mao trùng đã đề ra những biện pháp diệt côn trùng sau:
- Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái:
Thay đổi sinh thái là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển Biện pháp tiến hành: phát quang, chặt cây cối từng khu vực, lấp hoặc làm thủy lợi tháo khô nước tù, không để khu vực nước tù, các bãi sình lầy, ủ phân để diệt trứng, ấu trùng các loại ruồi mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng Ở Liên Xô, người
Trang 34ta làm thủy lợi để làm khô các đầm lầy, thả dầu ma dút lên mặt nước trong
mùa phát triển của mòng họ Tabanidae, nhưng chỉ hạn chế được một phần sự
hoạt động của những côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng tại đấy Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để nước tù đọng, ủ phân để diệt trứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng… là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biện pháp trên phải thực hiện đồng thời trên phạm vi rộng mới có hiệu quả
Challier A (1974) cho biết, ở Nigieria, việc phát quang cây cối xung quanh hồ và các con sông trong một khu vực rộng 400 - 800 mét, dài 10.000 mét chỉ hạn chế được một phần hoạt động của những côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng ở đó
- Diệt côn trùng bằng hóa dược: Có thể dùng các hóa dược tiêu diệt côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng Các hóa dược đã được dùng là: Endosulfan, Brophos, Dieldrine, Tetracloreinphos…
- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:
Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinh gây hại cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
Một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làm chúng mắc bệnh và chết
Laird (1974), đã phân lập được một số loài vi khuẩn như: Bacillus thuringiensis, B mathisi để tiêu diệt các loài ruồi hút máu Đây là biện pháp
diệt côn trùng có nhiều ưu điểm: không ảnh hưởng đến môi trường Tuy nhiên, biện pháp này mới đang ở giai đoạn thử nghiệm
Jordan A N và cs (1974), đã gây đột biến ruồi hút máu bằng một số hóa chất và tia sáng có bước sóng ngắn, bằng phương pháp di truyền quần thể,
đã tạo ra những ruồi đực vô tính rồi thả vào với ruồi cái trong tự nhiên Kết quả là làm cho ruồi không sinh sản được Phương pháp này có nhiều khả năng thành công nhưng rất tốn kém
Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quả nhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế
Trang 35
* Phòng bệnh cho gia súc bằng hóa dược
Hội nghị chuyên đề quốc tế về phòng bệnh tiên mao trùng (1987), đã kết luận: Hiện nay, biện pháp sử dụng hóa dược để tiêm phòng rộng rãi cho gia súc ở những vùng bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm
Từ năm 1934, tổ chức dịch tễ thế giới đã khuyến cáo sử dụng Novarsenobenzol
để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có bệnh tiên mao trùng Hiện
nay, thuốc Trypamidium, liều 0,5 mg/kgTT được khuyên dùng để phòng bệnh
tiên mao trùng cho trâu, bò
Liu J H và cs (1992), đã nghiên cứu chế tạo vaccine phòng bệnh tiên mao trùng cho ngựa Kết quả tiêm thử nghiệm vaccine liều 103 T evansi/ngựa,
sau 30 - 60 - 90 ngày dùng vaccine, tỷ lệ bảo hộ đạt 100%; trong khi lô đối chứng chết trong thời gian 3 tháng
2.1.5.2 Điều trị bệnh
Một số loại hóa dược đã được dùng để điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa ở nước ta những năm 60 đến nay gồm:
- Naganin, liều 10 mg/kg TT Pha thuốc với dung dịch nước muối sinh
lý hoặc nước cất thành dung dịch 10%, tiêm tĩnh mạch
- Novarsenobenzol, liều 10 mg/kg TT
Phan Địch Lân và cs (2004) [21], Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng (1997) [4], đã sử dụng Novarsenobenzol 2 lần cách nhau 2 ngày, thấy hiệu lực thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80 - 82%
