1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm

73 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 590,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị Kim Lan, em tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang gây ra trên chuột và thỏ t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý từ phía Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn

GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, em tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu

đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu

của tỉnh Tuyên Quang gây ra trên chuột và thỏ thí nghiệm"

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo

trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi

Thú y, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho em trong suốt thời

gian học tập tại trường

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng

dẫn nghiên cứu và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khóa luận bằng tất cả sự nhiệt

tình và năng lực của mình, tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn và bước

đầu còn bỡ ngỡ với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận của em sẽ

không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp

quý báu của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013

Sinh viên

Hà Anh Thư

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ TỰ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT

CATT : Card Agglutination Test for Trypanosomiasis

ELISA : Enzym – Linked Immunosobent Assay

IFAT : Indirect Fluorescent Antibody Test

ISG : Invanant Sureface Glycoprotein

LATEX : Latex Agglutination Test

Nxb : Nhà xuất bản

PCR : Polymerase Chain Reaction

SDS : Sodium Dodecyl Sulphat

T evansi : Trypanosoma evansi

TMT : Tiên mao trùng

VAT : Variable Antigentic Type

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1. Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài. 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 4

2.1.1.1 Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma evansi trong hệ thống phân loại động vật đơn bào. 4

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng 5

2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi 6

2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò 9

2.1.2.1 Phân bố của bệnh 9

2.1.2.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng 10

2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh 11

2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh tiên mao trùng 12

2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý 12

2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò 14

2.1.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh 15

2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng 15

2.1.4.2 Chẩn đoán thí nghiệm 16

2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa. 23

2.1.5.1 Phòng bệnh 23

2.1.5.2 Điều trị bệnh 25

Trang 6

2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng 26

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 31

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 31

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 32

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 32

3.3 Nội dung nghiên cứu 32

3.3.1 Kết quả xác định loài tiên mao trùng phân lập từ đàn trâu ở tỉnh

Tuyên Quang 32

3.3.2 Xác định khả năng gây bệnh của loài tiên mao trùng đã phân lập

trên thỏ 32

3.3.3 Xác định khả năng gây bệnh của loài tiên mao trùng đã phân lập trên chuột bạch 32

3.4 Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1 Phương pháp định loại tiên mao trùng phân lập từ đàn trâu ở tỉnh Tuyên Quang 33

3.4.2 Gây nhiễm loài tiên mao trùng đã phân lập cho động vật thí nghiệm

(thỏ, chuột bạch) 33

3.4.2.1 Phương pháp đếm tiên mao trùng trong máu chuột bạch để xác định liều gây nhiễm 33

3.4.2.2 Gây nhiễm cho thỏ 34

3.4.2.3 Gây nhiễm cho chuột bạch 35

Trang 7

3.4.3 Phương pháp kiểm tra máu của động vật thí nghiệm sau gây nhiễm. 35

3.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu. 35

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Kết quả định danh tiên mao trùng T evansi gây bệnh trên trâu ở tỉnh Tuyên Quang. 38

4.2 Khả năng gây bệnh của loài T evansi phân lập ở Tuyên Quang trên một số động vật gây nhiễm 41

4.2.1 Khả năng gây bệnh của T evansi trên thỏ 41

4.2.1.1 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của thỏ sau gây nhiễm 41

4.2.1.2 Tần suất xuất hiện T evansi trong máu thỏ gây nhiễm 42

4.2.1.3 Thời gian xuất hiện và diễn biến lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm 43

4.2.1.4 Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 44

4.2.1.5 Bệnh tích vi thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm. 46

4.2.2 Khả năng gây bệnh của T evansi trên chuột bạch 46

4.2.2.1 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 46

4.2.2.2 Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm 48

4.2.2.3 Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 49

4.2.2.4 Bệnh tích ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 51

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Đề nghị 55

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Các ô đếm trong buồng đếm Neubauer(đếm TMT trong các ô bôi đen) 34 Hình 2 Hình ảnh gen Rotat 1.2 của loài tiên mao trùng ở Tuyên Quang. 39 Hình 3 Trình tự gen Rotat 1.2 của tiên mao trùng ở Tuyên Quang 40

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả định danh loài mao trùng ở trâu tại tỉnh Tuyên Quang 38

Bảng 4.2 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu thỏ sau gây nhiễm 41

Bảng 4.3 Tần suất xuất hiện T evansi trong máu thỏ gây nhiễm 42

Bảng 4.4 Diễn biến lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm 43

Bảng 4.5 Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 45

Bảng 4.6 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 47

Bảng 4.7 Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm 48

Bảng 4.8 Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 50

Bảng 4.9 Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 51

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nông nghiệp đang trong quá trình phát triển kinh

tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng vẫn luôn là nền tảng vững chắc góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước nhà

