Tuy nhiên, những nghiên cứu về bệnh sán dây gà hiện nay vẫn còn rất ít, chưa có kết quả nghiên cứu về đặc điểm về bệnh lý, lâm sàng của bệnh sán dây gà, về các loài kiến - ký chủ trung g
Trang 1-
NGUYỄN THỊ BÍCH ĐÀO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH SÁN DÂY
VÀ KÝ CHỦ TRUNG GIAN CỦA SÁN DÂY Ở GÀ THẢ VƯỜN TẠI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đã đều được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi
rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Đào
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, và các
thầy cô giáo giảng dạy chuyên ngành trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Đồng thời tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ths Nguyễn Thị Ngân đã
đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình
Các em sinh viên khóa 37 CNTY, 37 TY và 38 CNTY đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Đào
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
3.1 Ý nghĩa khoa học 9
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1 Cơ sở khoa học 10
1.1.1 Sán dây ký sinh ở gà 10
1.1.1.1 Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật 10
1.1.1.2 Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam và đặc điểm sinh học của các loài sán dây gây bệnh 11
1.1.2 Những hiểu biết về bệnh sán dây gà 25
1.1.2.1 Căn nguyên gây bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh 26
1.1.2.2 Dịch tễ học của bệnh sán dây gà 26
1.1.2.3 Miễn dịch học bệnh sán dây gà 27
1.1.2.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng các bệnh sán dây gà 29
1.1.2.5 Chẩn đoán bệnh sán dây gà 33
1.1.2.6 Điều trị và phòng bệnh sán dây gà 33
Trang 51.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 37
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 37
1.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 39
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 43
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 43
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 43
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 43
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 43
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 44
2.3 Nội dung nghiên cứu 44
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hoạt động của kiến - một loài KCTG của sán dây gà 44
2.3.1.1 Xác định loài kiến - KCTG của sán dây gà và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercoid 44
2.3.1.2 Tỷ lệ nhiễm Cysticercoid của các loài kiến - KCTG của sán dây gà 44
2.3.1.3 Đặc điểm hoạt động của kiến - KCTG của sán dây gà theo mùa 44
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán dây do gây nhiễm 44
2.3.2.1 Thời gian bắt đầu thải đốt sán và số lượng đốt sán/ 1 lần thải phân của gà sau gây nhiễm 44
2.3.2.2 Số lượng đốt sán thải hàng ngày của gà gây nhiễm kể từ ngày bắt đầu thải đốt sán 44
2.3.2.3 Đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà gây nhiễm 44
2.3.2.4 Sự thay đổi một số chỉ số máu gà khỏe (đối chứng) và gà bị bệnh sán dây (gà gây nhiễm) 44
Trang 62.3.3 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà bị sán dây trên thực địa 44 2.3.3.1 Nghiên cứu sự thải đốt hàng ngày của gà bị bệnh sán dây 44 2.3.3.2 Đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán dây trên
thực địa 44 2.4 Phương pháp nghiên cứu 45 2.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hoạt động của kiến - KCTG của
sán dây gà 45 2.4.1.1 Xác định loài kiến - KCTG của sán dây gà và tỷ lệ
nhiễm ấu trùng Cysticercoid của kiến 45 2.4.1.2 Các bước tiến hành định loài kiến 45 2.4.1.3 Đặc điểm hoạt động của kiến - ký chủ trung gian của sán
dây gà tại một số nông hộ nuôi gà thả vườn ở Thái Nguyên 46 2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây gà 46 2.4.2.1 Gây nhiễm sán dây cho gà, theo dõi thời gian bắt đầu thải
đốt sán của gà sau gây nhiễm, số lượng đốt sán thải ra hàng ngày của gà sau gây nhiễm 46 2.3.2.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán dây do
gây nhiễm 47 2.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà bị
bệnh sán dây trên thực địa 49 2.5 Phương pháp xử lý số liệu 50
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm của kiến - ký chủ trung gian của
sán dây gà 53 3.1.1 Xác định loài kiến - KCTG của sán dây gà ở Thái Nguyên 53 3.1.2 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây của kiến - KCTG của sán dây
gà ở Thái Nguyên 57 3.1.3 Đặc điểm hoạt động của kiến - KCTG của sán dây gà 59
Trang 73.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của bệnh sán dây gà 62
3.2.1 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán dây do gây nhiễm 62
3.2.1.1 Kết quả gây nhiễm sán dây cho gà và thời gian sán dây bắt đầu thải đốt sán 62
3.2.1.2 Triệu chứng, bệnh tích đại thể và vi thể của gà bị bệnh sán dây do gây nhiễm 66
3.2.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở gà trên thực địa 69
3.2.2.1 Sự thải đốt sán dây hàng ngày của gà bị bệnh trên thực địa 69
3.2.2.2 Tỷ lệ và triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh sán dây 71
3.2.2.3 Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa gà bị bệnh sán dây trên thực địa 73
3.2.2.4 Bệnh tích vi thể ruột gà bị bệnh sán dây 75
3.2.2.5 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của gà bị bệnh so với gà khoẻ 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Đề nghị 86
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
I Tài liệu tiếng Việt 88
III Tài liệu nước ngoài 90
Trang 8cs : cộng sự Nxb : Nhà xuất bản
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Loài kiến - KCTG của sán dây gà ở một số địa phương 54
Bảng 3.2: Tỷ lệ mẫu kiến có ấu trùng Cysticercoid trong cơ thể 57
Bảng 3.3 Đặc điểm hoạt động của kiến - KCTG của sán dây gà 60
Bảng 3.4 Thời gian gà bắt đầu thải đốt sán dây 63
Bảng 3.5 Diễn biến thải đốt sán sau gây nhiễm 64
Bảng 3.6 Sự thải đốt sán theo thời gian trong ngày của gà gây nhiễm 65
Bảng 3.7 Biểu hiện của gà gây nhiễm sán dây 67
Bảng 3.8: Bệnh tích đại thể và số lượng sán dây ký sinh ở gà bị bệnh 68
Bảng 3.9 Sự thải đốt sán dây ở các khoảng thời gian trong ngày 70
Bảng 3.10 Tỷ lệ và triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh sán dây 64
Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể và số lượng sán dây ký sinh ở gà bị bệnh 73
Bảng 3.12 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể của gà bị bệnh sán dây 75
Bảng 3.14: Sự thay đổi công thức bạch cầu của gà bị bệnh sán dây (%) 81
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ vòng đời phát triển của sán dây gà 24 Hình 3.1a Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của gà bị bệnh
sán dây (Đợt I) 79 Hình 3.1b Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của gà bị bệnh
