1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang

92 535 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 635,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN TIẾN HẢI NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐỊA PHƯƠNG VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA CON LAI F1 ♀ ĐỊA PHƯƠNG X ♂ RỪNG NUÔI TẠI NÔNG HỘ YÊN SƠN - TUYÊN QUANG Chuyên ngành: Chăn nuô

Trang 1

NGUYỄN TIẾN HẢI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI

ĐỊA PHƯƠNG VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA CON LAI F1

(♀ ĐỊA PHƯƠNG X ♂ RỪNG) NUÔI TẠI NÔNG HỘ

YÊN SƠN - TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG HỮU DŨNG

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Hải

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn

chân thành nhất đến TS Trương Hữu Dũng người hướng dẫn khoa học đã

tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy cô trong Bộ môn Khoa Chăn nuôi - Thú Y, Phòng đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn tới các nông hộ chăn nuôi của huyện Yên Sơn - Tuyên Quang, cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong trong quá trình hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, ngày tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Hải

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của sinh lý sinh sản 4

1.1.1 Những đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc 4

1.1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 5

1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của gia súc 8

1.2 Cơ sở khoa học về ưu thế lai và sinh trưởng, cho thịt của gia súc 12

1.2.1 Cơ sở khoa học của ưu thế lai của gia súc 12

1.2.2 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và cho thịt của gia súc 15

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác chăn nuôi lợn 22

1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu về các giống lợn địa phương ở trong nước 22

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về công tác chăn nuôi lợn trong nước 26

1.3.3 Tình hình nghiên cứu về công tác chăn nuôi lợn ở một số nước trên thế giới 31

1.4 Vài nét về bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng nghiên cứu 36

Trang 5

2.2 Địa điểm nghiên cứu 36

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Nội dung nghiên cứ 36

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.4 Chỉ tiêu theo dõi 38

2.4.1 Các chỉ tiêu sinh lý động dục, sinh sản của lợn ná 38

2.4.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, năng xuất và chất lượng thịt 39

2.5 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu 39

2.5.1 Chỉ tiêu về sinh lý động dục, sinh sản của lợn nái 39

2.5.2 Chỉ tiêu sinh trưởng và khảo sát thân thịt 40

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 42

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh lý động dục của lợn cái Địa phương nuôi tại Yên Sơn, Tuyên Quang 43

3.1.1 Một số chỉ tiêu sinh lý động dục của lợn cái Địa phương 43

3.1.2 Khả năng sinh sản lứa đầu của lợn cái Địa phương nuôi tại Yên Sơn, Tuyên Quang 47

3.1.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Địa phương ở lứa đẻ thứ hai nuôi tại Yên Sơn - Tuyên Quang 50

3.1.4 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Địa phương nuôi tại Yên Sơn, Tuyên Quang 53

3.2 Khả năng sinh sản lợn nái Địa phương phối giống với lợn đực Rừng nuôi tại nông hộ ở Yên Sơn, Tuyên Quang 54

3.3 Khả năng sinh trưởng của lợn lai F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương nuôi tại nông hộ ở Yên Sơn, Tuyên Quang 57

3.3.1 Khả năng sinh trưởng của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 57

3.3.2 Sinh trưởng tương đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 59

Trang 6

3.3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 60

3.4 Khả năng cho thịt, chất lượng thịt của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương nuôi tại Yên Sơn, Tuyên Quang 63

3.4.1 Kết quả mổ khảo sát lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 63

3.4.2 Kết quả phân tích thành phần hóa học và chất lượng thịt của lợn F1(♀ĐP x ♂R) và Địa phương nuôi tại nông hộ ở Yên Sơn, Tuyên Quang 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71

1 Kết luận 71

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn nuôi thịt 37

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu sinh lý động dục của lợn cái Địa phương 43

Bảng 3.2: Biểu hiện động dục của lợn cái Địa phương thuần 46

Bảng 3.3: Khả năng sinh sản của lợn cái Địa phương ở đẻ lứa đầu 48

Bảng 3.4: Năng suất sinh sản của lợn náiĐịa phương ở lứa đẻ thứ hai 51

Bảng 3.5: Mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Địa phương thuần 53

Bảng 3.6: Khả năng sinh sản của lợn nái Địa phương thuần phối với lợn đực Rừng 55

Bảng 3.7: Khả năng sinh trưởng của lợn thí nghiệm 58

Bảng 3.8: Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 59

Bảng 3.9: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (gram/con/ngày) 61

Bảng 3.10: Kết quả mổ khảo sát đàn lợn thí nghiệm 64

Bảng 3.11: Thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm 67

Bảng 3.12: Kết quả đánh giá chất lượng thịt lợn F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương qua nếm thử 69

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R) và Địa phương 60 Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đất nước Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á trên dải đất hẹp, tuy nhiên rất đa rạng về sinh thái tự nhiên, phong phú về văn hóa và hơn 50 dân tộc anh em sinh sống Là nước có nền nông nghiệp phát triển từ rất sớm,

vì vậy con người đã biết thuần hóa động vật thành vật nuôi phục vụ cho mục đích sản xuất của mình Qua nhiều năm tháng và những biến động tự nhiên, cùng với sự cần cù của các dân tộc Việt Nam đã tạo ra được rất nhiều các giống vật nuôi bản địa, hiện nay có hơn 50 giống nội địa và đứng đầu về tỷ lệ con giống trên đơn vị diện tích (Lê Viết Ly và cộng sự, 2004) [41] Trong đó

có giống lợn ở các vùng như lợn bản Điện Biên, bản Sơn La, lợn Khủa Quảng Ngãi, Lợn Vân Pa, Lợn Sóc Tây Nguyên, lợn Pác Nặm các vùng sinh thái khác nhau xuất hiện từng giống lợn được thuần hóa qua các thế hệ tại vùng

đó Nói chung các giống lợn này đều cho sản phẩm thịt rất thơm ngon và có chất lượng dinh dưỡng tốt, an toàn thực phẩm, phù hợp với khẩu vị và nhu cầu thực phẩm của người dân hiện nay

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía bắc có rất nhiều giống vật nuôi được thuần hóa, trong đó có giống lợn Địa phương được các đồng bào dân tộc nuôi từ nhiều đời cha ông đến nay Giống này có nhược điểm là khả năng sinh sản và sinh trưởng thấp Nhưng lại có ưu điểm dễ nuôi, ít bệnh tật, chất lượng thịt thơm ngon, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu vùng núi và tập quán chăn nuôi của đồng bào dân tộc Bên cạnh đó xu thế phát triển chăn nuôi lợn rừng trong tỉnh cũng rất phát triển, lợn rừng có những đặc điểm về tập tính sinh hoạt và sinh sản gần giống như lợn bản địa: ăn tạp, đẻ mắn, nuôi con khéo và

đẻ nhiều con, lứa 2 - 3 bình quân là 7,5 và 8 con/ổ Lợn rừng đời sau sinh ra khi thuần dưỡng dễ thích nghi với điều kiện nuôi nhốt hoặc bán thả rông (Tăng Xuân Lưu và cộng sự, 2010) [40]

Trang 11

Tuy nhiên vẫn có những vấn đề khó khăn trong chăn nuôi với lợn Rừng như: Giống lợn rừng hiện này trên thị trường đắt, đầu tư ban đầu lớn, chưa phù hợp với chăn nuôi trong nông hộ của bà con dân tộc, sản phẩm thịt ra thị trường có giá cao hơn các sản phẩm thịt khác, chất lượng thịt nhiều nạc dẫn đến khô thịt cho nên đầu ra sản phẩm gặp khó khăn Trong khi đó chăn nuôi lợn Địa phương thì phù hợp với bà con dân tộc tại khu vực Để tận dụng những ưu thế lai của từng con giống, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nâng cao chất lượng lợn ở Địa phương, chúng tôi tiến hành cho lai giữa lợn nái Địa Phương với lợn đực Rừng tạo ra con lai F1 mang các đặc điểm có giá trị kinh tế của hai giống lợn bố mẹ Có khả năng thích nghi cao,

dễ nuôi, sinh trưởng tốt, chất lượng thịt thơm ngon, dễ bán trên thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

Xuất phát từ cơ sở đó chúng tôi triển khai đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái Địa phương và sức sản suất của con lai

F1(♀ĐP x ♂R) nuôi tại nông hộ Yên Sơn, Tuyên Quang” là thực sự cần

thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn phục vụ sản xuất và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng Đông Bắc

2 Mục tiêu của đề tài

Khảo sát được đặc điểm sinh lý động dục và khả năng sinh sản của lợn cái Địa phương nuôi tại nông hộ Yên Sơn - Tuyên Quang

Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Địa phương cho lai với lợn đực Rừng và sức sản xuất cho thịt của con lai F1(♀ĐP x ♂R) nuôi tại nông hộ Yên Sơn, Tuyên Quang