- Trypamidium, liều 1 mg/kg TT, tiêm sâu vào bắp thịt thành 2 - 3 điểm
có tác dụng tốt trong điều trị bệnh tiên mao trùng
Đoàn Văn Phúc và cs (1981) [28], đã thử nghiệm Trypamidium điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và cho biết, tỷ lệ an toàn và khỏi bệnh đều đạt 100%
- Berenyl, liều 3 mg/kg TT Pha thuốc với nước cất với tỷ lệ cứ 0,8 gam thuốc trong 5ml nước cất Tiêm sâu bắp thịt (không dùng quá 9 gam cho một gia súc)
Hồ Thị Thuận (1985) [37], đã dùng Berenyl trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò thấy kết quả điều trị tốt
Trang 36Phan Văn Chinh (2006) [2], dùng Berenyl điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở các tỉnh miền Trung và cho biết, thuốc đạt hiệu lực 100% với những trâu, bò bị bệnh
- Trypamidium samorin, liều 1 mg/kg TT Tiêm sâu bắp thịt
Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996) [3], đã dùng Trypamidium samorin điều trị tiên mao trùng cho trâu, bò và xác định, thuốc có hiệu lực và độ an toàn rất cao (100%)
Phan Văn Chinh (2006) [2], đã sử dụng thuốc Trypamidium (liều 1 mg/kg TT) cho tỷ lệ diệt hết tiên mao trùng là 100%
- Trypazen, liều 3,5 mg/kg TT
Điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò bằng Trypazen với liều trên, Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [5] cho biết, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh là 100%
- Phar-trypazen: (trong một lọ 1,18 gam chứa 525 mg Diminazen diaceturat)
Liều dùng: liều 0,5 ml/kg TT, tiêm sau bắp thịt trâu, bò
Trường hợp bệnh súc còn sốt, tiêm nhắc lại mũi thứ hai sau 24 giờ Trường hợp con vật bị phù thũng, sau 10 ngày tiêm nhắc lại mũi thứ 3 Đặc biệt cho hiệu quả cao khi tiêm kết hợp với 3 mũi Doxyvet-L.A hoặc 2 mũi Oxyvet-L.A (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [15]
2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh tiên mao trùng là bệnh chung cho nhiều loài gia súc trong đó có loài nhai lại, thú hoang dã và ngựa…
Bệnh tiên mao trùng ở nước ta đã được tìm thấy từ lâu và ở nhiều nơi Năm 1902 Kermargant đã phát hiện thấy ngựa Hà Tiên bị nhiễm tiên mao trùng
Năm 1903 tìm thấy T evansi trong máu ngựa ở Nha Trang, năm 1904
thấy ngựa ở Vinh bị mắc, năm 1905 ngựa Nam Định bị, năm 1911 thấy ngựa
ở Thái Nguyên bị bệnh tiên mao trùng
Hồ Văn Nam (1963) [26] và Trịnh Văn Thịnh (1982) [34] cho biết: trâu
bị bệnh cấp tính có triệu chứng sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu
Trang 37mắc bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm phúc mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, chết do kiệt sức Đối với bệnh tiên mao trùng bò, những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở trâu, ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật có triệu chứng sốt gián đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng
cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt
Trong những năm 1960 trở về trước, ở nước ta bệnh do Trypanosoma evansi chỉ được coi như bệnh của ngựa ở miền núi Nhưng từ những năm sau đó, bệnh do Trypanosoma evansi đã trở thành một bệnh quan trọng gây tác hại lớn
cho đàn trâu bò cày kéo ở các vùng đồng bằng miền núi phía Bắc Việt Nam
Theo các tài liệu của Đoàn Văn Phúc (1981) [28], Hồ Văn Nam (1963) [26], Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng (1997) [4], đều khẳng định trâu
bò cày kéo ở các tỉnh phía Bắc bị bệnh tiên mao trùng và chết nhiều, đặc biệt
là đàn trâu bò chuyển từ miền núi về đồng bằng và trâu bò mới nhập
Theo Hồ Thị Thuận và cs (1985) [37], điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng ở trâu, bò ở các tỉnh phía Nam Qua đợt kiểm tra đàn trâu Murrah ở Bến