sán dây (Đợt II) 80 Hình 3.2a Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của gà bị bệnh sán
dây (Đợt I) 83 Hình 3.2b Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của gà bị bệnh sán
dây (Đợt I) 83
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã phát triển khá mạnh, tốc độ phát triển bình quân là 5%/ năm Chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được nhiều người quan tâm Chăn nuôi gà đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu khả quan: tổng đàn tăng lên về số lượng và chất lượng cũng được cải thiện Mặc dù công tác thú y
đã được quan tâm nhưng dịch bệnh vẫn xảy ra lẻ tẻ gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi Một trong những bệnh luôn tồn tại cùng đàn gà từ lâu nay là bệnh ký sinh trùng Mặc dù bệnh ký sinh trùng không bùng phát thành dịch, nhưng lại xảy ra quanh năm và gây tác hại thường xuyên và lâu dài, ảnh hưởng tới sức khỏe của vật nuôi, làm giảm hiệu quả chăn nuôi Ký sinh trùng lấy chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những tổn thương bệnh lý, làm cho gà gầy yếu, giảm sức sản xuất, mở đường cho mầm bệnh khác xâm nhập
Bệnh sán dây là một trong những bệnh ký sinh trùng đã gây tác hại đáng kể cho chăn nuôi gà thả vườn Bệnh được phân bố rộng ở hầu hết các vùng trên thế giới Ở nước ta, bệnh sán dây xảy ra phổ biến ở các vùng địa lý khác nhau, trong đó vùng núi và trung du tỷ lệ nhiễm thường cao hơn vùng đồng bằng Sán dây gà cần ký chủ trung gian là các loài kiến, ruồi, bọ cánh cứng (Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự, 1999 [7]) Đặc biệt, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài Ký chủ trung gian của sán dây gà
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, chăn nuôi
gà thả vườn vẫn chiếm phần lớn trong chăn nuôi gà Việc phòng bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là sán dây còn ít được quan tâm Đồng thời điều kiện thời tiết, khí hậu ở Thái Nguyên thuận lợi cho kiến (một trong những loại ký chủ trung gian của sán dây gà) phát triển Vì vậy, người chăn nuôi gà vẫn chịu nhiều thiệt hại do bệnh sán dây gây ra
Trang 12Tuy nhiên, những nghiên cứu về bệnh sán dây gà hiện nay vẫn còn rất
ít, chưa có kết quả nghiên cứu về đặc điểm về bệnh lý, lâm sàng của bệnh sán dây gà, về các loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây gà, đặc điểm hoạt động của chúng và thời gian trứng sán phát triển thành ấu trùng trong kiến
Xuất phát từ nhu cầu khống chế dịch bệnh, thúc đẩy chăn nuôi gà thả
vườn ở tỉnh Thái Nguyên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây và ký chủ trung gian của sán dây
ở gà thả vườn tại Thái Nguyên"
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định các loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây gà, đặc điểm hoạt động theo mùa và khả năng nhiễm ấu trùng sán dây của chúng ở khu vực chuồng nuôi gà tại các nông hộ thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh, lý lâm sàng của gà bị bệnh sán dây
Từ đó có cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp chẩn, phòng trị bệnh sán dây cho gà có hiệu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm của bệnh sán dây gà: xác định các loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây, đặc điểm bệnh lý lâm, sàng của bệnh sán dây, có một số đóng góp mới cho khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng quy trình phòng trị bệnh sán dây, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây cho gà, hạn chế thiệt hại do sán dây gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển và đứng vững trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Sán dây ký sinh ở gà
1.1.1.1 Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật
Sán dây ký sinh chủ yếu ở ruột non của gà, gồm nhiều giống, loài Năm 1940, Skrjabin đã giới thiệu hệ thống phân loại bộ Cyclophyllidea, tác giả đã chia bộ này thành một số phân bộ (Anoplocephalata, Davaineata, Hymenolepidata, Taeniata…)
Sán dây ký sinh ở động vật Việt Nam được phân loại theo hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev, 1970 (Đặng Ngọc Thanh và cs (2008)[17])
Theo Phan Thế Việt và cs (1977)[28], Nguyễn Thị Kỳ (1994)[6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)[11], sán dây gà có vị trí như sau:
Ngành giun dẹp (Plathelminthes)
Lớp Cestoda (Rudolphi, 1808)
Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930
Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940
Họ Davaineidae Braun, 1900 Giống Cotugnia Diamare, 1893
Loài Cotugnia digonopora Pasquale, 1890 Giống Davainea Blanchard, 1891
Loài Davainea proglottina (Davaine, 1860) Giống Raillietina Fuhrmann, 1920
Phân giống Raillietina Stiles et Orleman, 1926
Trang 14Loài R echinobothrida Megnin, 1881 Loài R penetrans Baczyncka, 1914 Loài R penetrans novo Johri, 1934 Loài R peradenica Sawada, 1957 Loài R tetragona Dolin, 1858 Loài R volzi Fuhrmann, 1905 Phân giống Raillietina (Paroniella) Fuhrmann, 1920
Loài R (P.) macassariensis Yamaguti, 1956 Loài R (P.) tinguiana Tubangui etMasilungan, 1937 Phân giống Raillietina (Skrjabinia) Fuhrmann, 1920
Loài R (S.) cesticillus (Molin, 1858)Fuhrmann, 1920
1.1.1.2 Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam và đặc điểm sinh học của các loài sán dây gây bệnh
Thành phần sán loài dây ở gà
Nguyễn Thị Kỳ (1994)[6] cho biết, giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam
rất phong phú, riêng sán dây (Cestoda Rudolphi, 1808) là một trong 4 lớp giun
sán ký sinh đã phát hiện được 148 loài Năm 1870, Cande.J lần đầu tiên mô tả
loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy trên đối tượng là người ở Nam Bộ
Sau đó 10 năm xuất hiện lẻ tẻ ở các địa phương, đồng thời xuất hiện một số công trình nghiên cứu về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và động vật hoang dã khác
Các tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[7], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [10] cho biết, sán dây thường gặp ở gà gồm những loài
chính là: Raillietina tetragona, R echinobothrida, R cesticillus, Cotugnia
là: R echinobothrida; R.tetragona và R.cesticillus
Trang 15Theo Phan Thế Việt và cs, 1977 [28], thành phần sán dây ký sinh ở gà gồm:
Đặc điểm sinh học của các loài sán dây gây bệnh
• Đặc điểm sinh học chung của các loài sán dây gây bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977)[28], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17], sán dây có cơ thể dạng băng, dẹp theo hướng lưng - bụng Cơ thể gồm có đầu (Scolex), cổ (Neck), chuỗi đốt (Strobila) bao gồm nhiều đốt riêng biệt Chỉ một số ít loại đại diện của lớp là có cơ thể không phân đốt Giai đoạn trưởng thành chủ yếu sống ký sinh trong ruột của tất cả các lớp động vật có xương sống, trong ruột hoàn toàn không có dạng ấu trùng của sán dây