Trang 12

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Từ những kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản lợn Địa phương, khả năng sản suất của con lai F1(♀ĐP x ♂R), làm cơ sở cho việc định hướng, phát triển chăn nuôi lợn tại các nông hộ của địa phương miền núi phía Bắc

Đề tài đóng góp thêm những số liệu tham khảo để phục vụ cho nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn trong nông hộ ở các tỉnh miền núi

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, nhân rộng mô hình và khuyến cáo người dân miền núi phát triển chăn nuôi lợn lai F1 trong nông hộ để đạt hiệu quả kinh tế

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của sinh lý sinh sản

1.1.1 Những đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc

Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó

là quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái

và sinh ra đời con

Quá trình sinh sản đối với con cái xẩy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện chu kỳ tính Chu kì tính là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái sau khi đã phát triển hoàn toàn và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý, thì trong buồng trứng có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và rụng trứng Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung đặc biệt là

cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có tính chất chu kì được gọi là chu kì tính Chu kì này suất hiện khi cơ thể cái thành thục về tính kết thúc khi già yếu Thời gian của một chu kì được tính

từ lần rụng trứng trước tới lần sau

Chu kỳ động dục của lợn cái là một trong các chỉ tiêu quan trọng của sinh sản và được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh, thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực… tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone)

và LH (Lutein Stimulin Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn

Trang 14

bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục

Khi kết thúc chu kỳ động dục con cái được thụ tinh, hình thành hợp tử, phát triển thành bào thai, sau hết thời kỳ mang thai thì diễn ra quá trình sinh đẻ Theo Trần Tiến Dũng và công sự (2002) [25], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh, thể dịch, con mẹ sẽ suất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi

là quá trình sinh đẻ

1.1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/cái/năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa, hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra/ổ, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống con theo mẹ Sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc

Do đó để tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì phải tiến hành nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa

Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu mà có thể lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau và các chỉ tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản:

Trang 15

1.1.2.1 Tuổi phối giống và tuổi đẻ lần đầu

Tuổi phối giống lần đầu là chỉ tiêu đánh giá khả năng đẻ sớm của lợn nái, vì tuổi đẻ lứa đầu ảnh hưởng đến thời gian sinh sản của lợn nái và cũng ảnh hưởng tới chi phí trong chăn nuôi lợn Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con

mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/lứa (Tạ Bích Duyên, 2003)[26] Nếu phối giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan sinh sản chưa thật hoàn thiện Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự phát triển của lợn mẹ, nếu phối muộn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế Thông thường người ta bỏ qua lần động dục đầu tiên và phối vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3, vì lần động dục đầu tiên số lượng trứng rụng thường ít và chưa ổn định

Như vậy rút ngắn tuổi đẻ lứa đầu ở một chừng mực nào đó sẽ làm tăng thời gian sinh sản của lợn nái Lợn nái hậu bị có thể bắt đầu động dục ở 4 hoặc 5 tháng tuổi, nhưng tuổi phối giống thích hợp là 7- 8 tháng tuổi và như vậy tuổi đẻ lứa đầu ước tính 11 - 12 tháng tuổi Tuổi đẻ lứa đầu cao ảnh hưởng tới số con cai sữa/nái/năm vì thời gian sinh sản của lợn nái sẽ ngắn lại dẫn đến giảm số con cai sữa/nái/năm điều đó sẽ làm cho lợi nhuận/nái/năm giảm xuống Dagorn và cộng sự (1997)[81]

1.1.2.2 Số con sơ sinh và số con cai sữa/ổ

Số con sơ sinh/ổ là chỉ tiêu năng suất sinh sản rất quan trọng vì đây là chỉ tiêu để xác định năng suất của lợn nái Tương quan di truyền giữa tính trạng số con sơ sinh/lứa và số con sơ sinh sống/lứa là rất chặt (Đặng Vũ Bình, 1999)[8]

Các nghiên cứu cũng chỉ ra trong giai đoạn sơ sinh tới cai sữa là do bị

mẹ đè và đói chiếm 50%, do nhiễm khuẩn chiếm 11,1%, dinh dưỡng kém chiếm 8%, di truyền chiếm 4,5% và các nguyên nhân khác chiếm 26,4% Tỷ

lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa tuỳ thuộc vào ngày tuổi: dưới 3 ngày tuổi 50%; 3 - 7 ngày tuổi là 18%; từ 8 - 21 ngày tuổi là 17% và từ 22 -

56 ngày tuổi tỷ lệ chết chiếm 15%

Trang 16

1.1.2.3 Thời gian từ cai sữa đến động dục trở lại

Đây là một trong những biện pháp nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, nhưng thời gian động dục trở lại sau đẻ phụ thuộc vào thời gian cai sữa Mặt khác mùa vụ cũng ảnh hưởng đến thời gian động dục của lợn nái Tác giả Trương Lăng, (1993)[42] cho rằng nếu cai sữa sớm là 10 ngày sau khi đẻ thì thời gian động dục trở lại là 14,7 ngày, cai sữa 21 ngày tuổi thì thời gian động dục trở lại là 6,2 ngày và cai sữa 50 ngày tuổi thì thời gian động dục trở lại là 4 ngày Như vậy việc rút ngắn khoảng cách lứa đẻ bằng cách cai sữa sớm cho lợn con ở một thời điểm thích hợp là một biện pháp làm tăng số lứa đẻ/nái/năm

1.1.2.4 Khoảng cách lứa đẻ

Khoảng cách lứa đẻ là thời gian để lợn nái hoàn thành một chu kỳ sinh sản gồm: thời gian mang thai + thời gian nuôi con, cai sữa + thời gian động dục và phối giống có chửa sau cai sữa Trong đó thì thời gian mang thai là không thay đổi, các yếu tố còn lại có thể thay đổi Cai sữa sớm cho lợn con là biện pháp tích cực nhằm làm tăng lứa đẻ/nái/năm

1.1.2.5 Số lần phối và phương thức phối giống

theo Ian Gordon, (1997)[87] cho biết số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ, phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ.Theo Ian Gordon, (1997)[87] thấy rằng: khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần

Trích từ Ian Gordon, (1997)[87], phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn (0-10%) so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998)[80]

Trang 17

1.1.2.6 Thời gian cai sữa

Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ta chỉ có thể tác động bằng cách rút ngắn thời gian bú sữa và cai sữa sớm cho lợn con Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận: để rút ngắn thời gian sau khi đẻ đến khi phối giống lứa tiếp theo có kết quả thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đặc biệt là phải cai sữa sớm cho lợn con, như vậy sẽ làm tăng số con cai sữa mỗi năm/nái và làm tăng khối lượng cơ thể lợn con ở 8 tháng tuổi

Gaustad - Asa và cộng sự (2004)[84] cho rằng thời gian nuôi con dài hay ngắn đều ảnh hưởng tỷ lệ đẻ và số con sơ sinh sống

Ngày nay nhiều nước trên thế giới như: Anh, Pháp, Mỹ, Úc, cai sữa cho lợn con phổ biến ở 21 ngày tuổi do đó đã đạt chỉ số lứa đẻ/nái/năm từ 2,1 - 2,3 lứa với số lợn con cai sữa/nái/năm từ 19 - 23 con (Phùng Thị Vân, 2000)[70]

Như vậy thời gian cai sữa cho lợn con có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất chăn nuôi, như ảnh hưởng đến hao hụt của lợn mẹ Do đó việc cai sữa sớm cho lợn con đã trở thành phổ biến ở các cơ sở chăn nuôi

1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của gia súc

Di truyền là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của gia súc cái, cùng một giống nhưng những cá thể khác nhau thì có khả năng sinh sản khác nhau Khoa học đã chứng minh rằng yếu tố quyết định tính trạng là gen trong tế bào và được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác

Đực giống có vai trò sản suất tinh trùng để thụ tinh cho tế bào trứng, vì vậy chất lượng tinh dịch có vai trò quyết định tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con

Trong chăn nuôi lợn nái, dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng không những để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái mà còn quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi Lợn nái ở các giai đoạn khác nhau như hậu bị,

có chửa, nuôi con, chờ phối đều cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt

Trang 18

Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống (theo Ian Gordon, 1997 [87])

Do đó áp dụng chế độ dinh dưỡng "Flushing" trong pha sinh trưởng của buồng trứng của lợn nái nên đã làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%) và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 ng so với 4,5 ng/ml) (theo Ian Gordon, 1997)[87]

Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ (theo Ian Gordon, 1997)[87]

Theo Ian Gordon, (1997) [87] cho biết nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú

Lợn nái nuôi con nên cho ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (theo Ian Gordon, 1997)[87] Theo Chung và cs (1998)[78], tăng lượng thức

ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng khối lượng của lợn con Ian Gordon (2004)[87] cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu

Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất

ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (theo Ian Gordon,

Trang 19

1997)[87] Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ dẫn đến lợn nái sinh sản kém Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm

số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang và cộng sự, 2000)[101] Podtereba (1997)[94] xác nhận có 9 axitamin cần thiết đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi Song mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái

Như vậy cần đảm bảo khẩu phần ăn đẩy đủ cả về lượng và về chất là vô cùng cần thiết cho quá trình chăn nuôi cũng như nuôi lợn nái sinh sản, đảm bảo khai thác hiệu quả giống lợn, đem lại hiệu quả kinh tế cao Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng thứ 2 sau giống, là tiền đề để phát huy hết khả năng vốn có của giống Brumm M.C và cs (1996) [78] chỉ rõ những lợn cái được nuôi dưỡng trong những điều kiện dinh dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính trung bình 188,5 ngày nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ suất hiện vào 234,8 ngày

Năng lượng rất cần thiết cho sự sống, với lợn cái hậu bị thì năng lượng cần cho duy trì sự sống đảm bảo cho lợn sinh trưởng, phát triển bình thường, với lợn cái chửa ngoài duy trì sự sống thì cần thêm năng lượng để nuôi bào thai, tiết sữa nuôi con Nếu khẩu phần thiếu Ca, P thì bào thai phát triển kém, con đẻ ra dễ bị còi xương ,chậm lớn, mẹ dễ bị bại liệt, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản Ngoài ra những yếu tố vi lượng là những chất có hàm lượng rất nhỏ trong cơ thể giống vật nuôi tuy nhiên chúng lại không thế thiếu

vì những chất này góp phần rất quan trong quá trình sinh sản của vật nuôi

Trang 20

chúng bao gồm những yếu tố: Kali Natri, Clorua, Sắt, Đồng, Kẽm, mangan Iod, và Vitamin

Khả năng sinh sản của lợn nái cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố mùa

vụ hay cụ thể hơn là nhiệt độ và độ ẩm của môi trường Gaustad -Aas và cs (2004)[84] cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm năng suất sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp: tỷ lệ chết ở lợn con cao, thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng, tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm và tỷ lệ thụ thai giảm Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5 - 20% Theo Đặng Vũ Bình, (1999) [8] thì tỷ lệ lợn nái động dục trở lại trong mùa đông không cao bằng trong mùa hè nhưng giá trị trung bình của thời gian động dục trở lại sau cai sữa trong mùa đông lại thấp hơn mùa hè

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30 - 50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản (theo Ian Gordon, 1997)[87] Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi và cộng sự, 2000 [93]) Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục Theo Ian Gordon, (1997)[87] cho biết từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác

Theo Aberth Youssef (1997)[77], A.Bane (1986)[76], Yao - Ac et al,

(1989)[101], Đặng Đình Tín (1986)[60], trong chăn nuôi thì yếu tố bệnh tật cũng không kém phần quan trọng có ảnh hưởng rất lớn tới sức sinh sản của vật nuôi Đặc biệt là các bệnh ở đường sinh dục Các quá trình bệnh xảy ra ở

cơ quan sinh dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái

Trang 21

Các hormon có tác dụng chính trong quá trình sinh sản của gia súc cái bao gồm có kích dục tố (GSH), kích nhũ tố (Prolactin), Oestrogen, Progesteron, ProlanA, ProlanB, Relaxin và Prostagladin

1.2 Cơ sở khoa học về ưu thế lai và sinh trưởng, cho thịt của gia súc

1.2.1 Cơ sở khoa học của ưu thế lai của gia súc

1.2.1.1 Lai giống

Lai giống là cho giao phối những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, nhưng hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự như nhau theo Nguyễn Hải Quân và cộng sự, (1995) [51]

Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên

Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định

1.2.1.2 Ưu thế lai

Ưu thế lai là hiện tượng con lai có các đặc điểm vượt trội hơn cha mẹ

về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản, về tính chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường và khả năng sử dụng chất dinh dưỡng

Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết

và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống (Falconer, 1993) [83]

Thuật ngữ ưu thế lai được nhà di truyền học người Mỹ Shull (1914) đưa ra và được Snell (1961) thảo luận trong giáo trình nhân giống (Nguyễn Hải Quân và cộng sự, 1995)[51] như sau: ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con

Trang 22

so với trung bình của đời bố mẹ Có thể ưu thế lai là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng lợi dụng thức ăn tốt

Trong chăn nuôi lợn đang được ứng dụng và khai thác rất mạnh mẽ Tăng khối lượng thịt là một trong những tính trạng rất quan trọng trong chăn nuôi lợn thịt Lợn nuôi thịt có tăng khối lượng nhanh sẽ cho người chăn nuôi thu được nhiều lời hơn vì giảm thời gian nuôi, giảm vốn đầu tư, giảm công nuôi, giảm thời gian chiếm dụng chuồng trại và giảm thức ăn cho duy trì của lợn, vv Tăng khối lượng của lợn Móng Cái (MC) đạt 320,04 g/ngày của Nguyễn Văn Đức, (2010)[27] Nhưng khi cho lai tạo với những giống có khả năng tăng trong cao hơn cho ra giống lợn có năng suất tăng khối lượng cao hơn, tăng khối lượng của tổ hợp lai F1 giữa LR, Y, Pi với MC cho ra là 509,09; 510,56 và 519,89 g/ngày, tỷ lệ nạc của tổ hợp lai F1 giữa LR, Y, Pi với MC cho ra là 45,6; 45,14 và 47,38%,

Theo Nguyễn Ngọc Phục, (2010)[48], lợn Khùa có khối lượng thành thục tương ứng là 235 ngày khối lượng là 16,7kg, khi cho lợn đực Rừng lai với lợn Khùa ở Quảng Bình cho ra tổ hợp lai F1 có khối lượng sơ sinh cũng như tốc độ sinh trưởng cao Ngoài ra thì lợn F1(Khùa x Rừng) đã cải thiện tốc tăng khối lượng trung bình/ ngày từ 7 -11%, tăng tỷ lệ móc hàm (1,5%), tỷ lệ thịt xẻ tăng (3%), tỷ lệ nạc tăng (4%), tăng màu đỏ giảm tỷ lệ mất nước tổng

số gần 1%, pH sau giết mổ giảm chậm hơn, cải thiện hương vị (mùi thơm, vị ngọt, độ béo), làm thịt sẫm màu và dai hơn 3%

Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964 Ưu thế lai ở F1: HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: HF1 = ∑dy2 Như vậy, ưu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và sự khác biệt giữa hai quần thể

Trang 23

Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con Ảnh hưởng của

mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh của những cá thể

mẹ khác nhau gây ra Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá trình thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của vật nuôi và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau (Đặng Vũ Bình, 2002)[7]

Theo Dickerson, (1974)[84] cho biết khi lai giữa hai giống con lai chỉ

có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai

F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai 4 giống, con lai có cả

ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố

1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

- Công thức lai

Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai Theo Trần Đình Miên và cộng sự, (1994)[43] mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Theo Trần Kim Anh, (2000)[2] thì ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5-10 %, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10-15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0-1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg, ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin,1998)[80]

Trang 24

- Tính trạng

Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, các tính trạng khác nhau thì có mức

độ di truyền khác nhau Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống

và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng này có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn

Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau, số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%, số con cai sữa có ưu thế lai của

mẹ là 11%, khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%, ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000)[97]

- Sự khác biệt giữa bố và mẹ:

Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác xa nhau về di truyền thì ưu thế lai thu được càng lớn Nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần

Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ưu thế lai càng cao Như vậy ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh

1.2.2 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và cho thịt của gia súc

1.2.2.1 Đặc điểm của sinh trưởng và cho thịt của gia súc

Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do cơ thể thực hiện sự đồng hóa và dị hóa Đó là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng các bộ phận của toàn bộ cơ thể con vật nuôi, trên cơ sở đặc tính di truyền sẵn có Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của vật nuôi cần định lượng chúng định kỳ bằng cân, đo, các cơ quan, bộ phận hay toàn cơ thể con vật Khoảng cách giữa các lần cân, đo, này phụ thuộc vào loài vật nuôi

và mục đích theo dõi

Trang 25

* Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi thường đánh giá qua các chỉ tiêu: Khối lượng sơ sinh/ổ (kg), khối lượng 21 ngày/ổ (kg), khối lượng cai sữa/ổ (kg), tăng khối lượng từ sơ sinh đến cai sữa (g), tăng khối lượng từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (g)

* Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn thịt thường dùng các chỉ tiêu: Tuổi bắt đầu nuôi (ngày), khối lượng bắt đầu nuôi (kg), tuổi kết thúc nuôi (ngày), khối lượng kết thúc nuôi (kg), tăng khối lượng/ngày nuôi (g), tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)

