1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị

62 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 410,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi gà nhỏ lẻ, tận dụng nguồn thức ăn trong tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển,

Trang 1

LÊ XUÂN DUY

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐẦU ĐEN DO

HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA TRÊN GÀ NUÔI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2009 - 2013

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

LÊ XUÂN DUY

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐẦU ĐEN DO

HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA TRÊN GÀ NUÔI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Trang 3

luôn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới:

Ban giám hiệu, toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang

đã luôn động viên giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận

Đồng thời tôi cũng xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã

đóng góp ý kiến quí báu và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

ThS NCS Trương Thị Tính: Luôn quan tâm theo sát tiến độ đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn: Toàn thể cán bộ công nhân viên Trạm thú y huyện Định Hóa đã tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Để góp phần cho việc hoàn thành khóa luận đạt kết quả tốt, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

sinh viên khi ra trường cần trang bị cho mình một vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vậy, thực tập tốt nghiệp là việc hết sức quan trọng giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học, vận dụng

lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc Qua đó sinh viên sẽ nâng cao trình độ, khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong và làm việc khoa học,

có tính sáng tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết, giỏi

về tay nghề, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của

thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, ThS.NCS Trương Thị Tính và sự tiếp nhận của Trạm thú y huyện

Đinh Hóa, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị”

Sau thời gian thục tập tốt nghiệp với tinh thần khẩn trương nghiêm túc nên tôi đã hoàn thành khóa luận Tuy nhiên, do trình độ có hạn, bước đầu còn

bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu Nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những sai sót và hạn chế, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Phần 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Mục đích nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào H meleagridis 3

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào H meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh 3

2.1.1.2 Hình thái học loài H meleagridis 3

2.1.1.3 Vòng đời H meleagridis 5

2.1.2 Đặc điểm sinh học của giun tròn Heterakis gallinarum - Ký chủ trung gian (KCTG) của H meleagridis 8

2.1.2.1 Hình thái 8

2.1.2.2 Vòng đời 9

2.1.3 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 10

2.1.3.1 Lịch sử bệnh 10

2.1.3.2 Những thiệt hại kinh tế do Histomonosis gây ra 12

2.1.3.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm 13

2.1.3.4 Cơ chế sinh bệnh 14

2.1.3.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen 15

2.1.3.6 Chẩn đoán 16

2.1.3.7 Phòng trị bệnh đầu đen cho gà 19

Trang 6

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 23

3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 23

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 24

3.3.1.1 Thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh cho gà ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 24

3.3.1.2 Nghiên cứu tình hình nhiễm H meleagridis ở gà qua mổ khám 24

3.3.1.3 Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà 24

3.3.2 Sử dụng thuốc điều trị bệnh đầu đen cho gà 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do H meleagridis gây nên ở gà nuôi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 25

3.4.1.1 Phương pháp điều tra công tác phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 25

3.4.1.2 Bố trí thu thập gà để mổ khám và phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà nuôi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 25

3.4.1.3 Phương pháp nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà 29

3.4.2 Phương pháp sử dụng thuốc điều trị bệnh đầu đen cho gà ở Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 31

3.4.2.1 Sử dụng phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà 31

Trang 7

Hóa, tỉnh Thái Nguyên 33

4.1.1 Kết quả điều tra thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 33

4.1.2 Tình hình nhiễm H meleagridis gây ra ở gà tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 34

4.1.2.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số địa phương của huyện Định Hóa 34

4.1.2.2 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo tuổi gà 35

4.1.2.3 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo phương thức chăn nuôi gà 37

4.1.2.4 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo kiểu nền chuồng nuôi gà 39

4.1.2.5 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 40

4.1.3 Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà 41

4.1.3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám 41

4.1.3.2 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 43

4.1.3.3 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim 44

4.1.3.4 Sự ô nhiễm trứng giun kim ở nền chuồng, xung quanh chuồng và vườn chăn thả gà 45

4.2 Sử dụng thuốc điều trị bệnh đầu đen cho gà ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 47

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.1.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen trên gà ở 4 xã huyện Định Hóa 49

5.1.2 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà 50

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 8

1 Cs Cộng sự

Trang 9

tỉnh Thái Nguyên 33

Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số địa phương của huyện Định Hóa 34

Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo lứa tuổi 36

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo phương thức chăn nuôi 38

Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo kiểu nền chuồng nuôi gà 39

Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 40

Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám 41

Bảng 4.8 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 43

Bảng 4.9 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim 44

Bảng 4.10 Sự ô nhiễm trứng giun kim ở nền chuồng, xung quanh chuồng và vườn chăn thả gà 45

Bảng 4.11 Hiệu lực của phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà trên thực địa 48

Trang 10

vị trí quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Chăn nuôi

đã và đang làm thay đổi cuộc sống, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Mặt khác ngành chăn nuôi còn cung cấp sản phẩm phụ cho các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt

Định Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi gà nhỏ lẻ, tận dụng nguồn thức ăn trong tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển, kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào

Histomonas gây ra

Bệnh đầu đen (do đơn bào Histomonas) gây ra ở gà là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra

Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu, ban đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen nên bệnh còn có tên là bệnh đầu đen Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm lắm Thực chất cuối cùng gà chết có thể đến 85 – 95%

Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi gà ở huyện Định

Hóa, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen

do Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị”

Trang 11

1.2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà nuôi tại 4 xã, thị

trấn: Định Biên, Đồng Thịnh, Trung Hội và Thị Trấn Chợ Chu ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và dùng thuốc điều trị bệnh

1.3 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao

1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và đưa ra phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao nhất

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để người chăn nuôi hiểu rõ về căn bệnh, khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà

và gà tây Bệnh do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis gây ra H meleagridis ký sinh chủ yếu trong lòng manh tràng và nhu mô gan,

gây hoại tử, xuất huyết niêm mạc manh tràng, rối loạn chức năng gan và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, ảnh hưởng tới thu nhập của người chăn nuôi

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào H meleagridis

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào H meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh

Trong mô tả đầu tiên của (Smith, 1895) [26], H meleagridis được biết

đến là amip

Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [12],

đã cho biết vị trí phân loại của H meleagridis như sau:

Giới: Protozoen

Ngành: Parabasalia

Lớp: Tritrichomonadea

Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas

Loài: Histomonas meleagridis

2.1.1.2 Hình thái học loài H meleagridis

Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen Smith (1895) [26] nhận thấy, ở gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã tìm thấy tác nhân gây

bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc ovan,

Trang 13

đường kính 8 - 14 µm Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, Smith nhận thấy đơn bào có dạng hình ovan, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân Tác nhân gây bệnh có

tên là H meleagridis

Tyzzer, (1920) [29] đã nghiên cứu về bệnh đầu đen và mô tả hình thái

của H meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau Tyzzer và Fabyan (1922) đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tác giả thấy H meleagridis

tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi) Trong mô (giai đoạn xâm lấn) nó có

dạng amip, trong lòng manh tràng H meleagridis ở dạng có roi H meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 14 µm, trong khi ở hình

dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm Tyzzer (1934) [27] đã nghiên

cứu sự chuyển động của H meleagridis ở 42o C và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ

H meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình Amip và hình lưới… Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến

nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có hai nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ) từ nhân to mọc ra 4 cái roi

Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H meleagridis, các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3

phần: màng, nguyên sinh chất và nhân

Màng đơn bào H meleagridis là một màng đơn

Nguyên sinh chất của H meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và

ARN (Lee và cs 1969), một số không bào và hạt nhân (Schuster, 1968)

Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid Màng nhân

là một màng kép (Schuster, 1968; Lee và cs 1969) Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi (Schuster, 1968)

Trang 14

Theo Muller (1993), H meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể

Lưới nội chất đã bị thoái hóa

2.1.1.3 Vòng đời H meleagridis

Chu trình sinh học của H meleagridis như sau: Trong mô tổ chức của

ký chủ (gà và gà tây), Histomonas sản sinh theo phương thức tự nhân đôi

trong tế bào gan, manh tràng và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới

(Incistio) Tuy nhiên, H meleagridis thâm thập, ký sinh vào trong trứng giun

kim và tiếp tục phát triển trong đó như thế nào thì chưa được nghiên cứu kỹ

và chưa có giải đáp thỏa đáng về vấn đề này

H meleagridis có thể nuôi cấy trong môi trường nhân tạo, yếm khí

H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân)

H meleagridis lây truyền bằng 2 con đường: lây nhiễm trực tiếp và lây

nhiễm gián tiếp qua giun kim

* Truyền bệnh trực tiếp

Trong báo cáo ban đầu của Smith (1895) [26], sự lây truyền trực tiếp

bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe nuốt H meleagridis Theo quan điểm của Smith, Moore (1986) cũng thí nghiệm cho

gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh Curtice (1907) [14] đã làm

các thí nghiệm gây nhiễm H meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự

Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận, có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao

Năm 1922, Tyzzer và Fabyan đã lấy gan của gà bị bệnh nặng nghiền nhỏ cho gà và vịt 4, 6, 16 ngày tuổi ăn Sau đó, Tyzzer và Collier (1925) [28] tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn

gan của gà bệnh Sau hàng loạt thí nghiệm, tác giả đã kết luận H meleagridis

có thể được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ quan của gà bệnh có chứa mầm bệnh

Trang 15

Horton - Smith và Long (1956) [18], cũng làm nhiều thí nghiệm gây nhiễm bằng cách cho gà khỏe nuốt trực tiếp gan và huyễn dịch trong manh tràng của gà bệnh nặng ở các thời gian đói khác nhau, phát hiện thấy gà khỏe nhiễm bệnh với tỷ lệ khác nhau Tác giả đã giải thích sở dĩ gây nhiễm bệnh

cho gà khỏe qua đường tiêu hóa thu được tỷ lệ nhiễm thấp là do H meleagridis không phù hợp với môi trường pH thấp của đường tiêu hóa

McDougald L R (2003) [24] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho

gà 2 tuần tuổi Tác giả tiến hành đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H meleagridis/con Kết quả, tất cả gà

gây nhiễm đã chết ở ngày 10 - 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và

manh tràng xuất hiện tổn thương điển hình của Histomonosis

Một số tác giả cũng gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, sau đó tiến hành theo dõi trong 10 - 15 ngày những gà gây nhiễm Các tác giả cũng thu được những kết quả nhất định