Trang 16Đầu dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích
thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn
1 mm, nhưng cũng có một số loài sán có đầu dài vài mm
Cơ quan bám nằm ở trên đầu bao gồm rãnh bám, mồm ngoạm, giác bám và vòi có móc bám Đôi khi móc bám có ở giác bám, mồm ngoạm và trên đầu
Rãnh bám (Bothria) là cơ quan bám có cấu tạo đơn giản gồm hai khe bám ở phía lưng và phía bụng của đầu, ít khi có một hoặc bốn khe bám
Mồm ngoạm có hình dạng đa dạng hơn Đây là những cơ quan bám riêng biệt có sự phát triển cơ riêng biệt, phân bố theo kiểu chéo chữ thập ở phía bụng và phía lưng bề mặt đầu
Giác bám (Acetabula) có cấu tạo như nửa hình cầu, có thành cơ cấu tạo phức tạp, giác thường ở bề mặt của đầu và thường có bốn giác Giác bám có gai
nhỏ và móc phân bố thành một số hàng trên thành cơ như ở các giống Railietina Giác bám đặc trưng cho các đại diện của bộ Cyclophylidea Trên thành của giác
bám đôi khi còn có những núm cơ đặc biệt (Schistometra conoidea)
Vòi (Rostellum) thường ở đỉnh của đầu, có cấu tạo cơ, có thể nhô cao trong bao vòi với sự hoạt động của những cơ đặc biệt Vòi thường có móc, móc
có hình dạng, số lượng và kích thước khác nhau tuỳ loài, thường được xếp thành
một hoặc hai hàng Ở một số đại diện có móc xếp thành nhiều hàng (Raillietina)
Cổ (Neck) là phần hẹp lại ngay dưới đầu, có vai trò quan trọng trong việc hình thành các đốt mới Kích thước của cổ khác nhau ở các loài khác nhau Ở một số loài cổ rất thay đổi do sự co lại của cơ Các đốt non được hình thành ở khoảng giữa cổ và những đốt ở phía dưới nó, những đốt già bị đẩy lùi dần về phía dưới Vì vậy, những đốt non nhất nằm ở gần đầu, còn những đốt già nhất nằm ở tận cùng của chuỗi đốt
Trang 17Chuỗi đốt (Strobila) bao gồm các đốt sán, có từ một vài đốt đến hàng nghìn đốt Chiều dài của chuỗi đốt thay đổi từ vài milimet đến vài trăm milimet Các đốt thường có hình dạng và kích thước khác nhau, phụ thuộc vào sự sinh trưởng của sán và chúng còn thay đổi ngay ở các cá thể trong một loài Những đốt sán thường có dạng bốn góc Ở một số loài chiều rộng của đốt thường lớn hơn chiều dài, ở một số loài khác thì ngược lại Sự tương quan giữa chiều rộng và chiều dài của đốt thường phụ thuộc vào sự kéo dài về phía này hay phía khác của đốt
Chiều dài của sán dây dao động từ 0,5 mm - 25 cm Cơ thể sán dây phủ lớp biểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng - cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục Không
có hệ tiêu hoá
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó các dây chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang
Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận Gồm 4 ống chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng và 2 ống mặt bụng và nối với nhau
ở phần đầu Ngoài ra ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng các cầu nối ngang
Trong các đốt chứa cơ quan sinh dục phát triển ở các giai đoạn khác nhau Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính Trong mỗi đốt trưởng thành thường có một hoặc hai hệ sinh dục (mỗi hệ sinh dục gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần, còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung
Trang 18Hệ sinh dục đực (Male reproductive system) gồm tinh hoàn (Testis), các ống dẫn và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống thoát tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh (Vas deferens), ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai (Cirrus) Lông gai nằm trong nang lông gai (Bursa cirri) Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài (Vesicula seminalis externa), còn ở trong lông gai thì gọi là túi tinh trong (Vesicula seminalis interna) Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau Đôi khi trong xoang sinh dục ngay cạnh lỗ lông gai còn có một hoặc hai thể Fuhrmann (Sacculus accesorius)
Hệ sinh dục cái (Female reproductive system) có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng (Ovari), noãn hoàng (Vitelline), tử cung (Uterus) và các tuyến phụ Hệ sinh dục cái có cấu tạo tương đối phức tạp hơn hệ sinh dục đực Trong mỗi hệ sinh dục hay mỗi đốt, buồng trứng thường có hai thuỳ, ít khi một thuỳ, các thuỳ có cấu tạo hình khối, hình ống hoặc hình cành Ở
đồng nhất Buồng trứng nằm trong nhu mô ở giữa đốt hoặc ở phía dưới đốt sán bề mặt bụng, ở những đốt có hai hệ sinh dục thì cả hai buồng trứng nằm ở hai bên bờ của chuỗi đốt Ống dẫn trứng đi ra từ buồng trứng, ống này đưa những tế bào trứng già vào cơ quan Ootyp sau khi chúng được bảo vệ trong
cơ quan giữ trứng gọi là Ovicapt Từ Ootyp, trứng được tạo thành với sự tham gia của các tuyến Melis, tuyến noãn hoàng và tinh dịch
Tuyến noãn hoàng có cấu tạo khác nhau Ở bộ Cyclophyllidea chỉ có
một noãn hoàng và nó nằm ngay dưới buồng trứng Ở nhiều loài sán dây, noãn hoàng gồm nhiều thể, các thể bao gồm nhiều các tế bào noãn hoàng,
Trang 19trong huyết tương của tế bào có nhiều khối màu tối và vàng khúc xạ ánh sáng tạo thành những quả cầu “noãn hoàng”, những ống noãn hoàng nhỏ từ mỗi phía của đốt đổ vào hai ống lớn hơn, sau hợp lại thành một ống, tận cùng của ống phình rộng tạo thành tuyến noãn hoàng đổ vào Ootyp Thể Melis đổ vào Ootyp có chức năng tạo vỏ cho trứng
Âm đạo có dạng một cái ống, phần đầu là lỗ sinh dục cái, phần cuối là túi chứa tinh nằm gần Ootyp, cạnh buồng trứng Phần đầu của âm đạo thường nằm dưới lông gai, ít khi ở trên Sau khi thụ tinh và chứa đầy tinh dịch trong túi chứa tinh thì lỗ âm đạo teo lại
Tử cung (Uterus) có cấu tạo rất khác nhau ở các loài khác nhau Ở
nhiều sán dây tử cung kín, có nghĩa là thiếu lỗ tử cung đặc trưng (Cyclophyllidea),
tử cung là ống ngang với những nhánh bên Tử cung của sán dây có thể có dạng túi, dạng cành, và cả dạng nang riêng biệt, chứa từ một đến vài trứng
trùng trong trứng của phân lớp Eucestoda có 6 móc Ở những sán dây này
trứng được thải ra ngoài tuỳ theo mức độ hình thành của trứng, tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ
Ấu trùng của Cyclophyllidea (Davaineata) là Cysticercoid Đây là bào
nang có hai lớp vỏ, bao gồm cơ quan bám và tuyến đuôi (ceromera) với ba đôi
móc bào thai Sự hình thành Cysticercoid do sự kéo dài của oncoxphera, xuất
hiện xoang cơ thể và bốn giác bám, vòi thô sơ Sau đó phần sau hẹp lại, dài ra, nối với đường tạo thành xoang và ở đây hình thành nang Phần trước của cơ thể có mầm mống của giác bám và vòi, kéo dài tới phần sau của nang, bằng cách đó hình thành nang hai vỏ, vỏ ngoài là phần sau của cơ thể, còn vỏ trong
là phần trước (Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17])
Trang 20Tác giả Phan Thế Việt (1977) [27] đã mô tả: Tất cả bề mặt của sán dây