* Đánh giá chất lượng thân thịt của lợn người ta sử dụng các chỉ tiêu về thân thịt và chất lượng thịt Đối với năng suất thân thịt, các chỉ tiêu quan trọng là: tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng

và diện tích cơ thăn

Các chỉ tiêu chất lượng thịt thường sử dụng là tỷ lệ mất nước bảo quản,

tỷ lệ mất nước giải đông, tỷ lệ mất nước chế biến, màu sắc thịt, độ dai, pH của

cơ thăn ở 45 phút và 24 giờ sau khi giết thịt (Reichart và cộng sự, 2001)[96]

1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, cho thịt của gia súc

Cơ sở sinh lý sinh trưởng, cho thịt của gia súc đã có rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu mà từ đó đã tìm ra nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của con vật:

+ Di truyền: Các giống gia súc khác nhau có khả năng cho thịt không giống nhau, khả năng này phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng của con vật, đó

là quá trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein Tốc độ và phương thức sinh tổng hợp protein phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể Di truyền của các chỉ tiêu sinh trưởng được thể hiện thông qua hệ số di truyền Theo Đinh Văn Chỉnh, (2008)[10] hệ số di truyền của tăng khối lượng hàng ngày, tiêu tốn thức ăn, tuổi kết thúc vỗ béo dao động trong phạm vi rộng phụ thuộc vào giống và quần thể Hệ số

Trang 26

di truyền trong thời gian kiểm tra (30-100 kg) h2 = 0,5, tăng khối lượng trong thời gian sống h2 = 0,15 Trong trường hợp kiểm tra theo khối lượng và các cá thể được nuôi riêng lẻ thì hệ số di truyền đạt cao hơn theo nhóm

Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: - 0,51 đến -0,56 (Nguyễn Văn Đức, 2001)[30]; - 0,715 (Nguyễn Quế Côi và cộng sự, 1996)[12]

Đối với các chỉ tiêu giết thịt như tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ

lệ nạc, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền cao (h2 = 0,3 - 0,35) (Sellier, 1998)[98] Đối với độ dày mỡ lưng, hệ số di truyền dao động ở mức độ trung bình đến cao, từ 0,3 - 0,7 (Johnson và cộng sự, 1999)[88], nên việc chọn lọc cải thiện tính trạng này có nhiều thuận lợi Mc.Kay (1990)[92] cho rằng việc chọn lọc nhằm tăng khả năng tăng khối lượng và giảm dày mỡ lưng không làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con sơ sinh trên ổ

Tỷ lệ nạc là một tính trạng có hệ số di truyền cao, dao động từ 0,3 - 0,8 Johnson (1985) đã công bố hệ số di truyền đối với tính trạng tỷ lệ nạc trên 8.234 lợn Landrace là 0,7 và trên 4.448 lợn Yorkshire là 0,81 Hovenier và cs (1992)[86] khi nghiên cứu theo dõi trên lợn Duroc và Yorkshire cho biết hệ

số di truyền về tỷ lệ nạc là 0,63

Đối với các chỉ tiêu thân thịt thì hệ số di truyền của tỷ lệ móc hàm là thấp nhất (h2 = 0,3-0,35) và chiều dài thân thịt là cao nhất (h2 = 0,56-0,57) Các chỉ tiêu về chất lượng thịt như tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, cấu trúc cơ, thành phần hoá học của cơ, pH 45 phút, pH 24 giờ sau khi giết thịt có hệ số di truyền từ 0,1-0,3 (Sellier và cộng sự 1998)[98] Bên cạnh hệ số di truyền còn

có một mối tương quan giữa các tính trạng Tương quan di truyền giữa một số cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như tăng khối lượng và thu nhận thức ăn (r

= 0,65), tỷ lệ nạc với diện tích cơ thăn (r = 0,65) Bên cạnh đó là các tương

Trang 27

quan nghịch và chặt như tỷ lệ nạc với độ dày mỡ lưng (r = - 0,87) tỷ lệ mất nước với pH 24 giờ (r = - 0,71) và với khả năng giữ nước (r = - 0,94) (Sellier

và cộng sự 1998) [98] Ngoài ra, hàng loạt các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã xác nhận các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn ở các giống khác nhau là khác nhau Chẳng hạn như ở lợn Landrace có chiều dài thân thịt dài hơn so với ở lợn Large White là 1,5 cm; ngược lại, tỷ lệ móc hàm ở Large White lại cao hơn so với Landrace (Hammell và CTV, 1993)[85]

Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu tới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hết đàn lợn thương phẩm ở các nước là lợn lai Con lai có ưu thế lai cao hơn bố

mẹ về sinh trưởng 10% (Sellier và cộng sự 1998)[98]

+ Dinh dưỡng: Là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh,

nó trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn Bảo đảm cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Nếu dinh dưỡng kém kéo dài, thì các nhân tố di truyền không những không phát triển theo hướng tích cực, mà thậm chí còn ngược lại, qua nghiên cứu và thực

tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn

Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Thức ăn và giá trị dinh dưỡng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của con vật

Trang 28

+ Phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn (Nguyễn Nghi và cộng sự, 1995)[46] Khi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho

ăn khẩu phần thức ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn

tự do Nuôi lấy thịt nạc, yêu cầu thời gian nuôi ngắn hơn, khối lượng giết mổ nhỏ hơn phương thức nuôi lấy thịt mỡ Phương thức nuôi lấy thịt mỡ cần thời gian nuôi dài hơn, khối lượng giết thịt lớn hơn

+ Khối lượng sơ sinh: Khối lượng cai sữa của lợn con có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh, khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh lớn là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa cao Nguyễn Văn Đồng (1995)[32] cho biết khối lượng

sơ sinh càng cao thì khối lượng lợn ở các giai đoạn phát triển sau đó càng lớn, song nhịp điệu giảm dần Hệ số tương quan giữa khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 21; 28; 35; 100; 180 ngày tuổi giảm dần từ 0,55 (lúc 21 ngày tuổi) xuống chỉ còn 0,19 (lúc 180 ngày tuổi) Rõ ràng khối lượng sơ sinh có ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của lợn ở các giai đoạn lứa tuổi tiếp theo và ở mức độ khác nhau

+ Tính biệt: có ảnh hưởng đến tăng khối lượng của lợn trong chăn nuôi lợn thịt Nhìn chung, lợn đực có sinh trưởng cao hơn lợn cái ở hầu hết các tháng nuôi: ở lợn Bản nuôi tại Điện Biên, lợn cái tăng khối lượng trung bình

là 4,50 kg/tháng, lợn đực là 5,08 kg/tháng theo Phan Xuân Hảo và cộng sự, (2010)[33] Giang Hồng Tuyến và cộng sự, (2008)[59] các nhân tố cố định nhóm giống, thế hệ, tính biệt ảnh hưởng rất rõ rệt tới cá tịnh trạng sinh trưởng và rõ rệt tới chất lượng thân thịt của lợn Móng Cái Ảnh hưởng tới 81% với các tính trạng tăng khối lượng và 98% đối với tỷ lệ nạc Theo Phan

Trang 29

Xuân Hảo và cộng sự, (2010)[33], lợn Địa phương nuôi tại Điện Biên có tốc

độ sinh trưởng tăng khối lượng là 154,56 g/ngày, lợn đực sinh trưởng nhanh hơn là lợn cái là 0,58 kg/tháng Tỷ lệ móc hàm là 75,41%, thịt xẻ là 59,27%

+ Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn Thông thường, lợn bị nuôi chật hẹp thì khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi

Tại thí nghiệm của Brumm và Miller (1996)[78] cho thấy diện tích chuồng nuôi 0,56 m2/con thì lợn ăn ít hơn và tăng khối lượng cũng chậm hơn

so với lợn được nuôi với diện tích 0,78 m2/con, năng suất của lợn đực thiến đạt tối đa khi nuôi ở diện tích 0,84 - 1,0 m2

Nghiên cứu của Nielsen và cs (1995)[91] cho thấy lợn nuôi đàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng

Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn, đó là: điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, khẩu phần ăn không đảm bảo, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm chủng, điều trị, thay đổi khẩu phần (Wood C.M, 1986)[100]

+ Ảnh hưởng của mùa vụ

Có nhiều tác giả nghiên cứu về mùa vụ trong chăn nuôi là gây ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng của lợn Pathiraja và cs (1990)[95] cho biết sự khác nhau giữa năm, mùa vụ ảnh hưởng đến tăng khối lượng và dày

mỡ lưng là rõ rệt

Khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng tăng khối lượng của lợn Thomas (1984)[99], cho biết nếu nuôi lợn từ 20 kg đến 90 kg ở nhiệt độ từ 8oC đến 22oC thì khả năng tăng khối lượng tăng và nhu cầu về thức ăn cũng tăng lên Nguyễn Văn Đức (2000)[31], Trần Thị Minh Hoàng và cộng sự (2003)[36], cũng cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố mùa vụ và năm thí nghiệm