Ngành chăn nuôi ngày càng có vị trí quan trọng, tổng đàn gia súc ngày một tăng, không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm trong nước mà còn cung cấp ra thị trường nước ngoài, mang lại lợi nhuận cho người chăn nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân Vì vậy, việc tăng số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm là vấn đề cấp thiết của ngành chăn nuôi Việc gia tăng số lượng đàn gia súc, gia cầm luôn song hành với vấn đề dịch bệnh, đặc biệt ở những vùng chăn nuôi quy mô nhỏ chưa thực hiện nghiêm ngặt Pháp lệnh thú y Dịch bệnh động vật ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế người chăn nuôi và sức khỏe cộng đồng Trong chăn nuôi trâu, bò ở nước ta hiện nay, ngoài một số bệnh thường gặp như tụ huyết trùng, bệnh lở mồm long

móng, bệnh sán lá gan, v.v thì bệnh do tiên mao trùng (Trypanosoma spp.)

gây ra trên đàn trâu cũng gây thiệt hại rất lớn đến sức khỏe con vật và gây thiệt hại đáng kể về giá trị kinh tế

Bệnh tiên mao trùng là bệnh ký sinh trùng đường máu phổ biến ở nhiều loài gia súc, trong đó có trâu, bò Trâu, bò mắc bệnh thể cấp tính thường sốt cao 41 – 41,70C với các triệu chứng thần kinh như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn… Trâu, bò bệnh có thể chết sau 7 – 15 ngày Ở thể mãn tính, các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn, bệnh kéo dài 1 – 2 tháng, con vật ngày càng gầy, da khô mốc, niêm mạc tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu, chảy nước mắt

Trang 12

và mắt có nhiều dử đặc như keo, niêm mạc mắt vàng nhạt hay sẫm Trâu, bò suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có lẫn máu hoặc đi tháo, phân lỏng, có mùi thối khắm, có khi con vật đi ỉa ra cả màng ruột, nát từng đoạn Thường thấy có thủy thũng ở hầu, ức, nách, chân, háng Trường hợp bệnh nặng, con vật đột ngột sốt cao, bụng chướng to rồi lăn ra chết (Phạm Sỹ Lăng, 1982 [8])

Từ mức độ phổ biến và những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng gây ra trên trâu, bò ở các địa phương, trong đó có trâu nuôi tại tỉnh Tuyên Quang,

những biến đổi về dịch tễ có thể tạo ra các biến chủng Trypanosoma spp gây

bệnh cho gia súc, những khó khăn trong công tác chẩn đoán và chủ động phòng ngừa bệnh, chúng tôi đã phân lập loài tiên mao trùng gây bệnh trên đàn

trâu ở tỉnh Tuyên Quang và thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý

và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang gây ra trên chuột và thỏ thí nghiệm”, nhằm xác định đặc điểm gây

bệnh của chúng thông qua động vật thí nghiệm

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu ở tỉnh Tuyên Quang, thông qua tác động gây bệnh của chúng trên động vật thí nghiệm (chuột bạch và thỏ)

- Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học phục vụ việc chẩn đoán, từ đó giúp cho công tác phòng và trị bệnh tiên mao trùng kịp thời, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng gây ra trên đàn trâu ở tỉnh Tuyên Quang

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý

và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ đàn trâu của tỉnh

Trang 13

Tuyên Quang trên động vật thí nghiệm, là tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về bệnh (giữ giống tiên mao trùng, chế kháng nguyên tiên mao trùng phục vụ công tác chẩn đoán bệnh…)

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh và khuyến cáo người chăn nuôi cách nhận biết bệnh, từ đó có biện pháp phòng,

trị bệnh nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do tiên mao trùng gây ra; góp

phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng

2.1.1.1 Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma evansi trong hệ thống phân loại động vật đơn bào

Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [5], vị trí

của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau: Ngành Sarcomastigophora

Phân ngành Mastigophora

Lớp Zoomastigophorasida

Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorida

Họ Trypanosomatidae Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (M) theileria

Giống phụ Hepetosoma Donein,1909

Loài Trypanosoma (H) leisi

Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909

Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmmers, 1918

Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trypanosoma (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae

Trang 15

Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906

Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum

Giống phụ Pycnosomonas Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (P) suis

Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1834

Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)

Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là:

T brucei, T congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T siminae, T vivax 2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng

Tiên mao trùng T evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là

một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 – 34 µm (trung bình là 25 µm), chiều rộng 1,5 – 2 µm Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân

nhọn Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài

vào trong được chia thành 3 phần chính:

- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 – 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface – VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp

vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống này nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ

Trang 16

mảnh (Hoare C.A., 1972 [36]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [8]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [2])

- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào)

và mạng lưới golgi

- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa AND, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN) Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp

vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và có một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare C.A., 1972 [36], Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [2])

2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi

Kháng nguyên của T evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ôn định (kháng

nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi

* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)

Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết

thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30

thành phần kháng nguyên khác nhau Có 3 loại kháng nguyên không biến đổi

ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG

65, ISG 75 và ISG 100 Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ

Trang 17

* Kháng nguyên biến đổi

Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969) [56] đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Cross (1975) đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Chỉ số kháng nguyên biến đổi mới kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, 1 con tiên mao trùng

có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 – 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này

Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ Tuy nhiên, Van Meirvenne (1989) [53] cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ) Theo Hajduc và Vickerman (1981), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp

vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất

Trang 18

* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [7], khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì

đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hóa của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử của kháng nguyên VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này

Theo Barry và Tumer (1991) [27], Vanhamme và cs (1995) [52], các VSG được mã hóa nhờ các gen chuyên biệt Từ kho chứa hàng nghìn gen khác nhau, 1 gen VSG được hoạt hóa bằng cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp

ra một loại kháng nguyên VSG Mỗi gen VSG mới tạo ra 1 loại kháng nguyên VSG mới Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen kháng nguyên VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao trùng đã tạo ra nhiều kháng nguyên khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính

Cơ chế biến đổi kháng nguyên theo hai cách: cách thứ nhất là sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện gen (expression side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hóa tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này Cách thứ hai là tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen,

mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen Trường hợp này được diễn giải như sau: 1 gen hoạt hóa được thay

Trang 19

thế bằng bản sao chép của 1 gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra 1 loại gen phức hợp và đặc trưng

2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò

2.1.2.1 Phân bố của bệnh

Bệnh tiên mao trùng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước quan tâm Các tác giả cho biết, bệnh tiên mao trùng có ở rất nhiều nước trên thế giới

T evansi là loài phân bố rộng rãi nhất trong các loại tiên mao trùng,

chúng gây bệnh ở gia súc tại hầu hết các khu vực thuộc châu Mỹ, châu Phi, và dọc theo Ấn Độ tới châu Âu, châu Á

Theo một số tác giả, T evansi ký sinh ở trâu, bò, ngựa và nhiều động vật có vú khác Bệnh thấy ở Bắc Phi, châu Á, trung và nam nước Mỹ T evansi không có giai đoạn tiến hóa xảy ra ở vật truyền bệnh, đó là điều khác với loài T brucei

Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi “bệnh Surra” ở Ả Rập Saudi,

Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Isarel, Syrie, Afganistan, Pakistan

Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine

Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)

Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở trung Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia

Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid, 2002 [50]; Losos G T., 1972 [38]) cho rằng, bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất ở châu Á và châu phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Iran, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Philippine, Indonexia

Trang 20

Ở Việt Nam, từ những năm 1960 trở đi bệnh tiên mao trùng đã được nghiên cứu và chứng minh được những thiệt hại do bệnh gây nên Theo

Nguyễn Đăng Khải (1995) [6], bệnh tiên mao trùng do T evansi là một bệnh

ký sinh trùng đường máu khá phổ biến ở trâu, bò miền Bắc Việt Nam, nhất là trâu, bò cày kéo

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [8], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình,

Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)

2.1.2.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

Bệnh tiên mao trùng được thấy ở nhiều loài gia súc của các nước trên thế giới Để nghiên cứu tìm hiểu bệnh nhằm hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra tới mức thấp nhất cho gia súc, các nhà nghiên cứu không chỉ nghiên cứu về quá trình phát triển bệnh mà còn tìm hiểu những vật chủ môi giới truyền bệnh cho gia súc

Trong tự nhiên, T evansi ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú

hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch,… nhưng không

ký sinh ở người

Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khỏe là nhờ

các loài ruồi hút máu (thuộc họ Stomyxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả

tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khỏe, trong khi hút máu

sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khỏe Sự lây truyền này

mang tính chất cơ học Trên thế giới, Ovoges lần đầu tiên đã phân lập được T

Trang 21

evansi từ ruồi Stomoxys calcitrans ở Brazil Hallot đã truyền bệnh tiên mao trùng cho ngựa bằng giống mòng Tabanus, tác giả đã nhốt chung ngựa ốm với ngựa khỏe và thả mòng Tabanus vào đó Một thời gian sau ngựa khỏe bị

nhiễm bệnh

Theo Phan Địch Lân (1974) [11], Phan Địch Lân (1994) [12], phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1000 mét so với mực nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1000 mét chỉ có

26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét so với mực nước biển) có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 – 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:

Tabanus rudidus, T striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T fumifer, Chrysops vander Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000 mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng

núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá)

Phan Địch Lân (2004) [12] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy 2

loài mòng T rubidus và T striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và 14%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ 12,5%

Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu

dễ tìm thấy tiên mao trùng

2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh

Trâu, bò và các loại gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm tiên mao trùng và phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh sản và sức sản xuất

Trang 22

Phan Địch Lân (1994) [12] đã tổng hợp kết quả điều tra trên 3.172 trâu

ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 – 6,1%), trâu

3 – 5 tuổi nhiễm cao hơn (6 – 12,7%), trâu 6 – 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 – 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm thấp hơn trâu 3 – 8 năm tuổi

Theo Phan Văn Chinh (2006) [1], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở

4 – 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh Hút máu súc vật và truyền tiên mao trùng

Theo Luckins A.G (1988) [39], sự xuất hiện số lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu, bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này làm cho trâu,

bò bị đổ ngã hàng loạt Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng

2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh tiên mao trùng

2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý

Khi ruồi, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền (khoảng 108 tiên mao trùng có thể viêm da ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển tại chỗ viêm này

Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân, trong bạch huyết

và trong các mô khác của cơ thể vật chủ, theo cách phân chia theo chiều dọc

Trang 23

Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật

độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian, cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng

Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose, các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1ml máu có thể có 10.000 – 30.000 tiên mao trùng Với số lượng như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, làm cho vật bệnh gầy còm, thiếu máu và giảm sức đề kháng với các bệnh khác

Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin,

độc tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thẩm thấu trong quá trình sống, độc tố do xác chết của tiên mao trùng phân hủy trong máu Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hòa thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá hủy hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, làm con vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh

Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thẩm thấu thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thủy thũng chất keo vàng dưới da

Trang 24

2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò

Trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như sau:

- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 – 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên mao trùng, trâu, bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 – 41,70C) kéo dài 2 –

4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tùy theo thể trạng con vật Khi sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng

- Hội chứng thần kinh: một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh, kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 – 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường mắc bệnh ở thể cấp tính

Trâu, bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết

- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như

ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục

-Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (cùi nhãn) kéo che kín giác mạc

- Hội chứng tiêu hóa: một số trâu, bò bị bệnh ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng song con vật vẫn ăn đươc

- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 – 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh

Trang 25

kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò

dễ chết Trong thực tế, có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khỏe làm việc bình thường khi được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt

Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T evansi gây ra, số

lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lympho, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và albumin giảm rõ rệt

Phạm Sỹ Lăng và cs (1984) [9] cho biết, khi protein tổng số và albumin giảm thì các thành phần α, β và γ globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5

Hiện tượng sảy thai ở trâu, bò khi có nhiễm T evansi cũng là một triệu

chứng khá điển hình của bệnh tiên mao trùng Nguyễn Đăng Khải (1995) [6] cho biết: lần đầu tiên, những ca sảy thai do tiên mao trùng đã được chẩn đoán

và ghi nhận trên đàn trâu Murrahi nuôi tại trung tâm Phùng Thượng Tổng số

có 28 trâu bị xảy thai, chiếm 46,6% số trâu chửa đẻ Qua xét nghiệm toàn đàn

có 34/78 trâu dương tính với T evansi, âm tính với Brucella và Leptospira

Sử dụng naganin để điều trị bệnh thấy hiện tượng sảy thai đã được ngừng lại nhanh chóng Tác giả còn cho biết, tháng 01 năm 1991 tại huyện Mường Khương, bệnh tiên mao trùng đã làm chết 26 trâu và có 60 trâu bị sảy thai

2.1.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh

2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Có nhiều gia súc bị bệnh nhưng khó phát hiện những triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với gia súc mắc bệnh thể mãn tính Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh

Trang 26

Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy những triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982 [8]) Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò bị bênh tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995 [6])

2.1.4.2 Chẩn đoán thí nghiệm

Có nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện trâu bò bị bệnh để có biện pháp phòng chống phù hợp vào hiệu quả Tùy từng trường hợp bệnh, tùy điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp với

độ chính xác cao

* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:

Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi,

vì vậy nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt nước muối sinh lý, dùng góc của la men khuấy đều, đậy

la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x40) để phát hiện tiên mao trùng sống

- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)

+ Phương pháp giọt dầy:

Đặt 1 giọt máu vào giữa phiến kính, dùng một góc của đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đường kính khoảng 1 – 1,25 cm Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm Giemsa (pha dung dịch giemsa mẹ với nước cất theo tỷ lệ 1:9) trong 25 phút Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x100)

Trang 27

Phương pháp này có nhược điểm là dễ làm tổn thương tiên mao trùng,

do đó khó phân biệt được các loài khác nhau trong trường hợp gia súc nhiễm nhiều loài tiên mao trùng cùng một lúc

+ Phương pháp giọt mỏng:

Đặt 1 giọt máu cách đầu phiến kính 2 cm, dùng la men ria máu thành một lớp mỏng Để khô, cố định bằng cồn Methanol trong 2 phút Nhuộm Giemsa trong 25 phút (pha dung dịch giemsa mẹ với nước cất theo tỷ lệ 1:9) Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ, để khô, soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x100 hoặc 10x90)

Ưu điểm của phương pháp giọt mỏng là có thể phân biệt được hình thái các loài tiên mao trùng khác nhau

+ Phương pháp làm tan hồng cầu:

Dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfat) là chất làm tan hồng cầu Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàng được phát hiện trong máu Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da và tránh hút bằng pipet Dung dịch SDS dể bảo quản ở nhiệt độ thường trong nhiều tháng