là một cái “mồm” khổng lồ Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có Ăn và tiêu hoá đều qua
bề mặt cơ thể của sán dây Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta
có thể nghĩ rằng cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại” Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau
• Đặc điểm sinh học của một số loài sán dây ký sinh ở gà
Lớp sán dây chia làm hai phân lớp: Cestoda và Eucestoda Ở gia cầm Việt Nam gặp các đại diện của phân lớp Eucestoda Phân lớp này gồm hai bộ:
thuộc bộ Cyclophyllidea, bộ này gồm có 7 phân bộ; ở gia cầm Việt Nam gặp
các loài sán dây thuộc 3 phân bộ, trong đó ký sinh ở gà có 3 giống thuộc phân
bộ Davaineata (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11])
* Giống Railletina Fuhrmann, 1920
- Đặc điểm chung
Chuỗi đốt có nhiều đốt Vòi có hai hàng móc dạng búa Bờ của giác bám có vài hàng gai nhỏ Tinh hoàn thường nhiều, nang lông gai nhỏ, thường không đạt tới ống bài tiết bên, rất ít khi cắt ngang ống bài tiết Lỗ sinh dục ở một phía hoặc xen kẽ không đều Buồng trứng hai thuỳ ở giữa đốt Noãn hoàng hình khối, nằm dưới buồng trứng Có túi tinh Mỗi nang trứng chứa từ một đến vài trứng Sán trưởng thành ký sinh ở thú và chim, ấu trùng ký sinh ở côn trùng (Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17])
Trang 21- Đặc điểm của một số loài
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, (2002) [10] cho biết:
chủ là: Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ
gà (Gallifomes)
Hình thái: Dài 250 mm; rộng 1,2 - 4 mm; trứng: 93 × 74 µ Đường kính đầu 0,322 - 0,483 mm, vòi dài 0,108 - 0,159 mm Đầu có 4 giác bao gồm từ 8-
10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng 200 chiếc, dài 0,010 - 0,012
mm Giác bám tròn có đường kính 0,113 - 0,159 mm Bờ giác có nhiều gai nhỏ, có hình dạng và kích thước khác nhau Ở hàng trong cùng gai dài 0,006
mm, hàng gai ngoài cùng dài 0,016 mm Lỗ sinh dục đực đơn tính nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán, có từ 20 - 30 dịch hoàn nằm ở giữa đốt Buồng trứng có nhiều thuỳ, noãn hoàng phân thuỳ Trong những đốt già tử cung phân thành
100 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 1 - 12 trứng
+ Loài Raillietina tetragona: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là:
Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes)
Hình thái: Dài 250mm; rộng 1 - 4 mm Đường kính đầu 0,284 - 0,358
mm, vòi 0,051 - 0,058 mm, có 100 móc vòi xếp thành một vòng, móc dài 0,06
- 0,08 mm Giác bám hình trứng kích thước từ 0,169 - 0,175 x 0,073 - 0,076
mm, có gai xếp thành 10 hàng trên bờ giác, chiều dài gai từ hàng ngoài vào giữa giảm dần 0,08 - 0,09 mm Nang lông gai hình trứng, kích thước 0,075 - 0,100 x 0,044 - 0,047 mm Có 30 - 35 tinh hoàn xếp thành hai nhóm Các lỗ sinh dục nằm ở tất cả các đốt sán và hơi lệch về phía trước, cạnh sườn các đốt sau Trong những đốt già tử cung phân thành các nang, mỗi nang chứa 4 - 12 trứng Tử cung trong các đốt trưởng thành nằm trong lớp vỏ chứa 6 - 12 trứng, trứng: 93 x 74 µ., ấu trùng có đường kính 10 - 14 µ
Trang 22+ Loài Raillietina cesticillus: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là:
Gà nhà, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes)
Hình thái: Dài 90 - 130mm; rộng 1,5 - 3mm, trứng: 93 x 74 µ Đường kính đầu 0,307 - 0,449 mm Vòi có hình trứng rất đặc trưng, rộng 0,252 - 0,321 mm Trên bờ gần gốc của vòi có hai hàng gai gồm 400 - 500 gai, có chiều dài 0,0012 - 0,0015 mm Giác bám có đường kính 0,075 - 0,099 mm, không có gai Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, nang lông gai 0,172 - 0,188 x 0,072 - 0,088 mm Có 15 - 20 tinh hoàn xếp ở nửa dưới đốt Tử cung phân ra thành các nang trứng, mỗi nang trứng chứa một trứng
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17]:
+ Loài Raillietina volzi: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà, gà rừng
Mô tả: Sán dài 40 - 60 mm, rộng 2 mm Đầu dài 0,3 mm, rộng 0,045
mm Giác bám có đường kính 0,18 mm, có nhiều gai, phần trên giác có 12 -
14 hàng móc, còn ở phần dưới chỉ có 4 - 6 hàng Gai phần ngoài giác bám lớn hơn phần trong (0,013 và 0,0018 mm), vòi nhỏ chiều ngang 0,088 mm, có hai hàng vòng móc gồm 240 móc, dài 0,04 mm Có 30 tinh hoàn, ở hai bên và phía dưới tuyến sinh dục cái Nang lông gai dài 0,2 mm, chiều ngang 0,013
mm Buồng trứng 0,20 - 0,24 mm Noãn hoàng rộng 0,1 mm Tử cung chia thành các nang, mỗi nang chứa 8 - 12 trứng
+ Loài Raillietina georgiensis: ký sinh ở ruột của vật chủ là gà
Mô tả: Sán dài 150 - 380 mm, rộng tối đa 3,5 mm, có 220 - 268 móc vòi dài 0,017 - 0,023 mm, xếp thành hai hàng Giác bám dài 0,110 - 0,179
mm, rộng 0,080 - 0,151 mm, có gai xếp trong 8 - 10 hàng, gai dài 0,008 - 0,013 mm Cổ dài 1,3 - 3,2 mm Lỗ sinh dục ở một phía, ít khi xen kẽ không đều, ở một phần ba phía trên bờ bên đốt Có 23 - 28 tinh hoàn, hơi tròn, có đường kính 0,065 mm Tinh hoàn xếp thành nhóm ở hai bên tuyến sinh dục
Trang 23cái Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều, nang lông gai dài 0,096 - 0,143 mm, rộng 0,055 - 0,096 mm Lông gai không có gai Buồng trứng phân thành 3 - 10 thuỳ Noãn hoàng không phân thuỳ, dài 0,22 - 0,248 mm, rộng 0,082 - 0,110
mm, nằm ở dưới buồng trứng Đốt già có 80 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa
8 - 10 trứng
+ Loài Raillietina penetrans: ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà
Mô tả: Chuỗi đốt dài 115 mm, rộng nhất 2,45 mm Móc trên vòi phân
bố thành hai hàng, chiều dài móc hàng trên 0,017 mm, hàng dưới 0,014 mm,
có khoảng 220 móc, trên giác bám có 8 hàng gai, gai lớn nhất dài 0,014 mm Trong đốt lưỡng tính có 26 - 35 tinh hoàn, có kích thước 0,078 x 0,045 mm, phần lớn tinh hoàn nằm ở phía không có lỗ Nang lông gai có thành cơ dày 0,017 mm, có kích thước 0,190 x 0,080 mm
+ Loài Raillietina penetrans nova: ký sinh ở ruột non của vật chủ là gà
Mô tả: Sán dài 225 - 270 mm, rộng 1,12 - 2,5 mm, kích thước đầu 0,330 x 0,315 - 0,390 x 0,335 mm Vòi có gần 240 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,019 mm, hàng dưới 0,017 mm Trong các đốt lưỡng tính
có 22 - 24 tinh hoàn, đa số nằm ở phía không có lỗ, có đường kính 0,045 - 0,055 mm Nang lông gai có chiều dài 0,115 mm, rộng 0,050 mm, thành cơ của nang nông gai mỏng, thấy rõ ống dẫn tinh ở trong nang lông gai Buồng trứng gồm nhiều thuỳ hình giọt nước nằm ở giữa đốt Noãn hoàng hình hạt
đỗ Những đốt già chứa 65 - 90 nang trứng, mỗi nang chứa 5 - 11 trứng, đường kính trứng 0,045 mm
+ Loài Raillietina peradenica: ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà
Mô tả: Sán dài 190 - 250 mm, rộng nhất 2,5 mm, đầu rộng 0,560 - 0,640 mm Vòi có 180 - 200 móc, móc dài 0,008 mm, xếp thành hai hàng Giác bám hình bầu dục có kích thước 0,119 - 0,149 x 0,134 - 0,178 mm Bờ giác bám có 7 - 10 hàng gai, các gai dài 0,010 - 0,014 mm, cổ ngắn, rộng