Trang 30

+ Ảnh hưởng của tuổi và khối lượng giết mổ

Ở các giai đoạn tuổi khác nhau thì khả năng tăng khối lượng và phát triển của lợn là khác nhau Thông thường ở giai đoạn bú sữa lợn tăng khối lượng rất nhanh, sau cai sữa thì giảm và đến giai đoạn vỗ béo thì tăng khối lượng cơ thể lại tăng lên

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và khối lượng lúc giết thịt Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn do

sự tăng lên của các mô ở giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành Song không nên giết thịt ở tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích lũy mỡ lớn, dẫn đến tỷ lệ nạc sẽ thấp và hiệu quả kinh tế kém

Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần

cơ thể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn Mô cơ phát triển rất mạnh ngay

từ khi còn nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích lũy ngày càng tăng Tính từ khi sinh ra đến 7 tháng tuổi khối lượng lợn tăng khoảng 100 lần, trong đó mô xương chỉ tăng khoảng 30 lần, mô cơ tăng 81 lần còn mô

mỡ tăng tới 675 lần (Perez, Desmoulin, 1975)[93]

+ Ngoài ra, quá trình trao đổi chất trong cơ thể cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormoe Theo Hoàng Toàn Thắng và cộng sự (2006)[58]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng

sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất

là các xương dài)

Bệnh dịch xảy ra đối với lợn nuôi thịt đều ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng tăng khối lượng, có khi còn dẫn tới tử vong nếu ta không có biện pháp phòng và chữa trị kịp thời Đối với bất kỳ phương thức chăn nuôi nào thì biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh đó là tiêm vaccine ngay từ lúc đầu

Như vậy, nắm vững các quy luật sinh trưởng để có tác động kỹ thuật phù hợp cho vật nuôi phát huy hết tiềm năng di truyền vốn có và thúc đẩy sự

Trang 31

thành thục sớm, đảm bảo thể trạng giống khi phối giống là rất cần thiết, ngoài

ra còn xác định được mức độ di truyền đối với các chỉ tiêu vỗ béo sẽ giúp cho chọn lọc định hướng, không ngừng nâng cao hiệu quả chọn lọc Vì nó quyết định đến hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi lợn

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác chăn nuôi lợn

1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu về các giống lợn địa phương ở trong nước

Giống lợn địa phương (dân địa phương gọi là lợn “Bản”) được nuôi phổ biến ở các vùng cao, vùng xa của các tỉnh miền núi của Việt Nam Đây là một giống lợn đặc trưng của địa phương chủ yếu nuôi trong các nông hộ nhỏ

lẻ Với sự hội nhập, đòi hỏi năng suất cao nên những giống này không đáp ứng được và đang dần bị mai một, nhiều năm qua công tác chọn lọc giống chưa được quan tâm, nên chất lượng giống kém do phối giống cận huyết và cùng với kỹ thuật chăn nuôi chưa được cải tiến, hiệu quả chăn nuôi thấp Trong thời gian gần đây đã được quan tâm của nhà nước và các nhà khoa học nên rất nhiều giống lợn Bản ở các địa phương đã được bảo tồn và phát triển nhằm khai thác những ưu điểm quý của chúng như chịu đựng kham khổ, thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi quản canh, chất lượng thịt thơm ngon Phát triển giống lợn địa phương tại các vùng cao, trước hết tăng nguồn thịt lợn tự cung tự cấp, tạo nguồn thực phẩm đặc sản cho thị trường và góp phần tăng thu thập cho người dân địa phương tạo được nguồn giống cho lai tạo Với chủ trương này thì Phùng Thị Vân và cộng sự, 2000 [69] đã nghiên cứu đánh giá thực trạng và ứng dụng kỹ thuật tổng hợp vào xây dựng mô hình chăn nuôi lợn cái địa phương Bên cạnh đó còn có sự quan tẩm của các Viện Chăn Nuôi

và sở ban ngành để nhăm bảo tồn và phát triển giống lợn Bản của địa phương, cùng với sự đồng tình của nhiều nhà chăn nuôi

Nhìn chung lợn Bản ở các vùng có nhiều đặc tính giống nhau, tuy nhiên qua nhiều nghiên cứu và có nhiều kết quả khác nhau về đặc điểm ngoại hinh,

Trang 32

đặc điểm sinh sản của từng vùng cũng khác nhau Phạm Thị Thanh Hoa và cộng sự, (2010)[35] nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình và các chỉ số của quần thể lợn Bản của Sơn La cho thấy, Phần lớn lợn Bản có màu lông đen với các điểm trắng, một số ít có màu đen hoàn toàn và một số có màu nâu pha trắng Các điểm trắng có thể ở trán, 4 chân, bụng, vai hoặc chóp đuôi Đặc điểm cơ thể của lợn Bản cũng đa dạng, lợn có đầu to, mõm thẳng, dài hoặc dài vừa phải Tai nhỏ, dựng hoặc tai vừa, hơi cúp, lưng hơi võng, chân cao, bụng to nhưng không sệ sát đất

Phan Xuân Hảo và cộng sự, (2010)[33], lợn Bản ở Điện Biên có đặc điểm đặc trưng chủ yếu là lông đen, dài, cứng, da đen tuyền, có 6 điểm trắng

ở 4 chân, trán và chóp đuôi Mình ngắn, chân thấp, mặt nhỏ mõm dài, phẳng Tai nhỏ dựng đứng, chân nhỏ đi móng, có khả năng chống chịu và thích nghi phù hợp với trình độ và phương thức chăn nuôi của người dân địa phương

Nguyễn Ngọc Phục và cộng sự, (2010)[48], nghiên cứu giống lợn địa phương ở Quảng Bình hay còn gọi là lợn Khùa, đây là giống lợn địa phương đặc trưng vùng này, đặc điểm ngoại hình chia làm 4 nhóm: lông da đen có điểm trắng ở 4 chân chiếm 59,3%, mõm dài và khỏe chiếm 80,9%, lưng thẳng chiếm 86,6% Giống lợn Khùa có khả năng sinh sản thấp, cũng giống lợn Điện Biên là có khả năng nuôi sống của lợn Khùa cao, lợn cái phát triển chậm, thành thục ở 223 ngày và khối lượng là 16kg

Theo Vũ Đình Tôn và cộng sự, (2009)[63], cho biết lợn Bản nuôi tại Hòa Bình lông đen, dài, cứng, da có màu đen tuyền, một số có đốm trắng ở 4 chân, một số lang trắng đen Tai lợn nhỏ tinh nhanh, chân nhỏ, dáng đi nhanh nhẹn, dũi đất và trèo đồi khoẻ

Ở tỉnh miền núi Lào Cai ở huyện Mường Khương và Bát Sát có giống lợn địa phương được gọi là lợn Mường Khương, giống lợn này có khối lượng lớn nhất Khối lượng trưởng thành của lợn đực và lợn nái tương ứng là 150 kg và 132 kg

Trang 33

Lông thưa, mềm, có thể màu đen hoặc màu nâu, có một đốm trắng ở giữa đầu, chân và cuối đuôi Mõm dài thẳng hay hơi cong, trán nhăn, tai to, hơi cúp về phía trước giống lợn Landrace lai với các giống lợn nội Việt Nam

Cơ thể cao và dài, chiều cao đạt tới 49-50 cm, bụng to nhưng không xệ sát đất như giống lợn MC hoặc Lang Hồng, mông hơi dốc, da thường dày

Lợn Ỉ là giống lợn nội trước đây khá phổ biến ở nước ta, đứng thứ hai sau lợn MC Giống lợn Ỉ chủ yếu nuôi ở tỉnh Nam Định và chỉ tồn tại cho đến khoảng năm 1990 Trước thập kỷ 70 lợn Ỉ được nuôi phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng, phía Bắc bộ và Thanh Hoá Giống lợn Ỉ thông dụng có hai loại hình là Ỉ mỡ và Ỉ pha

Lợn Ỉ lông da đen bóng, lông nhỏ và thưa, đầu hơi to, mặt cong và nhăn, trán hẹp, mắt híp, cổ và má chảy sệ, mõm to, bè, ngắn, môi dưới thường dài hơn môi trên, vai nở, ngực sâu, thân mình lợn Ỉ mỡ ngắn hơn

so với Ỉ pha, chân thấp và chân trước thẳng nhưng chân sau hơi nghiêng vai nở, toàn thân màu lông da đen, mặt ngắn, trán nhiều, lợn nái thường đi chữ bát, bụng sệ (Nguyễn Thiện và cộng sự, 2005) [52] Giống lợn này hiện nay còn ít và có thể phát triển ở vùng núi cao nơi kinh tế kém phát triển

