1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận THÂM HỤT NGÂN SÁCH – NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI LẠM PHÁT

34 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 173,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xử lý bội chi NSNN cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm bởi nó khôngchỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vữngcủa mỗi quốc gia

Trang 1

TP HỒ CHÍ MINH

THÂM HỤT NGÂN SÁCH – NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI LẠM PHÁT

TÀI CHÍNH CÔNGGiảng viên: Nguyễn Hồng Thắng

Trang 2

CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM

Trang 3

MỤC LỤC

I) MỞ ĐẦU:

1) Tầm quan trọng và mục đích của nội dung nghiên cứu:

Như chúng ta đã biết, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một tình trạng màtất cả các quốc gia đều gặp phải Đối mặt với sự cần thiết phải gia tăng chi tiêu công,chính phủ các quốc gia cần phải tìm cách để tăng cường nguồn lực hiện tại, trong đóquan trọng nhất là thu từ ngân sách Tuy nhiên, tăng nguồn thu từ thuế không hiệu quảhay không thích hợp sẽ gây ra thiếu hụt các nguồn lực cơ bản, từ đó gây ra bội chiNSNN Việc xử lý bội chi NSNN cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm bởi nó khôngchỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vữngcủa mỗi quốc gia, nếu việc xử lý không thỏa đáng chỉ càng làm cho tình trạng lạmphát và bội chi ngày càng nghiêm trọng hơn vì một trong những nguyên nhân cốt yếugây ra lạm phát là việc phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách

Hiện nay khi toàn thế giới đang phải đối đầu với nền kinh tế hết sức bất ổn, mứclạm phát tăng cao, khủng hoảng tài chính ở nhiều quốc gia, tình hình nợ công và bộichi ngân sách nghiêm trọng ở Mỹ và Châu Âu đã làm cho nền kinh tế đã khủng hoảng

từ năm 2008 càng khó khăn hơn trong quá trình phục hồi cũng như giáng một đòn lớnvào tâm lý của mọi tầng lớp dân chúng gây ra một sự hoang mang, lo lắng bao trùmnền kinh tế toàn cầu

Trong bối cảnh đó,Việt Nam, là một nước đang phát triển và mới gia nhậpWTO, cũng phải gánh chịu những ảnh hưởng hết sức nặng nề thể hiện qua mặt bằnggiá vào thời điểm kết thúc tháng 6/2011 đã cao hơn tới 20,8% so với cùng kỳ Đây làmức lạm phát cao nhất trong 14 nền kinh tế Đông Á mà ADB (Ngân hàng phát triểnchâu Á) tiến hành khảo sát và cao gấp đôi so với nước xếp ở vị trí thứ 2 là Lào Bộichi ngân sách từ năm 2008 đến cuối năm 2010 luôn trên mức 5% GDP (Báo cáo củaTổng cục thống kê) Tình hình bội chi duy trì ở mức cao, những quan ngại về việc sửdụng NSNN chưa đúng cách, đúng lúc, tình trạng bao cấp tràn lan, sự yếu kém trongviệc quản lí thu chi ngân sách đã đặt ra cho chúng ta cần có cái nhìn sâu hơn về tình

Trang 4

trạng bội chi NSNN Vậy giữa bội chi NSNN và lạm phát có mối quan hệ như thếnào? Thực trạng cụ thể tình hình bội chi NSNN ở Việt Nam hiện nay ra sao? Giảipháp nào để xử lý bội chi NSNN như thế nào nhằm ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quảcác mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chếlạm phát hiện nay? Các giải pháp đó ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào?

Tất cả những vấn đề nói trên đã và đang đặt ra nhiều đòi hỏi đối với các nhànghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách để có thể tìm ra những nguyên nhân và cácbiện pháp xử lí tình hình bội chi ngân sách Nhà nước Với những kiến thức đã đượctrang bị trong quá trình học môn Tài chính công, nhóm chúng tôi hy vọng có thể đónggóp một phần công sức vào công cuộc nghiên cứu và tìm tòi giải pháp cho tình trạngbội chi ngân sách hiện nay, góp phần ổn định nền kinh tế

2) Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu:

Dựa vào những kiến thức đã học và nghiên cứu của các nhà kinh tế học từ xưađến nay về bội chi NSNN để có cái nhìn sơ lược về bội chi NSNN và nguồn gốc của

nó Thông qua thực trạng, số liệu báo cáo NSNN của Bộ Tài Chính và Tổng cục thống

kê qua các năm để phân tích tình hình sử dụng và quản lý NSNN Từ đó sẽ cho chúng

ta những đánh giá tổng quan và khá chính xác về các ưu điểm cũng như yếu kémtrong chính sách và kết cấu phân bổ nguồn ngân sách Kết hợp so sánh và phân tíchbáo cáo NSNN với báo cáo tình hình kinh tế của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư để tìm ramối quan hệ giữa bội chi NSNN và lạm phát Trên cơ sở đó, vận dụng các kiến thứcđã học, các công cụ lý luận cũng như tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong nước

và ngoài nước, tham khảo giải pháp mà một số nước khác đã áp dụng hiệu quả đểkhắc phục bội chi NSNN nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn NSNN, khắc phục các yếu kém còn tồn tại cũng như hướng đến mục tiêu đưabội chi NSNN xuống thấp nhất một cách hữu hiệu và cụ thể nhất, góp phần tích cực

và đáng kể vào công cuộc kiềm chế lạm phát – thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế

3) Phạm vi nghiên cứu:

Bội chi NSNN là một đề tài vô cùng rộng lớn và phức tạp, nó liên quan đến rấtnhiều ngành nghề cũng như nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội và xảy ra ở mọi quốc giatrên thế giới, đồng thời cũng là vấn đề thường trực của mỗi quốc gia ở mỗi gia đoạn

Trang 5

Các giải pháp đưa ra chỉ đúng trong hoàn cảnh và tình hình trong một khoảng thờigian cũng như một khu vực nhất định nào đó Vì vậy nhóm chúng tôi quyết định góigọn phạm vi nghiên cứu là tình hình bội chi NSNN ở Việt Nam trong khoảng thờigian từ năm 2008,thời điểm bội chi NSNN vượt quá 5% GDP so với một vài nămtrước đó, đến nay Các phân tích và giải pháp cũng chỉ áp dụng riêng cho tình hìnhthực tế ở Việt Nam hiện nay.

II) CƠ SỞ LÍ LUẬN:

1) Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước:

a) Ngân sách nhà nước:

Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quátrình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nướctham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng củaNhà nước trên cơ sở luật định

b) Bội chi ngân sách nhà nước:

Bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhànước vượt quá các khoản thu "không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước hayđược hiểu một cách chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trongnăm tài khóa Ngoài ra, bội chi NSNN có thể do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằmthực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người tathường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngânsách nhà nước

2) Nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước:

Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhauđến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế

Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:

Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng

làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết

Trang 6

những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tănglên Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi khôngphải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN Mức bội chi do tác độngcủa chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.

Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà

nước Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽlàm tăng mức bội chi NSNN Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêudùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động củachính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu

Về cơ bản, bội chi cơ cấu có thể bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau:

Thất thu thuế nhà nước:

Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh cácnguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuynhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻhở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể chongân sách nhà nước… Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặtgiúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất Tuynhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngânsách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước

Đầu tư công kém hiệu quả:

Trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưađược khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm

và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự pháttriển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệuquả Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nêntrầm trọng

Nhà nước huy động vốn để kích cầu:

Trang 7

Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ,miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích cầu mộtmặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụtngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP

Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:

Chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăngtrưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụtngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát

Sự thiếu hụt ngân sách được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế:

Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được

số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm Tuy nhiên, khi cân đối ngân sáchchúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốchội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau.Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủđộng và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cânnhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển chocác dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nềnkinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không

3) Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước:

Ở bất kỳ một quốc gia nào, từ các nước có nền kinh tế chưa phát triển đến cácnước có nền kinh tế phát triển Nhu cầu chi tiêu và thực tế chi của Nhà nước đềukhông thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên, trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằngcông cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản đối từ phía người dân, các tổ chức kinh tế - xã hội vàhậu quả sẽ nhận được là sự kìm hãm tốc độ tích tụ vốn cho sản xuất, hạn chế tiêu dùngdẫn đến khả năng suy thoái kinh tế tăng cao

Thực tế cho thấy, bội chi NSNN không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạmphát, gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội Tuy nhiên, bội chingân sách không phải lúc nào cũng ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Nếu bội chi

Trang 8

ngân sách vào khoảng 5% thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển Vì vậynhững quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sáchchứ không loại trừ hoàn toàn còn các nước đang phát triển thì luôn luôn muốn giữ bộichi ngân sách ở một mức độ phù hợp để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng.

4) Công cụ bù đắp bội chi ngân sách:

Về cơ bản, chúng ta có các công cụ bù đắp bội chi ngân sách như sau:

Tăng thu, giảm chi: Chính phủ có thể tăng thuế và cắt giảm chi tiêu để bù đắp

bội chi ngân sách Tuy nhiên, việc tăng thuế có thể dẫn đến những mâu thuẫn gay gắttrong xã hội và lạm giảm uy tín của chính phủ do sự phân phối lại thu nhập Cắt giảmchi tiêu đồng nghĩa chúng ta phải đánh đổi một phần nào đó sự tăng trưởng

Vay trong nước: vốn vay trong nước là nguồn động lực của mỗi quốc gia vì nó

mang tính ổn định và bền vững Nguồn vốn vay này trong nước có thể chủ động trongviệc huy động và sử dụng mà không chịu bất cứ sự chi phối nào từ các tổ chức, các quốcgia, cũng như không có một rang buộc chính trị nào

Vay nước ngoài: ngoài các khoản vay cũ trước 1990 đã được xử lý qua Câu lạc bộ

Paris và Câu lạc bộ Luân Đôn, trong thời gian qua, vay nước ngoài của Chính phủ chủyếu thông qua vay ODA cho phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội Trong vài năm gần đây, đểđáp ứng nhu cầu đầu tư trong nước và trước xu thế vốn ODA giảm dần, Chính phủ đã bắtđầu vay một số khoản vay kém ưu đãi hơn hoặc vay theo điều kiện thương mại, kể cảphát hành trái phiếu quốc tế

Phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách: Đây là biện pháp đã được Chính

phủ nhiều nước sử dụng; kể cả nước ta trong thời gian trước đây Tuy nhiên vào đầunhững năm 1990 việc phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách so với GDP cũng như

so với tổng số bội chi đã giảm dần (năm 1990: 2,01% GDP, 30% tổng số bội chi; năm1991: 0,34% GDP,17,79% tổng số bội chi) và đến năm 1992 đã chấm dứt hẳn việc pháthành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

III) SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VAY NỢ BÙ ĐẮP BỘI CHI NGÂN SÁCH ĐẾN TỶ LỆ LẠM PHÁT:

Trang 9

Khi đối mặt với bội chi ngân sách, chính phủ sẽ tìm cách để bù đắp cho phần thiếuhụt đó Như đã trình bày ở trên, chúng ta có các nguồn thu chủ yếu để bù đắp bội chingân sách là từ thu thuế, phát hành tiền và vay nợ Việc bù đắp bằng thu thêm thuế khôngphải là một giải pháp khả thi vì nó gây ra những tiêu cực về mặt kinh tế và xã hội đồngthời ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước Vì thế ở trong bài này, chúng tôi chỉ đề cập đếnhai công cụ bù đắp bội chi là phát hành tiền và vay nợ Rõ ràng qua thực tế ta thấy pháthành tiền để bù đắp bội chi là nguyên nhân gây ra lạm phát cao do việc tăng cung tiền quámức Tuy nhiên đây không phải là nội dung chính mà bài viết này muốn nhắm đến Chonên, nhóm chúng tôi xin phép được bỏ qua việc phân tích, làm rõ tác động của công cụnày đến lạm phát Có ý kiến cho rằng việc vay nợ thực chất chỉ là việc phân bổ lại cácnguồn lực nhàn rỗi và vì thế không làm tăng cơ sở tiền tề và gây ra lạm phát Vậy thì sauđây, chúng ta sẽ cùng làm rõ mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát thông quaviệc bù đắp bằng công vay nợ.

Như đã biết một trong những công cụ đắc lực nhất giúp Chính phủ bù đắp bội chingân sách, bù đắp cho những chi tiêu không có nguồn đáp ứng hiện tại là huy độngnhững nguồn tài chính nhãn rỗi từ dân chúng hay là vay nợ nước ngoài Nguồn bù đắpnày có hai đặc tính quan trọng chúng ta cần quan tâm Thứ nhất, đây chỉ là nguồn lực tạmthời do chính phủ mượn tạm quyền sử dụng sẽ phải trả lại sau một khoảng thời gian nhấtđịnh Thứ hai, những khoản nợ công cũng như những khoản nợ khác, chúng ta đều phảitrả chi phí tức lãi suất để có thể sử dụng tạm thời những nguồn lực này Như vậy, nếuchúng ta tích lũy ngày càng nhiều những khoản nợ công này thì gánh nặng chi phí để chitrả lợi tức sẽ ngày càng tăng, gây áp lực lên tỉ lệ lạm phát trong tương lai và ảnh hưởngđến ngân sách

1) Vay nợ trong nước:

Vay nợ trong nước thực chất là huy động những nguồn lực nhàn rỗi từ công chúngthông qua phát hành các loại trái phiếu và công trái Công trái, trái phiếu là những chứngchỉ ghi nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán do nhà nước phát hành để vay củadân cư, các tổ chức kinh tế và ngân hàng Ở Việt Nam, nhà nước thường ủy quyền chokho bạc phát hành trái phiếu dưới trái phiếu, tín phiếu kho bạc hay trái phiếu công trình.Với việc thu hút những nguồn lực tài chính nhàn rỗi từ những người tham gia trong các

Trang 10

quan hệ kinh tế, các khoản nợ công cơ bản diễn tả “Quá trình phân phối lại tạm thờinhững nguồn lực tài chính nhàn rỗi từ những thực thể vật lý và pháp lý khác nhau nhằmtrang trải những khoản chi tiêu công.”[Filip, 1999, 53] Vì thế, những khoản nợ công nàykhông làm tăng lên số lượng tiền dấu hiệu trong lưu thông hay cơ sở tiền tệ và cung tiền;

vì thế không là một nhân tố gây lạm phát Và vì thế, nó được chấp nhận như là một nguồn

để bù đắp bội chi ngân sách trong xã hội hiện đại Nhưng liệu kết luận như thế đã thực sựthuyết phục chưa?

Nếu việc vay nợ của chính phủ được chấp nhận như là một giải pháp bù đắp bội chithì mỗi khi gặp vấn để khó khăn về tài chính, chính phủ yêu cầu ngân hàng nhà nước chomình mượn tiền để bù đắp tạm thời thâm hụt chi tiểu công kho bạc bằng cách phát hànhcác trái phiếu kho bạc Nếu người mua trái phiếu kho bạc nắm giữ chúng đến khi đáo hạnthì không có gì đáng bàn cãi Tuy nhiên, những chủ nợ của chính phủ thường không làmthế Họ có thể mang đến ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu khi họ cần tiền,đến lượt những ngân hàng khi thiếu hụt khả năng thanh khoản lại phải nhờ cậy đến ngânhàng nhà nước thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu trên thị trường mở, làm gia tăng khảnăng thanh khoản của ngân hàng và sự xuất hiện của “lạm phát tín dụng” (Credit-basedinflation) Như vậy, việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách vay nợ của công chúngthông qua phát hành các loại trái phiếu kho bạc có thể gây ra những tác động tiêu cực đếnlạm phát Đó là khi ngân hàng nhà nước mua lại các loại trái phiếu của chính phủ Điềunày làm tăng cơ số tiền và cung tiền Cách thức này còn gọi là tiền tệ hóa nợ (monetizingthe debt) của chính phủ - một dạng gián tiếp của in tiền, bởi vì tiền có tính lỏng cao đượctạo ra trong tiến trình 2 bước: (i) chính phủ phát hành trái phiếu; (ii) trái phiếu được thaythế bởi tiền quyền lực cao từ sự tham gia của chính phủ Khối lượng tiền mới được tạo rakhó có thể đánh giá một cách chính xác, một mặt tùy thuộc vào số lượng trái phiếu chínhphủ thuộc sở hữu của ngân hàng và mặt khác tùy thuộc vào tỷ lệ phân bổ lại nguồn lựccác nguồn tài nguyên mới được tạo ra, trong tổng số nguồn tiền tín dụng

Một nguyên nhân gây ra tác động đến lạm phát bởi việc vay nợ của chính phủ làlàm cho vòng quay tiền tệ có thể tăng nhanh hơn, tạo ra hệ số nở tiền cao hơn mức cầnthiết Điều này, cũng tạo ra tăng cung tiền tệ do vòng quay tiền tệ lớn, có tạo ra tác động

Trang 11

một phần gây ra lạm phát, nhưng không lớn bằng trực tiếp phát hành tiền ra và vay vốn từbên ngoài để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước.

2) Vay nợ nước ngoài:

Chính phủ có thể giảm bội chi bằng nguồn vay vốn nước ngoài thông qua việc nhậnviện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chếtài chính quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) … Vay nợnước ngoài cũng có những tác động đáng kể đến lạm phát Điều này, có thể giải thích là

do phần huy động từ vay nước ngoài đã làm tăng cung lượng tiền vào thị trường trongnước, vì số tiền vay nước ngoài về để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước phải đổi raViệt Nam đồng để chi tiêu trên cơ sở bán cho Ngân hàng nhà nước là chính, mà Ngânhàng nhà nước lại phát hành tiền ra để mua ngoại tệ là cơ bản Đây chính là phần làm cholạm phát tăng lên nếu lượng vay từ bên ngoài vào bù đắp thâm hụt Ngân sách nhà nướcquá lớn

Nói chung, bù đắp bội chi ngân sách bằng cách vay nợ trong và ngoài nước cơbản, cũng tăng cung tiền vào thị trường trong nước Tuy nhiên biện pháp này được ápdụng ở hầu hết quốc gia hiện nay do những tác động tiêu cực của việc phát hành tiền

Bội chi ngân sách có ảnh hưởng đến lạm phát do bù đắp bội chi bằng cách bổ sungcác nguồn lực tài chính khác nhau, với đặc điểm chung là làm gia tăng lượng cung tiền

Do nhận thấy tác động tiêu cực của việc phát hành tiền, công cụ này đã bị cầm ở hầu hếtcác quốc gia Nguồn bù đắp ngân sách chủ yếu hiện nay là do vay nợ Tuy nhiên vay nợcũng có ảnh hưởng đến lạm phát vì cũng làm gia tăng lượng cung tiền Vì thế, đối với vấn

đề bù đắp bội chi ngân sách, chính phủ phải có những bước đi cẩn trọng để tránh làm xấu

đi tìn hình kinh tế vĩ mô của đất nước

IV) MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH, NỢ CÔNG VÀ LẠM PHÁT:

Bội chi ngân sách và lạm phát là hai phạm trù quan trọng của kinh tế vĩ mô Vậygiữa hai phạm trù này có mối liên hệ không và nó tác động lẫn nhau như thế? Chúng

ta sẽ cùng làm rõ vấn đề này qua các phân tích sau đây

1) Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam:

Trang 12

Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn bao cấp cho tới thời kì mở cửa thị trường vàđổi mới luôn luôn phải đối mặt với tình trạng bội chi ngân sách Những nỗ lực bù đắpbội chi ngân sách đã góp phần làm tăng thêm mức độ trầm trọng của lạm phát trongsuốt thời kì phát triển của nền kinh tế Để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này,chúng ta sẽ phân tích về tình hình bội chi ngân sách và những ảnh hưởng của nó quabốn giai đoạn:

a) Giai đoạn 1986 - 1990:

Đây là giai đoạn có mức bội chi ngân sách cao do tình hình ngân sách còn yếukém, mức chi tiêu nhiều hơn so với mức thu vào lại thêm việc các nước Đông Âu vàLiên Xô cắt giảm các nguồn viện trợ làm tình hình bội chi càng trầm trọng Chính phủđã phải giải quyết bội chi không chỉ bằng nguồn tiền đi vay nợ của nước ngoài mà cònbằng cả cách phát hành tiền Trong thời gian 5 năm 1986 - 1990, 59,7% mức thâm hụtnày được hệ thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền

Bảng 1 Lượng tiền phát hành để bù đắp bội chi 1986-1990

Số tiền phát hành bù đắp bội chi(tỷ đồng) 22,9 89,1 450 1.655 1.200

Do hệ thống thu NSNN chủ yếu dựa vào thu quốc doanh với các doanh nghiệpkém hiệu quả nên Việt Nam không thể tăng thu NSNN để giảm bội chi mà ngược lạicòn phải bao cấp cho nhiều xí nghiệp quốc doanh, chi bù lỗ xuất khẩu Nhà nước chỉcòn cách bù bội chi bằng in tiền nên hệ quả tất yếu là lạm phát Số còn lại được bù đắpbằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước và một số nhỏ do các khoản thu từ báncông trái trong nước Đặc biệt trong giai đoạn 1986-1989 là giai đoạn siêu lạm phátlên đến 3 con số và đến năm 1989 lạm phát giảm nhanh xuống còn 2 con số

Bảng 2 Tỉ lệ lạm phát 1986-1990

Trang 13

% GDP Nếu so sánh sẽ thấy sự khác biệt rõ về tỷ lệ bội chi ngân sách giữa giai đoạn1991-1995 với thời kỳ trước đó (tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP theo ướctính là 11,3% và 13,4% GDP lần lượt trong các giai đoạn 1976-1980; 1981-1985).Mức bội chi ngân sách đã giảm xuống do những điều chỉnh tích cực theo hướngthắt chặt chi tiêu của chính phủ Cùng với đó việc từ 1992 chính phủ ngừng sử dụngbiện pháp in tiền để bù đắp thâm hụt cũng góp phần làm giảm cung tiền và góp phần hạnhiệt tốc độ tăng giá cả Trong những năm này, số thâm hụt NSNN đã giảm dần quatừng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài.

Bảng 3 Tỉ lệ bội chi NSNN so với GDP

Trang 14

c) Giai đoạn 1996-2000:

Giai đoạn 1996-2000 tình hình thu chi NSNN tiếp tục có chuyển biến tích cực, thukhông những đủ bù chi thường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển Thâm hụt NSNNđược khống chế ở mức thấp Mặc dù cuối những năm 1990 do ảnh hưởng của khủnghoảng kinh tế châu Á mức tăng trưởng của Việt Nam có chậm lại nhưng tỷ lệ bội chiNSNN so với GDP vẫn luôn được giữ ở mức thấp Cùng với việc cơ cấu lại các khoản

nợ công qua câu lạc bộ Paris thì nợ công của Việt Nam so với GDP đã giảm đi đáng kể

so với giai đoạn trước đó Gánh nặng trả nợ cũng thấp hơn trong khi nguồn thu tăng lên,

có thể nói tiềm lực tài chính của Nhà nước đã tăng lên đáng kể Tỉ lệ động viên GDPvào NSNN nếu năm 1992 mới đạt 17%, thì bình quân thời kỳ 1996-2000 đã đạt 19,6

Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3,87% GDP, cao hơn mức bình quân năm

1991-1995 (2,63%) Năm 2000 có mức bội chi cao nhất là 4,95% GDP và năm 1998 có mứcbội chi thấp nhất là 2,49% Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát, nên mức bội chiNSNN như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tếchuyển sang giai đoạn đi lên

d) Giai đoạn từ năm 2001 – 2010.

Bảng 5.Tình hình thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ 2000 đến 2008

Trang 15

Giai đoạn từ năm 2001-2010, NSNN đã có chuyển biến đáng kể Tốc độ tăng thuhằng năm bình quân là 20% Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt 20,2% Bội chiNSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ởmức 4,9%-5% GDP (trừ các năm 2007, 2009 mức bội chi cao hơn 5% GDP) Nếu chỉxét ở tỷ lệ so với GDP, cũng thấy bội chi NSNN trong những năm gần đây tăng caohơn các năm trước đó khá nhiều vì giai đoạn năm 1991-2001, mức bội chi NSNN sovới GDP chỉ ở mức 3,5% so với GDP Năm 2010 bội chi ngân sách cũng cao hơntrung bình giai đoạn với số bội chi ước tính đạt 5.8% GDP.

Nếu chỉ xem xét bội chi NSNN so với GDP thì chưa thấy hết sự mở rộng của chitiêu công trong những năm gần đây vì ngoài NSNN được cân đối, đã có một lượngvốn lớn được đưa ra đầu tư các công trình giao thông và thuỷ lợi thông qua hình thứcphát hành trái phiếu Chính phủ không cân đối vào NSNN Ngoài ra, phải kể đến lượngcông trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá trường lớphọc cũng là một lượng tiền lớn ngoài cân đối NSNN Nếu cộng cả hai loại trên vàocân đối NSNN, bội chi NSNN trong những năm qua không phải chỉ 5% GDP mà caohơn sẽ cao hơn Thực tế trong những năm qua, tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao(tốc độ tăng bội chi 2003-2008 là 17,5%/năm, còn 2004-2009 là 26,8%) Tốc độ nàynếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hàng năm

Qua các phân tích trên, ta có thể thấy bội chi ngân sách rõ ràng có mối liên hệảnh hưởng đến lạm phát Việc bù đắp bội chi nếu như bằng phát hành thêm tiền thì sẽtrực tiếp tác động gây ra lạm phát, vì đã làm tăng cung tiền tệ nhiều hơn cầu tiền tệtrên thị trường như giai đoạn từ năm 1986-1990 Bằng những chính sách thắt chặt chitiêu và tìm nguồn bù đắp phù hợp hơn từ vay nợ trong và ngoài nước thì bội chi đãkhả quan hơn trong giai đoạn 1991-1995, kéo theo sự ổn định của lạm phát Tuy

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 TỔNG THU 90.749 103888 123860 152274 190928 228287 279472 315915 416783

TỔNG CHI 108961 129773 148208 181183 214176 262697 308058 399402 494600

THÂM

HỤT -18212 -25885 -24348 -28909 -23248 -34410 -28586 -83487 -77817

Trang 16

nhiên, bội chi ngân sách không hoàn toàn tác động xấu đến lạm phát, vào thời kì giảmphát 1996-2000 thì bội chi ngân sách được coi như là một liều thuốc kích thích sựtăng trưởng của kinh tế nhưng nếu chúng ta quá lạm dụng nó thì có thể gây ra nhữnghậu quả xấu hơn Có một vấn đề cần xem xét là việc bù đắp thâm hụt NSNN bằngnguồn huy động từ bên ngoài và từ trong nước về cơ bản, cũng tăng cung tiền vào thịtrường trong nước Đây chính là một nguyên nhân gây ra lạm phát cao của nước tatrong năm 2007 và năm 2008.

2) Thâm hụt ngân sách ngày càng tăng dẫn đến tính bền vững của nợ công

bị giảm sút:

Một xu thế rất đáng lo ngại là cũng trong giai đoạn 2001-2010, thâm hụt ngânsách (cả trong và ngoài dự toán) tăng từ 2,8%GDP (2001) GDP lên tới 7%GDP(2009) và 6.1%GDP (2010)

Biểu đồ: Thâm hụt ngân sách/GDP (%) giai đoạn 2001 - 2010

Bội chi của Việt Nam đã luôn ở mức 5% GDP từ nhiều năm gần đây Từ năm

2007 đến nay, do phải kích cầu đầu tư nên ngân sách nhà nước đã chi một lượng tiềnlớn ra lưu thông nên tốc độ tăng bội chi ngân sách nhà nước tăng cao hơn rất nhiều sovới giai đoạn trước

Năm 2008, sự diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đãảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của nước ta Trong khi tỷ lệ tăngtrưởng của Việt Nam chỉ đạt 6,23%, thì tỷ lệ lạm phát lên tới 22,97%, tỷ lệ bội chingân sách ở mức 4,58% GDP

Đứng trước tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới diễnbiến ngày càng phức tạp, từ đầu năm 2009 Chính phủ đã đưa ra gói kích thích kinh tế

có tổng giá trị gần 10% GDP Về cơ bản nó đã đạt được mục tiêu đề ra là ngăn chặnđược đà suy giảm kinh tế tuy nhiên nó cũng mang đến hệ lụy: thâm hụt ngân sách củaViệt Nam lên đến 87,3 nghìn tỷ đồng (gần 7% so với GDP) Năm 2010, thâm hụt ngânsách bằng 6,1% GDP

Trang 17

Như vậy, trong khi nợ công tăng liên tục thì ngân sách lại ngày càng trở nênthâm hụt Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững, đó

là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai

Hơn thế, thâm hụt ngân sách ở Việt Nam đã trở thành kinh niên và mức thâm hụtđã vượt xa ngưỡng báo động đỏ 5% theo thông lệ quốc tế, khiến tính bền vững của nợcông càng bị giảm sút Trong khi đó, với nhu cầu tiếp tục đầu tư để phát triển, chắcchắn nợ công của Việt Nam sẽ còn tăng trong nhiều năm tới Cụ thể là, với tỉ lệ tiếtkiệm nội địa chỉ khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng42% GDP thì Chính phủ sẽ phải tiếp tục đi vay rất nhiều (bên cạnh vốn đầu tư nướcngoài) để bù đắp khoản thiếu hụt đầu tư

3) Việt nam sử dụng nợ công chưa thật sự hiệu quả:

Bảng: Tỷ lệ nợ công/GDP từ năm 2001 đến năm 2010

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

%GDP 36 38.2 41.1 42.7 44 45.9 49.7 47.9 51 56.7Theo Báo cáo Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 – 2010 của bộ Kế hoạch

và đầu tư: Cũng giống như một gia đình nghèo đông con, không vay nợ thì lấy gì chitiêu Trong nhiều năm nay, cho dù thu ngân sách đã tăng đáng kể nhưng ngân sáchnhà nước vẫn chỉ đáp ứng “khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu”, theo báo cáo

về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 – 2010 của bộ Kếhoạch và đầu tư Bộ này thừa nhận, ngoài mức thâm hụt ngân sách cao (từ 5 – 6,9%GDP trong những năm gần đây), còn có những khoản chi ngoài ngân sách mà nếu đưahết vào chi ngân sách thì mức bội chi có thể lên đến trên 10% “Đây là một tỷ lệ quácao, dẫn đến rủi ro lớn về khả năng trả nợ trong tương lai”, bộ thừa nhận Thâm hụtngân sách gần đây được bù đắp bằng vay nợ trong và ngoài nước chủ yếu dưới hìnhthức phát hành trái phiếu, nhưng bộ này thừa nhận thực tế mà ít người dám nói ra:

“Hiện nay vẫn chưa rõ nguồn kinh phí để chi trả khi các trái phiếu đến hạn thanh toán

là gì”.????

Theo quy luật, có vay thì phải có trả Để trả nợ gốc và lãi tính riêng cho cáckhoản vay ODA ưu đãi, ngân sách sẽ phải chi 70.250 tỉ đồng năm 2010, tăng cao sovới 58.800 tỉ đồng năm 2009 và 51.200 tỉ đồng năm 2008, theo ủy ban Tài chính –

Ngày đăng: 04/06/2016, 16:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Tỉ lệ bội chi NSNN so với GDP - Tiểu luận THÂM HỤT NGÂN SÁCH – NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI LẠM PHÁT
Bảng 3. Tỉ lệ bội chi NSNN so với GDP (Trang 13)
Bảng 4. Tình hình NSNN 1996-2000 - Tiểu luận THÂM HỤT NGÂN SÁCH – NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI LẠM PHÁT
Bảng 4. Tình hình NSNN 1996-2000 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w