1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các giai đoạn của quá trình tự do hóa tài chính ở việt nam

40 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 266,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suấtnghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tíndụng và

Trang 1

Đề tài:

Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài nhằm:

1 Phân tích các giai đoạn của quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam

2 Đánh giá những mặt tích cực, hạn chế của cơ chế lãi suất của từng giai đoạn

3 Làm rõ cơ sở của việc kiểm soát lãi suất trong tiến trình tự do hóa lãi suất Xác định cácđiều kiện để thực hiện tự do hóa lãi suất

4 Nêu ra một số gợi ý chính sách từ kết quả nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng (bao gồm NHTW và NHTM), người đi vay, người gửi tiền.Mối quan hệ tác động giữa ba chủ thể này là cơ sở xác định lãi suất thị trường

Lãi suất là nhân tố có tác động mạnh và rộng đến các lĩnh vực của nền kinh tế là công cụ quantrọng thực thi chính sách tiền tệ của NHNN Và đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài này làyếu tố lãi suất trong tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam

Trang 2

CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH

Lãi suất và tác động của lãi suất:

Lãi suất:

Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp, có liên quan chặt chẽ đến một số phạm trù kinh tếkhác và đóng vai trò như là một đòn bẩy kinh tế cực kỳ nhạy bén có ảnh hưởng trực tiếp đến cáchoạt động của doanh nghiệp và dân cư Quan trọng hơn, nó được Nhà nước sử dụng như mộtcông cụ quản lý vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Một nhà kinh tế học nổi tiếng của PhápA.POIAL đã khẳng định: lãi suất là một công cụ tích cực trong phát triển kinh tế và đồng thời lại

là một công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy, tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dạitrong việc sử dụng chúng Theo nghĩa chung, lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốnvay trong một đơn vị thời gian nhất định Tùy theo từng đối tượng sử dụng nguồn vốn, theo từngnghiệp vụ cơ bản và từng giá trị theo thời điểm mà lãi suất được phân loại và có tính chất khácnhau tùy vào hoàn cảnh sử dụng:

Lãi suất cơ bản là lãi suất được các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh

doanh của mình Lãi suât cơ bản được hình thành khác nhau tùy từng nước Ở nước ta, lãi suất cơbản do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinhdoanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suấtnghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tíndụng và xu hướng biến động cung - cầu vốn

Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHNN áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho

hệ thống NHTG (bao gồm NHTM) Ở Việt Nam, NHNN tái cấp vốn cho các NHTM qua cáchình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ

có giá ngắn hạn khác; cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn

Lãi suất tái chiết khấu: Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất NHNN cho các tổ chức tín dụng vay

trên cơ sở những chứng từ có giá của NHTM Đây là lãi suất phạt đối với NHTM khi thiếu hụtkhả năng thanh toán NHNN thông qua lãi suất chiết khấu tác động vào lãi suất thị trường Đều

dễ nhận thấy là lãi suất chiết khấu phải thấp hơn lãi suất tái cấp vốn thông thường nhưng lãi suấthiệu dụng (effective rate) thì phải cao hơn mức lãi suất chiết khấu công bố Lãi suất chiết khấu ởđây cũng chính là một hình thức của lãi suất tái cấp vốn

Lãi suất cho vay là lãi suất mà người sử dụng vốn phải trả cho Ngân hàng cho vay, là chi phí mà

người đi vay phải trả khi sử dụng vốn của Ngân hàng

Lãi suất thực là lãi suất điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi của lạm phát, hay nói cách

khác được đo lường bằng chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa với tỷ lệ lạm phát dự kiến hay tỷ lệlạm phát kỳ vọng (expected inflation rate) Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát

kỳ vọng

Trang 3

Lãi suất huy động tức là lãi suất tính trên số tiền gửi vào ngân hàng hay là các tổ chức tín dụng

nào đó mà người gửi tiền nhận được từ ngân hàng nhận tiền gửi Lãi suất tiền gửi thì bản chấtgiống như lãi suất huy động nhưng khác ở chỗ là huy động bằng các loại tiền chứ không phải là

cả các vật chất khác như vàng

Tác động của lãi suất thực lên các biến số kinh tế vĩ mô.

Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm

Thu nhập của cá nhân bao giờ cũng được chia làm hai phần là tiêu dùng và tiết kiệm Hành vi tiếtkiệm với kỳ vọng phòng ngừa rủi ro, mở rộng sản xuất, tích luỹ và tiêu dùng trong tương laichính là cung về vốn vay trong nền kinh tế Tiêu dùng là một hàm phụ thuộc vào thu nhập khảdụng Ở mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, sự thắt chặt hay nới lỏng của chính sách thuế màngân sách dành cho chi tiêu bị tác động Tiết kiệm bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như thu nhập,tập quán tiết kiệm và lãi suất Khi lãi suất tăng làm tăng ý muốn tiết kiệm và sự sẵn sàng chi tiêugiảm xuống

Lãi suất và đầu tư

Lượng cầu về hàm đầu tư phụ thuộc vào lãi suất, để một dự án đầu tư có lãi, lợi nhuận thu đượcphải cao hơn chi phí Vì lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ cho đầu tư, việc tăng lãi suất làmgiảm số lượng dự án đầu tư có lãi, bởi vậy nhu cầu về hãng đầu tư giảm do đó đầu tư tỷ lệ nghịchvới lãi suất Lãi suất thực tế phản ánh chi phí thực sự của tiền vay do vậy chúng ta nhận định đầu

tư phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất là lãi suất danh nghĩa

Lãi suất và lạm pháp

Lạm pháp là sự tăng lên liên tục của mức giá, là hiện tượng mất giá của đồng tiền Lý luận vàthực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữ lãi suất và lạm phát Fisher chỉ ra rằng lãi suấttăng cao trong thời kỳ lạm phát cao Có nhiều nguyên nhân gây nên lạm phát và cũng có nhiềubiện pháp để kiểm soát lạm phát, trong đó công cụ lãi suất là một giải pháp công hiệu khá nhanh.Trong thời kỳ lạm pháp, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút phần lớn sốtiền có trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm; cơ số tiền và lượng tiền cungứng giảm, lạm phát được kiềm chế

Lãi suất và tỷ giá

Lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau Đây là hai công cụ song hàng quantrọng của chính sách tiền tệ, việc cải cách chính sách điều hành ngân hàng hai yếu tố này đòi hỏiphải được tiền hành đồng thời Trong điều kiện một nền kinh tế mở, với nguồn được tự do vậnđộng, nếu lãi suất trong nước tăng lên nguồn vốn nước ngoài sẽ đổ vào đẩy cầu nội tệ lên cao,với mức cung tiền nhất định tỷ giá sẽ bị nâng lên ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương củaquốc gia Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống, vốn trong nước khoác áo ra đi làm cho cầu ngoại tệcao tỷ giá tụt xuống

Lãi suất với cầu tiền

Trang 4

Tiền là một loại tài sản, cũng là một cách mà mỗi người sử dụng cho việc tích sản của mình Nhucầu về tiền phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó có thu nhập và lãi suất Khi thu nhập tăng, theo lýthuyết lượng cầu tài sản, nhu cầu nắm giữ tiền của dân chúng tăng lên Người ta cần nhiều tiềnhơn cho chi tiêu Lãi suất như đã đề cập từ đầu là chi phí cơ hội cho việc giữ tiền Vì vậy khi lãisuất tăng người ta ít có ý muốn nắm giữ tiền hơn mà chuyển sang mua các loại chứng khoánhoặc gửi tiết kiệm để thu lợi

Tự do hóa tài chính:

Trong một quốc gia, hệ thống tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xãhội Quốc gia có hệ thống tài chính mạnh có thể làm cho quá trình lưu thông tiền tệ được diễn rasuôn sẻ hơn, kích thích mọi thành phần kinh tế phát triển Có nhiều ý kiến khác nhau về quanđiểm tự do hóa tài chính trong nền kinh tế Thực ra, tự do hóa tài chính là việc nới lỏng nhữngràng buộc hay việc kiểm soát khu vực tài chính của Nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau Trước hết, tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát củaNhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự

do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính baogồm: tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các NHTM, tự do hóa hoạt động ngoạihối, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính

Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa tài chính trong nước và tự do hóa tài chính với nướcngoài Tự do hóa tài chính trong nước là cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự do thựchiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chính trong nước đượckhuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành theo tín hiệu thị trường

Tự do hóa tài chính với nước ngoài bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và tự do hóa giao dịchvốn

Có thể nói, bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn có củathị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sựphối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụkinh tế – xã hội Do đó, kết quả của tự do hóa tài chính thường được thể hiện bằng tỷ số giữa tiền

mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống NHTM) trên thu nhập quốc dân

Ngoài ra, tự do hóa tài chính là sự xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượngtrong quá trình cấp và phân phối tín dụng Sự điều tiết về số lượng này được thay thế bởi một cơchế giá: tự do hóa mang lại cho các định chế tài chính quyền tự do xác định các mức lãi suất tiềngởi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi suất Trên lý thuyết, tự do hóa dẫn đến chấm dứt cácmức trần lãi suất cũng như những ràng buộc trong việc sử dụng các nguồn vốn huy động được

Tự do hóa cũng chấm dứt những kênh cấp vốn ưu đãi Việc mở rộng cạnh tranh trong các hoạtđộng trung gian tài chính, chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa các thành phần kinh tếcũng được xem là một khía cạnh của tự do hóa tài chính Tuy nhiên, tự do hóa không có nghĩa làchấm dứt mọi qui định hay giám sát các hoạt động tài chính Ngược lại, tự do hóa đòi hỏi phảităng cường cơ sở hạ tầng qui chế và các cơ quan giám sát Việc đặt ra các qui định là cần thiết đểđảm bảo cho sự vận hành hiệu quả của các thị trường tài chính và ngân hàng

Trang 5

Tùy theo tình hình thực tế của từng quốc gia, tự do hóa tài chính bao gồm nhiều yếu tố khácnhau Nhìn chung có 5 yếu tố quan trọng nhất: tự do hóa lãi suất và giá cả; tự do hóa hoạt độngtín dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính của các tổ chức tín dụng nhà nước; tự do hoạt độngngoại hối; tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính; cắt giảm thuế

và lạm phát trên thị trường tài chính quốc gia Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết chỉ đề cập đến

tự do hóa lãi suất

Tự do hóa lãi suất:

Khái niệm

Tự do hoá lãi suất là cơ chế lãi suất trong đó không có hoặc chỉ có sự can thiệp rất hạn chế củaChính phủ vào việc hình thành lãi suất Khi cởi bỏ kiềm chế, lãi suất được hình thành trên cơ sởthị trường, vận động theo quy luật cungcầu Tự do hoá lãi suất được hiểu là lãi suất hoàn toànđược điều chỉnh theo yêu cầu của thị trường Sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường tiền tệtín dụng được điều hành thông qua các công cụ gián tiếp như lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thịtrường mở, dự trữ bắt buộc, để tác động lên cung-cầu vốn trên thị trường tiền tệ nhằm đảm bảo

sự an toàn phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kì Như vậy tự do hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏ hoàn toàn các ràng buộc về lãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó Thực chất của tự do hoá lãi suất là

một quá trình loại bỏ các quy phạm, giới hạn bất hợp lý, loại bỏ tối đa các kiểm soát về lãi suấttrong kinh doanh tiền tệ của khu vực trung gian tài chính và thay thế bằng các biện pháp điều tiếtlãi suất gián tiếp của Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ

Biểu hiện của tự do hoá lãi suất: Trong điều hành chính sách lãi suất, Ngân hàng Trung ương chỉ công bố các mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn của mình đối với các tổ chức tín dụng Các mức lãi suất tiền gửi cho vay cụ thể theo từng kỳ hạn,

từng đối tượng của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế sẽ do tổ chức tín dụng tự ấn định,dựa trên cung-cầu vốn và sự cạnh tranh trên thị trường, từ đó hình thành nên mức lãi suất phảnánh đúng nhu cầu của thị trường

Khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế, phù hợp vớimục tiêu của chính sách tiền tệ từng giai đoạn, Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện thông quaviệc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu của mình đối với các tổ chức tín dụng, từ đó tác động đếnlãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, và cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất kinh doanhcủa các tổ chức tín dụng

Trình tự của quá trình tự do hoá lãi suất tại Việt Nam

Tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bảntuân theo quy luật cung cầu, phân bổ nguồn vốn hợp lý Song, với thực trạng nền kinh tế đangphải đối mặt cùng với những bất cập của thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suấttrực tiếp là cần thiết, trong khi từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi

suất Cần thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường Trên cơ sở mức

lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất tái cấp vốn, lãi suấtchiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết

Trang 6

lãi suất thị trường và các hành vi cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ.Lượng tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu Đồng thời

trong thời gian này NHNN cũng sẽ tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài

hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ vàchỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảmdần phù hợp diễn biến nền kinh tế

Đặc điểm lãi suất của các nước trên thế giới:

Lãi suât cơ bản tại Mỹ:

Lãi suất cơ bản (Prime rate) ở hầu hết các nước trên thế giới khá chung chung song có tựa điểm

là dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng - nghĩa là gần với lãi suất thực của hoạt động

cho vay trên thị trường Ở Mỹ, lãi suất cơ bản được hiểu là mức lãi suất cho vay ngắn hạn của

đa số các ngân hàng đối với khách hàng là các tổ chức công ty lớn có hệ số tín nhiệm cao (có thể hiểu là mức lãi suất thị trường ưu đãi) Ban đầu, lãi suất cơ bản được điều chỉnh thường

xuyên do vậy tiệm cận với lãi suất cho vay thực Tuy nhiên, sau này, lãi suất cơ bản không còngắn rất chặt với lãi suất thực của các ngân hàng vì chúng không còn được điều chỉnh một cáchthường xuyên và ở những thời điểm nhất đinh, lãi suất cơ bản thoát ly lãi suất cho vay thực Tuyvậy, lãi suất cơ bản vẫn được sử dụng như một mức lãi suất chuẩn (benchmark) cho hầu hết cáckhoản tín dụng trong một quốc gia

Lãi suất công bố của FED

Lãi suất mà Fed công bố thực chất không phải là lãi suất cơ bản (Prime Rate) mà là Fed FundsRate Đây là lãi suất mà các tổ chức tín dụng (thường là các ngân hàng) cho nhau vay phần vốn

dự trữ bắt buộc dư thừa (hoặc thiếu hụt tạm thời) đang nằm trong quỹ dự trữ liên bang theo yêucầu đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng (có thể gọi là lãi suất điều hoà vốn dựtrữ overnight)

Lãi suât LIBOR

Libor hình thành từ những năm 1980 của thế kỷ trước, khi các ngân hàng bắt đầu cho vay lẫnnhau, với kỳ vọng trở thành lãi suất bình quân để những ngân hàng lớn có thể vay từ các đơn vịcùng ngành mà không phải thế chấp

Đầu tiên là Libor lại khác biệt so với các chuẩn điểm lãi suất vay theo đồng đôla Mỹ hay liênngân hàng châu Âu (Euribor) đưa ra Tiếp theo, Libor và các điểm lãi suất điển hình khác lạikhông có cùng biên kể từ năm 2008, khi lãi suất vay có thể mặc định bởi thị trường ngoại hối.Thứ ba, biến động của đồng đôla (vốn đặt cho Libor) lại thấp hơn nhiều so với các loại điểm tíndụng ngắn hạn khác trên thị trường Thêm vào đó, lãi suất có nhiều mức khiến một số nhà băng

đã đề nghị Hiệp hội Ngân hàng Anh không so với những bản hợp đồng hoán đổi nợ xấu của họ(những công cụ tài chính tương tự như bảo hiểm và là một biến pháp để tính toán rủi ro tính dụngcủa ngân hàng) Đã từng có thời gian lãi suất các hợp đồng này nới rộng tại một số ngân hàng(cho thấy nguy cơ tín dụng tăng cao), trong khi Libor vẫn ổn định (đồng nghĩa với chi phí vaymượn của ngân hàng không thay đổi)

Trang 7

Lãi suất SIBOR

Lãi suất liên ngân hàng tại Singapore (SIBOR) phản ánh lãi suất cho vay giữa các định chế tàichính với nhau và được sử dụng như một tham chiếu (benchmark) phục vụ cho hoạt động tíndụng bất động sản Hàng ngày, ABS ấn định SIBOR với sự hỗ trợ dịch vụ thông tin tài chính củahãng thông tấn Thomson Reuters trên cơ sở lãi suất cho vay của 15 ngân hàng tại Singapore,trong đó có 3 ngân hàng của Singapore là DBS, UOB và OCBC cũng như nhiều ngân hàng nướcngoài như Citibank

Khác với LIBOR, SIBOR chỉ mang tính chất nội địa và không phải là lãi suất tham chiếu quốc

tế Ví dụ, LIBOR sử dụng để xác định mức giá cho hàng nghìn tỷ USD các sản phẩm tài chínhphái sinh (derivatives) hay các công cụ tài chính khác

Trang 8

TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TRONG QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM:

1 Khu vực tài chính và chính sách lãi suất trước năm 2000:

Năm 1988 đánh dấu đợt cải cach mạnh mẽ đầu tiên trong hệ thống tài chính – ngân hàng củaViệt Nam Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 do Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành mở đầu chocông cuộc cải tổ hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, với ba nội dung cải tổ quan trọng:

Thứ nhất là tách bộ phận quản lý quỹ ngân sách ra khỏi Ngân hàng Nhà nước để hình thành nên

hệ thống Kho bạc Nhà nước.

Thứ hai là tách chức năng kinh doanh ra khỏi hệ thống Ngân hàng Nhà nước giao cho các ngân hàng chuyên doanh.

Thứ ba là thành lập hai ngân hàng chuyên doanh mới đó là Ngân hàng Công Thương Việt Nam

và Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam cùng với hai ngân hàng trước đó là Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đảm nhận chức năng kinh doanh thay thế cho Ngân hàng Nhà nước Cả bốn ngân hàng hoạt động dưới hình thức chuyên doanh cho đến năm 1990, khi giới hạn này được xóa bỏ và hệ thống ngân hàng thương mại ra đời theo tinh thần của Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh các tổ chức tín dụng năm 1990.

Lãi suất tiền gửi và cho vay của ngân hàng TMQD đều do Ngân hàng Nhà nước quy định Cũngtheo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại duy trì các mức lãi suất chovay khác nhau đối với cho vay nông nghiệp, công nghiệp và thương mại

Năm 1988 cũng đánh dấu nỗ lực tự do hóa tài chính đầu tiên ở Việt Nam bằng quyết định củaHội đồng Bộ trưởng 9/3/1988 cho phép các tổ chức kinh tế bao gồm các đơn vị kinh tế ngoàiquốc doanh được vay tiền và huy động vốn từ công chúng Có ba đặc điểm chung đáng chú ý ởđây:

Trang 9

Thứ nhất, giai đoạn 1986-1988 là là thời gian mất ổn đinh kinh tế vĩ mô nhấ mà nến kinh tế Việt Nam từng trải qua Với việc chính phủ sử dụng in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, lạm phát ở mức phi mã ba chữ số

Thứ hai, nỗ lực tự do hoá tài chính này được tiến hành trong khi hầu như chưa có cải cách trong khu vực công nghiệp, DNNN và hoạt động ngoại thương Thực tế là mới chỉ có khu vực nông nghiệp được tự do hoá, và rất nhiều loại giá vẫn bị biến dạng nghiệm trọng.

Thứ ba, tự do hoá đã đi quá xa đến nỗi cho phép tất cả tổ chức kinh tế đều có thể kinh doanh tiền tệ, trong khi hệ thống điều tiết tài chính thì hoàn toàn không tồn tại Các tổ chức huy động vốn từ công chúng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm để cho vay không phải tuân thủ các quy định truyền thống của ngân hàng, như dự trữ bắt buộc và tỷ lệ vốn/dự nợ vay.

Trong thời gian này, các quỹ và hợp tác xã tín dụng mọc lên rất nhiều Đến cuối thập niên 80,tổng số quỹ và hợp tác xã tin dụng lên tới 7.180, trong khi vào năm 1983 thi hợp tác xã tín dụngđầu tiên mới được thành lập ở miền Nam Hàng loạt các quỹ tín dụng ở thành thị đua nhau tănglãi suất để huy động vốn Cả hệ thống rơi vào vòng xoáy của vấn đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷlại Ban đầu, có lẽ chỉ có một số quỹ tín dụng đưa ra lãi suất tiết kiệm cao và thu hút người gửitiền Nhưng các tổ chức còn lại ngày càng phải chịu áp lực cạnh tranh khi thấy khách hàng gửitiền của minh chuyển tiết kiệm sang các quỹ trả lãi cao hơn Các tổ chức này, do vậy, cũng bịbuộc phải tăng lãi suất tiền gửi lên mức hấp dẫn đối với người tiết kiệm Đây chính là một trườnghợp điển hình của lựa chọn bất lợi Đồng thời, việc không có quy định về vốn tạo ra tâm lý ỷ lại.Đầu tư rủi ro mong thu được lợi nhuận cao rồi dùng một phần để trả lại cho vốn huy động làhành vi tối đa hoá lợi nhuận hoàn toàn hợp lý khi quỹ tín dụng không chịu quy định đầy đủ vềvốn Nếu đầu tư thắng, lợi nhuận thu được sẽ đủ trả lãi tiền gửi và còn được một khoản lợi nhuậncon Còn nếu thua, thì cũng không mất mát nhiều do vốn tự có ban đầu bỏ ra không bao nhiêu Mất ổn định vĩ mô cũng có thể là yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của các quỹ tín dụng, bên cạnh cácyếu tố đã đề cập ở trên Mặc dù lạm phát đã giảm xuống, nhưng vẫn còn ở mức 70-80%/năm Dovậy, mặc dù không có kiểm soát lãi suất, nhưng các tổ chức tín dụng vẫn không thể dựa vào thịtrường để thẩm định các dự án đầu tư

Cho đến cuối năm 1990, tổng số quỹ tín dụng và hợp tác xã tín dụng chỉ còn 160 Bên cạnh sựmất mát về tiền, cuộc khủng hoảng tín dụng năm 1990 còn tạo ra một tác động tâm lý sâu rộngvới sự sụt giảm lòng tin nghiêm trọng của người dân đối với hệ thống ngân hàng Một số nghiêncứu lúc đó cho rằng sự mất niềm tin này cùng với lãi suất thực âm vào lúc đó khiến rất nhiềungười dân rút tiền tiết kiệm của mình và chuyển sang vàng hay đô-la Mỹ

Giai đoạn trước 1992 Nhà nước quản lý kinh tế theo phương thức kế hoạch hóa tập trung dẫnđến việc áp dụng chính sách lãi suất bao cấp, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền

Trang 10

kinh tế thế giới Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làmcho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm,

vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa.Trong giai đoạn này, lạm phát cũng liên tục cao.Tuy nhiên, quan trọng hơn là chủ trương của Chính phủ là tất cả cho sản xuất, khu vực ngânhàng là khu vực dịch vụ và theo chủ trương đó lãi suất ngân hàng thấp hơn lạm phát đáng kể.Khi đó nếu ngân hàng càng cho vay thì dường như ngân hàng càng mất vốn Đối với người gửitiền, thì vấn đề càng rõ hơn, nếu càng gửi nhiều tiền và càng gửi lâu thì họ lại càng mất tiền nếuxét trên cơ sở so với thay đổi mặt bằng giá Về mặt quyền lợi người ta thấy rằng, ngân hàng vàngười gửi tiển đều không có lợi Tuy nhiên, trên góc độ đầu tư, chính sách lãi suất thực âm đãgóp phần tài trợ vốn lớn với lãi suất thấp cho các DN và qua đó phần nào giảm được chi từ ngânsách nhà nước, tập trung được nguồn vốn lớn cho khu vực sản xuất Ngoài ra, cũng có thể thấyrằng, chính sách lãi suất thực âm đó có thể không khuyến khích dân chúng gửi tiền vào ngânhàng mà phần nào có ý nghĩa khuyến khích dân chúng tập trung tiền vốn vào sản xuất kinhdoanh và đầu tư sản xuất Như vậy, những lợi ích của lãi suất thực âm là rõ ràng và có vai tròlịch sử nhất định

Giai đoạn từ 1992-1995, đặc trưng của giai đoạn này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chếlãi suất theo khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nềnkinh tế Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàngthương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi căn bản từ cơchế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại, các tổ chứctín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ởViệt Nam

Trần lãi suất trong giai đoạn 1993-1996 này cụ thể là : 21.6%/năm đối với DNNN và 25.2% vớikinh tế ngoài quốc doanh Lãi suất liền gửi tiết kiệm VNĐ trong giai đoạn 1992-1995 là rất cao:năm 1992 là 34,1%/năm, năm 1993 là 20,4%/năm, năm 1994 là 16,8%/năm và năm 1995 là16,8%/năm trong khi tỷ lệ lạm phát trong những năm này đã giảm đáng kể nên lãi suất thựcdương năm 1992 là 16,6%, năm 1993: 15,2%, năm 1994: 2,4%, năm 1995: 4,1%

Trang 11

Lái suất thực 16.6% 15.2% 2.4% 4.1%

Nguồn:

Qua thực tế điều hành cho thấy áp dụng lãi suất thực dương là một chính sách đúng đắn để chốnglạm phát Nhưng nếu duy trì lãi suất thực dương quá cao sẽ đẩy đến đầu tư có thể bị sút giảmtrong đỉnh điểm của lãi suất dương và hiệu quả kinh tế có thể giảm sút

Quốc hội khoán IX, kì họp thứ 8 tháng 10/1995 đã thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu hoạtđộng tín dụng ngân hàng , đồng thời khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huyđộng 0.35%/tháng Đây là duyên cớ để ra đời lãi suất trần hoàn toàn và bãi bỏ lãi suất cho vaythỏa thuận từ 01/01/1996 Như vậy thực chất các ngân hàng vẫn phải chịu khống chế cả lãi suấttiền gửi và cho vay, cho dù mức chênh lệch lãi suất thực tế có khác nhau giữa các ngân hàng tuỳthuộc cơ cấu chi phí cụ thể Chính sách này có lợi cho các NHTM là duy trì được mức lợi nhuậnmong muốn

Trường hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo lãi suất quy định phải phát hành

kì phiếu với lãi suất cao hơn thì được áp dụng lãi suất thỏa thuận Trên thực tế khoảng 30-60%tổng dư nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho vay bằng lãi suất thỏa thuận mà các DN ngoài quốcdoanh và các hộ nông dân với lãi suất 2,3-3.5%./tháng Với cơ chế lãi suất thỏa thuận thì chúng

ta có thể nhận thấy lãi suất đang dần được tự do hóa

Từ năm 1996, NHNN tiếp tục ấn định lãi suất tái cấp vốn và có những biến đổi căn bản về điềuhành lãi suất Thay vì quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay,NHNN chỉ quy định mức lãi suất trần theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãisuất cho vay và lãi suất huy động bình quân là 0,35%/tháng (4,2%/năm) để khắc phục tình trạnghầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặpkhó khăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn trước) Trong biên độdao động này giờ đây các ngân hàng có thể định mức lãi suất huy động tùy theo khách hàng vàlượng tiền gửi cũng như kỳ hạn gửi chứ không còn bó buộc trong một mức chung như trước đây.Như vậy, cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng sẽ gia tăng lên Đây là tín hiệu của sự tự

do hóa lãi suất huy động nói riêng và tiến đến tự do hóa lãi suất nói chung

Trong giai đoạn từ năm 1997 trở đi, theo nhận định của các chuyên gia của chính phủ, với đồngtiền Việt Nam là đồng tiền chưa có khả năng chuyển đổi, tài khoản vốn đóng nên hệ thống ngânhàng của Việt Nam không phải chịu tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng châu Á Chính vìđiều này, từ năm 1997 đến đến đầu năm 1998, NHNN đã không siết chặc kiểm soát hệ thốngTCTD, lãi suất trần được nâng lên để các ngân hàng có thể tăng lãi suất tiền gửi để huy động vốn

Trang 12

Đồng thời, trong bối cảnh cạnh tranh càng cao giữa các ngân hàng lúc này, quy định giới hạnchênh lệch lãi suất cho vay và lãi tiền gửi trong khoảng 0,35%/tháng tỏ ra không có tác dụngthúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triển nên cuối cùng được bãi bỏ vào cuối tháng 1 năm 1998 Tuy nhiên trái với dự đoán của chính phủ, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chịu tác động mạnh từcuộc khủng hoảng từ giữa năm 1997, các doanh nghiệp vay nợ gặp khó khăn do tăng trưởng kinh

tế, xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài suy giảm, đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu

mở một khối lượng thư tín dụng lớn từ 1995 và 1996 và đáo hạn cuối năm 1997 và 1998, nhiềudoanh nghiệp trong số này không còn khả năng thanh toán cùng với việc phá giá đồng nội tệ10% vào tháng 8 năm 1998 dẫn đến các ngân hàng trong nước phải chịu một gánh nặng nợ nướcngoài Một số ngân hàng đứng trước tình trạng phá sản Đứng trước tình trạng này NHNN đã liêntục chủ động điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế,đặc biệt là trong năm 1998 và 1999 Đồng thời, NHNN cũng điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn giảmxuống nhằm mục đích quan trọng là kích cầu đầu tư-tiêu dùng, để vựt dậy các doanh nghiệp vượtqua tác động của cuộc khủng hoảng Tuy nhiên ảnh hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nềnkinh tế Việt Nam rất hạn chế Lý do trước hết là việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát

từ sự suy giảm các yếu tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu, vì thế các chínhsách vĩ mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn chế Lý do thứ hai là sự điều chỉnhlãi suất thường chậm so với thị trường, nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi lãi suất Hơnnữa việc điều hành trần lãi suất vẫn là một biện pháp can thiệp hành chính của Nhà nước do vậy

đã hạn chế tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh của các TCTD, hạn chế việc hình thành vàphát triển của các công cụ tài chính

Việc điều chỉnh chính sách lãi suất trong giai đoạn 1996-2000 nhằm duy trì một trần lãi suất chovay, tạo điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơ bản trong giai đoạn kế tiếp và từng bước tự do hoálãi suất

Giai đoạn lãi suất từ 2000-2002

Biến động lãi suất 2002-2008

Giai đoạn 2001 – 2005, thế giới trải qua một thời kì phát triển đầy biến động và mất cân bằng

do những thay đổi lớn như giá dầu tăng nhanh đến mức kỷ lục, kinh tế Mỹ thâm hụt kép, đồngUSD mất giá gây ra những xáo trộn lớn trên thị trường ngoại hối toàn cầu,… Tuy vậy, kinh tếthế giới giai đoạn này cũng đã được phục hồi, đạt tốc độ tăng trưởng đồng đều, đặc biệt nhữngnăm 2004 – 2005 là đỉnh cao của chu kỳ tăng trưởng

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới từ 2001 – 2005

Trang 13

Bảng 2: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản năm 2001

Thế giới 02/08/2000 01/03/2001 01/04/2001 01/06/2001

01/11/2001

Nguồn: Thống kê NHNN

Theo đà đó, bước sang năm 2002, thị trường trong nước tăng trưởng mạnh hơn và bắt đầu có những dấu hiệu lạm phát tăng lên Lãi suất trên thị trường năm 2002 cũng tương đối ổn định.

Chênh lệch giữa lãi suất USD và lãi suất VND khá rộng (khoảng 5%), hạn chế được sự dịch

chuyển từ VND sang USD Từ tháng 6, trong điều kiện lãi suất quốc tế xuống thấp, NHNN đã

áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng bằng VND giữa tổ chức tín dụng

với khách hàng Trên cơ sở đó các NHTM xác định lãi suất cho vay dựa vào cung cầu vốn trênthị trường và độ tín nhiệm của khách hàng, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ có tính chấttham chiếu cho các NHTM Điều này giúp cho các thành phần khác nhau của nền kinh tế tuỳthuộc vào chi phí cho vay và rủi ro sẽ được tiếp xúc với các nguồn tín dụng với các giá khácnhau phù hợp

Trang 14

Hình 1: Diễn biến lãi suất giai đoạn 2000 – 2004

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam)

Thông qua hoạt động thị trường mở, trong năm 2002 NHNN đã mua 7,2 nghìn tỷ VND từ cácNHTM và bán 1,7 nghìn tỷ VND cho các ngân hàng, cả hoạt động mua vào và bán ra đều đạttăng trưởng trên 100% Trong khi đó, tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ đã được điều chỉnh giảm 2 lầnxuống 8% vào tháng 4/2002 và xuống 5% vào tháng 12/2002 Trong năm 2002, lãi suất tái cấpvốn, lãi suất chiết khấu của NHNN, cũng như tỷ lệ DTBB bằng VND được giữ nguyên ở mứcthấp, phù hợp với diễn biến thị trường và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ Nhìn chung, nhờviệc sử dụng và phối hợp khá hiệu quả các biện pháp của chính sách tiền tệ trong năm 2002 nên

đã góp phần đưa mức tăng trưởng cả năm đạt được 7,08%, và lạm phát được duy trì dưới 5%theo mục tiêu

Tình hình kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ đến năm 2003 vẫn còn đang trong tình trạng chống suy thoái Thêm vào đó, trong năm 2003 một loạt sự kiện kinh tế xảy ra đã làm cho đồng

USD mất giá kỷ lục so với các loại ngoại tệ chủ chốt khác và tác động thúc đẩy tăng giá vàngtrên thị trường thế giới lên cao nhất trong gần 8 năm Điều này tác động đến toàn bộ nền kinh tếthế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó Do đó, việc điều hành chính sáchtiền tệ của Chính phủ trong năm 2003 cũng đầy những biến động Từ tháng 8/2003 lãi suất nội tệ

Trang 15

bắt đầu giảm, và cho đến cuối tháng 9 và 10/2003 thì giảm đáng kể, bình quân giảm từ 0,03% 0,08%/tháng.

-Bước sang hai năm 2004 – 2005 là những năm cuối cùng của giai đoạn kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội 5 năm của Việt Nam và cũng là hai năm quyết định sự thành bại trong kế hoạch này Việt Nam bắt đầu đối mặt với lạm phát tăng lên trong năm 2004 sau thời kì dài khắc phục khủng hoảng Chỉ mới 2 tháng đầu năm lạm phát đã bất ngờ tăng vọt lên 4,2% sau hơn 10 tháng yên

ắng Thêm vào đó, năm 2004 tình hình thiên tai, dịch bệnh lan tràn càng đẩy chỉ số CPI gia tăngmạnh, kéo theo lạm phát trong nước tăng cao

Tình hình này buộc Chính phủ nước ta phải kịp thời tìm cách khắc phục và công cụ chính yếunhất để kiểm soát lạm phát là chính sách tiền tệ Theo đó, bắt đầu từ 1/7/2004, NHNN quyết địnhtăng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM từ 2% lên 5% với tiền gửi nội tệ và từ 4% lên 8% đốivới tiền gửi ngoại tệ cho các khoản tiền gửi ngắn hạn Chính sách này của NHNN có tác dụnglàm tăng chi phí của các NHTM, buộc các ngân hàng phải thận trọng hơn với các khoản cho vay

và hạn chế lượng tiền trong lưu thông Bên cạnh đó, các ngân hàng bắt đầu thực hiện siết chặt tíndụng và duy trì mức tăng tín dụng năm 2004 là 25%

Lãi suất cơ bản trong năm này vẫn được giữ tương đối ổn định, NHNN quyết định không tăng lãisuất vì nếu thực hiện sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng, lại không có lợi cho tâm lý nhân dân, doanhnghiệp trong giai đoạn này Dù sao mục tiêu chính của Chính phủ vẫn là tăng trưởng và ổn địnhkinh tế nên hầu hết các chính sách thực thi trong năm 2004 đã mang lại hiệu quả đáng khích lệ,tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,7% so với mức tăng năm 2003 là 7,34%, tuy nhiên tỷ lệ lạm phátchỉ kiềm chế được ở mức 9,5% - cao hơn so với tăng trưởng GDP trong năm Do đó, đây sẽ làmột trong những khó khăn đặt ra cho mục tiêu năm 2005 để hoàn thành được kế hoạch 5 nămcủa Chính phủ

Trước sức ép của chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng liên tục tăng ở mức khá cao trong năm 2005

và mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, NHNN luôn xem xét đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô và diễn biến thực thế của thị trường

NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát đang gia tăng trong năm Lãi suấthuy động kỳ hạn 3 tháng và 12 tháng phổ biến ở mức 7,56% - 8,4%/năm, tăng khoảng 0,84 –1,2%/năm Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 9,6 – 12,39%/năm, tăng khoảng 0,96 –1,2%/năm Lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến ở mức 10,8 – 16,2%/năm, tăng khoảng 1,2– 3%/năm

Bảng 3 : Những dấu mốc thay đổi lãi suất năm 2005

Ngày thực hiện Lãi suất cơ bản Lãi suất tái cấp vốn Lãi suất tái chiết khấu

Trang 16

tín dụng Vì vậy, trong năm 2005 các TCTD đã có những chuyển biến tích cực trong hoạt động

cho vay, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã giảm từ 41,56% của năm 2004 xuống còn 31,04% trongnăm 2005 Nguồn huy động tiền gửi tiết kiệm của dân tăng mạnh so với năm 2004 Tỷ lệ tiềnmặt trong lưu thông đã giảm từ 23,1% vào tháng 12/2004 xuống còn 20,7% vào tháng 12/2005,cho thấy chính sách tiền tệ của NHNN đang phát huy tác dụng hút tiền trong lưu thông Các công

cụ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, tái chiết khấu cũng được NHNN sử dụng thường xuyên, linh hoạt

để thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Điều này đưa đến kết quả trongnăm 2005 rất đáng khích lệ khi tăng trưởng GDP đạt 8,43%, cao nhất so với 9 năm trước đó và

so với các nước khu vực Đông Á, Việt Nam cao đứng thứ hai sau Trung Quốc Mức tăng trưởngcao của năm 2005 đã góp phần quyết định việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP trung bình7,5%/năm được đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 – 2005

Kết thúc năm 2005 với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,43% đã giúp cho nước ta hoàn thành tốtviệc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2001 – 2005 Theo đó, Chínhphủ lại tiếp tục đề ra kế hoạch phát triển cho 5 năm tiếp theo giai đoạn 2006 – 2010 với nhiềumục tiêu tăng trưởng được đặt ra

Bên cạnh tình hình chính trị thế giới diễn biến khá phức tạp và điều kiện bất lợi về thời tiết đã kéo theo thị trường hàng hoá trên thế giới tăng giá mạnh trở lại Theo đó, Việt Nam vẫn đối phó với lạm phát ngày càng tăng cao trong năm 2006, tiếp tục duy trì và thực hiện linh hoạt chính sách tiền tệ thắt chặt từ cuối 2005 nhằm kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định môi trường kinh tế

vĩ mô, tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế Theo đó, trong năm 2006, NHNN vẫn giữ nguyên

các mức lãi suất chính thức Việc giữ ổn định lãi suất chính thức của NHNN nhằm tránh phát tínhiệu làm tăng lãi suất thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng huy động vàcho vay đối với nền kinh tế Tuy nhiên, lãi suất USD tăng khoảng 0,2 – 0,6%/năm do tác độngcủa lãi suất trên thị trường quốc tế NHNN cũng giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm áp lựctăng lãi suất huy động trên thị trường Tổng phương tiện thanh toán năm 2006 đã được giữ ởmức tăng 33,59% so với năm 2005, nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng 29,65% của năm 2005.Trong đó, tiền gửi vẫn chiếm tỷ trọng lớn - 82,79% trong tổng phương tiện thanh toán

Trang 17

Tín dụng trong năm 2006 đối với nền kinh tế tiếp tục có xu hướng tăng trưởng chậm lại do mụctiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát đi đôi với nhau nên mặc dù khuyến khích đầu tư nhưngngân hàng phải hạn chế lượng tiền đưa ra lưu thông và nâng cao chất lượng tín dụng tốt hơn.Năm 2006, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng 22,54% so với năm

2005, thấp hơn nhiều so với mức tăng 31,1% của năm 2005 và mức tăng 41,65% của năm 2004.Trong khi đó, nguồn huy động vốn của hệ thống ngân hàng tiếp tục tăng trưởng cao Tính đếncuối năm 2006, tăng trưởng huy động vốn đạt 36,53% so với năm 2005, cao hơn so với tốc độtăng trưởng 32,08% của năm 2005

Hình 3: Tỷ trọng huy động vốn của từng nhóm TCTD

Nguồn: Thống kê của NHNN

Bước sang năm 2007, tình hình kinh tế thế giới lại trải qua những xáo trộn mạnh, đặc biệt trên thị trường tài chính do xuất phát từ cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay cầm cố dưới chuẩn ở Mỹ và giá dầu tăng lên mức kỷ lục Tuy nền kinh tế thế giới vẫn đạt mức tăng trưởng

4,9% cả năm nhưng thấp hơn mức 5,0% của năm 2006 và dấu hiệu suy thoái kinh tế ở một sốnước ngày càng mạnh mẽ hơn Lãi suất SIBOR và LIBOR ổn định trong 6 tháng đầu năm, nhưngđến tháng 7/2007 lãi suất bắt đầu giảm khoảng 0,77% so với đầu năm Hầu hết các nước đều tiếnhành điều chỉnh lãi suất định hướng cho phù hợp với tình hình hiện tại của nước mình

Bảng 5: Lãi suất định hướng của một số NHTW các nước năm 2007

Trang 18

Nguồn: Reuters

Với kinh tế Việt Nam khi bước vào năm 2007, chỉ số giá tiêu dùng một số mặt hàng thiết yếu tăng cao gây nên tình trạng lạm phát ngày càng gia tăng Trước tình hình này, trong năm 2007, NHNN đã thực hiện điều tiết cung tiền thông qua một số công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định nền kinh tế vĩ mô (ví dụ nghiệp vụ thị trường mở đã có những đổi mới đáng kể, phát huy hiệu quả cao Và đến giữa năm 2007 thì lạm phát có xu hướng tăng mạnh,

NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gấp 1,5 – 2 lần (áp dụng từ tháng 6/2007) để hút

tiền về, kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán Trong năm, để tránh tác động không

thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất do NHNN công bốnhư lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm, lãi suất chiết khấu là4,5%/năm, lãi suất qua đêm, lãi suất tiền gửi tại NHNN nhằm ổn định thị trường NHNN cũng

đã bỏ quy định trần lãi suất tiền gửi bằng USD đối với pháp nhân kể từ ngày 1/1/2007, theo đó,các TCTD được phép ấn định lãi suất tiền gửi bằng USD của pháp nhân theo cơ chế thoả thuận.Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng biến động trên dưới 15%/năm và lãi suất huy độngcủa các NHTM biến động ở khoảng dưới 10%/năm trong năm 2007

Hình 4: Huy động vốn từ nền kinh tế của hệ thống TCTD từ 2001- 2007

Trang 19

Nguồn: Thống kê NHNN

Bên cạnh đó, NHNN đã thực hiện kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ, thực hiện đồng bộ các giảipháp như ban hành cơ chế sửa đổi quy định trích lập và dự phòng rủi ro phù hợp với chuẩn mựcquốc tế, ban hành Chỉ thị 03/2007/CT – NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện kiểm soát tín dụng,khống chế dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng,tăng cường thanh tra giám sát hoạt động cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán nhằm đảm bảo

an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống TCTD Tuy nhiên, tổng phương tiện thanh toán cả năm

2007 vẫn tăng 46,12%, cao hơn nhiều so với mức tăng 33,59% của năm 2006 Huy động vốn củatoàn hệ thống ngân hàng cũng tăng trưởng mạnh đạt 47,64%, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng36,53% của năm 2006 và đã góp phần hút bớt lượng tiền nhàn rỗi từ dân cư vào trong hệ thốngTCTD Mặc dù NHNN ra sức kiểm soát tín dụng, kiềm chế lạm phát nhưng tăng trưởng tín dụngnăm 2007 vẫn đạt rất cao Dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tăng 53,89% so với năm 2006,cao hơn nhiều so với mức tăng 25,44% của năm 2006 Điều này trái lại, lại góp phần tích cựcđáp ứng có hiệu quả nhu cầu vốn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tuy sẽ mâuthuẫn với mục tiêu kiềm chế lạm phát trong năm

Chúng ta có thể nhìn nhận cục diện thị trường hiện nay là lạm phát đang ở mức cao, khan hiếmtiền đồng trong hệ thống NH – lãi suất vay qua đêm bị đẩy vọt lên và NHNN phải bơm hơn 11ngàn tỷ đồng vào thị trường để giúp làm giảm áp lực thanh toán của các NH Như vậy, cuộc đuatăng lãi suất là không thể tránh khỏi Tăng lãi suất có thể giúp các NH giữ chân khách hàng, khi

mà các NH còn cạnh tranh nhau về mức lãi suất chứ không phải là dịch vụ, tăng dư nợ tín dụng

để đáp ứng Chỉ thị 03, có thể giải quyết được tình trạng mất khả năng thanh toán tiền đồng và cóthể tạo ra một lượng tiền đồng để hấp thụ hàng tỷ USD sẽ đổ vào thị trường Việt Nam Nhưng làlợi bất cập hại, khi tăng lãi suất huy động thi cũng làm cho lãi suất cho vay cũng tăng, làm tăngchi phí sản xuất, gây ra tác động lên giá thành; cuộc đua tranh này có thể làm phá vỡ cam kết lãisuất giữa các NH

Tóm lại, chúng ta thấy rằng các loại lãi suất mà NHNN áp dụng vẫn chưa giúp điều chỉnh thịtrường Một chính sách lãi suất chậm chạp và đặc biệt là lãi suất cơ bản không phản ánh thịtrường cũng như là thước đo cho các NHTM khác sử dụng

Bắt nguồn từ hàng loạt tín hiệu xấu từ những tháng cuối năm 2007, bước sang năm 2008, tìnhhình thế giới lại rơi vào vòng xoáy khủng hoảng nặng nề hơn Chỉ trong một năm, Việt Nam phảigánh chịu cả hai bối cảnh đối nghịch nhau hoàn toàn: lạm phát tăng cao vào đầu năm và suygiảm kinh tế những tháng cuối năm Điều này gây ra rất nhiều sức ép cho việc hoạch định chínhsách tiền tệ trong năm

Diễn biến lãi suất tại Việt Nam giai đoạn 2008-2012

Trang 20

Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 là giai đoạn có nhiều biến động về kinh tế trên thế giới Khủng hoảng kinh tế do cho vay dưới chuẩn, khủng hoảng nợ công tại Châu Âu là một trong những nguyên nhân gây xáo trộn nền kinh tế thế giới và tạo tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là biến động lãi suất và chính sách điều hành lãi suất của Việt Nam.

Năm 2008 - Một năm biến động chưa từng có của lãi suất

Năm 2008 là một năm mà kinh tế Việt Nam chịu nhiều biến động: sự ảnh hưởng của khủnghoảng tài chính thế giới Lãi suất Việt Nam có sự thay đổi trái chiều nhau với biên độ lớn chỉtrong vòng 12 tháng Khủng hoảng kinh tế thế giới đã có những ảnh hưởng nhất định đến nềnkinh tế Việt Nam theo hướng tiêu cực Trước tình hình đó, để đảm bảo sự ổn định kinh tế,NHNN đã có những chính sách quan trọng trong điều hành lãi suất như điều chỉnh lãi suất cơbản và các mức lãi suất khác Biến động lãi suất trong năm 2008 được chia làm hai giai đoạnchính: 06 tháng đầu năm với cuộc đua tăng lãi suất và 06 tháng cuối năm với diễn biến ngược lại

05/11/2008

21/10/2008

01/10/2008

01/09/2008

01/07/2008

11/06/2008

01/06/2008

19/05/2008

01/05/2008

01/04/2008

01/03/2008

01/02/2008

01/01/2008 0.00%

t

cơ bả n

Nguồn: Số liệu từ NHNN

06 tháng đầu năm 2008 gắn liền với việc NHNN điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản, cơ chế áp dụng chính sách trần lãi suất trong hoạt động cho vay được NHNN tiến hành 1 cách nghiêm túc ( không quá 150% lãi suất cơ bản) Thị trường chứng kiến một cuộc đua tăng lãi suất mạnh mẽ.

Lãi suất cơ bản đã được trả về đúng với chức năng vốn có của nó Đây là năm mà thị trường

chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của lãi suất cơ bản Từ ngày 1/2/2008 đến ngày 11/6/2008, lãisuất cơ bản tăng từ 8,75% lên 14%/năm Lãi suất cơ bản được NHNN điều chỉnh linh hoạt theo

các biến động của thị trường Cơ chế cho vay/huy động dựa trên trần lãi suất của NHNN và lãi

Ngày đăng: 04/06/2016, 14:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản năm 2001 - Phân tích các giai đoạn của quá trình tự do hóa tài chính ở việt nam
Bảng 2 Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản năm 2001 (Trang 13)
Hình 1: Diễn biến lãi suất giai đoạn 2000 – 2004 - Phân tích các giai đoạn của quá trình tự do hóa tài chính ở việt nam
Hình 1 Diễn biến lãi suất giai đoạn 2000 – 2004 (Trang 14)
Hình 3: Tỷ trọng huy động vốn của từng nhóm TCTD - Phân tích các giai đoạn của quá trình tự do hóa tài chính ở việt nam
Hình 3 Tỷ trọng huy động vốn của từng nhóm TCTD (Trang 17)
Hình 4: Huy động vốn từ nền kinh tế của hệ thống TCTD từ 2001- 2007 - Phân tích các giai đoạn của quá trình tự do hóa tài chính ở việt nam
Hình 4 Huy động vốn từ nền kinh tế của hệ thống TCTD từ 2001- 2007 (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w