để khai thác thực phẩm đặc sản

Theo Nguyễn Thiện (2006) [54], thì nguồn gốc lợn Táp Ná là giống lợn nội được hình thành và phát triển từ lâu đời ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng và một số tỉnh lân cận

Giống lợn Táp Ná rất dễ nuôi, phàm ăn, ăn khoẻ, ăn bất cứ loại thức ăn nào kể cả loại thức ăn nghèo chất dinh dưỡng, hầu như không bị bệnh kể cả nuôi trong điều kiện thiếu vệ sinh, thức ăn hạn chế Do vậy, giống lợn Táp Ná vẫn được nuôi và chưa bị lai tạo nhiều với các giống lợn khác

Theo Đức Dũng, (2007) [24] cho biết giống lợn đen Lũng Pù của huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang được thuần hoá từ lâu đời, rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi của người dân vùng cao

Trang 34

Ngoại hình của giống lợn Táp Ná lông và da đen, ngoại trừ có 6 điểm trắng gồm: một điểm nằm giữa trán, ở bốn cẳng chân và ở chóp đuôi Khác với lợn Móng Cái là ở bụng của lợn Táp Ná có màu đen và không có phần dải yên

Lợn Đen Lũng Pù tầm vóc to lớn, nuôi 10-12 tháng đạt khối lượng 80-90

kg, lông đen, dày và ngắn, da thô, tai nhỏ cúp, mõm dài trung bình Có hai loại hình: một loại bốn chân trắng, có đốm trắng ở trán và mõm; một loại đen tuyền Trung bình có 10 vú và bình quân đẻ từ 1,5-1,6 lứa/năm

Lợn thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt của các huyện vùng cao, dễ nuôi, phàm ăn và có sức đề kháng cao, chống chịu bệnh tốt So với các giống lợn địa phương của Việt Nam, lợn đen Lũng Pù tăng trọng khá, thịt thơm ngon

Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Do, (2008)[22] lợn Vân Pa là giống lợn được bà con dân tộc Vân Kiều, Pa Cô của hai huyện Hướng Hoá, Đăkrông tỉnh Quảng Trị thuần dưỡng từ lâu

Lợn có lông da đen bạc, thỉnh thoảng có màu phớt vàng hung, lưng thẳng, thân hình gọn, đầu và cổ to, mõm nhọn, tai nhỏ, hình dáng giống con chuột

Giống lợn Mẹo có nguồn gốc chủ yếu ở vùng núi Kỳ Sơn, Quỳ Châu của Nghệ An và suốt dãy Trường Sơn của tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Ngoài

ra, còn được nuôi ở Lào Cai, Yên Bái

Nguyễn Thiện và cộng sự (2005) [52] cho biết: lợn Mẹo là một trong những giống lợn nội có tầm vóc to của Việt Nam Khối lượng trưởng thành của lợn đực và lợn cái tương ứng là 140 kg và 130 kg Cơ thể to và dài, chiều cao đạt tới 47-50 cm, Màu lông đen và dài 5-8 cm Màu da đen và thường có 6 điểm trắng ở 4 chân, trán và đuôi, một số có loang trắng ở bụng Đầu to, rộng trán và thường có khoáy trán, mõm dài tai nhỏ, hơi chúc về phía trước Vai lưng rộng, phẳng hoặc hơi vồng lên, da thường dày Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, kể

cả khi nhiệt độ trên 380C và có gió Tây Nam nóng Khả năng kháng bệnh tốt, rất tạp ăn, có thể gặm cỏ, đào giun, ăn cỏ khô và thức ăn nghèo dinh dưỡng

Trang 35

Các giống lợn Bản ở nhiều địa phương khác nhau nói chung là những giống lợn được thuần hóa qua nhiều thế hệ và theo tên của từng địa phương Chúng có đặc điểm khá chung, toàn thân đen (loại lợn này có thể đen tuyền hoặc lang trắng đen đốm ở đầu, chân, bụng, đuôi, lưng), tầm vóc nhỏ, đầu nhỏ, tai nhỏ hơi cụp và thường có khoáy ở trán Thành thục muộn, sinh sản thấp, tỷ lệ nuôi sống cao Có khả năng chịu đựng kham khổ tốt thích nghi với điều kiện chăn nuôi của đồng bào

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về công tác chăn nuôi lợn trong nước

Trong thời gian qua nước ta đã có nhiều kết quả nghiên cứu về lĩnh vực các nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng sản xuất, hệ số di truyền, tương quan di truyền, giá trị giống và ưu thế lai của các tổ hợp lai tạo ra từ các giống lợn Nhiều tác giả tập trung vào nghiên cứu khả năng sản xuất, đặc điểm sinh học, quy trình nuôi dưỡng, các công thức lai kinh tế giữa các giống lợn với nhau ở các cơ sở giống nhà nước với quy mô lớn Còn ở quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ như nông hộ được sử dụng chủ yếu vẫn là các tổ hợp lai có máu nội

Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định lai đơn giản đã có tác dụng nâng cao khả năng sinh sản, tăng trọng, tỷ lệ nạc, giảm tiêu tốn thức ăn ở con lai F1 so với lợn nội thuần Một số công thức lai như: giữa lợn đực ĐB với nái MC, giữa lợn đực L với nái MC đã và đang còn được áp dụng rộng rãi trong sản xuất ở các tỉnh miền Bắc, cũng như nhiều tỉnh ở miền Trung và Tây Nguyên hiện nay

Với sự quan tâm của các nhà khoa học thì đã có rất nhiều các nghiên cứu về sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của lợn địa phương tại một số tỉnh miền núi như:

Theo Từ Quang Hiển và cộng sự, (2004)[34] nghiên cứu lợn Lang Hạ Lang, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng cho kết quả sinh sản là số con đẻ ra/lứa

là 10,45 con; Số con còn sống để nuôi/ổ là 9,95 con, thời gian động dục trở lại

là 8,6 ngày khối lượng sinh trưởng lúc 3, 4, 5, 6, 7, 8 tháng tuổi lần lượt là

Trang 36

11,06 kg; 17,18kg; 24,37kg; 33,06kg; 43,13kg; 51,64kg Sinh trưởng tuyệt đối lúc 3, 4, 5, 6, 7, 8 tháng tuổi đạt 139,7g/ngày; 204g/ngày; 239,7g/ngày; 289,7g/ngày; 335,7g/ngày; 283,7g/ngày;

Vũ Đình Tôn, 2009[53] Nghiên cứu về lợn Mường Khương cho kết quả Tuổi động dục của lợn nái khoảng 200-300 ngày, tuổi đẻ lứa đầu khoảng

12 tháng, thời gian động dục khoảng 5-7 ngày, thời gian chửa 115 ngày Mức

độ mắn đẻ thấp, mỗi năm chỉ đẻ từ 1-1,2 lứa

Theo Lê Đình Cường và cộng sự, (2004)[16], thì lợn Mường Khương cho kết quả các chỉ tiêu về sinh sản là số con đẻ ra/ổ lứa 1 và 2: 6,53 con; lứa 3-4: 7,87 con Số con còn sống để nuôi lứa 1-2: 6,23 con; lứa 3-4: 7,45 con Số con sống lúc 60 ngày lứa 1-2: 5,7 con; lứa 3-4: 7,94 con Khối lượng cả ổ 60 ngày lứa 1-2: 38,19 kg; lứa 3-4: 50,97 kg khối lượng sinh trưởng lợn nuôi thịt lúc 4, 6, 8 tháng tuổi lần lượt là: 25,17 kg; 53,32 kg; 72,14 kg Khi giết mổ lúc 8 tháng tuổi với khối lượng giết thịt: 73,50 kg; tỷ

lệ móc hàm: 78,85%; tỷ lệ nạc/thịt xẻ: 42,58%; tỷ lệ mỡ/thịt xẻ: 35,67%; tỷ

lệ xương/thịt xẻ: 12,58%

Theo Lê Đình Cường và cộng sự, (2006)[18], lợn Bản nuôi tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La có các chỉ tiêu về sinh sản và sinh trưởng như sau: số lứa đẻ/ năm 1,2 lứa, số con sơ sinh/ lứa 9,75 con; số con sơ sinh còn sống 8,06 con; số con cai sữa/lứa 5,4 con

Theo Trần Thanh Vân và cộng sự, (2005)[69], lợn Mẹo nuôi tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La được đồng bào H’Mông thuần hoá từ lâu đời, lợn chủ yếu được nuôi chăn thả tự do, chịu kham khổ cao, dễ nuôi Lợn đạt được những chỉ số sinh sản, sinh trưởng, lợn có khoảng cách lứa đẻ 234,53 ngày; thời gian mang thai 114,26 ngày; thời gian chờ phối 7,8 ngày; thời gian cai sữa 108 ngày; khối lượng sơ sinh 0,47 kg/con; số con sơ sinh 8,72 con/ổ; số