Khi gây nhiễm cho gà tây bằng cả 2 đường, đường ăn uống và qua lỗ huyệt, kết quả như sau: gà gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh và chết thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20%, tỷ lệ chết 2%, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt

tỷ lệ mắc bệnh 65%, tỷ lệ chết 45%

Các kết quả trên cho thấy: có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp

xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu

động ruột vào ký sinh ở manh tràng

Trang 16

* Truyền bệnh qua giun kim

Trong khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Cushman và cs (1894) [13] đã nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực trước

đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh

Trong thí nghiệm đầu tiên, Curtice C (1907) [14] đã chứng minh rằng

Histomonas không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ, thông qua trứng, mặc dù phát hiện gà con sớm bị mắc Histomonosis và chết ở 12 - 14 ngày

tuổi Tác giả cho rằng, những gà con này đã bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất, nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã bị mắc bệnh

Graybill (1920) là người đầu tiên nhận ra mối quan hệ giữa giun tròn

Heterakis và đơn bào Histomonas, khi tác giả cho chim ăn trứng Heterakis

mà phôi nghi là có H meleagridis

Sau đó, Tyzzer và cs (1925) [28] đã chứng minh rằng, H meleagridis có

thể được truyền từ gia cầm này sang gia cầm khác thông qua một loại giun tròn

ký sinh ở manh tràng (Heterakis gallinarum) Theo tác giả, giun kim Heterakis

chính là tác nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, từ đó có những khuyến cáo để ngăn ngừa bệnh đầu đen

Tyzzer E E (1920) [29] cho biết, gà tây có thể nhiễm bệnh khi nuôi nhốt chung với gà bị bệnh hoặc nuôi trên khu đất đã có gà bị bệnh

Sau đó, Tyzzer E E (1934) [27] đã xác định mối quan hệ giữa

Histomonas và Heterakis, chỉ trứng Heterakis có phôi mới có thể làm lây bệnh

Gibbs B J (1962) đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục và trứng của giun kim Heterakis dưới kính hiển vi quang học H meleagridis đã được tìm thấy trong tất cả các bộ phận ở cơ quan sinh sản của Heterakid cái và

giữa các tinh trùng của giun đực

Trang 17

Những nghiên cứu của Farr M M (1961) [16], đã chỉ ra rằng, trứng

Heterakis có sức đề kháng tốt với môi trường, ở ngoài môi trường đất có thể tồn tại nhiều năm, khi vào cơ thể vật chủ vẫn có thể gây ra Histomonosis Đây

là nguyên nhân làm cho dịch bệnh đầu đen phát triển và lưu hành từ năm này sang năm khác

Jinghuihu (2002) [20], đã đưa ra bằng chứng thuyết phục về hình thái

học của H meleagridis trong đường sinh sản và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học Tác giả đã tìm thấy H meleagridis ở cả giun Heterakis đực và cái Trong Heterakids đực, H meleagridis ở trong lòng ruột,

xâm nhập các tế bào ruột, và trong ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh

và túi tinh H meleagridis xác định trong tất cả các bộ phận ở đường sinh dục của Heterakis cái

Ngoài sự tồn tại của H meleagridis trong giun kim Heterakis gallinarum thì đơn bào này còn tồn tại trong một số loại giun đất thường thấy

ở đất nuôi gia súc, gia cầm Các nỗ lực để tìm H meleagridis trong các trứng

giun sán đã không đi đến kết luận nào Những con giun đất đóng vai trò quan

trọng trong sự lưu giữ trứng Heterakis, bởi giun đất là sinh vật “thu gom” và

“tập trung” trứng Heterakis từ môi trường vườn bãi; sân chơi hoặc nền

chuồng nuôi gà Ở những vùng mà kiểu khí hậu và loại đất thuận lợi cho sự

sinh trưởng của giun kim Heterakis và giun đất, cần chú ý kiểm soát bệnh đầu

đen tái diễn đều đặn theo chu kỳ ở gà

Việc truyền H meleagridis từ giun đất sang loài chim trĩ có khoang ở cổ

đã được chứng minh là nguyên nhân chính trong đợt bùng nổ Histomonosis ở gà

Gô, chim trĩ ở trại chăn nuôi gia cầm tại miền trung lowa - Hoa Kỳ

2.1.2 Đặc điểm sinh học của giun tròn Heterakis gallinarum - Ký chủ trung gian (KCTG) của H meleagridis

2.1.2.1 Hình thái

Hai loài Heterakids gallinae và Heterakids beramporia thuộc họ Heterakiadae ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột non ở gà, gà Tây, rất phổ