* Phương pháp tập trung tiên mao trùng:

Người ta đã sử dung phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng ống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gel DEAE-cellulose

- Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit (WOO, 1971): cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly tâm với tốc độ 14000 vòng/ phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x10)

Phương pháp này đơn giản, phát hiện tiên mao trùng tốt hơn phương pháp xem tươi và nhuộm Giemsa Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện chưa cao

Trang 28

Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground: Dùng cưa y tế cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyết tương và hồng cầu), nhỏ 1 giọt huyết tương lên phiến kính, đậy la men và kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x40)

* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:

Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này

có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp này là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương này không thể đáp ứng được (Đoàn Văn Phúc và cs, 1994 [18])

* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:

Bằng phương pháp chẩn đoán huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể đặc hiệu hoặc kháng nguyên tiên mao trùng Đây là phương pháp huyết thanh học đặc hiệu

* Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng

Khi bị tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sản sinh kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:

+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test): hòa tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối

sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao trùng vào, trộn đều, đậy la men và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x20 hoặc 10x40) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại là (-) Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng

Trang 29

+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)

LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng

Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T evansi gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao

trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên với kháng thể Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường

và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định tính kháng nguyên bề mặt (epitope surface) Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các điểm quyết định của kháng nguyên Do đó, khi kháng nguyên tiên mao trùng gặp kháng thể đặc hiệu sẽ có hiện tượng một phân tử kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngược lại Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại tạo thành đám ngưng kết, có thể quan sát bằng mắt thường Kháng nguyên dùng cho phản ứng là kháng nguyên bề mặt,

được tinh chế từ chủng T evansi không nhuộm màu

Phương pháp này có thể ứng dụng trong kiểm tra dịch tễ và có thể ứng dụng ở cơ sở Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh không cao do phương pháp này cho kết quả dương tính cả khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn tại trong huyết thanh; mặt khác, đối với những súc vật mới nhiễm bệnh tiên mao trùng, trong huyết thanh chưa có kháng thể nên khi kiểm tra bằng phương pháp LATEX sẽ cho kết quả âm tính

+ Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)

Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu động vật nhiễm bệnh

Trang 30

Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể có trong máu của động vật tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh

Cách tiến hành: dùng ống hút 2,5 ml dung dịch buffer cho vào lọ kháng nguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều Cho vào lọ kháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 ml dung dịch buffer, lắc đều Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỉ lệ 1/8 Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng lần lượt vào của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45 µl) sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùng que nhựa trộn đều Cuối cùng cho lên máy lắc 5 phút (60 – 70 lần/phút) và đánh giá kết quả

+ Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test)

Phản ứng trong phương pháp này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu

có độ nhạy cao, được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và trên thực địa Ngoài việc được dùng làm phương pháp chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương pháp IFAT còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên, phát hiện kháng thể (Luckins, 1988 [39]; Davison, 1999 [32])

Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu,

bò mắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu, bò khỏe mạnh, huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh

Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu và cs (1994) [23] đã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng cho

Trang 31

phản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ở 1/40 Theo Lương Tố Thu

và Lê Ngọc Mỹ (1996) [24] Độ nhạy của phương pháp IFAT là 71,25

Để tinh chế kháng nguyên T evansi dùng trong phản ứng miễn dịch

huỳnh quang gián tiếp để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, Vương

Thị Lan Phương (2004) [19] đã nguyên cứu kháng nguyên bề mặt T evansi

phân lập từ trâu, bò ở 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam và cho biết: đã thu được 6 mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (Variable Antigenic Type) và thu được 26 VAT thuộc 6 kho kháng nguyên khác nhau Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp thấm miễn dịch, tác giả

đã xác định được sự thay đổi kháng nguyên bề mặt của T evansi: đa số các

VAT của các kho kháng nguyên khác nhau là khác nhau, chỉ có 8/26 VAT có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo với các VAT của các kho kháng nguyên khác Các VAT trội xuất hiện sớm trong 4 tuần lễ đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh, có thể nghiên cứu ứng dụng để chế kháng nguyên chẩn đoán Từ đó, tác giả đã tinh chế kháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng để dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao

+ Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Asaay)

Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng kháng thể) có mang một enzyme (phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzyme và bị enzyme phân hủy tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ sẽ định lượng được mức độ của phản ứng

Trang 32

Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [15] đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta

* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng

+ Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag – ELISA)

Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [14] đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Tuy nhiên, theo cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA) (1997), phương pháp ELISA kháng nguyên có độ nhạy kém hơn

so với các phương pháp phát hiện tiên mao trùng cổ điển Vì vậy, phương pháp này đã không được phổ biến trong thời gian hiện tại và tương lai (IAEA

đã không sản xuất đĩa Ag – ELISA cho nhiều nước trên thế giới)

+ Phản ứng Suratex

Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm tiên mao trùng Phản ứng này hiện đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa

* Phương pháp phát hiện ADN của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR

(Polymerase Chain Reaction)

PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đây

Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi Polymerase để xác định sự có mặt

g ADN của tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh

Phương pháp PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị hiện đại nên hiện nay mới đang được thực hiện tại một số phòng thí nghiệm hiện đại

Trang 33

2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa

2.1.5.1 Phòng bệnh

Bệnh tiên mao trùng do T evansi gây ra đã gây thiệt hại đáng kể cho

đàn trâu, bò ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học đã đề nghị áp dụng 3 biện pháp sau:

* Diệt trừ tiên mao trùng trên cơ thể ký chủ:

Diệt trừ tiên mao trùng trên cơ thể ký chủ là một khâu hết sức quan trọng để hạn chế tác hại của tiên mao trùng đối với cơ thể ký chủ, đồng thời ngăn chặn bệnh lây lan Muốn diệt trừ mầm bệnh cần phải tiến hành các nội dung sau:

- Phát hiện gia súc nhiễm bệnh, trên cơ sở đó nhốt cách ly trong chuồng

có lưới Để ngăn côn trùng và điều trị cho con vật khỏi bệnh

- Không nhập gia súc từ vùng có bệnh về những vùng chưa có bệnh Nếu thật cần thiết thì chỉ nhập những gia súc khỏe (có kết quả kiểm tra âm tính với tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bị bệnh mới cho nhập đàn

- Phát hiện và diệt những loại thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh, không chăn thả gia súc ở những nơi có các loại thú hoang đó

* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh:

Những biện pháp tiêu diệt côn trùng có thể thực hiện gồm:

- Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái:

Nguyên tắc của phương pháp này là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để xung quanh khu vực có những vũng nước tù

và bãi đầm lầy, ủ phân để diệt trứng, ấu trùng của ruồi và mòng, làm chuồng

Trang 34

gia súc có lưới ngăn côn trùng… là các biện pháp hạn chế sự phát triển của các loài côn trùng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng

- Diệt côn trùng bằng hóa dược:

Có thể dùng các hóa dược tiêu diệt các côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng Các hóa dược đã được dùng là: endosulfan, brophos, dieldrine, tetracloreinphos…

- Diệt côn trùng bằng phương pháp di truyền: phương pháp này được một số tác giả ứng dụng để gây đột biến ruồi Tsetse bằng phương pháp chiếu ánh sang có bước song ngắn, hoặc bằng một số hóa chất và di truyền quần thể, tạo ra được những ruồi đực vô tính rồi thả với ruồi cái tự nhiên Phương pháp này hiệu quả cao song rất tốn kém

- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:

Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinh gây hại cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

Một số loại vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi, làm chúng mắc bệnh và chết Các nhà khoa học đã phân lập được một số loài vi khuẩn như:

Bacillus thuringiensis, B mathisi có tác dụng tiêu diệt các loài ruồi hút máu

Đây là biện pháp diệt côn trùng có nhiều ưu điểm: không ảnh hưởng đến môi trường Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có những hiệu quả nhất định, nhưng cũng còn nhiều hạn chế

* Phòng bệnh cho gia súc bằng hóa dược:

Song song với việc nghiên cứu các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới truyền bệnh, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu tác dụng của hóa dược phòng bệnh tiên mao trùng cho gia súc Hiện nay, biện pháp dử dụng hóa dược tiêm phòng rộng rãi cho gia súc ở những vùng có bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm

Trang 35

Từ năm 1934, tổ chức dịch tễ thế giới đã khuyến cáo sử dụng Novarseno benzol để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có bệnh tiên mao trùng Hiện nay, thuốc Trypamidium, liều 0,5 mg/kg TT được khuyên dùng để phòng bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò

2.1.5.2 Điều trị bệnh

Một số loại hóa dược đã được dùng để điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa ở nước ta từ những năm 60 đến nay gồm:

- Naganin, liều 10 mg/kgTT Pha thuốc với dung dịch nước muối sinh

lý hoặc nước cất thành dung dịch 10%, tiêm tĩnh mạch

Một số tác giả đã thử nghiệm Naganin cho biết, thuốc có tác dụng tốt

trong điều trị bệnh do T evansi gây ra trên trâu, bò ở nước ta

- Novarsenobenzol, liều 10 mg/kgTT

Thực tế cho thấy việc sử dụng Novarsenobenzol 2 lần, cách nhau 2 ngày, hiệu lực thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80-82%

- Trypamidium, liều 1 mg/kgTT, tiêm sâu vào bắp thịt thành 2 - 3 điểm

có tác dụng tốt trong điều trị tiên mao trùng

Đoàn Văn Phúc và cs (1981) [17] đã thử nghiệm thuốc Trypamidium

điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và cho biết, tỷ lệ an toàn và khỏi bệnh đều đạt 100%

- Trypamidium samorin, liều 1 mg/kgTT Tiêm sâu bắp thịt

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996) [3] đã dùng Trypamidium samorin điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và co biết: thuốc có hiệu lực và độ an toàn rất cao (100%)

Theo Phan Văn Chinh (2006) [1], sử dụng thuốc Trypamidium (liều 1 mg/kgTT) cho tỷ lệ diệt hết tiên mao trùng là 100%

Trang 36

- Sử dụng Trypazen liều 3,5 mg/kgTT: điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4] cho biết: thuốc rất an toàn, tỷ

lệ khỏi bệnh đạt 100%

- Berenyl, liều 3 mg/kgTT Pha thuốc với nước cất theo tỷ lệ cứ 0,8 gam thuốc trong 5 ml nước cất Tiêm sâu bắp thịt (không dùng quá 9 gam cho một gia súc)

Phan Văn Chinh (2006) [1] đã dùng Berenyl điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở các tỉnh miền trung và cho biết, thuốc đạt hiệu lực 100% với những trâu, bò bị bệnh

2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Hồ Văn Nam (1963) [16], và Trịnh Văn Thịnh (1982) [22] cho biết: trâu bị bệnh cấp tính có triệu chứng sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu mắc bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, chết do kiệt sức Bệnh tiên mao trùng ở bò cũng có những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở trâu,

ít thấy trường hợp cấp tính: con vật có triệu chứng sốt gián đoạn, đi lại chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng

cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt

Theo Lê Đức Quyết và cs (1995) [23], trâu ở một số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên nhiễm tiên mao trùng là 22,12%; bò nhiễm 6,6 – 10,3%

Theo Hà Viết Lượng (1998) [20], tỷ lệ bò nhiễm tiên mao trùng ở các tỉnh miền Trung là 8,99%

Nguyễn Đăng Khải (1995) [6], đã tổng hợp báo cáo của chi cục thú y các tỉnh miền Bắc và cho biết số trâu, bò bị bệnh và chết do tiên mao trùng: từ năm 1960 – 1965 như sau: số gia súc mắc bệnh là 4629, chết 3243 con; từ năm 1984 – 1988 số gia súc ốm là 4028, chết 3710 con

Ngày đăng: 05/06/2016, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Văn Chinh (2006), Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi ở trâu, bò nuôi tại các tỉnh miền Trung và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi ở trâu, bò nuôi tại các tỉnh miền Trung và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Văn Chinh
Năm: 2006
2. Nguyễn Quốc Doanh (1999), Một số đặc tính sinh học của T. evansi (Steel,1885), bệnh học do chúng gây ra, quy trình bảo quản và sử dụng giống T. evansi để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc tính sinh học của T. evansi (Steel,1885), bệnh học do chúng gây ra, quy trình bảo quản và sử dụng giống T. evansi để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh
Năm: 1999
3. Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ, Phạm Sỹ Lăng (1996), “Kết quả dùng Trypamidium điều trị bệnh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi gây ra”, Tạp chí khoa học công nghệ và quản lí kinh tế, tr. 300 – 301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả dùng Trypamidium điều trị bệnh tiên mao trùng trâu, bò do "Trypanosoma evansi "gây ra”, "Tạp chí khoa học công nghệ và quản lí kinh tế
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ, Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1996
4. Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng (1997), “Hiệu lực của Trypazen trong điều trị bệnh tiên mao trùng trâu do Trypanosoma evansi gây ra”, Tạp chí khoa học công nghệ và quản lí kinh tế, tr.87 – 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của Trypazen trong điều trị bệnh tiên mao trùng trâu do "Trypanosoma evansi" gây ra”", Tạp chí khoa học công nghệ và quản lí kinh tế
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1997
5. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), Giáo trình Ký sinh trùng Thú y, Trường đại học Nông lâm Thủ Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương
Năm: 1997
6. Nguyễn Văn Khải (1995), “Về triệu chứng sảy thai trong bệnh tiên mao trùng trâu bò do T. evansi”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập III, số 1, tr. 69 – 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về triệu chứng sảy thai trong bệnh tiên mao trùng trâu bò do "T. evansi"”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Khải
Năm: 1995
7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 79,83 – 89, 245 – 246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
8. Phạm Sỹ Lăng (1982), Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1982
9. Phạm Sỹ Lăng và Đoàn Văn Phúc (1984), “Kết quả điều trị bệnh tiên mao trùng trâu, bò ở miền Bắc Việt Nam bằng chất Arsenic”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y 1979 – 1984, Viện Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị bệnh tiên mao trùng trâu, bò ở miền Bắc Việt Nam bằng chất Arsenic”, "Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y 1979 – 1984
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng và Đoàn Văn Phúc
Năm: 1984
10. Phạm Sỹ Lăng, Hoàng Văn Năm, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên (2008), Một số bệnh quan trọng gây gại cho trâu, bò, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng gây gại cho trâu, bò
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Hoàng Văn Năm, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
11. Phan Địch Lân (1974), “Thành phần mòng Tabanidae và vai trò truyền bệnh của nó ở miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần mòng "Tabanidae" và vai trò truyền bệnh của nó ở miền Bắc Việt Nam”
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1974
12. Phan Địch Lân (1994, 2004), Bệnh ngã nước trâu bò, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 56 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngã nước trâu bò
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
13. Hà Viết Lượng (1998), Đơn bào ký sinh đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh Trypanosomiasis ở bò thuộc Nam Trung Bộ, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn bào ký sinh đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh Trypanosomiasis ở bò thuộc Nam Trung Bộ
Tác giả: Hà Viết Lượng
Năm: 1998
14. Lê Ngọc Mỹ (1994), “Kết quả bước đầu thiết lập phản ứng ELISA để chẩn đoỏn bệnh tiờn mao trựng”, Tạp chớ Khoa học kỹ thuật Thỳ yá tập II, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu thiết lập phản ứng ELISA để chẩn đoỏn bệnh tiờn mao trựng”, "Tạp chớ Khoa học kỹ thuật Thỳ y
Tác giả: Lê Ngọc Mỹ
Năm: 1994
15. Lê Ngọc Mỹ (1994), “Phương pháp ELISA phát hiện kháng nguyên và các phương pháp ký sinh trùng học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng (T. evansi) ở trâu bò mắc bệnh tự nhiên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập II, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp ELISA phát hiện kháng nguyên và các phương pháp ký sinh trùng học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ("T. evansi") ở trâu bò mắc bệnh tự nhiên”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lê Ngọc Mỹ
Năm: 1994
16. Hồ Văn Nam (1963), “Một số nhận xét về bệnh tiên mao trùng ở nông trường Hà Trung (Thanh Hóa)”, Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về bệnh tiên mao trùng ở nông trường Hà Trung (Thanh Hóa)”
Tác giả: Hồ Văn Nam
Năm: 1963
17. Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Đăng Khải (1981), “Thí nghiệm dùng Trypamidium điều trị tiên mao trùng”, Thông tin thú y – Viện Thú y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm dùng Trypamidium điều trị tiên mao trùng”, "Thông tin thú y
Tác giả: Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Đăng Khải
Năm: 1981
18. Đoàn Văn Phúc (1994), “Kết Quả ứng dụng một số phương pháp huyết thanh học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trâu ở thực địa”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập II, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết Quả ứng dụng một số phương pháp huyết thanh học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trâu ở thực địa”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Đoàn Văn Phúc
Năm: 1994
19. Vương Thị Lan Phương (2004), Nghiên cứu kháng nguyên bề mặt Trypanosoma evansi phân lập từ trâu, bò phía Bắc Việt Nam và tinh chế kháng nguyên đùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kháng nguyên bề mặt Trypanosoma evansi phân lập từ trâu, bò phía Bắc Việt Nam và tinh chế kháng nguyên đùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp
Tác giả: Vương Thị Lan Phương
Năm: 2004
20. Lê Đức Quyết, Hà Viết Lượng, Nguyễn Đức Tân, Bùi Lập (1995), “Tình hình trâu, bò nhiễm tiên mao trùng ở một số tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập III, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình trâu, bò nhiễm tiên mao trùng ở một số tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lê Đức Quyết, Hà Viết Lượng, Nguyễn Đức Tân, Bùi Lập
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các ô đếm trong buồng đếm Neubauer  (đếm TMT trong các ô bôi đen) - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Hình 1 Các ô đếm trong buồng đếm Neubauer (đếm TMT trong các ô bôi đen) (Trang 44)
Hình 2. Hình ảnh gen Rotat 1.2 của loài tiên mao trùng ở Tuyên Quang. - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Hình 2. Hình ảnh gen Rotat 1.2 của loài tiên mao trùng ở Tuyên Quang (Trang 49)
Hình 3. Trình tự gen Rotat 1.2 của tiên mao trùng ở Tuyên Quang - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Hình 3. Trình tự gen Rotat 1.2 của tiên mao trùng ở Tuyên Quang (Trang 50)
Bảng 4.2. Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu thỏ sau gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.2. Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu thỏ sau gây nhiễm (Trang 51)
Bảng 4.3. Tần suất xuất hiện T. evansi trong máu thỏ gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.3. Tần suất xuất hiện T. evansi trong máu thỏ gây nhiễm (Trang 52)
Bảng 4.4. Diễn biến lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.4. Diễn biến lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm (Trang 53)
Bảng 4.5. Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.5. Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm (Trang 55)
Bảng 4.6. Thời gian T. evansi xuấ t hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.6. Thời gian T. evansi xuấ t hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm (Trang 57)
Bảng 4.7. Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.7. Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm (Trang 58)
Bảng 4.8. Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T. evansi - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.8. Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T. evansi (Trang 60)
Bảng 4.9. Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Gây Ra Trên Chuột Và Thỏ Thí Nghiệm
Bảng 4.9. Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w