Cát (Sông Bé) khi đang có ổ dịch có tỷ lệ nhiễm T evansi chung là 19,04%
Tác giả còn điều tra ở nhiều tỉnh khác nhau nhưng chỉ thấy ở vùng đồng bằng trâu, bò nhiễm với tỷ lệ 2,71 - 20,00%
Lê Ngọc Mỹ (1994) [24], đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng
ở trâu bò Việt Nam Kết quả cho thấy, trâu bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ
lệ cao (21,27%), trong đó trâu bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía bắc nhiễm
T evansi cao hơn ở đồng bằng
Theo Lê Đức Quyết và cs (1995) [32], Phạm Chiến và cs (1999) [1], ở một số tỉnh Duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên cho thấy trâu, bò ở các vùng sinh thái khác nhau đều nhiễm nhưng vùng Duyên Hải trâu, bò nhiễm tỷ
lệ cao hơn Tây Nguyên và miền núi So sánh giữa trâu và bò, tác giả thấy trâu nhiễm nhiều hơn với tỷ lệ 22,12% còn bò 6,60%,
Phan Lục và Nguyễn Văn Thọ (1995) [22] cho biết: tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng của bò ở một số địa phương miền Bắc là 5,9%
Theo Hà Viết Lượng (1998) [23], tỷ lệ bò nhiễm tiên mao trùng ở các tỉnh miền Trung là 8,99%
Trang 38Vương Thị Lan Phương (1999) [30] thì dê cũng nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ nhiễm khá cao (25,6%) và bò sữa nhiễm 5,6%
Theo Nguyễn Đăng Khải (1995) [10], đã tổng hợp báo cáo của chi cục thú y các tỉnh miền Bắc và cho biết số trâu, bò bị thiệt hại do bệnh tiên mao trùng như sau: từ năm 1960 - 1965 số gia súc mắc bệnh là 1776, chết 520 con;
từ năm 1979 - 1983 số gia súc ốm là 4629, chết 3243 con; từ năm 1984 - 1988
số gia súc ốm là 4028, chết 3710 con; bình quân số trâu bò hàng năm trong thời gian này ở miền Bắc là 1871362 trâu và 894453 bò
Về công tác chẩn đoán bệnh, ngoài các phương pháp cổ điển thường dùng trước đây (soi tươi, nhuộm giemsa, tiêm truyền qua động vật thí nghiệm) nhiều phương pháp phản ứng ngưng kết (Đoàn Văn Phúc, 1965) [27] Phương pháp huỳnh quang gián tiếp (Lương Tố Thu) [35] Phương pháp ELISA (Lê Ngọc Mỹ) [25]… có độ chính xác cao trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Với những tiến bộ về dụng cụ quang học,và những thiết bị để chẩn đoán hiện đại, lĩnh vực nghiên cứu về động vật đơn bào đã đạt được những thành tựu rất lớn Donne năm 1863 đã mô tả trùng roi âm đạo Laverau năm
1880 là người đầu tiên phát hiện được ký sinh trùng sốt rét trong máu người
Evans phát hiện T evansi trong máu la và lạc đà vào năm 1880 ở Punjab
(Ấn Độ) Năm 1885, Steel phát hiện ký sinh trùng này trong máu la ở Miến
Điện, mô tả đặc điểm hình thái và đặt tên là T evansi Blanchard (1886) tìm thấy T evansi trong máu la nhập nội vào Bắc Bộ Việt Nam và mô tả thể bệnh
ở la, ngựa và bò…
Smith và Kilborme năm 1893 đã nghiên cứu về vai trò của ve mòng trong truyền bệnh tiên mao trùng ở trâu và bò
Bệnh được đưa vào Bắc Mỹ năm 1906 với những bò u từ Ấn Độ, người
ta cũng ngăn được không cho bệnh lây lan rộng
Năm 1907 bệnh nhập vào Úc do những lạc đà được vận chuyển từ Ấn
Độ sang, những biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt đã làm cho bệnh không lây lan rộng được
Trang 39Lavara và Rosail năm 1912 trong tác phẩm kinh điển nói về tiên mao trùng và bệnh do tiên mao trùng gây ra đã mô tả đầy đủ về bệnh lý học của bệnh tiên mao trùng
Ligard, Rudrrink và Wiekerrman (1902) đã có những công trình nghiên cứu về kháng nguyên tiên mao trùng
Đến năm 1938, Yntue mới báo cáo lần đầu tiên phát hiện thấy ở phía đông đảo Bocneo và ở các nước có khí hậu ôn đới thuộc châu Á và châu Phi, Cận Đông, Nam Mỹ
Chen Qijun (1992) cho biết: T evansi gây bệnh cho hầu hết các loài