Trang 18

biến ở loài chim và còn thấy ở các loài thủy cầm Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng hình ống Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống như củ hành, chiều dài 0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm Giun đực dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398

mm Đuôi nhọn hình chiếc kim Phía trước cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn, đường kính 0,07 - 0,082 mm Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút và ở vòng sau Có hai gai giao hợp, gai phải dài gấp 3 lần gai trái, phía cuối gai rất nhọn, dài khoảng 2 mm, gai trái thì to, dài 0,65 - 0,7

mm Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầu khoảng 0,245 mm

Giun cái dài 7,982 - 11,439 mm, chỗ rộng nhất 0,27 - 0,453 mm, chiều dài thực quản bằng 1/9 cơ thể Chỗ phình to của thực quản hình củ hành dài 0,273 - 0,332 mm, rộng 0,187 - 0,234 mm Hậu môn ở gần đuôi, cách đuôi 0,9 - 1,24 mm Âm đạo uốn khúc cong, bắt đầu từ âm hộ rồi vòng về phía sau, sau đó chuyển về phía trước, cuối cùng lại vòng về phía sau Lỗ bài tiết cách đầu 0,47 mm

Trứng hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, một đầu trong suốt, tế bào trứng có hạt lấm tấm, màu xám, dài 0,05 - 0,07 mm, rộng 0,03 - 0,039 mm

2.1.2.2 Vòng đời

Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài, chưa có sức gây bệnh, gặp điều kiện thích hợp: nhiệt độ 18 - 26oC, độ ẩm thích hợp, sau 7 - 12 ngày thì thành trứng thành thục và có sức gây nhiễm Gà nuốt phải trứng này sau 1 - 2h ấu trùng nở ra khỏi vỏ trứng, sau 24h tới manh tràng và phát triển thành giun trưởng thành Có tác giả cho rằng, ở ruột non ấu trùng nở ra khỏi vỏ trứng, trước hết chui vào thành manh tràng, ở đó khoảng 5 ngày rồi lại trở về xoang manh tràng, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành mất 24 ngày Tuổi thọ của giun khoảng 1 năm (Phạm Văn Khuê - Phan Lục, 1996)

Trang 19

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1], vòng đời của H gallinarum diễn

ra như sau:

Trứng H gallinarum bài xuất cùng phân ra ngoài, trứng phát triển đến

giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên ngoài, từ 6 - 17 ngày, hoặc hơn nữa

tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm Sự phát triển của trứng H gallinarum đến

giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt 30 - 37oC trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 -

27oC từ 10 - 15 ngày và 10 - 15oC là 72 ngày

Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu trùng này trở thành trứng có sức gây bệnh Mùa đông trứng không phát triển, nhưng vẫn duy trì khả năng sống Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn lây bệnh

Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng giun kim có sức gây bệnh Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đường tiêu hóa, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng Ở manh tràng, ấu trùng vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày sau chúng lại trở lại xoang ruột Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể từ 25 - 34 ngày, thời gian sống thì không quá 1 năm

2.1.3 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà

2.1.3.1 Lịch sử bệnh

Bệnh đầu đen được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island (Cushman, 1894) [13] Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891 đã đề cập về một " bệnh khó hiểu" xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu bị biến đổi màu, gà mắc bệnh tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là bệnh “đầu đen” Cushman (1894) [13])

Trang 20

Kể từ khi bệnh “đầu đen” xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Sau một thời gian nghiên cứu, người ta nhận thấy dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì

nó còn có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [26], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm là gan và manh tràng của gà

để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn

bào (Amoeba meleagridis) Từ đó, bệnh đã được đặt tên là bệnh truyền nhiễm enterohepatitis Nghiên cứu kỹ hơn, Tyzzer (1920) [29] đã xác định được nguyên nhân gây bệnh và gọi tên sinh vật đơn bào gây bệnh đó là H meleagridis Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa học là Histomoniasis

Tuy nhiên, vì lý do tiêu chuẩn hóa đã được đề xuất (năm 1990) về việc sử dụng hậu tố osis cho các bệnh ký sinh trùng, do đó bệnh có tên khoa học là

Histomonosis

Sau sự bùng nổ đầu tiên ở Rhode Island, Histomonosis đã nhanh chóng

lây lan trên đàn gà tây khắp nước Mỹ và gây thiệt hại nhiều nhất trong số các bệnh gặp trên gà tây Tiếp sau Hoa Kỳ, bệnh xảy ra tại Nhật Bản vào năm

1905 (Watanabe, 1910)

Ở Đông Âu, Mincheva đã thông báo bệnh có mặt ở Bungari vào 1950 Ngày nay, bệnh có mặt trên khắp năm châu, nhất là ở các nước có ngành chăn nuôi gà tây và gà theo lối tập trung chăn thả

Ở Đức, theo Moorgut Kartzfehn von Kameke GmbH & Co KG:

Histomonosis là một căn bệnh nghiêm trọng, gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào

H meleagridis, có thể dẫn tới tổn thất cao ở gà tây Báo cáo này mô tả sự tái diễn của Histomonosis trong một trang trại chăn nuôi gà tây Ổ dịch đầu tiên

xảy ra ở gà vào năm 2005 ở gà 17 tuần tuổi Ổ dịch thứ 2 xảy ra năm 2009 ở gà

8 tuần tuổi Tỷ lệ chết tăng đến 26 - 65% trong vòng vài ngày mặc dù đã được

Trang 21

điều trị với các loại thuốc khác nhau Trong cả 2 trường hợp H meleagridis

thuộc kiểu gen A đã được phát hiện nhưng chưa phát hiện được nguồn lây nhiễm rõ ràng