Trang 37

con cai sữa 7,93 con/ổ; khối lượng cai sữa 6,43 kg/con Tỷ lệ thịt: tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ ở khối lượng 53,5 đến 90 kg lần lượt là: 83,6% và 72,3%

Theo Vũ Đình Tôn và cộng sự, (2009)[53] lợn Bản nuôi tại Hòa Bình đạt được các chỉ tiêu sinh sản sau: tuổi đẻ lứa đầu 388,96 ngày; số con sơ sinh/ổ 7,33 con; số con sơ sinh sống/ổ 6,67 con; tỷ lệ sơ sinh sống 92,98%; khối lượng sơ sinh/con 0,43 kg; khối lượng sơ sinh/ổ 3,03 kg; thời gian cai sữa 86,33 ngày; số con cai sữa/ổ 5,8 con; khối lượng cai sữa/con 5,05 kg; khối lượng cai sữa/ổ 31,02 kg; tỷ lệ sống đến cai sữa/ổ 87,24%; khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 241,04 ngày, thời gian phối giống lại sau cai sữa 40,46 ngày

Nguyễn Thiện và cộng sự, (2005)[52] đã cho kết quả nghiên cứu về lợn Ỉ có tầm vóc nhỏ, khối lượng trưởng thành: lợn cái là 48 kg và lợn đực

là 50 kg Khối lượng sơ sinh nhỏ: 0,42-0,45 kg/con, 2 tháng tuổi là 4,5 kg,

12 tháng tuổi là 46-49 kg Lợn Ỉ mỡ đẻ sớm: lợn cái động dục lúc 4-5 tháng tuổi nhưng tầm vóc nhỏ nên thường phối giống lần đầu 7-8 tháng tuổi và lợn đực có thể giao phối lúc 2 tháng tuổi Số vú thông thường là 8-

12 vú, số con sơ sinh sống/lứa trung bình 9,5 con, khoảng cách lứa đẻ là 188-199 ngày Tỷ lệ móc hàm thấp thường đạt 70 %, tỷ lệ thịt xẻ chỉ đạt

63 %, tỷ lệ nạc trung bình là 32,3- 35 % Tỷ lệ mỡ cao 44,0-46,5 %, tốc

độ tăng khối lượng trung bình thấp 139-208 g/ngày, tiêu tốn thức ăn cao

từ 4,87-5,68 kg thức ăn/kg tăng khối lượng

Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [52] cho biết khả năng sinh sản của lợn Táp Ná nuôi tại huyện Thông Nông có tuổi đẻ lứa đầu trung bình là 13,6 tháng; Số con đẻ ra sống/lứa là 7,79 con; số con cai sữa/lứa 6,83 con; khối lượng sơ sinh 0,6 kg/con

Lợn Táp Ná có tỷ lệ móc hàm trung bình là 79,06 %; tỷ lệ thịt xẻ 64,68

%; tỷ lệ nạc 32,90 %; tỷ lệ mỡ 46,82 % Đây là giống lợn cần được nuôi để giữ

Trang 38

được nguồn gen tốt của giống lợn địa phương, để cho lai tạo với lợn ngoại nhằm khai thác thịt ở vùng trung du và vùng núi của tỉnh Cao Bằng

Theo Phan Xuân Hảo và cộng sự, (2010)[33], lợn Bản nuôi tại Điện Biên có tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu lần lượt là 336,91 ngày và 451,4 ngày Số con sơ sinh/ ổ là 5,86 con; số con cai sữa/ổ là 5,55 con Khối lượng sơ sinh/con là 0,51 kg; khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ lần lượt là là 7,67 kg và 41,91 kg Tỷ lệ nuôi sống đạt 96,40% Khoảng cách lứa đẻ là 238,32 ngày Khả năng sinh trưởng: khối lượng ở 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,

Nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi, các nhà nghiên cứu cho ra một số kết quả nghiên cứu về con lợn lai F1 cho hiệu quả kinh tế cao hơn:

Các nhà khoa học khắc phục một số nhược điểm và đã khai thác những

ưu điểm của giống lợn nội như mắn đẻ, đẻ nhiều con, sức chống chịu cao với điều kiện hoàn cảnh thiếu dinh dưỡng để kết hợp với những đặc tính tốt của lợn ngoại như năng suất cao, tiêu tốn thức ăn thấp, thời gian nuôi thịt ngắn, tỷ

lệ nạc cao Các công thức lợn lai 1/2, 3/4, hoặc 7/8 máu ngoại được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu:

Nguyễn Văn Đức và cộng sự, (2010)[27] đánh giá năng suất sinh sản, sản suất của lợn Móng Cái khi cho lai với giống đực Pietrain, Landrace, Yorkshire, đều cho ra ưu thế lai của các tính trạng sinh sản cơ địa phương của các tổ hợp lai F1(LRxMC), F1(YxMC) và F1(PixMC) nuôi tại các nông hộ cho thấy số con sơ sinh sống đạt cao, trong các tổ hợp lai những đặc tính xấu của lợn Móng Cái được cải thiện và những ưu điểm vẫn được duy trì

Trang 39

Cùng với nghiên cứu trước đây về lai đơn giản giữa hai giống lợn đực Berkhsire với cái Ỉ (Phạm Hữu Doanh - 1979), hay cặp lai giữa lợn đực Đại Bạch với cái Móng Cái (Võ Trọng Hốt - 1982) Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định lai đơn giản giữa đực ngoại với cái nội tạo ra tổ hợp lai kinh tế F1 có khả năng sinh trưởng tốt: Tăng khối lượng từ 420 - 457 gr/ngày so với lợn nội là

205 - 336 gr/ngày, chi phí thức ăn giảm từ 5,90 - 7,60 đơn vị thức ăn xuống còn 4,0 - 4,94 đơn vị thức ăn/1kg tăng trọng Tỷ lệ nạc đạt từ 36,2 - 42,04% so với nội thuần là 34 - 36%, nâng cao khối lượng sơ sinh từ 0,59 - 0,73 kg/con so với 0,45 - 0,6 kg/con ở giống lợn nội thuần; khối lượng cai sữa/con đạt từ 9,0 - 9,4 kg/con so với 6,0 - 7,0 kg/con ở lợn nội thuần Điều đó đã góp phần nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc trong chăn nuôi lợn

Trong những năm qua, phát triển lợn lai đã có một bước cải tiến chất lượng đàn lợn ở nước ta, hiện nay lợn lai F1; F2; F3 được nuôi trong sản suất đạt tỷ lệ nạc tương ứng là 41 - 43%; 45 - 47%; 49 - 52% so với lợn nội nuôi thuần tỷ lệ nạc chỉ từ 34 - 36% Mức tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng giảm từ 0,3 - 0,7 kg Các công thức lai ngoại x ngoại đã đạt tỷ lệ nạc từ 53 - 58%, với mức tiêu tốn thức ăn là 2,9 - 3,1 kg thức ăn/1kg tăng trọng Khối lượng suất chuồng đạt 90 - 100kg lúc 170 - 180 ngày tuổi Những thành tựu trên đã góp phần làm tăng khối lượng lợn từ 47kg vào năm 1981 lên 69kg vào năm 2000; nâng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi đáng kể

Đến nay bên cạnh những giống lợn ngoại lai với lợn nội phát triển thì giống lợn Rừng thuần và rừng lai cũng được nuôi phổ biến trong các nông hộ hiện nay và được sự quan tâm của các nhà khoa học

Nghiên cứu năng suất sinh sản, sinh trưởng của các giống lợn Rừng Thái Lan, tác giả Đỗ Kim Tuyên và cộng sự, (2006)[55] theo dõi lợn Rừng ở công ty Khánh Giang - Bình Phước cho biết lợn Rừng Thái Lan 7 - 8 tháng tuổi có thể trọng 40 - 60 (với lợn cái có thể phối giống) Thời gian mang thai giống lợn nhà (khoảng 114 ngày) Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 2 -

Trang 40

giờ Quá trình đẻ diễn ra theo tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người Lợn Rừng lứa đầu (con so) đẻ 3 - 5 con, lứa tiếp theo nhiều hơn (7 - 12 con) Lợn Rừng sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khối lượng bình quân 0,5

- 0,9 kg/con, lợn 1 - 2 tháng tuổi: 5 - 10 kg, 3 - 4 tháng tuổi : 15 - 20 kg, 8 -

12 tháng tuổi: 60 - 70 kg, khi trưởng thành: trên 100kg

Từ những đặc điểm trên với nghiên cứu của Nguyễn Văn Nơi và cộng

sự, 2010[45] về đa hình gen Mc4R, GHRH và khả năng sinh trưởng của lợn lai giữa lợn đực Thái Lan và lợn cái địa phương Pác Nặm Cho thấy tỷ lệ đồng hợp tử đạt tỷ lệ 100% với hợp tử GG của gen Mc4R, cho ra con lai có

độ tăng trưởng cao

Nguyễn Ngọc Phục và cộng sự, (2010)[48] cho lai lợn đực Rừng Thái Lan với lợn cái Khùa tại Quảng Bình thấy rằng, lợn đực Rừng làm tăng khối lượng lợn con sơ sinh thêm 0,06kg/con, khối lượng lợn con lúc

21 ngày tuổi tăng thêm 0,12kg/con và khối lượng con cai sữa tăng thêm 0,41kg/con Các chỉ tiêu sinh sản còn lại đều không ảnh hưởng bởi lợn đực Lơn đực Rừng cải thiện tốc độ sinh trưởng của lợn ngay từ khi sơ sinh cho đến khi cai sữa

Điều này góp phần nâng cao năng suất sinh sản, sinh trưởng, phát triển

và chất lượng thịt của lợn Địa phương, mở ra một nghề đầy triển vọng đem lại hiệu quả kinh tế cao cho chăn nuôi nông hộ và trang trại

1.3.3 Tình hình nghiên cứu về công tác chăn nuôi lợn ở một số nước trên thế giới

Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và mang lại những thay đổi rõ rệt về các tính trạng năng suất, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng thịt, tăng

Ngày đăng: 04/06/2016, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Kim Ạnh, (1998), “Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn”, Chuyên san chăn nuôi lợn, hội chăn nuôi Việt Nam, tr 94 - 99, 101 - 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Kim Ạnh
Năm: 1998
2. Trần Kim Anh (2000), “Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn”, Chuyên san chăn nuôi lợn, Hội Chăn nuôi Việt Nam, tr. 94-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn”, "Chuyên san chăn nuôi lợn, Hội Chăn nuôi Việt Nam
Tác giả: Trần Kim Anh
Năm: 2000
3. Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm sỹ Tiệp (2006). “Nuôi lợn Sóc”, Kỹ thuật chăn nuôi một số động vật quý hiếm”, Nhà xuất bản lao động xã hội, tr.36-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi lợn Sóc”, "Kỹ thuật chăn nuôi một số động vật quý hiếm
Tác giả: Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm sỹ Tiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
Năm: 2006
4. Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm sỹ Tiệp (2006), “Nuôi lợn Ỉ” Kỹ Thuật ch ăn nuôi một số động vật quý hiếm”, Nhà xuất bản lao động xã hộ i, tr. 5-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi lợn Ỉ"” Kỹ Thuật chăn nuôi một số động vật quý hiếm
Tác giả: Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm sỹ Tiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
Năm: 2006
5. Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm sỹ Tiệp (2006), “Nuôi lợn Vân Pa tại tỉnh Quảng Trị”, Kỹ Thuật chăn nuôi một số động vật quý hiếm, Nhà xuất bản lao động xã hội, tr.40-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi lợn Vân Pa tại tỉnh Quảng Trị”
Tác giả: Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm sỹ Tiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
Năm: 2006
6. Đặng Hoàng Biên (2009), ”Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của giống lợn Vân Pa nuôi tại Quảng Trị và Ba Vì”, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của giống lợn Vân Pa nuôi tại Quảng Trị và Ba Vì
Tác giả: Đặng Hoàng Biên
Năm: 2009
7. Đặng Vũ Bình (2002), Giáo trình Chọn lọc và nhân giống vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chọn lọc và nhân giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Đặng Vũ Bình (1999), “Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa Chăn nuôi thú y (1996 - 1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
9. Đinh Văn Chỉnh (2000) ” Bài giảng di truyền chọn giống vật nuôi”, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng di truyền chọn giống vật nuôi
10. Đinh Văn Chỉnh (2008), Giáo trình chọn giống vật nuôi dành cho Cao học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn giống vật nuôi dành cho Cao học
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh
Năm: 2008
11. Nguyễn Quế Côi, Đặng Vũ Hòa, Đặng Hoàng Biên, Nguyễn Nguyệt Cầm (2005), “Một số giải pháp kỹ thuật phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc phù hợp với điều kiện chăn nuôi nông hộ tại tỉnh Quảng Trị”, Báo cáo khoa học năm 2005, phần nghiên cứu công nghệ sinh học và các vấn đề khác, Tr. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp kỹ thuật phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc phù hợp với điều kiện chăn nuôi nông hộ tại tỉnh Quảng Trị”
Tác giả: Nguyễn Quế Côi, Đặng Vũ Hòa, Đặng Hoàng Biên, Nguyễn Nguyệt Cầm
Năm: 2005
12. Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Đức Hán, Nguyễn Văn Lâm (1996), "Một số đặc điểm di truyền và chỉ số chọn lọc về khả năng sinh trưởng của lợn đực hậu bị Landrace", Kết quả nghiên cứu KHNN 1995- 1996, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.272 - 276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm di truyền và chỉ số chọn lọc về khả năng sinh trưởng của lợn đực hậu bị Landrace
Tác giả: Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Đức Hán, Nguyễn Văn Lâm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
13. Lê Xuân Cương, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ (1978), Kỹ thuật nuôi lợn cái sinh sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn cái sinh sản," Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Tác giả: Lê Xuân Cương, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
14. Nguyễn Như Cương (2004), “Nuôi lợn Ỉ giữ quý gen trong khu vực nông dân ở Thanh Hoá”, Hội nghị bảo tồn quý gen vật nuôi 1990 - 2004, tr.234-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi lợn Ỉ giữ quý gen trong khu vực nông dân ở Thanh Hoá
Tác giả: Nguyễn Như Cương
Năm: 2004
15. Nguyễn Như Cương, Lê Thị Biên (2008), “Lợn Ỉ” Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.18-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lợn Ỉ” Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm
Tác giả: Nguyễn Như Cương, Lê Thị Biên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
16. Lê Đình Cường, Lương Tất Nhợ, Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Mạnh Thành (2004). “Một số đặc điểm của giống lợn Mường Khương”, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990 - 2004; tr 238 - 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của giống lợn Mường Khương
Tác giả: Lê Đình Cường, Lương Tất Nhợ, Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Mạnh Thành
Năm: 2004
17. Lê Đình Cường (2008), “Lợn Mường Khương”, Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 40-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lợn Mường Khương”, Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”
Tác giả: Lê Đình Cường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
18. Lê Đình Cường, Trần Thanh Thuỷ (2006), "Nghiên cứu khảo nghiệm một số kỹ thuật thích hợp chăn nuôi lợn sinh sản nông hộ ở huyện Mai Sơn - Sơn La", Tạp chí Chăn nuôi, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo nghiệm một số kỹ thuật thích hợp chăn nuôi lợn sinh sản nông hộ ở huyện Mai Sơn - Sơn La
Tác giả: Lê Đình Cường, Trần Thanh Thuỷ
Năm: 2006
19. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên (2010), “Khả năng sinh sản, chất lượng thịt của lợn đen địa phương nuôi tại một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Tạp chí chăn nuôi (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản, chất lượng thịt của lợn đen địa phương nuôi tại một số tỉnh miền núi phía Bắc"”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2010
21. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996) “Sinh lý học gia súc” Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sinh lý học gia súc”
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn nuôi thịt - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn nuôi thịt (Trang 46)
Bảng 3.3: Khả năng sinh sản của lợn cái Địa phương ở đẻ lứa đầu - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.3 Khả năng sinh sản của lợn cái Địa phương ở đẻ lứa đầu (Trang 57)
Bảng 3.4: Năng suất sinh sản của lợn nái - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.4 Năng suất sinh sản của lợn nái (Trang 60)
Bảng 3.5: Mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.5 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản (Trang 62)
Bảng 3.6: Khả năng sinh sản của lợn nái Địa phương - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.6 Khả năng sinh sản của lợn nái Địa phương (Trang 64)
Bảng 3.8: Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.8 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) (Trang 68)
Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R) - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Hình 3.1 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R) (Trang 69)
Bảng 3.9: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (gram/con/ngày) - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.9 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (gram/con/ngày) (Trang 70)
Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương (Trang 71)
Bảng 3.10: Kết quả mổ khảo sát đàn lợn thí nghiệm - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.10 Kết quả mổ khảo sát đàn lợn thí nghiệm (Trang 73)
Bảng 3.11: Thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.11 Thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm (Trang 76)
Bảng 3.12: Kết quả đánh giá chất lượng thịt lợn F1(♀ĐP x ♂R), - Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Sản Của Lợn Nái  Địa Phương Và Sức Sản Xuất Của Con Lai F1 (♀ Địa Phương X ♂ Rừng) Nuôi Tại Nông Hộ Yên Sơn - Tuyên Quang
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá chất lượng thịt lợn F1(♀ĐP x ♂R), (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm