1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY TẮC ĐẠO ĐỨC TRONG MỐI QUAN HỆ LUẬT SƯ VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

15 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 40,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT KHOA LUẬT  ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT CÁC QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016  ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT CÁC QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC Nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư quy định những chuẩn mực về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư. Mỗi luật sư phải lấy Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp này làm khuôn mẫu cho sự tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín nghề nghiệp, thanh danh của luật sư, xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội.” ( Trích lời nói đầu của bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam) Danh mục các từ viết tắt CQTHTT: cơ quan tiến hành tố tụng CQNN: cơ quan Nhà nước BLHS: bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự THTT: tiến hành tố tụng VKS: Viện kiểm sát 1. Các quy tắc đạo đức của Luật sư trong mối quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng 1.1. Các quy tắc Do yêu cầu hoạt động nghề nghiệp, giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực tế đã hình thành mối quan hệ thường xuyên và mật thiết. Việc xác định bản chất mối quan hệ này là một yêu cầu cần thiết trong nhận thức pháp luật. Đồng thời việc quan tâm xây dựng, xác lập mối quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng chính là giúp thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn, chủ động tích cực hơn và trên hết nhằm đem đến những lợi ích cho công tác pháp luật nói chung.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

KHOA LUẬT



ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

CÁC QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CƠ

QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT CÁC QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CƠ

QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

Nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của luật

sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư quy định những chuẩn mực về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư Mỗi luật sư phải lấy Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp này làm khuôn mẫu cho sự tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín nghề nghiệp, thanh

danh của luật sư, xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội.” ( Trích lời nói đầu của bộ

quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam)

Danh mục các từ viết tắt

CQTHTT: cơ quan tiến hành tố tụng

CQNN: cơ quan Nhà nước

BLHS: bộ luật hình sự

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

THTT: tiến hành tố tụng

VKS: Viện kiểm sát

1 Các quy tắc đạo đức của Luật sư trong mối quan hệ với cơ quan tiến hành

tố tụng

1.1 Các quy tắc

Do yêu cầu hoạt động nghề nghiệp, giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực tế đã hình thành mối quan hệ thường xuyên và mật thiết Việc xác định bản chất mối quan hệ này là một yêu cầu cần thiết trong nhận thức pháp luật Đồng thời việc quan tâm xây dựng, xác lập mối quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng chính là giúp thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn, chủ

Trang 3

động tích cực hơn và trên hết nhằm đem đến những lợi ích cho công tác pháp luật nói chung

Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước trong việc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hình sự, vụ án hành chính và thi hành án dân

sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Các quyết định của các cơ quan này

có giá trị bắt buộc các chủ thể khác phải chấp hành

Hoạt động tố tụng của các cơ quan này mang tính độc lập, không bị lệ thuộc vào cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào khác Tuy vậy, để đàm bảo được việc giải quyết vụ

án và thi hành án đúng pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng nhân dân, chịu sự giám sát của của nhân dân, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Trong thủ tục tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, lao động cơ quan tiến tố tụng bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự Trong thủ tục tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Từ thực tiễn tham gia tố tụng, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa luật sư với CQTHTT chủ yếu tập trung vào các hành vi ứng xử theo các phạm vi sau đây:

- Tiếp xúc, nhận diện chính xác các CQTHTT, người THTT để làm thủ tục

tham gia tố tụng, tham gia các buổi hỏi cung, làm việc giữa điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán với bị can, bị cáo; tiến hành một số hoạt động, thao tác, kỹ năng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ, những việc được làm và không nên làm của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng hình sự… Luật sư phải biết vận dụng, ứng xử linh hoạt, đúng đắn khi tham gia vào từng phạm vi công việc hay giai đoạn tố tụng, đặt yêu cầu hay đề xuất, kiến nghị được chính xác, phù hợp

- Nhận thức và ứng xử khi tham gia phiên tòa của luật sư (và thông qua luật sư,

là thái độ ứng xử của khách hàng) với các thành phần THTT về vị trí, vai trò của luật sư góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, trên cơ sở bảo vệ các

quyền và lợi ích khách hàng

- Nhận thức và ứng xử trong cuộc sống, với truyền thông, đảm bảo cho việc xử

lý các quan hệ này một cách lành mạnh, chuẩn mực, không có hành động lôi kéo, làm trung gian, móc nối các CQTHTT và người THTT vào việc làm trái pháp luật, hoặc cố ý gây nhầm tưởng về sự quen biết nhằm tác động đến sự lựa chọn luật sư của khách hàng; lợi dụng các phương tiện truyền thông nhằm nói xấu, xúc phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của CQTHTT

Trang 4

Các quy tắc này được quy định tại chương 4 của quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam

Cụ thể như sau:

Quy tắc 23 Ứng xử của luật sư trong quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng

23.1 Luật sư phải nghiêm chỉnh chấp hành nội quy và các quy định có liên quan trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng; có thái độ hợp tác, lịch sự, tôn trọng những người tiến hành tố tụng mà luật sư tiếp xúc khi hành nghề;

Điều 256, Bộ luật Tố tụng hình sự có nêu rõ:

“Điều 256 Nội quy phiên tòa

1 Mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa án.

2 Mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.”

23.2 Luật sư có thể trao đổi ý kiến về nghiệp vụ với người tiến hành tố tụng trong

quá trình giải quyết vụ án, nếu xét thấy cần thiết và có lợi cho khách hàng nhưng phải giữ tính độc lập, không bị chi phối hoặc lệ thuộc vào ý kiến khác mình làm ảnh hưởng tới việc xây dựng quan điểm, phương án bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng;

Luật sư cần nhận thực việc tiếp xúc, trao đổi ý kiến về nghiệp vụ là cần thiết và có lợi cho khách hàng, nên đương nhiên phải giữ tính độc lập, không bị chi phối hoặc

lệ thuộc vào ý kiến khác mình làm ảnh hưởng tới việc xây dựng quan điểm, phương

án bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng Trong thực tế, cũng không một luật sư nào chỉ vì bị chi phối hoặc lệ thuộc vào ý kiến nào đó mà tự đánh mất thiên chức và nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình

Việc hiểu thế nào là “trao đổi ý kiến nghiệp vụ” với người THTT và CQTHTT cần phải làm rõ Cụ thể : Việc tiếp xúc và trao đổi này về nguyên tắc cần được tiến hành công khai, tại trụ sở CQTHTT, trong giờ hành chính, liên quan chủ yếu trao đổi về các căn cứ kết tội và bằng chứng gỡ tội, cung cấp tài liệu do luật sư thu thập, xác minh hoặc kiến nghị bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp, xin thay đổi biện pháp ngăn chặn cho khách hàng…( bài 5 Đạo đức ứng xử và nghề nghiệp luật sư của Đoàn Luật sư Việt Nam)

23.3 Tại phiên tòa, luật sư chấp hành nội quy phiên tòa, tôn trọng hội đồng xét xử, đại diện viện kiểm sát; có thái độ ứng xử đúng mực, có văn hóa khi thực hiện quyền

xét hỏi người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác; không suy đoán

Trang 5

chủ quan mang tính chất kích động, quy chụp, kết tội người khác hoặc có những lời lẽ gây bất lợi cho khách hàng của mình; không cố tình trì hoãn, gây trở ngại cho việc xét xử bằng những phương cách bất hợp lý hay trái đạo đức;

Vấn đề tiếp theo đó là: xác định thế nào là “không suy đoán chủ quan mang tính

chất kích động, quy chụp, kết tội người khác hoặc có những lời lẽ gây bất lợi cho khách hàng của mình; không cố tình trì hoãn, gây trở ngại cho việc xét xử bằng những phương cách bất hợp lý hay trái đạo đức”, chúng tôi cho rằng, tự bản thân

quan điểm bào chữa hay tranh luận của luật sư đã bao hàm mang tính chủ quan, nhưng vấn đề cần phân biệt chính là ở chỗ cần tránh nhận thức chủ quan, phiến diện

mà dẫn đến trong lời nói, hành động, trong tài liệu gửi đến CQTHTT, có những lời

lẽ, câu chữ mang tính chất kích động, quy chụp, kết tội người khác Điều này vẫn thường xảy ra trên thực tế, có thể do vị thế của luật sư đứng trên quyền lợi của khách hàng khác nhau, hoặc do thiếu kiềm chế dẫn đến quy chụp mang tính cá nhân, thoát ly khỏi nội dung tranh tụng của vụ án

Ví dụ như trong tài liệu gửi đến tòa án Luật sư ghi: “ Việc này là do cán bộ tòa án

mà cụ thể là thư kí tòa án đã làm sai, tôi không thế chấp nhận được việc làm thiếu cẩn trọng của thư kí”

23.4 Trong luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền lợi, luật sư phải chỉ ra những chứng

cứ pháp lý và căn cứ pháp luật có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc giải quyết vụ

án được khách quan, đúng pháp luật, đồng thời kiên quyết bảo vệ ý kiến, luận cứ chính đáng và hợp pháp của mình;

Mặt khác, thực tiễn tham gia tố tụng trong các vụ án ( đặc biệt là các vụ án hình sự) cho thấy, không phải lúc nào các quan điểm, chứng cứ pháp lý và căn cứ pháp luật

có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật của luật sư đều được Hội đồng xét xử chấp nhận Vấn đề là khi tranh luận, luật

sư phải có thái độ ứng xử chuẩn mực và có văn hóa, vừa kiên trì bảo vệ ý kiến, luận

cứ chính đáng và hợp pháp của mình, nhưng cũng phải kịp thời điều chỉnh, ghi nhận quan điểm có căn cứ cùa người buộc tội hoặc của luật sư bảo vệ cho khách hàng có quyền lợi đối lập với khách hành của mình, để tránh tình trạng bị coi là

“bào chữa bằng mọi giá”, bất chấp sự thật khách quan Như trong trường hợp thấy

rõ ràng là mình sai, chỉ bào chữa theo hướng giảm nhẹ cho khách hàng của mình nhưng lại bào chữa ngược lại là khách hàng của mình đúng

23.5 Luật sư luôn giữ bình tĩnh và có quyền có những phản ứng, yêu cầu thỏa đáng, hợp lệ, đúng pháp luật trước những thái độ, hành vi sai trái, thiếu tôn trọng luật sư hay khách hàng của luật sư tại phiên tòa cũng như trong quá trình tố tụng

Trang 6

Ví dụ: Sau khi nghe đại diện VKS tranh luận có ý chọc tức và xúc phạm mình, Luật

sư vơ chai nước trên bàn ném thẳng về phía đại diện VKS Như vậy là vi phạm quy tắc 23.5

Quy tắc 24 Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng

24.1 Câu kết qua trung gian hoặc trực tiếp quan hệ với người tiến hành tố tụng (kể

cả người tham gia tố tụng) nhằm mục đích lôi kéo họ vào việc làm trái pháp luật trong giải quyết vụ việc;

24.2 Cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ mà luật sư biết rõ là sai sự thật; tham gia hay hướng dẫn khách hàng tạo thông tin, tài liệu, chứng cứ sai sự thật để cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng hoặc thực hiện những hành vi khác với mục đích lừa dối cơ quan tiến hành tố tụng;

Nhiệm vụ của luật sư là trình bày vụ việc của khách hàng bằng những lí lẽ thuyết phục của mình, thực hiện nghĩa vụ này và duy trì lòng tin của khách hàng chính là thái độ cần thể hiện trước tòa án nói riêng và cơ quan tiến hành tố tụng nói chung Nói một cách khác, tuy là có nghĩa vụ cố gắng bảo vệ quyền lợi khách hàng của mình nhưng luật sư cũng không được lừa dối Tòa án Nếu một người không phải là khách hàng cung cấp một chứng cứ mà luật sư biết là không đúng sự thật thì luật sư phải từ chối chấp nhận nó bất kể khách hàng có muốn như vậy hay không,

24.3 Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi bất hợp pháp nhằm trì hoãn hoặc gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc;

24.4 Dùng lời lẽ mang tính chất chỉ trích, xúc phạm cá nhân trong quá trình tham gia tố tụng;

Luật sư phải tỏ lòng tôn trọng với những người được xã hội giao phó sứ mệnh thực hiện công lý Đó là bổn phận đồng thời cũng là quyền lợi của luật sư bởi vì luật sư luôn đứng trước những con người này để bảo vệ quyền lợi của khách hàng

24.5 Lợi dụng tư cách người tham gia tố tụng tại phiên tòa theo quy định của pháp luật để phát biểu những lời lẽ gây phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội, đoàn kết dân tộc, tôn giáo hoặc tuyên truyền, phổ biến những quan điểm trái pháp luật hay đạo đức xã hội;

24.6 Phản ứng tiêu cực bằng hành vi tự ý bỏ về khi tham gia tố tụng tại phiên tòa làm ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của khách hàng, ảnh hưởng tới hoạt động của Hội đồng xét xử;

Trang 7

Nhìn chung các quy tắc 24.1 tới 24.5 phù hợp với các quy định quy định tại điều 9 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 và trên tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể:

- Theo điều 256 BLTTHS 2003 thì mọi người vào phòng xử án phải mặc trang

phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa án, tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.”

- Nếu luật sư vi phạm các quy định trên thì đã vi phạm vào khoản e, khoản j,

khoản k điều 9 Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi bổ sung năm 2012

“e) Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ,

công chức, viên chức khác để làm

i) Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;

k) Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành

tố tụng và các cơ quan nhà nước khác trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;”

24.7 Phát biểu những điều biết rõ là sai sự thật trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc nơi công cộng về những vấn đề có liên quan đến vụ việc luật sư đảm nhận, nhằm gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Xử lí luật sư vi phạm các quy tắc hành nghề luật sư

- Xử lí luật sư vi phạm theo điều 85 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012

thì

1 Luật sư vi phạm quy định của Luật này, Điều lệ, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật

sư thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau đây:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ sáu tháng đến hai mươi bốn tháng;

d) Xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư

Trang 8

- Ngoài ra, nếu vi phạm các quy định trên thì luật sư có thể bị truy tố hình sự theo

các điều 289 BLHS là tội đưa hối lộ, hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

2 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước khác

2.1 Nhận diện phạm vi mối quan hệ giữa luật sư với CQNN khác

Mối quan hệ trực tiếp giữa luật sư và CQNN khác còn hạn chế:

- Các luật sư được khách hàng ủy quyền giao tiếp với các công chức nhà nước để thực hiện những yêu cầu của họ Mà việc khách hàng ủy quyền cho luật sư đại diện cho mình để giao dịch với các CQNN chưa phổ biến ở nước ta.

- Người dân chưa có thói quan sử dụng dịch vụ luật sư, nếu có việc gì cần thì

thì trực tiếp giao dịch với cơ quan nhà nước hoặc qua người quen để nhờ vả

- Các CQNN cũng chưa có sự tin cậy, còn do dự khi tiếp xúc vơi luật sư là người đại diện cho người có quyền yêu cầu.

2.2 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư đối với CQNN khác

Các CQNN là đối tượng giao dịch, tiếp xúc của luật sư bao gồm nhiều dạng, cấp khác nhau, mở rộng ra tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Để có thái độ ứng xử chuẩn mực, đạt được yêu cầu mong muốn của khách hàng, luật sư cần nhận biết thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của CQNN, người có trách nhiệm giải quyết, thông suốt về quy trình, thời hạn giải quyết, giới hạn của việc tư vấn và khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng Mặt khác, mối quan hệ này cũng tiềm ẩn những xung đột tiềm tàng, do không được thỏa mãn yêu cầu, khách hàng dễ bị kích động dẫn đến khiếu nại, tố cáo vượt cấp, không đúng sự thật, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết, cũng như uy tín của CQNN Việc tuân thủ và vận dụng đúng đắn các quy tắc đạo đức và ứng xử sẽ gầy dựng niềm tin của khách hàng đối với việc hành nghề của luật sư, đồng thời cũng dành được sự tôn trọng của các CQNN đối với luật sư

Quy tắc 25 Ứng xử của luật sư trong quan hệ với các cơ quan nhà nước khác

25.1 luật sư phải tuân thủ những quy định phù hợp trong Quy tắc 23, Quy tắc 24

Khi hành nghề với tư cách đại diện ngoài tố tụng, luật sư tư vấn hoặc thực hiện dịch

vụ pháp lý khác cho khách hàng, phạm vi quan hệ luật sư thường uyển chuyển, phong phú, đa dạng hơn nhiều so với những quy chuẩn nghiêm ngặt khi tham gia tố tụng trong vụ án hình sự Chính sự khác biệt này đôi khi làm cho luật sư coi nhẹ việc chuẩn bị tư thế, thái độ, hành vi và ứng xử với CQNN hoặc người có trách nhiệm giải quyết công việc, yêu cầu của khách hàng Vì vậy luật sư phải tuân thủ những quy định phù hợp trong quy tắc 23, 24

Trang 9

25.2 Trong quan hệ với cơ quan nhà nước, để thực hiện công việc cho khách hàng, luật sư cần có thái độ lịch sự, tôn trọng, kiên quyết từ chối những hành vi móc nối, trung gian trái pháp luật, trái đạo đức và lương tâm nghề nghiệp;

25.3 Luật sư có trách nhiệm giải thích cho khách hàng các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhằm khuyến nghị khách hàng tránh việc khiếu nại, tố cáo trái pháp luật, gây tốn kém thời gian, tiền bạc của Nhà nước, của người dân và ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội;

Thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của luật sư thường gặp phải những trường hợp là đại diện theo ủy quyền hoặc luật sư tư vấn những vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, phức tạp, trải qua nhiều cấp, trong đó có những yêu cầu của khách hàng có khả năng vượt quá những chuẩn mực tố tụng hành chính bình thường (ví dụ, từ chỗ khiếu nại không được giải quyết, bị người khác kích động, lôi kéo tụ tập đông người hoặc biểu tình với những băng- rôn, khẩu hiệu có tính chất chống đối, xuyên tạc chính sách, pháp luật của nhà nước…) Đó chính là lý do vì sao trong những trường hợp như vậy, luật sư có trách nhiệm giải thích cho khách hàng các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhằm khuyến nghị khách hàng tránh việc khiếu nại, tố cáo trái pháp luật, gây tốn kém thời gian, tiền bạc của nhà nước, của người dân và ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

25.4 Luật sư không tìm cách nhằm kéo dài, gây khó khăn cho việc giải quyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Luật sư cũng không nên tìm cách nhằm kéo dài, gây khó khăn cho việc giải quyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với vụ việc mà mình đang đảm nhận

là người đại diện, tư vấn hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng

3 Thực trạng và bình luận

3.1 Vấn đề vi phạm các chuẩn mực đạo đức của Luật sư – nhận tiền “chạy

án”?

Nguyên nhân chạy án: là do vai trò của luật sư trong phiên tòa quá mờ nhạt, luật sư nói đúng chưa chắc hội đồng xét xử đã nghe, kết quả bản án không dựa vào tranh luận tại phiên tòa mà thường là án đã có sẵn (án bỏ túi), nhiều phiên tòa luật sư chỉ ngồi cho có hoặc ngồi cho đẹp đội hình mà thôi

Làm luật sư bào chữa bằng lời nói suông thường rất ít khách hàng đến nhờ vì hiệu quả không cao hoặc không có hiệu quả, luật sư không có khách hàng thì không có thu nhập, mà không có thu nhập thì trở thành luật sư nghèo

Để tồn tại nhiều luật sư đã chọn con đường cấu kết với thẩm phán để chạy án, nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng đặc ra và làm giàu cho bản thân Với môi trường

Trang 10

pháp lý như hiện nay thì luật sư chân chính thật sự chỉ đếm được trên đầu ngón tay Với cơ chế này thì đến một thời gian không xa nữa, số lượng luật sư chân chính cả nước đếm không đủ trên đầu ngón tay

Luật thì quy định rằng luật sư không được làm những việc sau:

24.1 Câu kết qua trung gian hoặc trực tiếp quan hệ với người tiến hành tố tụng (kể

cả người tham gia tố tụng) nhằm mục đích lôi kéo họ vào việc làm trái pháp luật trong giải quyết vụ việc;

e) Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm

Nhưng trên thực tế có đa số bộ phận luật sư lại vi phạm điều này, đó là hiện tượng

“chạy án” trong giới luật sư, gần đây nhất là phát biểu của Luật sư Võ An Đôn

( đoàn luật sư Phú Yên): "Nghề luật sư là nghề hái ra tiền ở Việt Nam hiện nay, mỗi

tháng một luật sư nhận trung bình từ 3-10 vụ án; nếu là luật sư chân chính thì nhận vài triệu đồng mỗi vụ, còn luật sư chạy án thì nhận từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi vụ Nhiều luật sư chạy án giàu lên nhanh chóng, họ mua nhà lầu ở nhiều nơi và tậu xe hơi đắt tiền".

Việc phát biểu của LS Đôn gây ra những phản ứng trái chiều, có người thì cho rằng Luật sư Đôn đã nêu lên được những vấn đề bức xúc trong giới luật sư mà nhiều người biết nhưng không ai dám lên tiếng, cho rằng ông là một luật sư chân chính Còn ý kiến ngược lại thì cho rằng việc LS Đôn dựa vào mức thu nhập, tài sản mà đánh giá đồng nghiệp khác như vậy là một sự ấu trĩ, chủ quan làm ảnh hưởng tới danh dự của giới luật sư Nhưng cho dù ý kiến như thế nào thì chúng ta cũng nên biết rằng, “không có lửa thì làm sao có khói” nếu thật sự xã hội không có những bất tất như vậy thì không ai lên tiếng làm gì cả

Việc chạy án trong giới luật sư có từ cách đây không lâu cho tới tận bây giờ nó vẫn còn tiếp diễn, có thể kể đến ở đây là vụ án mà cả Thẩm phán, Luật sư, Kiểm sát viên bắt tay nhau “chạy án”, cụ thể như sau:

 Theo cáo trạng, trung tuần tháng 4/2008, đồn Biên phòng số 11 (Quảng Ninh) bắt quả tang Ngô Ngọc Phan vận chuyển cho Lý Chí Trung (quốc tịch Trung Quốc) 1.200 vỉ thuốc tân dược Cơ quan điều tra xác định đây là các chất ma túy độc hại dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị

 Trung tá Vũ Ngọc Sơn (Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy PC 17, Công an Quảng Ninh) được giao điều tra chính vụ án

Ngày đăng: 04/06/2016, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w