Một số nước khác ở châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Áo Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế

giới (McDougald, 2003) [24]

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 (Lê Văn Năm

và cs) [8] Bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của một bộ phận không nhỏ người dân ở nước ta Tác giả cũng cho rằng các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng giun kim mà loài giun này được biết đến như 1 vectơ sinh học truyền bệnh

đơn bào H meleagridis cho gà và gà tây

2.1.3.2 Những thiệt hại kinh tế do Histomonosis gây ra

Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại nghiêm

trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây Những năm

1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945, bệnh đầu đen chiếm 32,2% tỉ lệ chết của gà tây ở Bắc Carolina

Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi

Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã được báo

cáo ở California vào năm 2001 (Shivaprasad và cs 2002) [25]

Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện

113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó có 15 ổ dịch ở các trang

trại gà giống Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomonosis ở gà tây 9 đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ chết 24 - 68%

Trang 22

Gia cầm mắc bệnh tỷ lệ chết cao chủ yếu là do tổn thương ở gan Tỷ lệ chết cao từ ngày thứ 14 sau khi thể hiện triệu chứng lâm sàng

Trong trường hợp không được điều trị, hơn 90% số gia cầm bị bệnh có

thể chết, số sống sót sẽ còi cọc, chậm lớn

2.1.3.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm

* Động vật mắc bệnh

Histomonosis thấy ở đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự nhiên,

gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả

Cũng giống như gà tây, gà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả năng cảm nhiễm của gà thấp hơn so cho gà tây (Barriga, 1981) Tỷ lệ chết ở gà là 10% trong khi con số này ở gà tây có thể đạt 80 đến 100%

Ngoài ra, H meleagridis còn được tìm thấy trong manh tràng vịt nhưng vịt không có triệu chứng lâm sàng của bệnh Lấy H meleagridis ở manh tràng

vịt gây nhiễm cho gà tây, gà tây bị mắc bệnh Từ những phát hiện này có thể thấy rằng vịt đóng vai trò truyền bệnh cho các loài nhạy cảm

* Tuổi mắc bệnh

Theo Lori Ann Lollis (2010) [22], tuổi đã từng được cho là một yếu tố ảnh

hưởng đến sức đề kháng của gia cầm với H meleagridis Có ý kiến cho rằng gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonosis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm

Gà từ 2-3 tuần tuổi đến 3-4 tháng dễ bị bệnh nhất, nhưng gà lớn hơn vẫn có thể bị bệnh [31]

Kết quả gây nhiễm Histomonosis qua trực tràng cho gà ở các lứa tuổi

khác nhau của Hu J và cs (2004) [19] một lần nữa chỉ ra được mối quan hệ

giữa tuổi gia cầm với khả năng nhiễm Histomonosis Theo tác giả, gà tuổi càng cao sức đề kháng với Histomonosis càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần

tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất

* Mùa vụ

Trang 23

Gà mắc bệnh ở tất cả các tháng trong năm, nhưng nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm

* Điều kiện vệ sinh thú y

Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có

ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên

quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giới trung gian truyền bệnh Theo Tyzzer E E and Collier J (1925) [28], bệnh đầu đen xảy

ra chủ yếu trên những đàn gà nuôi thả vườn, nơi mà gà thường xuyên tiếp xúc với môi trường đất

* Yếu tố stress

Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu nóng ẩm, thức ăn kém

dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan Histomonosis ở gà 2.1.3.4 Cơ chế sinh bệnh

Khi gà bị nhiễm bệnh qua miệng hoặc qua lỗ huyệt, tác nhân gây bệnh xâm nhập vào manh tràng và thâm nhập vào niêm mạc ruột Tại đây, bằng

sinh sản trực phân, đơn bào H meleagidis nhân lên rất nhanh Số lượng đơn

bào lớn tác động vào niêm mạc manh tràng làm niêm mạc ruột dày dần lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét, hoại tử Màng nhày và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như phomat

(Dwyer D M và Honigsberg B M, 1970) [15] Từ manh tràng, H meleagidis

xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng

máu xâm nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở gan và gây hoại tử gan

Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp gan (Dwyer D M và Honigsberg B M., 1970) [15] Từ gan, ký sinh trùng đơn bào này sẽ lây lan đi khắp cơ thể (Hu và cs 2004) [19] Ngoài gan và manh tràng, người ta còn tìm

Trang 24

thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H meleagridis không gây tổn thương ở các cơ quan này

Các ổ viêm loét của manh tràng và của gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nhiễm thứ phát, khiến cho gà kiệt sức và chết rất nhanh

2.1.3.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen

Gà bệnh lông xù, vùng hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Burr, 1987) [11]

Triệu chứng tiêu chảy phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối của bệnh, khi chức năng gan bị suy yếu

Gia cầm lớn triệu chứng không điển hình, bệnh thường kéo dài, gà gầy dần rồi chết

