1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN

22 764 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 886,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công Việc đánh giá tính bền vững Nợ công Debt Sustainability Analysis - DSA được dựatrên trên phương pháp luận do IMF 2011 xây dựng1, cụ thể phư

Trang 2

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG

ĐỀ TÀI: CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở

NHẬT BẢN

GVHD: TS Nguyễn Hồng Thắng Sinh viên thực hiện:

Lớp : HP 14C1TCMA50305 TCDN- CHCQ K23- NHÓM 02

Niên khóa 2013- 2015

Trang 3

SVTH: LỚP HP 14C1TCMA50605 –CHCQ K23- NHÓM 2

tranthixuan_lan@yahoo.com.vn

Trang 4

ra hệ quả là sau thời điểm này, nợ công của khu vực Châu Âu đều có xu hướng tăng vọt,điển hình là Hy Lạp và Italia đều ở mức trên 100% so với GDP Đi kèm theo đó là lợi tứctrái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng01/2010, lên 9,73% vào tháng 07/2010 cũng chính là dấu hiệu khởi đầu cho cuộc khủnghoảng nợ công diễn ra tại Châu Âu Khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp, sau đó Ai-len trở thành nước thứ hai và tiếp tục lan ra các quốc gia khác trong khu vực đồng Euro.Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng nợ công là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai-len

và Síp đã phải xin cứu trợ quốc tế để tránh vỡ nợ

Có thể nhìn thấy vấn đề nợ công đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thếgiới Một quốc gia đang được giới phân tích dự đoán có khả năng trở thành “Hy Lạp thứhai” hay không, chính là Nhật Bản Tỷ lệ nợ công của Nhật Bản hiện nay là khoảng245% so với GDP, với con số này, liệu rằng Nhật Bản có xảy ra khủng hoảng nợ cônghay không? Bài phân tích này sẽ tập trung phân tích vào tính bền vững nợ công Nhật Bản

và đưa ra những khác biệt giữa nợ công Nhật Bản và Hy Lạp

1 Quan niệm về nợ công

Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nợ chính phủ, nợ công hoặc nợ quốc gia là tổng giátrị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằmtài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách, vì thế, nợ chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt

Trang 5

Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằngbao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Nợ chính phủ thường được phân thành : Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vaytrong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước) Việc đi vaycủa chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từcác tổ chức, cá nhân Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi

ro tín dụng vì chính phủ vì có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫnlãi khi đáo hạn So với trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ, trái phiếu chính phủphát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng caohơn vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêm vào đó còn có thể xảy

ra rủi ro về tỷ giá hối đoái

Ngoài việc vay bằng cách phát hành trái phiếu nói trên, chính phủ cũng có thể vay tiềntrực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế, chẳng hạn Quỹ Tiền

tệ quốc tế (IMF) Hình thức vay này thường được chính phủ của các nước có độ tín cậytín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếuchính phủ của họ không cao

2 Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công

Việc đánh giá tính bền vững Nợ công (Debt Sustainability Analysis - DSA) được dựatrên trên phương pháp luận do IMF (2011) xây dựng1, cụ thể phương pháp này nhằm vàocác mục tiêu sau:

• Đánh giá hiện trạng nợ công bao gồm việc xem xét quy mô hiện tại, cơ cấu kì hạn,

cơ cấu lãi suất cố định hay thả nổi,cơ cấu tiền tệ và chủ nợ;

• Xác định tính dễ tổn thương của cơ cấu nợ hiện tại hoặc rủi ro chính sách để từ đókhuyến nghị những điều chỉnh thích hợp;

• Dự báo nợ công tương lai và đưa ra các khuyến nghị chính sách để tránh sự đổ vỡhoặc ổn định nợ công

1 International Monetary Fund (2011), “Some Tools for Public Sector Debt Analysis”, Chapter 9 in Public Sector

Debt Statistics:Guide for Compilers and Users.

Trang 6

Nợ công của một quốc gia được coi là bền vững nếu như các nghĩa vụ nợ (trả gốc và lãi)được thực hiện một cách đầy đủ mà không cần sử dụng đến các biện pháp tài trợ ngoại lệ(ví dụ như xin miễn giảm), hoặc không cần phải thực hiện những điều chỉnh lớn đối với

cán cân thu nhập và chi tiêu của mình Đây chính là khả năng thanh toán nợ công và rủi ro vỡ nợ Ngoài ra, còn có thể phân tích thêm những tác động tích cực ( tiêu cực của

nợ công đến nền kinh tế)

Do giới hạn về dữ liệu, trong khuôn khổ bài phân tích này, chúng tôi chỉ đánh giá tínhbền vững nợ công Nhật Bản một cách cơ bản và không phân tích tác động của Nợ cônglên nền kinh tế

3. Đánh giá tính bền vững của Nợ công Nhật Bản

Trang 7

Nhìn vào hai biểu đồ trên ta thấy: mặc dù là nền kinh tế phát triển thứ ba trên thế giớinhưng tỷ lệ nợ công của Nhật Bản đang đứng đầu thế giới Nợ công của Nhật Bản tăngtrung bình 3% mỗi năm và từ sau năm 1996, tỷ lệ nợ công của Nhật Bản đã vượt qua100% so với GDP Thời điểm đó, Chính phủ Nhật cố gắng gia tăng chi tiêu công, kíchthích tiêu dùng nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ sau khi nền kinh tế

“bong bóng” bị vỡ do cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997)

Tuy nhiên, những nỗ lực đó không đưa lại những kết quả như mong muốn và Nhật Bảnphải đối mặt với một giai đoạn giảm phát triền miên, chi phí phúc lợi xã hội không ngừnggia tăng làm xói mòn nguồn thu từ thuế vốn ngày càng thiếu hụt do liên tục bị cắt giảmdẫn tới hậu quả tất yếu là tỷ lệ nợ công ngày càng cao Thâm hụt ngân sách hàng năm củaNhật Bản là gần 10% GDP, cao hơn so với bất kỳ quốc gia nào thuộc khu vực đồng Euro.Điều này cộng với tình trạng kinh tế trì trệ tạo nên tỷ lệ nợ/GDP tăng 10% hàng năm

Hiện nay nợ công của Nhật Bản chỉ thấp hơn Hy Lạp (Hình 3.3)

Trang 8

Hình 3.3 Tỷ lệ Nợ Chính phủ ròng trên GDP của một số quốc gia

ĐVT: %

Nguồn: IMF, WEO Database (2012)

Mặt khác, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và những nỗ lực khôi phụckinh tế sau thảm họa động đất và sóng thần đã tiếp tục làm gia tăng số nợ công của NhậtBản Năm 2011, tổng số nợ công của Chính phủ đã gấp đôi GDP Số nợ công ngày cànggia tăng trong những năm tiếp theo khi Chính phủ Nhật Bản tiếp tục chi các khoản đầu tưlớn để tái thiết những khu vực bị tàn phá bởi thảm họa động đất, sóng thần tháng 3/2011

Tháng 1/2013, Thủ tướng Thủ tướng Nhật- Shinzo Abe đã tung ra chính sách kích thích kinh tế Abenomics - chính sách gồm 3 mũi nhọn (nới lỏng tiền tệ, nới lỏng tài khóa và

cải cách kinh tế) nhằm đưa Nhật thoát khỏi thời kỳ giảm phát kéo dài

Như vậy, với những chính sách thúc đẩy kinh tế trong suốt gần hai thập kỷ vừa qua, đãđẩy Tỷ lệ nợ công ròng (sau khi đã trừ đi những khoản như quỹ lương hưu…) của NhậtBản đã tăng gấp 10 lần và lên tới tỷ lệ 245% GDP Việc gia tăng khối nợ công khổng lồ

đã khiến Chính Phủ Nhật Bản lên kế hoạch tăng thuế ( kế hoạch được lên từ năm 2012)

Trang 9

3.1.2 Nguyên nhân chính gia tăng nợ công Nhật Bản

Tình trạng nợ công hiện nay của Nhật Bản là hậu quả tất yếu của những giải pháp màChính phủ đã tiến hành trong quá khứ trong nỗ lực đưa nền kinh tế ra khỏi giai đoạn suythoái triền miền Có thể nêu những nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, chi tiêu công kích thích tăng trưởng kinh tế: Giải pháp truyền thống mà

Chính phủ Nhật Bản thường sử dụng để khắc phục tình trạng khủng hoảng chu kỳ tronghai thập kỷ vừa qua là việc dựa vào ngân sách bổ sung hoặc các chương trình kích thíchkinh tế trọn gói nhằm kích cầu trong nước thông qua việc mở rộng các công trình côngcộng Nhật Bản là quốc gia có những gói kích cầu lớn nhất cả về tổng giá trị cũng như tỷ

lệ trên GDP

Gần đây nhất, chỉ trong hai tháng 10 và 11/2012, Chính phủ Nhật đã tung ra hai gói kíchthích kinh tế trị giá 5,3 và 10 tỷ USD để ngăn ngừa nền kinh tế đang có dấu hiệu suythoái

Đáng chú ý, Tháng 1/2013, với chính sách kích thích kinh tế Abenomics - chính sách

gồm 3 mũi nhọn (nới lỏng tiền tệ, nới lỏng tài khóa và cải cách kinh tế) nhằm đưa Nhậtthoát khỏi thời kỳ giảm phát kéo dài Chính phủ Nhật Bản đã thông qua một gói kích cầumới trị giá 227 tỷ USD (tương đương 40% GDP) với mục đích tái thiết nền kinh tế lớnthứ ba thế giới trong đó tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng phục vụ việc hồi phục cũngnhư đề phòng thảm họa, các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng táisinh và các nỗ lực cải thiện lĩnh vực y tế Những gói kích thích kinh tế lớn do Chính phủNhật Bản tung ra trong hai thập kỷ vừa qua đã thổi phồng số nợ công của Nhật Bản.Đến giữa tháng 5/2014 Chính phủ của Thủ tướng Abe , đã kích hoạt khoản ngân sáchkhổng lồ 92.610 tỷ Yen (906,2 tỷ USD), tập trung vào các công trình công cộng sẽ tạođòn bẩy giúp phục hồi nền kinh tế

Thứ hai, chi phí an sinh và phúc lợi xã hội: Nhật Bản hiện là nước có tuổi thọ cao nhất

thế giới (83 tuổi) với gần 25% trong tổng số 127 triệu dân ở độ tuổi trên 65 và dự báo đếnnăm 2060, người già có thể chiếm tới 40% dân số Tỷ lệ dân số già cao đang đặt Chính

Trang 10

phủ Nhật Bản vào tình thế khó khăn trong việc bảo đảm lương hưu và chăm sóc y tế chođội ngũ đông đảo những người nghỉ hưu Chi phí an sinh xã hội ước tăng 800 tỷ Yen vàchiếm phần lớn nhất trong ngân sách của năm tài khoán 2013- 2014

Để hỗ trợ cho hệ thống phúc lợi xã hội thì giải pháp tất yếu là Chính phủ Nhật Bản đãphải tiếp tục phát hành trái phiếu vay tiền từ người dân Từ năm 2000, lượng phát hànhtrái phiếu chính phủ Nhật Bản đã vượt qua Mỹ, trở thành nước phát hành trái phiếu lớnnhất toàn cầu Trong năm tài khóa 2013, Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch phát hànhlượng công trái mới để tài trợ cho 46% ngân sách Lượng phát hành trái phiếu tăng làmcho nợ công của Nhật Bản cũng tăng nhanh cùng với nạn giảm phát và nhu cầu tiêu thụnội địa yếu ớt đang cản trở đà phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản

Thứ ba, nguồn thu từ thuế thấp: Để đối phó với tình trạng giảm phát trong hai thập kỷ

vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã liên tiếp điều chỉnh và giảm thuế để kích thích sản xuất

và tiêu dùng

Quan điểm của Chính phủ Nhật Bản là duy trì mức thuế thấp qua đó kích thích kinh tếtăng trưởng để gia tăng thu ngân sách mà không theo đuổi chính sách đánh Thuế cao đểtăng thu ngân sách

Hiện mức thuế doanh thu của Nhật Bản là 5% - mức thấp nhất trong số các nước côngnghiệp hóa (so với mức gần 20% của châu Âu) và nguồn thu từ thuế của Nhật Bản hiệnchỉ ở mức 17% GDP - mức thấp nhất trong các thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triểnkinh tế (OECD) Trong bối cảnh dân số ngày càng già hóa và chi phí an sinh xã hội tăngcao thì việc thu từ nguồn thuế thấp như hiện này rõ ràng đã góp phần làm trầm trọng hơntình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng tỷ lệ nợ công của Nhật Bản

Thứ tư, lãi suất thấp: Trong hai thập kỷ vừa qua Ngân hàng Trung ương Nhật Bản

(BOJ) đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng bằng cách giảm lãi suất nhiều lần và cuốicùng thực hiện “chính sách lãi suất zero” Đặc biệt trong giai đoạn 2001-2006, khi cácchính sách tiền tệ truyền thống không đem lại hiệu quả mong muốn, BOJ lần đầu tiên đãthực thi chính sách nới lỏng định lượng với mục tiêu đưa nền kinh tế Nhật Bản quay lại

đà tăng trưởng

Trang 11

Mặc dù việc hạ thấp lãi suất cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để

mở rộng sản xuất kinh doanh, tuy nhiên lãi suất thấp đã khiến người dân Nhật Bảnchuộng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn là đầu tư vào trái phiếu hay chứng khoán Hệ quả làngân hàng thiếu tiền mặt và không thể cho vay đối với tư nhân, làm cho hoạt động đầu tư

tư nhân của Nhật Bản trì trệ trong nhiều năm, kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế

3.2 Đánh giá cấu trúc nợ công

Mỗi quốc gia có cơ cấu nợ và các tiêu chí nợ, cũng như các rủi ro nợ khác nhau VớiNhật Bản, dù nợ công có quy mô lên tới hơn 245% GDP, nhưng sự vượt ngưỡng này vẫnkhông làm khó nền kinh tế Vậy, vì sao nợ công Nhật Bản vẫn ở ngưỡng an toàn?

Đầu tiên, hãy nhìn vào cấu trúc nợ công của Nhật Bản :

Hình 3.4 Cấu trúc nợ công của Nhật Bản

Đơn vị tính : %

Nguồn: Bộ Tài Chính Nhật Bản

Trong cấu trúc nợ công Nhật Bản, Trái phiếu chính phủ chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 70%), nguồn nợ vay từ các định chế tài chính khoảng 5%, hối phiếu cho nhu cầu tài chính ngắn hạn khoảng 10%

Trang 12

Cùng phân tích cấu trúc này, sẽ cho thấy sự khác biệt giữa nợ công Nhật Bản với các nước khác trên thế giới.

So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản,nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ kỹ thuật, trong khi nợ công của NhậtBản được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, nhưng nợ công của Nhật Bảnvẫn được đánh giá ở ngưỡng an toàn Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ côngNhật Bản, đó là:

Thứ nhất, trái phiếu chính phủ (chiếm tỷ lệ chủ yếu trong cấu trúc nợ công) ổn định

và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế Từ đầu thập niên 1990, khi ngân sách

Chính phủ Nhật Bản bắt đầu thâm hụt, Nhật Bản đã bù đắp cho khoản thâm hụt này bằngcách phát hành trái phiếu để vay nợ, chủ yếu từ nguồn tiền tiết kiệm nội địa lên tới 17nghìn tỷ USD

Theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P), triểnvọng đối với trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định và Nhật Bản “không quá gần”với khủng hoảng, ít nhất là trong ngắn hạn, nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân thanh toánquốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối hơn 1000 tỷ USD; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân vẫn lớnhơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nướcnắm giữ Do ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế, nên Chính phủ Nhật Bản sẽchỉ gặp thách thức trong vấn đề vay nợ khi các nhà đầu tư trong nước không còn mặn màvới trái phiếu Nhật Bản Những thế mạnh này đã giúp Nhật Bản giữ được thị trường tráiphiếu bình ổn

Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên Nhật Bảnkhông có nợ bằng ngoại tệ Do đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (B0J) trở thànhngười bảo lãnh hiệu quả cho tất cả các khoản nợ của chính phủ Nhật Bản Trong trườnghợp xảy ra bán tháo trên thị trường trái phiếu chính phủ Nhật Bản, B0J có thể can thiệp

và mua toàn bộ số trái phiếu bằng cách in thêm tiền Khả năng tiền tệ hóa số nợ của B0J

là không hạn chế Hạn chế duy nhất đó là mức độ lạm phát mà Nhật Bản muốn duy trì.Tuy nhiên, khi mà Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát thì khả năng bảo vệ thị

Trang 13

Thứ hai , phần lớn nợ công Nhật Bản nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa.

Hình 3.5 Cơ cấu Người nắm giữ Trái phiếu Chính phủ Nhật Bản tại thời điểm 3/31/2014 Đơn vị tính : %

Nguồn: Ngân hàng trung ương Nhật Bản

Theo hình 3.5, phần lớn nợ công của Nhật Bản (khoảng 90%) nằm trong tay các nhà đầu

tư trong nước, nên Nhật Bản vẫn chưa phải trải qua những gì như ở Hy Lạp (năm2010) và tránh được tác động bất lợi từ những biến động thất thường của thị trường tàichính thế giới Bởi vậy, việc Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard &Poor’s (S&P) cắt giảm điểm tín nhiệm nợ công của Nhật Bản sẽ không có nhiều tác độngxấu tới tình hình tài khóa của nước này, trừ khi Nhật Bản phải huy động vốn từ thị trườngquốc tế Khi đó, Nhật Bản buộc phải trả mức lãi suất cao hơn để hấp dẫn các nhà đầu tưnước ngoài và lãi suất vay nợ chính phủ cao sẽ kéo theo mức lãi suất cao mà các công ty

và người tiêu dùng Nhật Bản phải trả Lúc đó, điểm tín nhiệm nợ công sẽ có tác độngmạnh hơn tới Nhật Bản, thay vì hầu như không có ảnh hưởng gì trong thời điểm hiện tại.Hơn nữa, Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước Theo số liệu cuối năm 2008 củaQuỹ Tiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản trị giá khoảng 5.700 tỷUSD, cao hơn nhiều so với mức nợ nước ngoài là 3.200 tỷ USD Trong vị thế là nước cho

Ngày đăng: 04/06/2016, 16:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Nợ công Nhật Bản qua các năm ( số tuyệt đối) - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.1 Nợ công Nhật Bản qua các năm ( số tuyệt đối) (Trang 6)
Hình 3.3 Tỷ lệ Nợ Chính phủ ròng trên GDP của một số quốc gia - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.3 Tỷ lệ Nợ Chính phủ ròng trên GDP của một số quốc gia (Trang 8)
Hình 3.4 Cấu trúc nợ công của Nhật Bản - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.4 Cấu trúc nợ công của Nhật Bản (Trang 11)
Hình 3.5  Cơ cấu Người nắm giữ Trái phiếu Chính phủ Nhật Bản tại thời điểm 3/31/2014 Đơn vị tính : % - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.5 Cơ cấu Người nắm giữ Trái phiếu Chính phủ Nhật Bản tại thời điểm 3/31/2014 Đơn vị tính : % (Trang 13)
Hình 3.6 Dự báo Tỷ lệ Tổng tiết kiệm trên GDP: 2010-2050. - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.6 Dự báo Tỷ lệ Tổng tiết kiệm trên GDP: 2010-2050 (Trang 16)
Hình 3.7 Phân phối độ tuổi dân số: 2010-2050 - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.7 Phân phối độ tuổi dân số: 2010-2050 (Trang 17)
Hình 3.9 Chênh lệch lãi suất CDS của JGB: 2003-2011 (Hàng tuần) - Tiểu luận tài chính công CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN
Hình 3.9 Chênh lệch lãi suất CDS của JGB: 2003-2011 (Hàng tuần) (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w