động vật như trâu, bò, ngựa, la, chó… ở Trung Quốc
Theo Tamasan Kas R (1992): bò ở Guaico nhiễm T evansi từ 11 - 74%, bò
dưới 12 tháng nhiễm 21,04%; bò trên 25 tháng nhiễm 72,92%; bò Zebu cao sản nhiễm 74,4%
Cũng năm 1992, Tperone M C và cs kiểm tra bò ở Venezuela thấy: bò
dưới 3 tháng nhiễm T evansi 13% và bò trên 36 tháng nhiễm 50%
Theo Sukanto I P (1992): tỷ lệ lưu hành bệnh tiên mao trùng ở trâu Indonesia cao hơn ở bò và tỷ lệ lưu hành bệnh ở bò lại cao hơn ở ngựa
Ở Thái Lan, trâu, bò của hầu khắp các tỉnh trong cả nước đều nhiễm
T evansi nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh ở bò cao hơn ở trâu (Nishikawa,
Tuntasuvan D, 1990)
Ở Indonesia, T evansi lần đầu tiên phát hiện vào năm 1899 ở trên trâu
và ngựa Đến năm 1996 - 1999 bằng kỹ thuật chẩn đoán ELISA phát hiện kháng nguyên cho kháng thể thấy tỷ lệ nhiễm ở đây là rất cao gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi đến 22,4 triệu USD mỗi năm (Davinson) [41]
Ở Philippin bệnh Surra đã xảy ra ở trên 13 khu vực Theo như báo cáo của Chính phủ năm 1989 - 1997 thì loài trâu sống ở vùng đầm lầy có tỷ lệ nhiễm cao nhất (3819 trường hợp), sau đó đến ngựa (3440 trường hợp) Tuy vậy tỷ lệ chết cao nhất vẫn rơi vào ngựa (345 con ngựa chết) và ít nhất ở trâu,
bò (112 con)
Chó cũng bị nhiễm T evansi tự nhiên và bị bệnh cấp tính đã phát hiên
ở Đông Dương, Ở Ấn Độ, ở Venezuela Theo Aquino LP và cs (1999) [38]:
Trang 40chó nhiễm T.evansi có triệu chứng sốt gián đoạn, niên mạc nhợt nhạt, phù nề,
con vật gầy yếu và có thể sờ thấy các hạch bạch huyết sưng to
UI Hasan M và cs (2006) [51], đã tiến hành một nghiên cứu nhanh để
xác định tỷ lệ nhiễm Trypanosoma evansi ở những loài mẫn cảm tại Punjab
(Pakistan) 170 ngựa và 150 lạc đà đã được kiểm tra bằng phương pháp huyết thanh học phát hiện có 6 lạc đà (chiếm 4,0%) và phương pháp xác định ký
sinh trùng phát hiện có 5 lạc đà (chiếm 3,3%) nhiễm T evansi; không phát
hiện ngựa nhiễm bệnh
Umezawa E S và cs (2009) [52], sử dụng các phương pháp TESA - blot, TESA - ELISA, epimastigotes - ELISA chẩn đoán chó bị nhiễm Trypanosoma cruzi để đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu Kết quả cho thấy, phương pháp TESA - blot có độ nhạy và độ đặc hiệu 100% ; TESA - ELISA có
độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 94,1%; epi - ELISA có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 49,4%
Tamarit A và cs (2010) [49]: Một đợt bùng phát bệnh do Trypanosoma evansi xảy ra ở Trung Tây Ban Nha được phát hiện Các ổ dịch xảy ra ở trang
trại ngựa, lừa và lạc đà Bằng phương pháp soi tươi đã xác định được 76% lạc
đà, 35% lừa và 2% ngựa nhiễm T evansi Các loài động vật đã được cách ly
và điều trị bằng Cymelarsan với liều 0,5 mg/kg Sau thời gian điều trị, kiểm
tra lại máu của động vật này đều cho kết quả âm tính với T evansi
Haridy F M và cs (2011) [43], đã lựa chọn ngẫu nhiên 300 con lạc
đà (200 lạ đà đực 4 - 6 tuổi và 100 lạc đà cái 10 - 15 năm tuổi) để xác
định tỷ lệ nhiễm bệnh do Trypanosoma evansi Các phương pháp chẩn
đoán gồm chẩn đoán lâm sàng, nhuộm giemsa tiêu bản máu và ELISA Phương pháp nhuộm giemsa phát hiện 6,0% lạc đà đực và 9,0% lạc đà cái
nhiễm T evansi Phương pháp ELISA phát hiện 8,0% lạc đà đực và 24,0% lạc đà cái nhiễm T evansi Kết quả cho thấy phương pháp chẩn đoán ELISA
có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn phương pháp nhuộm giemsa
Tonin A A và cs (2011) [50], tiến hành nghiên cứu để đánh giá việc sử dụng diminazene aceturate kết hợp với selenite natri và vitamin E trong điều
trị bệnh do Trypanosoma evansi Các tác giả sử dụng 72 chuột cái chia thành
9 nhóm với mỗi nhóm 8 chuột (A, B, C, D, E, F, G, H và I) Nhóm A là nhóm