Giai đoạn cuối quan sát thấy gia cầm mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen Bệnh thường kéo dài khoảng 10 - 20 ngày nên gà rất gầy Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 39 - 38oC Lúc đầu gà chết rải rác vào đêm, sau tăng dần số chết và chết cả vào ban ngày Nếu không được điều trị gà

sẽ chết lên đến 80 - 95% tổng đàn (Lê văn năm, 2010) [8]

Trang 25

* Bệnh tích

Bệnh tích do Histomonas tập trung chủ yếu ở gan và manh tràng

- Các biến đổi ở manh tràng

Qua gây nhiễm (Kemp R L và Springer W T, 1978) [21], đã xác định được tổn thương đầu tiên trong manh trành từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau đó trong dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng và chất dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc

Có thể chỉ 1 trong 2 bên hoặc cùng một lúc cả 2 bên manh tràng xuất hiện các biến đổi: lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày hơn và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi

Có nhiều trường hợp 2 manh tràng dính chặt với nhau hoặc 1 trong 2 manh tràng dính chặt vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc

- Các biến đổi ở gan và cơ quan khác

Tổn thương gan thường bắt đầu vào ngày thứ 10 Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, viêm xuất huyết, hoại tử Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek

Nếu lấy chất chứa xung quanh ổ loét để xét nghiệm sẽ thấy chúng gồm

tế bào bạch cầu, đại thực bào, đơn bào H meleagridis còn sống

Các tổn thương ở các cơ quan khác như túi fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng (Shivaprasad H L và cs 2002) [25]

2.1.3.6 Chẩn đoán

* Với gà còn sống

Chẩn đoán lâm sàng: hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán

Trang 26

đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu xạm màu, đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen

- Chẩn đoán xét nghiệm: lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn

* Với gà đã chết

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, manh tràng để

tìm đơn bào H meleagridis ký sinh

Tiến hành mổ khám gà chết do Histomonosis, quan sát thấy ở gan và

manh tràng bị tổn thương nặng, bệnh tích điển hình của bệnh là: gan to gấp 2

- 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa vân, hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt

Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa mới chết, kiểm tra dưới

kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis (McDougald và cs

2008) [23] Trong điều kiện nhiệt độ ẩm, đơn bào vẫn hoạt động và điều này

giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn Dưới kính hiển vi quan sát thấy H meleagridis di chuyển không theo một hướng cố định, roi chuyển động xoay

ngược chiều kim đồng hồ (McDougald, 2008) [23]

Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn (Burr, 1987) [11], đặc biệt là phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường được áp dụng là nhuộm Hematoxilin - Eosin

và nhuộm PAS (McDougald, 2008) [23]

Trang 27

Đơn bào từ nguyên liệu tươi (manh tràng gà bệnh) có thể được nuôi và nhân lên trong môi trường Dwyer cổ điển (van der Heijden, 2009), giúp cho

việc quan sát H meleagridis dễ dàng hơn dưới kính hiển vi

Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể chứng

minh ADN của H meleagridis trong phân hoặc ruột Kỹ thuật PCR cũng giúp tìm ra ADN của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như

trong não, hoặc tuyến ức …, nơi mà các phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt ký sinh trùng này (Huber và cs 2005) [17]

Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác

tươi, trong khi đó chất chứa do Histomonas gây ra lúc đầu cũng lẫn máu khó

đông giống như bệnh cầu trùng, nhưng về giai đoạn cuối tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc thấy niêm mạc ruột bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dầy và rắn chắc

* Bệnh do Trichomonas

Các triệu trứng và biến đổi bệnh l ý do Trichomonas gây ra trong một số

trường hợp cũng rất giống với bệnh đầu đen Điểm khác là do bệnh

Trichomonas gây ra tìm thấy biến đổi ở ruột thừa, luôn kèm theo các biến đổi

ở 1/3 cuối ruột non Các biến đổi ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi bề mặt gan giống như các ổ lao gà, trong khi đó các ổ viêm loét hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm trũng ở giữa (tâm của ổ loét hoại

tử do bệnh đầu đen lõm xuống).[30]

Trang 28

* Bệnh lao gà

Các ổ lao (viêm hoại tử) quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà lớn tuổi, không thấy ở gà con và gà dò Trong bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén ở ruột thừa như ở bệnh đầu đen

2.1.3.7 Phòng trị bệnh đầu đen cho gà

* Phòng bệnh

Vì bệnh xảy ra thông qua môi trường bị ô nhiễm phân gà hoặc trứng giun kim, các biện pháp thành công được triển khai trên một phần lớn theo

hướng giảm hoặc loại trừ các trứng đó

Để phòng bệnh Histomonosis, trước hết không được nuôi chung gà và gà tây

với nhau Gà có thể nhiễm một lượng lớn các giun kim Các đàn gà tây cũng

có thể bị nhiễm nghiêm trọng trứng Heterakis, Vì sự tồn tại lâu dài của trứng

giun kim trong môi trường chăn nuôi, nên việc chăn nuôi quay vòng nhằm khống chế dịch bệnh không có tính khả thi Khả năng tồn tại của các trứng

Heterakis có thể được giảm bớt bằng cách tận dụng năng lượng từ ánh sáng

mặt trời, tạo ra môi trường chăn nuôi khô thoáng Thu gom phân để ủ nhằm tiêu diệt trứng giun kim

Chăn nuôi gà tây trên nền chuồng được làm bằng xi măng hay lát gạch có thể làm giảm được tỷ lệ mắc bệnh đầu đen, có thể loại bỏ việc cho ăn giun đất, tuy nhiên cách này không có hiệu quả nhiều đối với gà nhà Một số trường hợp, khử trùng tẩy uế có thể có tác dụng tiêu diệt trứng giun, nhưng hiện chưa có nhiều số liệu liên quan đến biện pháp này

Trang 29

- Chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi luân phiên gà trên các ô, tiến hành làm sạch, khử trùng tiêu độc ô chuồng vừa nuôi, để trống chuồng một thời gian dài giúp phòng bệnh có hiệu quả (Burr, 1987) [11]

- Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí để sao cho không lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà

- Không thả gà ra vườn vào những ngày mưa gió

- H meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà

ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế

cho gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên nền bê tông

- Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng chuồng trại, cuốc xới vườn rồi rắc vôi bột để diệt trứng giun kim

Công tác quản l ý sẽ khó có thể kìm chế bệnh trong các đàn gà tây nuôi thịt Vì vậy, hóa trị liệu phòng ngừa thường được tiến hành trong quá trình chăn nuôi Hóa trị liệu phòng ngừa cần thường xuyên được tiến hành với gà ở các trang trại hoặc ở các địa phương mà có nguy cơ bùng phát bệnh cao

* Trị bệnh

Ở Hoa Kỳ, Dimetridazole và Ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị

Histomonosis hiệu quả Cả hai đều là thuốc thuộc nhóm Nitroimidazole Tuy

nhiên, những năm 1990 các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm

và có thể gây ung thư

Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng đây là một loại thuốc đắt tiền

Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [2] cho biết: Giun Heterakis kích thích

Trang 30

niêm mạc ruột gây tụ huyết, ngoài ra còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gà làm

con vật gầy yếu, gà con chậm lớn Trong quá trình ký sinh, chúng tiết độc tố

và sản vật khác nên gà bị trúng độc và dễ mắc bệnh viêm gan, ruột do loại

đơn bào H meleagridis xâm nhập vào trứng giun kim, gà ăn phải trứng này

thì mắc bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [4] đã có những thông tin về đơn bào H

meleagridis và những tác hại của chúng gây ra ở gà, gà tây ở nước ta và cũng

thống nhất đặt tên bệnh là “ bệnh viêm gan ruột do trùng roi ở gà (Infectious Enterohepatitis)”

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [3], H meleagridis sống ký sinh trong trứng loài giun kim Heterakis gallinae Cả hai loài này đều sống ký sinh trong ruột gà, gà tây và cả hai đều gây bệnh cho gà

Tháng 3/2010, Lê Văn Năm và cs (2010) [8], bắt đầu đề cập về căn bệnh này tại một số tỉnh phía Bắc Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do sự cảm nhiễm,

xâm nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào có tên khoa học là H meleagridis trong cơ thể gà thông qua việc đàn gà đang bị nhiễm nặng giun

kim và trứng giun kim có chứa ấu trùng gây bệnh

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, bệnh do đơn bào H meleagridis được phát hiện năm

1893 ở Rhode Island, sau đó bệnh được báo cáo ở khắp lục địa và nhiều nước

khác Dịch bệnh đo H meleagridis nhanh chóng lan xuống các vùng ven biển

phía Đông, miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ Bệnh có tỷ lệ chết cao (có

thể tới 100%) Các nhà khoa học sớm xác định đơn bào H meleagridis là tác

nhân gây bệnh Giống như nhiều ký sinh trùng khác, vòng đời H meleagridis

rất phức tạp, liên quan tới một vật chủ trung gian là giun kim Heterakis gallinae (McDougald L R, 2008) [23]

Trang 31

Các nhà nghiên cứu cho rằng, gà nhiễm bệnh từ trứng của giun kim hoặc

ăn phải giun đất đã mang trứng của giun kim Bệnh này hầu hết các loại gà đều mẫn cảm, đặc biệt là gà tây và gà dò, ít thấy ở gà lớn > 5 - 6 tháng tuổi

Tyzzer E.E., (1920) [29] lần đầu tiên mô tả về hiện tượng bệnh ở gà tây

do một loại đơn bào gây ra với những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen và tác giả đã đặt tên là bệnh đầu đen (Bleck Head) Sau đó, bệnh được các tác giả khác quan sát thấy

ở Bắc Mỹ, Tây Âu và hàng loạt nước khác ở Nam Mỹ, Nhật Bản…

Trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, không phải là chuyện bất thường khi các trang trại chuyển đổi chăn nuôi gia cầm từ loại này sang loại khác, nhưng

sẽ có nhiều tác hại khi các trại chăn nuôi gà thịt chuyển sang nuôi gà tây Hầu

hết các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm giun kim (Heterakis gallinae) nặng, mà giun kim được biết đến như một vector sinh học truyền đơn bào H meleagridis cho đàn gia cầm (McDougald L R., 2003) [24]