Trang 240,238 - 0,270 mm Lỗ sinh dục ở một phía nhưng đôi khi xen kẽ không đều,
mở ra ở giữa bờ đốt Có 17 - 21 tinh hoàn, nằm xung quanh buồng trứng và noãn hoàng, có 7 - 10 tinh hoàn ở phía có lỗ, và 10 - 14 ở phía không lỗ, tinh hoàn hình bầu dục, đường kính 0,059 - 0,074 mm Nang lông gai rất rộng có hình hạt đỗ, dài tới ống bài tiết, dài 0,312 mm, rộng 0,105 mm, lông gai không có gai, ống dẫn tinh tạo thành nhiều nếp uốn khúc ở đáy nang lông gai
Âm đạo gồm hai phần: phần rộng ở phía có lỗ, coi như túi chứa tinh, phần còn lại có dạng ống hẹp Buồng trứng chia thuỳ, nằm ở giữa đốt, noãn hoàng không lớn lắm, nằm dưới buồng trứng hơi dịch về phía có lỗ Có 80 - 90 nang trứng, hình tròn hay bầu dục, mỗi nang trứng chứa 5 - 10 trứng
+ Loài Raillietina macassarensis: ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà, gà rừng
Mô tả: Sán dài 47 - 72 mm, đường kính đầu 0,21 - 0,25 mm Giác bám hình bầu dục, có gai, có kích thước 0,096 - 0,100 x 0,075 - 0,085 mm, gai xếp thành các hàng xoáy trôn ốc đều nhau, mỗi hàng 16 gai, dài 0,005 mm ở gần hàng ngoài, giảm dần ở các hàng trong Vòi hình hạt đậu, đường kính 0,075 - 0,090 mm, có hai vòng móc, móc hàng trên dài 0,084 mm, hàng dưới 0,072
mm Kích thước 0,5 - 0,65 x 0,15 - 0,20 mm, chuỗi đốt có chiều rộng lớn hơn chiều dài Có 20 - 28 tinh hoàn, hình tròn hoặc hình bầu dục, kích thước 0,045
- 0,060 x 0,042 - 0,045 mm, ở hai bên tuyến sinh dục cái, ống dẫn tinh rất uốn khúc Nang lông gai hình quả lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15 - 0,50 mm, kích thước noãn hoàng 0,033 - 0,100 x 0,075 - 0,150 mm ở giữa và dưới buồng trứng
Mô tả: Sán dài 80 - 95 mm, rộng nhất 3 mm Đường kính đầu 0,275 - 0,394 mm, đường kính vòi 0,106 - 0,125 mm, dài 0,060 mm, vòi có gần 300 móc xếp thành hai hàng, móc dài 0,008 - 0,010 mm Giác bám tròn có kích thước 0,103 - 0,108 x 0,105 - 0,108 mm, có rất nhiều gai, xếp thành 15 hàng
Trang 25Trên bề mặt của đầu có rất nhiều gai nhỏ Lỗ sinh dục ở một phía, kích thước nang lông gai 0,113 - 0,121 x 0,055 mm, có túi tinh trong, có 30 - 35 tinh hoàn phân bố xung quanh tuyến sinh dục cái Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều Buồng trứng có hai thuỳ, mỗi thuỳ phân thành nhiều thuỳ nhỏ, trong các đốt sinh dục, buồng trứng rộng 0,330 - 0,375 mm Noãn nang có thuỳ nhỏ, tử cung phân thành nhiều nang trứng
* Giống Davainea Blanchard, 1891
- Đặc điểm chung
Theo Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17], sán có kích thước nhỏ, chuỗi đốt có ít đốt Trên đầu có 4 giác bám nhỏ Không có cổ Lỗ sinh dục thường xen kẽ, ít khi ở một phía Tinh hoàn từ 4 - 50 Nang lông gai có kích thước lớn, vượt qua ống bài tiết Mỗi nang trứng có một trứng Ở Việt Nam mới gặp một loài thuộc giống này
- Đặc điểm của loài:
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [10], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17]:
Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
Trang 26* Giống Cotugnia Diamare, 1893
- Đặc điểm chung của giống:
Chuỗi đốt bao gồm những đốt rất ngắn, trừ những đốt cuối cùng Cơ quan sinh dục kép, tuyến sinh dục rất gần mép đốt Tinh hoàn ở vùng giữa đốt, không vượt ra ngoài ống bài tiết bên, hoặc có thể xếp thành hai nhóm Trứng chứa trong các nang nhu mô và mỗi nang chỉ có một trứng, phân bố rải rác trong đốt (Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17])
- Đặc điểm của loài ký sinh ở gà, Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17], cho biết:
Mô tả: Sán dài 22 - 107 mm, rộng 1 - 4 mm, kích thước đầu 0,66 x 1,07
mm Kích thước vòi 1,12 x 1,40 mm Giác bám có kích thước 0,36 x 0,25
mm Cổ ngắn Cơ quan sinh dục kép Có gần 100 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,3 mm, hẹp, có gai nhỏ Buồng trứng phân thuỳ Trứng hình bầu dục 0,063 x 0,058 mm
* Vòng đời của một số loài sán dây ký sinh ở gà
Sán dây ký sinh ở gà muốn hoàn thành vòng đời cần phải có ký chủ trung gian, do vậy gà chỉ bị nhiễm sán dây khi nuốt phải ký chủ trung gian chứa ấu trùng có sức gây bệnh
Đốt sán già rụng cùng phân ra ngoài, trứng sán phân tán, ký chủ trung gian ăn phải, vỏ trứng bị phân huỷ ở ruột ký chủ trung gian, thai 6 móc chui vào cơ thể ký chủ trung gian tiếp tục phát triển thành ấu trùng Cysticercoid
Gà ăn ký chủ trung gian có mang ấu trùng này vào đường tiêu hoá, ký chủ trung gian bị phân huỷ, ấu trùng dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột, lấy dinh dưỡng và phát triển thành sán trưởng thành
Trang 27Hình 2.1: Sơ đồ vòng đời phát triển của sán dây gà
+ Loài Raillietina echinobothrida
Vòng đời: vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là loài kiến
sán già rụng chứa nhiều trứng theo phân ra ngoài Đốt vỡ ra, giải phóng trứng, kiến - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, phát triển thành ấu trùng Gà
ăn kiến có ấu trùng, ấu trùng có sức gây bệnh vào ruột non gà phát triển thành sán trưởng thành
+ Loài Raillietina tetragona
Vòng đời: Vòng đời phát triển của R tetragona có sự tham gia của vật chủ trung gian là một số loài kiến như: Pheidole pallidula và Tetramorium
phát triển của ấu trùng thực hiện trong các loài kiến vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm Gà ăn phải kiến có ấu trùng sẽ nhiễm sán
+ Loài Raillietina cesticillus
Vòng đời: Vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là 19 loài bọ
hung (Coleoptere) thuộc các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus,
Trang 28trứng sán ở môi trường tự nhiên, trứng sán sẽ phát triển qua các giai đoạn trở thành ấu trùng cảm nhiễm Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán
+ Loài Davainea proglottina
Vòng đời: Ký chủ trung gian là nhuyễn thể cạn (ốc cạn) Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán
Ký chủ trung gian nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào cơ thể ký chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng gây bệnh
Thời gian phát triển ở ký chủ trung gian là 14 - 16 ngày (mùa hè) và 66 ngày (mùa đông) đối với ký chủ trung gian là côn trùng cánh cứng; 20 - 22 ngày với ký chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn
Thời gian hoàn thành vòng đời tuỳ loại sán dây: R tetragona và R
là 12 - 16 ngày
Một số loài sán dây ký sinh ở gia súc nhai lại có thời gian phát triển thành ấu trùng Cysticercoid ở ký chủ trung gian là 4 tháng (Sengbuch H.G (1977) [46])
Một số tác giả khác cho biết: thời gian từ khi gia súc nhai lại ăn cỏ lẫn nhện mang ấu trùng Cysticercoid đến khi phát triển thành sán dây trưởng thành là 37 - 40 ngày (Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4], Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [24], Soulsby E.J.L (19820 [45])
1.1.2 Những hiểu biết về bệnh sán dây gà
Bệnh sán dây là bệnh thường gặp ở gà, đặc biệt là ở gà thả vườn Bệnh xảy ra phổ biến ở các đàn gà nuôi của nước ta và nhiều nước trên thế giới Sán dây ký sinh ở ruột non và ruột già, dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột gây tổn thương Nếu nhiều sán sẽ làm tắc ruột, thủng ruột, viêm xoang bụng Sán dây lấy dưỡng chấp ở ruột non làm gà gầy yếu, còi cọc
Trang 291.1.2.1 Căn nguyên gây bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] cho biết, có nhiều loài sán dây
ký sinh ở gà, nhưng thường thấy những loài chính là: Raillietina tetragona, R
Ký chủ cuối cùng của loài sán dây này là gà, sán dây ký sinh ở ruột non
và ruột già
1.1.2.2 Dịch tễ học của bệnh sán dây gà
Đã có một số tác giả đề cập đến đặc điểm dịch tễ học các bệnh do sán dây gây ra Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ của các yếu tố ngoại cảnh với sự phát sinh và phát triển của bệnh
Đóng vai trò tàng trữ và truyền bá ấu trùng sán dây Raillietina spp trong tự nhiên là một số loài kiến Pheidole spp, Tetramorium spp, ruồi nhà
các loài kiến, bọ hung và ruồi nhà có thể hoạt động quanh năm, nuốt trứng sán, trứng sán nở ra và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh Gà ăn phải vật chủ trung gian có mang ấu trùng sán sẽ bị nhiễm sán Do vậy, sự lây truyền bệnh sán dây Rallietina cũng diễn ra quanh năm; nhưng tập trung vào các tháng có thời tiết nóng và ẩm ướt, từ cuối mùa xuân đến đầu mùa thu Thời gian này, điều kiện sinh thái phù hợp cho các loài kiến, bọ hung và ruồi nhà phát triển Đó chính là mùa hoạt động và truyền bá nhiều loại mầm bệnh của những loài côn trùng này, trong đó có ấu trùng sán dây (Orlov M (1975) [30]; Kaufmann.J (1996) [35] , Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002) [10])
Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002) [10] còn cho biết: điều kiện chăn nuôi và môi trường sống của gà cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Gà nuôi theo phương thức công nghiệp (nuôi nhốt), ít có điều kiện tiếp xúc với vật chủ trung gian mang mầm bệnh nên ít thấy nhiễm sán dây
Trang 30Raillietina spp Nhưng trong điều kiện chăn nuôi thả vườn, gà liên tục tiếp xúc với côn trùng trung gian mang ấu trùng sán dây nên thường nhiễm sán dây với tỷ lệ và cường độ cao
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] cho biết đốt sán chửa theo phân
ra ngoài thường vào một thời gian nhất định trong ngày Theo Wetzel (1954),
sán dây R cesticillus thường thải đốt vào khoảng 11 - 16h (tối đa lúc 15h),
vào phương thức chăn nuôi và giờ giấc cho ăn Nếu cho gà ăn 2 lần vào lúc 10h và 16h thì phân có đốt sán nhiều nhất vào lúc 16 - 18h Ngược lại, cho ăn buổi chiều vào lúc 18h và đêm thì 6 - 10h sáng hôm sau sẽ ra đốt sán
Gà ở miền núi nhiễm sán dây nhiều hơn vùng trung du và đồng bằng Theo Trịnh Văn Thịnh, 1982 [24], gà ở Nghĩa Lộ nhiễm 80,7%; Quảng Ninh 85,0%; Hà Bắc 73,8%; Nam Hà 69,4%) Gà ở các lứa tuổi đều nhiễm sán dây:
Gà dưới 3 tháng tuổi nhiễm 41,1%; 3 - 5 tháng tuổi nhiễm 57,1%; trên 5 tháng tuổi là 69,9% Như vậy, tỷ lệ nhiễm tăng theo tuổi vì tuổi càng nhiều càng có nhiều cơ hội tiếp xúc với vật chủ trung gian
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [16] cho biết: những vùng có nhiều kiến, bệnh sán dây gà phát triển Do vậy, ở miền núi gà nhiễm sán dây nhiều hơn ở đồng bằng Tuổi gà càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng tăng Gà bị nhiễm sán dây rất sớm, gà 20 ngày tuổi đã thấy có sán dây Chế độ nuôi dưỡng, vệ sinh ảnh hưởng đến mức độ nhiễm sán dây
1.1.2.3 Miễn dịch học bệnh sán dây gà
Những bệnh ký sinh trùng rất phổ biến, đã và đang gây ra nhiều tác hại hơn bất cứ tình trạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển (Vũ Triệu An và Jean Claude Homberg, 1997) Việt Nam
là nước khí hậu nhiệt đới, người và động vật luôn nhiễm ký sinh trùng với số lượng, chủng loại nhiều và cường độ nhiễm cao (Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)
Trang 31[25]) Cơ thể người và động vật đáp ứng như thế nào? Đó là câu hỏi mà rất nhiều người quan tâm tìm cách trả lời, hy vọng tìm ra những phương pháp phòng nhiễm ký sinh trùng một cách hữu hiệu Nói một cách tổng quát thì cơ thể có đáp ứng miễn dịch với ký sinh trùng nhưng không có mấy hiệu quả, cuộc đấu tranh liên tục xảy ra và đã gây những tổn thương kéo dài, ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [9])
Cơ thể vật chủ là môi trường dinh dưỡng tự nhiên của vật ký sinh, vì thế những thay đổi trong môi trường ấy đều có liên quan trực tiếp đến đời sống của vật ký sinh Còn bản thân vật chủ thì thường xuyên bị ảnh hưởng trực tiếp của môi trường bên ngoài và thông qua cơ thể vật chủ ảnh hưởng đến vật ký sinh
Ảnh hưởng do hoạt động của vật chủ (gà) lên vật ký sinh (sán dây) thể hiện bằng những phản ứng của tế bào và dịch thể có tác dụng làm giảm khả năng sống của sán, nếu tác dụng mạnh hơn thì sẽ triệt tiêu hoặc thải vật ký sinh ra khỏi cơ thể Phản ứng rõ nhất là phản ứng viêm các mô ngay tại chỗ của vật ký sinh như hiện tượng tạo thành các nang liên kết bao quanh vật ký sinh và tách rời các mô xung quanh
Khi ấu trùng sán dây vào đường tiêu hoá của gà thì sự hoạt động của các men dạ dày và ruột cũng có tác dụng kìm chế sự phát triển của chúng
Chế độ dinh dưỡng cũng ảnh hưởng tới khả năng miễn dịch của gà đối với sán dây, gà được chăm sóc đảm bảo đủ lượng vitamin, muối khoáng, protit… thì tăng khả năng miễn dịch đối với sán dây Ngược lại, không đủ vitamin và muối khoáng thì giảm sức đề kháng của cơ thể gà đối với sự cảm nhiễm bệnh sán dây
Sán dây cũng gây suy giảm đáp ứng miễn dịch của gà bằng bản thân các độc tố mà chúng tiết ra Ngoài ra, việc sán dây chiếm đoạt dinh dưỡng của gà dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng cũng là một cách gián tiếp làm suy giảm đáp ứng miễn dịch đối với bệnh sán dây và các bệnh khác
Trang 32Nguyễn Thị Lê (1998) [11] cho biết, sự liên hệ của vật ký sinh và vật chủ được tiến hành trong những điều kiện môi trường nhất định và được phụ thuộc vào trạng thái của cơ thể vật chủ Nếu thay đổi điều kiện môi trường bên ngoài thì sẽ hạn chế được sự phát triển của giun sán ký sinh: đói, rét, thương tật hoặc những điều kiện bất lợi đều ảnh hưởng tới sức khoẻ của vật nuôi dễ làm suy yếu sức đề kháng của vật chủ và dễ dàng làm cho vật ký sinh xâm nhập, phát triển và gây bệnh cho vật chủ
1.1.2.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng các bệnh sán dây gà
Sán dùng giác bám bám sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương Nếu nhiều sán sẽ làm tắc ruột, thủng ruột, gây viêm xoang bụng Quá trình sinh bệnh còn do chất độc của sán Trong khi ký sinh, sán tiết ra độc tố làm gà bị trúng độc Sán dây lấy dinh dưỡng của ký chủ làm gà gầy yếu, còi cọc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7])
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [10] cho biết, 3 loài sán dây
thường gặp ở gà là R echinobothrida; R tetragona và R cesticillus đều gây
ra trạng thái bệnh đường tiêu hoá tương tự ở gà, nhưng loài R echinobothrida
có tác động gây bệnh nặng nhất
Với số lượng lớn sống ký sinh trong ống tiêu hoá của gà, sán dây sẽ chiếm đoạt các chất dinh dưỡng của gà, làm cho gà gầy yếu, thiếu máu, thể hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào và tích gà xanh tái Gà bệnh thở khó, do đó thường vươn cao cổ Gà bị nhiễm sán nặng sẽ giảm tăng trọng rõ rệt đối với gà nuôi thịt và giảm sản lượng đối với gà đẻ (Skrjabin và Petrov, 1963) Trong thời gian bị bệnh gà ăn kém hoặc có thể vẫn ăn bình thường
Sán gây ra tác động cơ học trong ruột non của gà, thể hiện: niêm mạc ruột bị tổn thương do các móc bám của sán, gây viêm ruột thứ phát và xuất huyết Gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu Gà con bị nhiễm sán thường thể hiện viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao (Kaufmann J (1996) [35])
Trang 33Trong quá trình ký sinh, sán dây cũng tiết ra độc tố tác động đến hệ thần kinh làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, thích đứng ủ rũ trong bóng tối Gà con bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết
Nguyễn Xuân Bình và cs (2004) [1] cho biết, thường gà từ 2 tháng tuổi trở lên mới bị nhiễm nhiều Khi bị nhiễm gà thường biểu hiện chậm lớn, giảm tính thèm ăn, xù lông, còi cọc, tiêu chảy và thiếu máu, niêm mạc xanh xao, nhợt nhạt Ở gà đẻ thấy lông xơ xác và giảm đẻ trứng
Chu Thị Thơm và cs (2006) [22] cũng cho biết, khi gà bị nhiễm sán dây, nhiều con vật gầy yếu, rối loạn tiêu hoá, kiết lị, có khi táo bón, ăn ít, khát nước, rủ cánh, mệt mỏi, hồng cầu, huyết sắc tố giảm, niêm mạc hơi vàng nhạt,
gà đẻ ít hoặc ngừng đẻ
Lê Đức Kỷ và cs (1984) [5], cho biết gà có triệu chứng rõ khi cơ thể gà
có nhiều sán hoặc thấy sán lòng thòng ở hậu môn gà, xem kỹ phân cũng thấy
có đốt sán Gà bị bệnh sán dây mệt mỏi, đi lại chậm chạp, ỉa chảy ít một, nhưng đi ỉa luôn và có sán theo ra, khát nước nên gà uống nhiều nước, xù lông sã cánh, gầy yếu dần, có khi liệt chân, lên cơn động kinh Nếu nhiễm nặng thì gà bỏ ăn, gầy rạc kiệt sức rồi chết
Khi nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây gà, Nguyễn Thất và cs (1975) [21] cho biết:
Gà bị nhiễm Davainea proglottina : Gà con bị nhiễm sán dây Davainea
chứng lâm sàng biểu hiện sau 15 - 20 ngày kể từ khi nhiễm bệnh
Sán dây ký sinh trong ruột gà, nhờ vòi và giác bám, chúng phá huỷ niêm mạc Ngoài ra, những sán này còn gây độc đến cơ thể gia cầm
Khi gà nhiễm nhiều sán, con vật gầy, yếu, rối loạn tiêu hoá, kiết lị, có khi táo bón, ăn ít, khát nước, rò cánh, mệt mỏi, hồng cầu, huyết sắc tố giảm, niêm mạc hơi vàng nhạt, gà đẻ ít hoặc ngừng đẻ
Trang 34Bệnh nặng con vật rối loạn tiêu hoá, có khi táo bón, kém ăn, khát nước,
hô hấp tăng, con vật kém hoạt động, ủ rũ, lông xù
Trên niêm mạc ruột, ở chỗ sán ký sinh xuất hiện điểm xuất huyết Trong lòng ruột chứa đầy chất nhầy, mùi thối
Gà con bị bệnh ỉa chảy, vận động chậm chạp, thở nhanh, lông xù
Ở gà mái mắc bệnh quan sát thấy rối loạn hoạt động tiêu hoá, đồng thời gầy sút nhanh, đôi khi gà bị chết
Gà bị nhiễm Raillietina echinobothrida: sán dây Railietina echinobothrida
còn non gây bệnh cấp tính trước giai đoạn sinh sản thể đốt của chúng; bệnh kéo dài từ một đến bảy ngày
Sán dây Railietina echinobothrida trưởng thành gây bệnh mãn tính,
trong trường hợp này bệnh kéo dài 20 ngày
Bệnh cấp tính quan sát thấy chủ yếu ở gà con Gà mỏi mệt, không muốn vận động, ủ rũ trong bóng tối Sau đó phát triển trạng thái hôn mê và nhiều gà con bị chết Ở gà lớn mắc bệnh mãn tính thấy rõ chứng thiếu máu, gà vẫn ăn uống bình thường Sau đó mào và tích bắt đầu bị xanh tím, khó thở, do
đó gà thường vươn cao cổ
Do niêm mạc ruột bị tổn thương cơ học nên ruột viêm, lúc đầu ỉa chảy, sau chuyển sang táo bón
Ở gà bị chết do bệnh sán dây cấp tính, niêm mạc ruột non sưng và cã màu đỏ máu Lúc này chưa phát hiện được sán trưởng thành Trên tiêu bản chất nhày niêm mạc, người ta phát hiện được nhiều đầu sán dây
Trong bệnh sán dây R echinobothrida mãn tính, trên niêm mạc ruột thấy
có những chấm đen nhỏ Từ những chấm đen này hình thành các nốt lõm ở trung tâm to bằng hạt kê Trong chỗ lõm thấy có sán dây dài đến 10 -15 mm
Trang 35Đôi khi trên các chỗ lõm miệng phễu của niêm mạc ruột non thấy rõ các nút chất vữa màu vàng nâu Trong quá trình phát triển, tiếp tục phát hiện được các nốt loét có đường kính 8 - 10 mm Tại các vị trí biến đổi trên thành niêm mạc ruột thấy rõ các u hoặc các nốt màu vàng, trên mặt cắt cứng và vôi hoá nhẹ
Trên miếng cắt mô học các u này thường thấy các đầu gai của sán R
Bệnh tích giải phẫu giống bệnh lao gia cầm Tuy nhiên, trong bệnh lao, các nốt lao không những chỉ có trong ruột mà còn có trong gan và trong lá lách
Các ổ dịch bệnh sán dây thường quan sát thấy chủ yếu vào mùa thu: gà
bị bệnh thường có hiện tượng gầy yếu và thiếu máu rất nặng, ở các cơ sở nuôi dưỡng và thức ăn bình thường, bệnh này có tính chất tự phát
Gà bị nhiễm Raillietina tetragona: Triệu chứng đặc trưng là ỉa chảy,
phân lẫn chất nhờn màu vàng, đôi khi lẫn máu, có cả đốt sán dây Cùng với quá trình bệnh, mặc dù vẫn ăn tốt, gµ cứ gầy đi, trở thành uể oải, thường ngồi, dấu đầu dưới cánh, không có phản ứng khi bắt, lông xù, cánh sã, khát nước,
Nếu số lượng sán dây ký sinh nhiều có thể gây tắc ruột, thủng ruột, từ
đó gây viêm phúc mạc
Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: Sán dây lấy dưỡng chấp ở ruột non làm cho ký chủ bị mất nhiều dinh dưỡng
Trang 36Tác động do độc tố: Trong quá trình ký sinh sán tiết ra độc tố làm cho
gà gầy yếu, thiếu máu, có những triệu chứng thần kinh: sã cánh, liệt chân (khi
bị nặng) và thường biểu hiện ở giai đoạn cuối của bệnh
Gà bị nhiễm sán gầy yếu, còi cọc, chậm lớn, lông xù, mào nhợt nhạt, trắng bệch, phân lỏng, trong phân có nhiều đốt sán, có thể thấy máu trong phân
Gà ủ rũ, lờ đờ, lông xù, cánh sã, giai đoạn cuối thì liệt chân, bỏ ăn, nằm bẹp một chỗ và chết
Mổ khám gà chết thấy xác gầy rạc, lông bết, phân dính ướt ở lông phía dưới hậu môn Dọc theo ruột có rất nhiều sán dây ký sinh, niêm mạc ruột viêm, chất chứa trong ruột có màu nâu hồng
Nguyễn Xuân Bình và cs (2004) [1] cho biết, khi mổ khám thấy niêm mạc đường tiêu hoá viêm và xuất huyết điểm (do sán bám vào thành ruột) Trên niêm mạc ruột dễ dàng thấy sán dây
1.1.2.5 Chẩn đoán bệnh sán dây gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], (2008) [9]: Đối với gà còn sống, dựa vào triệu chứng lâm sàng kết hợp với kiểm tra phân bằng phương pháp gạn rửa sa lắng để tìm đốt sán; đối với gà chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống có thể mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [9] cho biết: phương pháp chẩn đoán chủ yếu là kiểm tra phân gà, phát hiện các đốt sán dây bằng cách dội rửa liên tục (phương pháp benedek) Mổ gà nghi nhiễm sán, thu thập và định loại sán cũng là phương pháp đơn giản, cho phép xác định chính xác loài sán, tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây
1.1.2.6 Điều trị và phòng bệnh sán dây gà
Điều trị bệnh
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, có thể thấy rõ vai trò gây bệnh của sán dây đối với gà Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp điều trị và phòng bệnh là cần thiết
Trang 37Chữa bệnh phải nhằm đạt ba yêu cầu:
+ Trước hết phải dùng thuốc tẩy sán dây cho gà Phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với nó và không độc với ký chủ Nên chọn thuốc nào có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền nhất và dễ dùng nhất (cho uống dễ dàng cho toàn đàn)
+ Phải ngăn chặn không cho gà bị tái nhiễm, sát trùng tiêu độc chuồng trại
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], có thể dùng những loại thuốc như sau để tẩy sán dây cho gà:
- Arecolin: 0,003 g/kgTT Pha thành dung dịch 0,1% Cho thuốc vào thực quản bằng ống cao su Hiệu quả điều trị cao
- Hexachlorophen: 50-100 mg/kgTT Cho uống Hiệu quả đạt trên 90%, nhưng sau khi cho thuốc 3 - 7 ngày sản lượng trứng giảm
- Bột hạt cau: 50 - 500mg/gà Cho uống
- Niclosamid: 200mg/kgTT Cho uống
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [10] cho biết, các hoá dược đặc hiệu có tác dụng điều trị bệnh sán dây gà gồm:
- Praziquantel: Viêm xám màu trắng, dùng liều 10mg/kgTT gà có hiệu lực cao và an toàn tẩy các loài sán dây cho gà Tỷ lệ sạch sán có thể đạt 90-100% Thuốc trộn với thức ăn cho gà
- Niclosamide: Dạng bột màu vàng hoặc viên nén với liều 200mg/kgTT Trộn thức ăn, dùng liên tục 2-6 ngày, có hiệu lực tẩy sán cho gà tốt và an toàn Tỷ lệ sạch sán 90 - 95%
- Mebenvet: có 10% Mebendazol, dạng bột trắng không tan trong nước Liều dùng 60 ppm trộn với thức ăn, cho gà ăn liên tục 7 ngày Thuốc an toàn và tỷ lệ sạch sán 90 - 95%
- Oxfendazole: Dạng bột hoặc viên nén, dùng liều 10mg/kgTT gà Thuốc an toàn, tỷ lệ sạch sán 90-95%
Trang 38- Febentel: Dạng bột hoặc viên nén, dùng liều 30 mg/kgTT gà Thuốc
an toàn và tỷ lệ sạch sán 90-95%
Theo Dương Công Thuận (2003) [26], trước đây tẩy sán thường dùng bằng bột hạt cau liều 0,5g/gà hoặc Arecolin 0,3mg/kg thể trọng Tác giả cho biết thêm hiện nay thường dùng Niclosamid dẫn xuất của Salicynanilid có tác dụng cao để tẩy sán dây, đặc biệt là Raillietina, liều dùng 0,2g/kg Có thể dùng thuốc tẩy sán cho người Yomesan (Niclosamid) liều dùng như trên Mebendazol ngoài tác dụng trị giun tròn còn có hiệu lực trị sán dây với liều 3
- 6mg/kg thể trọng dùng trong 7 ngày hoặc trộn trong thức ăn 12g/1tạ hỗn hợp cho ăn trong 10 ngày (nếu dùng Mebenvet thì trộn 120g/1tạ thức ăn)
Phòng bệnh
Việc phòng trừ bệnh giun sán nói chung phải đạt được các yêu cầu sau:
- Điều trị cho gà bị bệnh khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không
bị ô nhiễm mầm bệnh, tránh mầm bệnh nhiễm vào các con vật khác Sau khi tẩy phải tiêu diệt tất cả sán và đốt sán được thải ra ngoài để ngăn ngừa mầm bệnh phân tán
- Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy sán dây
- Định kỳ cho gà dùng thuốc tẩy để chống tái nhiễm, bội nhiễm
Các tác giả Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [7], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [10] đều cho rằng: có thể áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với bệnh sán dây ở gà như sau:
- Định kỳ dùng thuốc tẩy sán dây cho gà
- Tập trung phân để ủ diệt trứng sán dây Cơ sở khoa học của phương pháp ủ phân là dựa vào hoạt động của hệ vi sinh vật yếm khí và hiếu khí phân giải và lên men các chất hữu cơ, làm tăng nhiệt độ của đống phân ủ lên rất nhiều Ở nhiệt độ này toàn bộ mầm bệnh giun sán bị tiêu diệt
Trang 39Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], có thể ủ phân theo các công thức sau:
+ Công thức 1: Phân chuồng: 800 - 1000kg
Lá xanh băm nhỏ: 200kg
Tro bếp: 60kg Trộn tro bếp và lá xanh, cứ một lớp phân chuồng trộn 1 lớp tro bếp và
lá xanh Đánh đống, mặt ngoài phủ rác, sau 14 ngày nhiệt độ đống phân tăng
Làm hố ủ: hố sâu 1,5m, dài và rộng 1,5 - 2m Dưới hố có khoảng 25cm
cỏ khô hoặc cát, để phân chuồng cao 1,25m Trên bề mặt phủ lớp rác dày 10cm, trên cùng phủ một lớp đất bùn dày 20cm Thời gian ủ là 1 - 2 tháng
- Định kỳ làm vệ sinh chuồng trại, sát trùng chuồng trại và sân chơi
- Cách ly, nuôi gà con ở chuồng và sân chơi sạch sẽ
- Áp dụng biện pháp diệt côn trùng môi giới như: xịt thuốc diệt côn trùng (nhưng phải chú ý không gây độc cho gà), giữ sạch thức ăn và nguồn nước uống cho gà
- Nuôi dưỡng gà theo khẩu phần phù hợp với lứa tuổi, đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, cần bổ sung đủ đạm, khoáng và các vitamin A, D, E và vitamin nhóm B
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, chứng minh hiệu quả của biện pháp phòng trừ tổng hợp đã nói trên
Trang 401.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [10] cho biết: gà ở các lứa tuổi
đều bị nhiễm sán dây Raillietina spp nhưng gà con bị nhiễm sán với tỷ lệ và
cường độ cao, phát bệnh nặng ở thể cấp tính và chết nhiều, nhất là gà từ 1 -3 tháng tuổi Gà trưởng thành nhiễm sán đôi khi không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng, chỉ thấy gà gầy dần, tăng trọng giảm và giảm đẻ trứng (đối với gà mái) Các giống gà thịt và gà hướng trứng cao sản nhập nội, chưa thích nghi với điều kiện sinh thái ở nước ta bị nhiễm sán nặng hơn các giống gà nội
Theo Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2001) [14] thì sán dây ký sinh ở gà
thường gặp 5 loài chủ yếu là: R tetragona, R.echinobothrida, R cesticillus,
thương thành ruột, tạo điều kiện cho nhiễm trùng thứ phát (E.coli, Salmonella…)
có thể gây xuất huyết và viêm ruột, tiêu chảy, phân thải ra kèm theo nhiều dịch nhầy Nhiều trường hợp niêm mạc ruột non bị bọc bởi màng nhầy màu vàng, có thể thấy sán nằm cuộn ở đó
Đỗ Hồng Cường và Nguyễn Thị Kim Thành (1999) [2] đã mổ khám
511 con gà, trong đó có 305 gà Ri và 206 gà Lơgo tại các hộ gia đình thuộc khu vực Hà Nội thấy: sán dây tìm thấy ở đàn gà đều ký sinh nhiều ở phần ruột non, nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể; ở gà Ri, tỷ lệ nhiễm sán dây tương đối cao (61,31%), gà Lơgo (16,99%)
Thành phần loài ký sinh gồm 3 loài: R echinobothrida, R tetragona, R
các loài và tỷ lệ nhiễm R echinonothrida cao hơn R tetragona và R
Lơgo: 6,50% với 4,40 sán/gà) so với R cesticillus (3,72 và 3,33 sán/gà) Tỷ lệ