Ngày đăng: 04/06/2016, 19:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 51 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 130 - 133, 138 - 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng,Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 72 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng,Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
4. Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành (2006), Bệnh đơn bào k ý sinh ở vật nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 92 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào k ý sinh ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Phan Lực (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 46 – 48, 54 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
6. Lê Hồng Mận, Xuân Giao (2001), Hướng dẫn điều trị các bệnh cho gà, Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội, tr. 32 – 33, 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh cho gà
Tác giả: Lê Hồng Mận, Xuân Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội
Năm: 2001
7. Nguyễn Hữu Nam, Lê Văn Năm, Nguyễn Vũ Sơn (2013), “Một số đặc điểm bệnh l ý chủ yếu bệnh do Histomonas meleagridis gây ra ở gà thả vườn”, Khoa học kỹ thuật thú y tập XX, số 2- 2013, tr. 42 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm bệnh l ý chủ yếu bệnh do Histomonas meleagridis gây ra ở gà thả vườn”", Khoa học kỹ thuật thú y tập XX
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam, Lê Văn Năm, Nguyễn Vũ Sơn
Năm: 2013
8. Lê Văn Năm (2010), Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm ở gà, bệnh đầu đen, bệnh kén ruột thừa, tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 3 tập II, tr. 53 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm ở gà, bệnh đầu đen, bệnh kén ruột thừa
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2010
9. Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 126 - 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
10. Trịnh Văn Thịnh (1963), Ký sinh trùng thú y, Nhà xuất bản Nông thôn, Hà Nội, tr. 192 - 267.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông thôn
Năm: 1963
11. Burr E. W. (1987), Companion bird medicine, Iowa State University Press, Iowa, pp. 1 - 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Companion bird medicine
Tác giả: Burr E. W
Năm: 1987
12. Cepicka I., Hamp V. and Kulda J. (2010), Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species, Protist, 161, 400 - 433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species
Tác giả: Cepicka I., Hamp V. and Kulda J
Năm: 2010
13. Cushman S. (1894), A study of the diseases of turkeys, In Sixth Annual Report of the Rhode Island Agricultural Experiment Station 1893, pp. 286-288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of the diseases of turkeys
14. Curtice C. (1907), The rearing and management of turkeys with specireference to the blackhead disease, R. I. Agri. Exp. Sta. Bull, 123, 1-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The rearing and management of turkeys with specireference to the blackhead disease
Tác giả: Curtice C
Năm: 1907
15. Dwyer D. M. and Honigberg B. M. (1970), Effect of certain laboratory procedures on the virulence of Histomonas meleagridis for turkeys and chickens, J. of Parasit, 56, 694 - 700 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of certain laboratory procedures on the virulence of Histomonas meleagridis for turkeys and chickens
Tác giả: Dwyer D. M. and Honigberg B. M
Năm: 1970
16. Farr M. (1961), Further observations on survival of the protozoan parasite Histomonas meleagridis and eggs of poultry nematodes in the feces of infected birds, Cornell Vet, 3 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Further observations on survival of the protozoan parasite Histomonas meleagridis and eggs of poultry nematodes in the feces of infected birds
Tác giả: Farr M
Năm: 1961
17. Huber K., Zenner C. C. L. (2005), Detection of Histomonas meleagridis in turkeys cecal droppings by PCR amplification of the small subunit ribosomal DNA sequence, Veterinary Parasitology 131, 311 - 316 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of Histomonas meleagridis in turkeys cecal droppings by PCR amplification of the small subunit ribosomal DNA sequence
Tác giả: Huber K., Zenner C. C. L
Năm: 2005
18. Horton-Smith G. and Long P. L. ( 1956), Further observation on the chemotherapy of histomoniasis (blackhead) in turkeys, J. Comp. Path, Therap. 66, 378 - 388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Further observation on the chemotherapy of histomoniasis (blackhead) in turkeys
19. Hu J., Fuller L. & McDougald L.R. (2004), Infection of turkeys with histomonas meliagridis by the cloacal drop method. Avian Diseases, 48, 746 - 750 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infection of turkeys with histomonas meliagridis by the cloacal drop method." Avian Diseases", 48
Tác giả: Hu J., Fuller L. & McDougald L.R
Năm: 2004
20. Jinghuihu (2002), Studies on histomonas meleagridis and histomoniasis in chickens and turkeys, the University of Georgia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on histomonas meleagridis and histomoniasis in chickens and turkeys
Tác giả: Jinghuihu
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Định Hóa, - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.1. Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Định Hóa, (Trang 42)
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số địa phương - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số địa phương (Trang 43)
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo lứa tuổi - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo lứa tuổi (Trang 45)
Bảng 4.8. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.8. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim (Trang 52)
Bảng 4.9. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.9. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim (Trang 53)
Bảng 4.10. Sự ô nhiễm trứng giun kim ở nền chuồng, xung quanh chuồng - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.10. Sự ô nhiễm trứng giun kim ở nền chuồng, xung quanh chuồng (Trang 54)
Bảng 4.11. Hiệu lực của phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà trên thực địa - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Gây Ra Trên Gà Nuôi Tại Huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên  Và Sử Dụng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.11. Hiệu lực của phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà trên thực địa (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm