Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản như sau:• Làm rõ một số vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại.• Đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng ĐTPT Bắc Hà Nội.• Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng của công tác quản lý rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một trong nhữnghoạt động tạo ra giá trị lớn cho ngân hàng Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếucủa hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) ở nước ta hiện nay, chiếm tỷ trọnglớn nhất (trên 60%) trong danh mục tài sản nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất
Do đó, song song với việc tăng trưởng tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thốngngân hàng Việt Nam là phải chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng và hoàn thiện cácquy định của pháp luật nhằm kiểm soát rủi ro hạn chế các tiêu cực mà các rủi ronày gây ra
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn và song hành cùng hoạt động tín dụng như mộthiện thực khách quan, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể ápdụng các biện pháp để phát hiện, phòng ngừa, hạn chế hoặc giảm thiểu tổn thất dorủi ro tín dụng gây ra Đứng trên quan điểm quản lý, các chủ ngân hàng luôn thừanhận sự tồn tại khách quan của rủi ro tín dụng và một tỉ lệ tổn thất dự kiến do rủi rotín dụng mang lại luôn được xác định trước trong chiến lược kinh doanh của ngânhàng Khi tổn thất thực tế xảy ra dưới mức dự kiến, ngân hàng có thể coi đó là thànhcông trong quản lý Chính vì vậy, quản lý và hạn chế rủi ro tín dụng luôn là công tácđược các NHTM quan tâm
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội (BIDV Bắc Hà Nội)
là chi nhánh có dư nợ lớn của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam(BIDV), vấn đề tăng trưởng và bền vững luôn được chi nhánh đặc biệt quan tâm.Hoạt động tín dụng chiếm trên một nửa thu nhập của Chi nhánh và có tác động lớntới nguồn thu của các hoạt động khác như: hoạt động thanh toán, tài trợ thươngmại Với tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu, đo lường và đưa ra các giảipháp hạn chế rủi ro tín dụng là rất cần thiết Xuất phát từ tình hình thực tế tại Chi
nhánh, em đã chọn đề tài: “ Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 22 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản như sau:
• Làm rõ một số vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàngthương mại
• Đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngânhàng ĐT&PT Bắc Hà Nội
• Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng của công tác quản lý rủi ro tíndụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Chinhánh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàngĐT&PT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàngĐT&PT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội giai đoạn 2008 – 2010
4 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phương pháp: thống kê, tổng hợp, so sánh, tư duy logic…đi từ
cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục đích đặt ra trongluận văn
5 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, cụthể:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngthương mại
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng ĐT&PT ViệtNam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngĐT&PT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng
Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, chỉ
có tình trạng không chắc chắn nào có thể đoán được xác suất xảy ra mới được xem
là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không ướcđoán được xác suất xảy ra được xem là bất trắc
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ragây mất mát, thiệt hại tài sản, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanhđem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rấtlớn Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng,theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có
xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm ½ đến 2/3 thu nhập ngânhàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại) Kinh doanh ngân hàng là kinhdoanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng.P.Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ cho rằng: “Nếu ngân hàng không
có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” Rủi ro tronghoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, trong đó rủi ro tín dụng là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chấtlượng kinh doanh ngân hàng
Rủi ro tín dụng: là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc kháchhàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả nợ đúnghạn theo đúng cam kết hoặc khách hàng mất khả năng thanh toán, có nghĩa là cáckhoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị trì hoãn, thậm chí làkhông được hoàn trả Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnhhưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân
Trang 4hàng cấp tín dụng cho khách hàng bao gồm các hình thức cấp tín dụng: cho vay,bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán Rủi ro tín dụng nếu xảy ra
có thể dẫn tới thiệt hại lớn cho ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập củangân hàng và có thể dẫn tới các rủi ro khác vì vậy việc hiểu và nhận biết tốt về rủi
ro tín dụng là cơ sở để quản lý rủi ro tín dụng
Có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:
- Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theohợp đồng, bao gồm gốc và/hoặc lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán
- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng.Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn cóthể dẫn đến phá sản
- Khi nói đến rủi ro cần lưu ý mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận (lợi nhuận
kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn)
- Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan Rủi ro tín dụng làbạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ Dovậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung củangân hàng
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất là khả năng,
do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa một khoản vay dùchưa quá hạn vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợquá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụngtập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro
1.1.2 Các loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng kháchhàng vay cụ thể Đây là loại rủi ro có thể phát sinh liên quan đến quá trình thẩmđịnh xét duyệt cho vay, kiểm soát sau khi cho vay hoặc do sơ hở trong việc thựchiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng
Trang 5Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tíndụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc quátập trung cho vay vào một ngành, lĩnh vực.
Rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại chính:
Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng
1.1.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểmcủa rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơbản sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàngchuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi kháchhàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khácnhững rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếugây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: biểu hiện ở sự đa dạng vàphức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như các hậu quả do rủi
ro tín dụng gây ra Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa,hạn chế và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từnguyên nhân bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp
Rủi rogiao dịch
Rủi rotín dụng
Rủi rodanh mục
Rủi ro
xét duyệt kiểm soátRủi ro bảo đảmRủi ro Rủi ro cá biệt tập trungRủi ro
Trang 6- Rủi ro có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng củangân hàng thương mại: Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cốgắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất Và nhìnchung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy
ra Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chínhxác các vấn đề xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đặc biệt tình trạng thông tin bất cânxứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cáchtoàn diện và đầy đủ, nên bất cứ khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đốivới hoạt động tín dụng của các NHTM Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng chokhách hàng, các NHTM cần chủ động có các biện pháp thích hợp để xác định rủi ro,định lượng rủi ro, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro Kinh doanh ngân hàng thựcchất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng
1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng cầnxác định những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây rủi ro tín dụng để có biện pháphạn chế
1.1.4.1 Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất khảnăng thanh toán cho ngân hàng là các nguyên nhân khách quan liên quan đến môitrường bên ngoài Ví dụ: do thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, ;do khủng hoảng hoặcsuy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hốiđoái biến động thất thường, ; hoặc những thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ,chính sách kinh tế,…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.1.1.4.2 Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
- Nguyên nhân từ tư cách, đạo đức của khách hàng vay vốn: đây là một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Rất nhiều người vayvốn sẵn sàng mạo hiểm trong kinh doanh để thu được lợi nhuận cao Để đạt đượcmục đích của mình, họ không ngần ngại sử dụng các thủ đoạn lừa đảo để vay và
Trang 7chiếm đoạt vốn của ngân hàng như: lập hồ sơ vay vốn giả mạo, cung cấp thông tinsai sự thực, mua chuộc cán bộ ngân hàng… Nhiều khách hàng khác mặc dù có khảnăng trả nợ nhưng cố tình chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc kéo dài thời gianchiếm dụng vốn Các trường hợp này tuy không phải lỗi xuất phát từ phía ngânhàng nhưng vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín, trách nhiệmcủa các cán bộ nói riêng và toàn bộ ngân hàng nói chung.
- Nguyên nhân từ năng lực sử dụng vốn vay của khách hàng vay: khách hàng
vay vốn trung thực trong việc cung cấp thông tin cho ngân hàng và sử dụng vốn vayđúng mục đích; tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh, khách hàng cónhững yếu kém trong quản lý hoặc gặp phải các rủi ro không lường hết được trước
đó nên sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, năng lực tài chính giảm sút và yếukém, không có hoặc không đủ nguồn thu để trả nợ ngân hàng Những nguyên nhân
cụ thể đối với khách hàng là doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thể kể đến như: trình
độ điều hành, quản lý yếu kém của chủ doanh nghiệp, thị trường đầu vào - đầu ra cónhững biến động bất lợi gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh, năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp hạn chế, sản phẩm lỗi thời, lạc hậu, không có khả năng tiêuthụ do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ… Đối với khách hàng cá nhân,những rủi ro như: mất việc làm, mất khả năng lao động, kinh tế gia đình gặp phảinhững biến cố không mong đợi… là những nguyên nhân cụ thể dẫn đến khách hàngkhông trả được nợ
1.1.4.3 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
* Xuất phát từ chính sách, quy trình tín dụng và sự vận dụng chính sách, quy trình tín dụng chưa nghiêm túc:
Các chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợinhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiềuvào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó
Quy trình tín dụng thông thường được xác lập trên những quy định chungcủa pháp luật về ngân hàng và những đặc thù trong hoạt động của riêng mỗi ngânhàng Thông thường, quy trình tín dụng được thống nhất qua các bước tuần tự như
Trang 8sau: thiết lập hồ sơ khách hàng vay, thẩm định hồ sơ khách hàng vay, ra quyết định
và ký hợp đồng, giải ngân và thu nợ, thanh lý hợp đồng và xử lý tranh chấp Quytrình tín dụng nếu không phát huy được tác dụng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quản
lý rủi ro tín dụng Trên thực tế, không phải quy trình tín dụng của các NHTM luônđảm bảo tính hợp lý và chặt chẽ, biểu hiện như:
- Việc phân định rõ giữa khâu thẩm định và cho vay ở nhiều NHTM vẫnchưa thật sự tách biệt Chỉ một vài ngân hàng đang tiến hành triển khai, áp dụng quytrình tín dụng mới với việc phân chia độc lập giữa ba chức năng: quan hệ kháchhàng, quản lý rủi ro và quản lý nợ Tuy vậy, giữa mô hình phân chia cũ và mới, bêncạnh những ưu điểm vẫn tồn tại những hạn chế chưa thể khắc phục ảnh hưởng đếncông tác quản lý rủi ro tín dụng
- Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, trong quá trìnhvận dụng không ít các NHTM đã bỏ qua các bước của quy trình, hạ thấp tiêu chuẩnđánh giá khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, năng lực sảnxuất kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay nên nảy sinhnhiều vi phạm: về điều kiện vay vốn, hồ sơ vay vốn, về kiểm tra quản lý nợ vay, về
cơ cấu thời hạn trả nợ
* Xuất phát từ công tác thẩm định
Đánh giá uy tín của khách hàng là vấn đề thật sự khó khăn đối với các cán bộthực hiện công tác thẩm định trong việc tiếp cận thông tin đầy đủ về khách hàng.Hiện nay, công tác đánh giá uy tín của khách hàng chủ yếu dựa vào cảm tính và chủquan của cán bộ nghiệp vụ như dựa vào các quan hệ trong quá khứ hoặc một sốthông tin thu thập được
Về việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng cũng gặp nhiều hạn chế,công việc đánh giá được thực hiện chủ yếu dựa vào việc phân tích số liệu trên cácbáo cáo tài chính do khách hàng cung cấp Hiện nay do Việt Nam chưa có quy địnhminh bạch thông tin nên có thể nói độ tin cậy của các báo cáo tài chính chưa thật sựcao, nhất là đối với các doanh nghiệp tư nhân Từ những số liệu chưa thực sự tin
Trang 9cậy nên việc phân tích báo cáo tài chính sẽ không phản ánh đúng thực chất năng lựctài chính của khách hàng.
* Xuất phát từ tài sản bảo đảm
Quản trị danh mục tài sản bảo đảm là yêu cầu cần thiết trong công tác quản
lý rủi ro tín dụng và là mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lýcác khoản nợ có vấn đề
Theo quy định của pháp luật, việc xác định giá trị tài sản bảo đảm (TSBĐ)tiền vay do các bên thoả thuận, hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xácđịnh trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giánhư giá quy định của Nhà nước, giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán và cácyếu tố khác về giá Tuy nhiên, trên thực tế, trừ những động sản có giá trị lớn hàng tỷđồng, các NHTM mới thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn định giá còn lại đa
số việc định giá đều do các bên thoả thuận và như vậy cho thấy giá trị TSBĐ đượcđịnh giá còn mang tính chủ quan và thiếu tính khoa học
Ngoài ra, về phương pháp định giá đối với từng loại tài sản chưa được cácNHTM sử dụng một cách thích hợp, dẫn đến việc nếu định giá thấp, khách hàngkhông hài lòng nhưng nếu định giá cao, NHTM sẽ khó đảm bảo khả năng thu hồi nợvay và lãi vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, khi đó buộcNHTM phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
Đối với vấn đề bảo hiểm tài sản, cán bộ tín dụng thường không chú ý đônđốc, kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khi phươngtiện bị tai nạn, xảy ra hoả hoạn,…gây khó khăn lâu dài về khả năng thanh toánkhoản nợ vay
Thông tin bất cân xứng về giá trị thực của TSBĐ giữa khách hàng và ngânhàng cũng là vấn đề cần được quan tâm Khi thế chấp, cầm cố chỉ có khách hàngbiết rõ về hiện trạng tài sản như sự hỏng hóc trong các dây chuyền sản xuất, máymóc, thiết bị, hoặc ngôi nhà rất khó bán do một số đặc điểm đặc biệt Trong khi đótrình độ của cán bộ thường không đáp ứng đầy đủ chuyên môn trong tất cả các lĩnhvực nên không thể đánh giá được chính xác hiện trạng của máy móc thiết bị cũng
Trang 10như nắm được những thông tin tốt về đất đai, nhà ở, điều này ảnh hưởng rất lớn đếngiá trị mua bán của tài sản Vì vậy khi xảy ra rủi ro, việc phát mại tài sản để thu hồi
nợ gặp không ít khó khăn
Thêm vào đó, cơ chế pháp lý về bảo đảm tiền vay chưa rõ ràng, chịu sự điềuchỉnh, chi phối của nhiều văn bản luật, dưới luật chồng chéo, đặc biệt đối với TSBĐ
là bất động sản
* Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ
Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một sốngân hàng bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạng thiếunhân sự cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinhnghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịp thờinhằm chấn chỉnh và tư vấn cho Ban lãnh đạo về những rủi ro tín dụng có thể xảy ra
* Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng để giảiquyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ hạn chế về năng lực có thể đượcbồi dưỡng thêm để nâng cao trình độ, nhưng một cán bộ tha hoá về đạo đức mà lạigiỏi về mặt nghiệp vụ thì thật sự nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.Điều này có thể nhận thấy qua các vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liênquan đến hoạt động ngân hàng đều có sự tiếp tay của những cán bộ tín dụng cùngvới khách hàng hoặc bản thân cán bộ tín dụng cố ý như thực hiện trái với quy trìnhtín dụng, trực tiếp thu nợ nhưng không nộp mà dùng cho mục đích cá nhân, lập hồ
sơ giả để vay tiền; tẩy xoá, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền; định giátài sản không đúng giá trị thực;…
Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của một bộ phậncán bộ tín dụng hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu công việc Nhân viên ngânhàng phải tiếp cận với nhiều ngành nghề, nhiều vùng, thậm chí nhiều quốc gia Đểcho vay tốt, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môitrường mà khách hàng sống Họ phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đếnngười vay Khi nhân viên tín dụng cho vay đối với khách hàng mà họ chưa đủ trình
độ để hiểu kỹ lưỡng, rủi ro tín dụng luôn rình rập họ
Trang 11Như vậy chất lượng nhân viên ngân hàng bao gồm trình độ và đạo đức nghềnghiệp không đảm bảo là nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
Tóm lại, các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những
nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tíndụng Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTMnhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng Cácnguyên nhân chủ quan có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và ngân hàng
có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Sự cần thiết của công tác quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tíndụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra cácbiện pháp hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi củakhoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn
Quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả liên quan đến việc quản lý chặt chẽ mốiquan hệ giữa rủi ro/lợi nhuận và kiểm soát, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong nhiềukhía cạnh khác nhau, chẳng hạn như chất lượng tín dụng, mức độ tập trung, thờigian đáo hạn, hình thức bảo đảm tiền vay
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩnnhiều rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng Hoạt động kinh doanh của các NHTM làdùng uy tín của chính ngân hàng để có thể thu hút nguồn vốn huy động và dùngnăng lực quản trị rủi ro đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng để sử dụng nguồn vốn huyđộng được và phát triển các dịch vụ khác với tư cách là người “đứng giữa” các lựclượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ ngân hàng
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro,đặc biệt là rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan dẫn đến rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên ngân hàngkhông thể tránh khỏi rủi ro Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cầnphải trích lập quỹ bù đắp rủi ro hạch toán vào chi phí Quy mô quỹ bù đắp rủi ro căn
cứ vào mức độ và khả năng rủi ro Nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng và
Trang 12ngược lại Như vậy, hiệu quả kinh doanh của các NHTM tỷ lệ nghịch với mức độrủi ro Khi rủi ro quá lớn đến mức các NHTM mất khả năng thanh toán khi đó sẽdẫn đến tình trạng phá sản.
Quản lý rủi ro tín dụng tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng tíndụng của các NHTM Vì vậy, những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiếnthức về quản trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ thammưu chuyên nghiệp và bộ máy kiểm tra, kiểm soát nội bộ hiệu quả là điều kiện cầnthiết để phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.2.2 Khung quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng
Khung quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng bao gồm những công tác chủyếu mà NHTM phải tiến hành nhằm đảm bảo chất lượng của quá trình quản lý rủi
ro trong hoạt động tín dụng được tốt nhất
Khung quản lý rủi ro được thiết lập dựa trên các nguyên tắc quản lý rủi ro tíndụng của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng Các thành phần của khung luôntương tác hỗ trợ lẫn nhau
Hình 1.2: Khung quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng
Hệ thống tính điểm tín dụng
Trách nhiệm
cá nhân đối với chất lượng tín dụng
Cơ cấu
tổ chức
Giám sát và kiểm tra tín dụng
Xây dựng chính sách
và quy trình tín dụng
Xác định rủi ro hiện
có và rủi
ro tiềm tàng
Hoạch định chiến lược
Rủi ro tín dụng
Trang 13* Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng
Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng là bản tuyên ngôn của Ban lãnhđạo về các mục tiêu trong hoạt động tín dụng nhằm xác định thái độ của ngân hàngđối với rủi ro và thái độ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro
Chiến lược hoạt động tín dụng cần được hoạch định định kỳ, phù hợp vớimức độ rủi ro từng thời kỳ và phải được phổ biến đến từng nhân viên ngân hàng
* Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng
Xác định rủi ro được hiểu bao gồm: nhận biết rủi ro và đo lường rủi ro
Xác định rủi ro được thực hiện theo từng khoản vay, từng khách hàng, nhómkhách hàng, theo mặt hàng và lĩnh vực đầu tư, theo khu vực địa lý, theo dạngTSBĐ, theo trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng,…
Đo lường rủi ro không phải là một biện pháp tuyệt đối mà chỉ là một biệnpháp đo xác suất các kết quả
* Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng
Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng phải đảm bảo phù hợp với cácquy định của pháp luật, đảm bảo phù hợp với chiến lược tín dụng của ngân hàngnhằm để duy trì các chuẩn mực tín dụng an toàn và kịp thời phát hiện cũng nhưquản lý chặt chẽ các khoản tín dụng có vấn đề
* Giám sát và kiểm tra tín dụng
Giám sát và kiểm tra từng khoản vay (kiểm tra trong và sau khi cho vay,kiểm tra và đánh giá lại tài sản thế chấp, )
Giám sát và kiểm tra tổng thể danh mục tín dụng
* Cơ cấu tổ chức
Về cơ cấu tổ chức, cần bảo đảm tạo môi trường hoạt động tín dụng có kiểmsoát Các bộ phận chủ chốt có trách nhiệm liên quan đến quá trình quản trị rủi ro tíndụng bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Uỷ ban quản lý rủi ro tín dụng,Ban giám đốc Chi nhánh, các trưởng phó phòng tín dụng
Trang 14* Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng cho vay
Con người là nhân tố quyết định chất lượng quản lý rủi ro tín dụng Do đócần có cơ chế thù lao phù hợp, đảm bảo lựa chọn nhân viên đủ năng lực đảm đươngcông việc Ngoài ra cũng cần có cơ chế bổ nhiệm, thưởng phạt có hiệu quả, cơ chếđào tạo và đào tạo lại nhằm khuyến khích nâng cao trách nhiệm cá nhân đối vớichất lượng tín dụng
* Hệ thống tính điểm tín dụng
Hệ thống tính điểm tín dụng cần được tiến hành thực hiện trên cơ sở cácthông tin định lượng và thông tin định tính nhằm thống nhất đánh giá rủi ro tín dụngđối với khách hàng theo một thàng điểm chuẩn Hệ thống tính điểm tín dụng là cơ
sở quan trọng để phân loại và xếp loại khách hàng cũng như khoản vay
1.2.3 Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Bankingsupervision – BCBS) được thành lập vào năm 1975 bởi một nhóm các Ngân hàngTrung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel,Thuỵ Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập
kỷ 80
Quan điểm của Uỷ ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của mộtquốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe doạ đến sự ổn định về tàichính trong cả nội bộ quốc gia đó Vì vậy, nâng cao sức mạnh của hệ thống tàichính là điều mà Uỷ ban Basel quan tâm
Uỷ ban Basel có đưa ra các nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng, đảm bảotính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trungvào các nội dung cơ bản sau đây:
1.2.3.2 Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý
Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm phê duyệt và ràsoát định kỳ (ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách về rủi ro tín dụng củangân hàng Chiến lược này phản ánh sức chịu đựng của ngân hàng đối với rủi ro và
Trang 15mức độ sinh lời mà ngân hàng dự kiến đạt được khi phải gánh chịu các loại rủi rotín dụng.
Nguyên tắc 2: Ban điều hành phải có trách nhiệm triển khai thực hiện chiếnlược rủi ro tín dụng do HĐQT phê duyệt và xây dựng chính sách, quy trình để nhậndạng, đo lường, kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng Những chính sách và quy trìnhnày cần chỉ rõ rủi ro tín dụng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng ở từng khoảntín dụng cũng như ở cấp độ quản lý danh mục
Nguyên tắc 3: Ngân hàng cần phải xác định và quản lý rủi ro tín dụng phátsinh trong tất các sản phẩm và các hoạt động Ngân hàng phải đảm bảo rằng rủi rocủa các sản phẩm và hoạt động mới phải được kiểm soát và thực hiện theo quy trìnhquản lý rủi ro thích hợp trước khi sản phẩm và hoạt động đó được ban hành hoặctriển khai và phải được phê duyệt trước bởi hội đồng quản trị hoặc một uỷ ban thích hợp
Các nguyên tắc này quy định ngân hàng cần phải thiết lập một môi trườngrủi ro tín dụng phù hợp hay nói cách khác là phải xác định được mức độ chấp nhậnrủi ro hay khẩu vị rủi ro của ngân hàng
1.2.3.2 Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý
Nguyên tắc 4: Ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấo tíndụng được xác định rõ ràng và hiệu quả Những tiêu chí này cần bao gồm những chỉ
số rõ ràng về thị trường mục tiêu của ngân hàng và sự hiểu biết thấu đáo của ngườivay vốn hay đối tác, nguồn trả nợ của khách hàng cũng như mục đích và cơ cấu tíndụng
Nguyên tắc 5: Ngân hàng phải xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể chomỗi khách hàng hoặc đối tác vay vốn, hoặc nhóm khách hàng có liên được tổng hợplại theo các loại rủi ro khách nhau theo các phương pháp có nghĩa và có thể so sánhđược cả trong sổ ngân hàng và sổ kinh doanh cả trong và ngoài bảng tổng kết tài sản
Nguyên tắc 6: Ngân hàng cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệtmới, sửa đổi, cấp lại hoặc tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại
Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng phải được thực hiện trên nguyên tắc thậntrọng và khách quan Cụ thể là các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có
Trang 16liên quan phải được giám sát và quan tâm đặc biệt, cần có những biện pháp thíchhợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay.
1.2.3.3 Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù hợp
Nguyên tắc 8: Ngân hàng cần phải có một hệ thống để thực hiện quản trị vàgiám sát thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro
Nguyên tắc 9: Ngân hàng cần phải có hệ thống giám sát điều kiện của từngkhoản tín dụng bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 10: Ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội bộ đểquản lý rủi ro tín dụng Hệ thống định hạng cần phải nhất quán với bản chất, quy
mô và mức độ phức tạp trong hoạt động của ngân hàng
Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phântích để trợ giúp cán bộ quản lý có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong cáchoạt động trong và ngoài Bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý cần cungcấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các rủi ro tíndụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực
Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể vàchất lượng danh mục tín dụng
Nguyên tắc 13: Ngân hàng cần phải đánh giá đầy đủ những biến động vàđiều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lại khi xem xét từng khoản tín dụng cũngnhư danh mục cho vay của mình và cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điềukiện xấu nhất
1.2.3.4 Đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 14: Ngân hàng phải xây dựng hệ thống rà soát, đánh giá độc lập
và liên tục quy trình quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng, kết quả rà soát phảiđược báo cáo trực tiếp Hội đồng quản trị và Ban điều hành
Nguyên tắc 15: Ngân hàng phải được đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụngđược quản lý đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn vàchuẩn mực nội bộ Ngân hàng cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội bộ và
Trang 17các thông lệ khác để đảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quytrình và hạn mức được báo cáo một cách kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý.
Nguyên tắc 16: Ngân hàng phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoảntín dụng có nguy cơ giảm sút, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trườnghợp nợ xấu tương tự
1.2.4 Nội dung của quản lý rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Nhận biết rủi ro tín dụng
* Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng
Trong quá trình cho vay, ngân hàng thường xuyên tiếp xúc với khách hàngthông qua việc ngân hàng theo dõi các tài khoản tiền vay, tiền gửi của khách hàng,theo dõi nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn vay của khách hàng, theo dõi những thayđổi biến động về pháp lý, kinh doanh hay nhân sự của khách hàng Vì vậy, các dấuhiệu rủi ro tín dụng biểu hiện và có thể nhận biết như sau:
- Về tài khoản của khách hàng: có sự giảm sút mạnh số dư cũng như sốlượng giao dịch của tài khoản tiền gửi thanh toán, không có hoặc có rất ít các Hợpđồng gửi tiền có kỳ hạn so với thời gian trước, số dư bình quân của tài khoản tiềnvay gia tăng Những biểu hiện này cho thấy doanh số bán hàng/các nguồn thu củakhách hàng bị giảm sút hoặc khách hàng có dấu hiệu chuyển doanh thu sang cácTCTD khác mà không chuyển về để trả nợ ngân hàng
- Thường xuyên cần nguồn hỗ trợ/vay vốn lưu động (VLĐ) từ nhiều nguồnkhác nhau, số lần đề nghị vay gia tăng bất thường Hoặc đề nghị các khoản vay vớicác ngân hàng vượt nhu cầu dự kiến của phương án kinh doanh
- Không thanh toán được các khoản nợ đến hạn gốc và lãi, thường xuyên đềnghị ngân hàng cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ Có dấu hiệu “săn đón” cán bộ ngânhàng, chấp nhận chịu lãi suất vay cao và mọi điều kiện tín dụng miễn là ngân hàngcho vay vốn; có biểu hiện bất hợp tác, trì hoãn, cản trở ngân hàng thực hiện kiểm travốn vay tại đơn vị
Trang 18* Nhóm dấu hiệu liên quan đến hoạt động kinh doanh, điều hành của khách hàng
- Về hoạt động kinh doanh: khách hàng thường xuyên không đạt kế hoạch
tháng/quý/năm về sản xuất và bán hàng; các sản phẩm của khách hàng tiêu thụ chậm(hàng tồn kho nhiều, lâu ngày), có sự lạc hậu, kém chất lượng so với sản phẩm cùngloại trên thị trường; ký kết các hợp đồng lớn nhằm đánh bóng tên tuổi mà không quantâm đến lợi nhuận hay khả năng thực hiện hợp đồng; cắt giảm các chi phí khấu hao,sửa chữa tài sản, chi phí nghiên cứu sản phẩm; chịu tác động mạnh từ các yếu tố thuộcmôi trường kinh doanh như: tỷ giá, lãi suất thay đổi theo chiều hướng bất lợi, thay đổitrong chính sách của Nhà nước theo hướng tiêu cực cho khách hàng, xuất hiện cácđối thủ cạnh tranh mới, xuất hiện các sản phẩm thay thế, thay đổi trong thị hiếungười tiêu dùng…
- Về hoạt động điều hành, môi trường nhân sự của khách hàng: có sự thayđổi đột xuất nhiều lần về nhân sự cấp cao (hội đồng quản trị, ban điều hành, cácchức vụ chủ chốt); phương thức quản trị/cách thức điều hành không thống nhất,thường có sự bất đồng, tranh chấp trong quá trình quản lý; đề bạt những vị trí điềuhành là những người ít có kinh nghiệm, quản lý có tính gia đình trị; thuyên chuyểnnhân viên diễn ra thường xuyên, không xác định được sự phù hợp của nhân viên vớitừng vị trí công tác; thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ…
* Nhóm dấu hiệu liên quan đến báo cáo tài chính của khách hàng
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là bức tranh toàn diện phản ánh tìnhtrạng “sức khỏe” của doanh nghiệp Do vậy, đối với ngân hàng, báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp là công cụ quan trọng để thẩm định, xét duyệt cho vay, kiểm soát
và đánh giá việc sử dụng vốn vay, đồng thời nhận diện các dấu hiệu tiềm ẩn rủi rotín dụng của khách hàng
Những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro tín dụng thông qua báo cáo tài chính gồm:không cung cấp đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ/trì hoãn trong việc nộp báocáo tài chính, không thực hiện kiểm toán độc lập trong một thời gian dài Phân tíchbáo cáo tài chính nhận thấy một số chỉ tiêu hoạt động của khách hàng có dấu hiệu đixuống như: sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, tiền mặt giảm
Trang 19mạnh, tăng doanh số bán nhưng lãi ít hoặc gần như không có, tài khoản hạch toánvốn điều lệ không khớp, thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán, phảithu khách hàng tăng nhanh và thời gian thanh toán của các khoản nợ bị kéo dài, sửdụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư trung dài hạn quá lớn…
Căn cứ những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro tín dụng mà ngân hàng nhận diện đượctrong quá trình vay vốn của khách hàng, phân tích cụ thể từng dấu hiệu sẽ giúp ngânhàng có những biện pháp thích hợp để xử lý nhằm hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra.1.2.4.2 Đo lường và xác định rủi ro tín dụng
* Xác định rủi ro tín dụng theo mô hình các chỉ tiêu rủi ro chính
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng: nếu tăng trưởng tín dụng quá mức có thể lànguyên nhân tiềm ẩn của rủi ro trong hoạt động tín dụng Do đó, cần phải kiểm soáttăng trưởng tín dụng ở mức phù hợp với tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chất lượng tíndụng
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thoảthuận ghi trên hợp đồng tín dụng; hoặc ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng saimục đích,…Nợ quá hạn là điều không mong muốn của ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ = tổng dư nợ quá hạn/tổng dư nợ x 100%.Các ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ nợ ≥7% được xem là ngân hàng
có chất lượng tín dụng yếu kém
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ:
Nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, tiềm ẩn nhiều rủi ro mất vốncho ngân hàng Chính vì vậy, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng càng thấp cho thấy ngânhàng có chất lượng tín dụng càng tốt
Tỷ lệ nợ xấu = tổng dư nợ xấu/tổng dư nợ x 100%
- Nợ không có tài sản bảo đảm và tỷ lệ nợ không được bảo đảm bằng tài sản
Nợ không có tài sản bảo đảm là khoản nợ mà khách hàng không có tài sản đểthế chấp, cầm cố để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng Ngân hàng cho vaydựa trên uy tín của khách hàng (tín chấp)
Trang 20Tỷ lệ nợ không có TSBĐ = Dư nợ không có TSBĐ/Tổng dư nợ x 100%
Do TSBĐ được coi là phương án thu hồi nợ dự phòng của ngân hàng khinguồn trả nợ thứ nhất từ phương án kinh doanh của khách hàng không đạt được như
dự kiến hoặc khách hàng không trả nợ ngân hàng theo hợp đồng đã ký Do đó, dư
nợ không được bảo đảm bằng tài sản cũng phản ánh mức độ rủi ro trong cho vaycủa ngân hàng
- Tỷ lệ bù đắp rủi ro (quỹ dự phòng rủi ro/nợ xấu): tỷ lệ này cho biết quỹ dựphòng rủi ro tín dụng đảm bảo có bù đắp được tổn thất nợ xấu, trên cơ sở đó phảnánh được chất lượng tín dụng
- Cơ cấu danh mục cho vay: tỷ trọng dư nợ cho vay theo ngành nghề Quảntrị danh mục cho vay cần chỉ ra được tỷ trọng đầu tư tối ưu vào mỗi ngành, vùng,quy mô…để rủi ro thấp nhất là bao nhiêu
* Đo lường rủi ro tín dụng
Trong hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động chủ yếu Nếu quản lýtốt, tín dụng sẽ góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngânhàng Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm giảmgiá trị ngân hàng Tuy vậy, một trong những tính chất cơ bản của tài chính hiện đại
là tính rủi ro Vì thế, mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là làm giảm tối đa rủi
ro tín dụng Muốn vậy, ngân hàng phải lượng hoá và đánh giá được rủi ro tín dụng
để từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả Có thể sử dụng nhiều mô hình khácnhau để đánh giá rủi ro tín dụng, bao gồm mô hình định lượng và định tính
Đối với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu khách hàng cóthiện chí và khả năng thanh toán khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này liênquan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của khách hàng bao gồm:
- Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xinvay của khách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tíndụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả
Trang 21nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiềunguồn khác,…
- Năng lực của người vay (Capacity): Ngân hàng phải chắc chắn rằng ngườixin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng.Khía cạnh pháp lý của người vay phải được xem xét một cách cẩn trọng và khôngđược phép sai sót, bởi lẽ điều này có thể dẫn đến một hợp đồng tín dụng vô hiệu vàkhi đó ngân hàng sẽ gặp rủi ro Do đó, ngân hàng phải chắc chắn rằng doanh nghiệpxin vay không phải là một doanh nghiệp “ma”, thời hạn hoạt động của doanh nghiệpphải đủ dài hơn thời hạn cho vay, người đại diện theo pháp luật có đủ năng lực hành
vi và được quyền thay mặt doanh nghiệp ký kết hợp đồng tín dụng (tức là người được
uỷ quyền hợp pháp của công ty), nếu không thì ngân hàng sẽ không thể thu hồi được
nợ và tiềm ẩn nhiều rủi ro
- Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của khách hàngvay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tàisản,…
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng trong trường hợpnếu khách hàng vay không có khả năng hoàn trả nợ vay Trong khi đánh giá tài sảnđảm bảo ngân hàng cần chú ý tới các yếu tố như tuổi thọ, mức độ chuyên dụng củatài sản, công nghệ Mặt khác cần chắc chắn về giá trị có thể thu hồi được từ tài sảnđảm bảo đó
- Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theochính sách tín dụng từng thời kỳ
- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luậtpháp, quy chế có ảnh hưởng đến người vay và khả năng khách hàng có đáp ứng cáctiêu chuẩn của ngân hàng hay không từ đó đưa ra các biện pháp hợp lý để hạn chế rủi
ro tín dụng
Trang 22Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hìnhnày là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng
dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng
Mô hình định tính được xem là mô hình cổ điển để đánh giá rủi ro tín dụng.Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất:
Mô hình điểm số Z (Z – credit scoring model):
Đây là mô hình do E.I.Altman xây dựng dùng để cho điểm tín dụng đối vớicác doanh nghiệp vay vốn Mô hình này phụ thuộc vào: Chỉ số các yếu tố tài chínhcủa người vay – X; Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất
vỡ nợ của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau (Nguyễn VănTiến, Quản trị trong kinh doanh ngân hàng, trang 334, năm 2005):
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó:
X1: tỷ số vốn lưu động ròng/tổng tài sản
X2: tỷ số lợi nhuận tích luỹ/tổng tài sản
X3: tỷ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản
X4: tỷ số thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn
X5: tỷ số doanh thu/tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy, khi trị
số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ
Trang 23Nhược điểm:
Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro vàkhông có rủi ro Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗikhách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, gốc đến mức mất hoàn toànkhả năng trả nợ gốc và lãi của khoản vay
Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóngmột vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của khoản vay (danh tiếng của kháchhàng, các yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế)
Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor
Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếphạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody và Standard & Poor là nhữngcông ty cung cấp dịch vụ này tốt nhất Moody và Standard & Poor xếp hạng tráiphiếu và khoản cho vay theo 9 hạng với cấp độ chất lượng giảm dần, trong đó 4hạng đầu ngân hàng nên cho vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư, cho vay
Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng theo Moody’s và Standard & Poor
Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard & Poor’s) sau đóthấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, với khách hàngthuộc một trong 4 loại đầu được xem như có khả năng trả nợ, có thể thực hiện chovay, còn các doanh nghiệp có mức xếp hạng thuộc 5 loại sau được xếp loại có độ rủi
ro cao, khả năng hoàn vốn thấp dần Nhưng do có mối quan hệ giữa rủi ro và lợinhuận nên tuy việc xếp hạng thấp nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách hàng
Trang 24chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán này Để đạt được lợi nhuận kỳ vọng,nhà dầu tư thường đa dạng hóa danh mục đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận trong khivẫn đạt tỷ lệ an toàn có thể chấp nhận được.
1.3 Các nhân tố tăng cường quản lý rủi ro tín dụng
1.3.1 Các nhân tố chủ quan (các nhân tố bên trong ngân hàng)
- Cơ cấu tổ chức của hoạt động tín dụng, hoạt động quản lý rủi ro tín dụng:
Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng và hoạt động quản lý rủi ro tín dụng làcông cụ quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Theo chuẩnmực quốc tế, để tránh những vấn đề rủi ro phát sinh, hoạt động tín dụng nhất thiếtphải phân tách giữa các chức năng: đề xuất tín dụng, phê duyệt cho vay và quản trịgiải ngân Trên cơ sở sự phân tách đó, bộ phận quan hệ khách hàng sẽ chịu tráchnhiệm tiếp xúc, tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng, khởi tạo tín dụng, cung cấpthông tin cho bộ phận quản lý rủi ro tín dụng đồng thời kiểm tra giám sát quá trìnhthực hiện các cam kết của khách hàng (sử dụng vốn vay, tài sản bảo đảm…) Bộphận Quản lý rủi ro thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và đưa ra các ý kiến vềcấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộphận quan hệ khách hàng Bộ phận quản lý nợ thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệthống máy tính và quản lý khoản vay…Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mụctiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa
kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng Vì vậy, việc xâydựng một cơ cấu tổ chức hướng theo chuẩn mực quốc tế tốt nhất sẽ là giải pháp hữuhiệu để quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược chính sách, quy trình quản lý rủi
ro tín dụng:
Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng phải bao gồm mô tả về thị trường mụctiêu, các sản phẩm, ngành và khách hàng mục tiêu và các biện pháp quản lý rủi rotín dụng đối với các thị trường này
Chính sách tín dụng là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tíndụng đi đúng quỹ đạo liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, định hướngtín dụng theo ngành nghề…Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một ngân
Trang 25hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảokhả năng sinh lời của hoạt động tín dụng Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượngtín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, củathị trường Chính sách tín dụng gồm các nội dung: tiêu chuẩn cấp tín dụng, thẩm quyềnphê duyệt các cấp, hạn mức tín dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng liênquan, với ngành hoặc lĩnh vực kinh tế, kiểm tra tín dụng, hướng dẫn và xử lý các khoảncho vay có vấn đề,…
Quy trình quản lý rủi ro tín dụng là quy trình thủ tục cần phải thực hiện trongkhi đánh giá, phê duyệt xử lý, ghi chép và quản lý các giao dịch tín dụng, quản lýdanh mục tín dụng Quy trình quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng phải cung cấpcho ngân hàng những công cụ, trình tự và dữ liệu thích hợp để đánh giá rủi ro tíndụng Quy trình được xây dựng để đảm bảo việc ra quyết định tín dụng, xử lý hồ sơ
và ghi chép các hồ sơ đã được phê duyệt được thực hiện một cách có tổ chức, hiệuquả và chuyên nghiệp nhất
- Tuân thủ chính sách, quy trình tín dụng một cách thận trọng: Các ngân
hàng phải quan tâm và thực hiện triệt để các nguyên tắc tín dụng, đặc biệt là cácthông tin về khách hàng Cụ thể khi khách hàng đến vay vốn, các bộ phận liên quantrong ngân hàng phải giải đáp các vấn đề như: tư cách của người vay, hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của khách hàng, mục đích khoản vay, nguồn trả nợ, khả năng kiểmsoát khoản vay của ngân hàng, năng lực quản trị điều hành của khách hàng, thựctrạng tài chính khách hàng trước khi quyết định cho vay
- Quản lý tài sản bảo đảm: các ngân hàng phải xây dựng quy trình quản lý tài
sản bảo đảm bao gồm việc theo dõi, quản lý và thanh lý tài sản bảo đảm Ngoài ra,ngân hàng phải có quy định, hướng dẫn cụ thể danh sách các loại tài sản mà ngânhàng chấp nhận, tần suất đánh giá tài sản bảo đảm theo nguyên tắc tài sản bảo đảm
mà có sự biến động giá nhiều hơn sẽ phải đánh giá thường xuyên hơn
- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ:
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (XHTDNB) là tổ hợp các quy trình phânloại khách hàng theo ngành nghề, quy mô, tính chất sở hữu, bộ chỉ tiêu tài chính và
Trang 26phi tài chính để chấm điểm khách hàng Hệ thống XHTDNB là một công cụ quantrọng trong việc quản lý và giám sát chất lượng đối với từng khách hàng cũng nhưtoàn bộ danh mục tín dụng Mục đích của xếp hạng tín dụng: ra quyết định cấp tíndụng, xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay;quản lý, giám sát chất lượng của danh mục tín dụng; ước lượng mức vốn đã cho vay
sẽ không thu hồi được để trích lập dự phòng tổn thất tín dụng Hệ thống XHTDNBphải được xây dựng cụ thể riêng cho ba nhóm đối tượng khách hàng: khách hàngdoanh nghiệp, tổ chức tín dụng và khách hàng cá nhân
- Kiểm soát nội bộ:
Thông qua kiểm soát giúp lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt độngkinh doanh đang diễn ra, những thuận lợi, khó khăn, việc chấp hành những quy địnhpháp luật, nội quy, quy chế, chính sách kinh doanh, thủ tục tín dụng từ đó giúp lãnhđạo ngân hàng có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp giải quyết những khókhăn, vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu quả kinh doanh.Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chínhsách và mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến sai sót lệchlạc trong quá tình thực hiện một khoản tín dụng
- Chất lượng cán bộ
Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối vớimỗi ngân hàng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng tạolợi nhuận của ngân hàng Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trongquản lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung Kinh tế càngphát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏitrình độ của người lao động càng cao Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên mônnghiệp vụ giỏi, có đạo đức, có năng lực sẽ là điều kiện tiền đề để ngân hàng tồn tại
và phát triển Nếu chất lượng con người tốt thì họ sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụtrong việc thẩm định dự án, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền vay và có cácbiện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay, hay xử lý các tình huống phát sinh
Trang 27trong quan hệ tín dụng của ngân hàng giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa, hoặc giảmnhẹ thiệt hại khi những rủi ro xảy ra trong khi thực hiện một khoản tín dụng.
- Thông tin tín dụng:
Mô hình quản lý rủi ro hiện đại theo nguyên tắc Basel chỉ có thể thành côngkhi giải quyết được vấn đề cơ chế trao đổi thông tin, đảm bảo sự phân tách các bộphận chức năng để thực hiện chuyên môn hóa và nâng cao tính khách quan nhưngkhông làm mất đi khả năng nắm bắt kiểm soát thông tin của bộ phận quản lý rủi rotín dụng Muốn vậy, những thông tin trọng yếu trong quá trình cho vay cần phảiđược bộ phận quan hệ khách hàng cập nhật định kỳ và/hoặc đột xuất, chuyển tiếpnhững thông tin này cho bộ phận quản lý rủi ro tín dụng phân tích, đánh giá nhữngrủi ro tiềm ẩn Như vậy, sự vận hành của mô hình mới có thể thông suốt và giảmthiểu những e ngại của bộ phận quản lý rủi ro tín dụng trong các nhận định cấp tíndụng
Đồng thời, ngân hàng cần xây dựng hệ thống thông tin và phân tích thông tintoàn diện, cung ứng nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy cho các bộ phậnchuyên môn có liên quan Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời, toàn diệnthì khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao
1.3.2 Nhân tố khách quan
Các nhân tố thuộc về khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng sử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngânhàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì khách hàng có vaitrò hết sức quan trọng Một khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tàichính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay củangân hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụngcủa ngân hàng Các khách hàng lớn của ngân hàng thông thường là các doanhnghiệp Những nhân tố này bao gồm:
Trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của các doanh nghiệp là khách hàng vay vốn: Đây là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp Một
doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường phải giải quyết tốt 3 vấn đề: sản xuất
Trang 28cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai: Trong điều kiện trình độ sản xuấtphát triển, nhu cầu tiêu dùng thường xuyên thay đổi, môi trường cạnh tranh gay gắt,với những nguồn lực hạn chế thì việc ra quyết định trong kinh doanh càng khó, nóđòi hỏi tập thể người lao động mà đặc biệt là cán bộ lãnh đạo phải có kiến thức,kinh nghiệm và trình độ.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Trên cơ sở nhận định một cách
khách quan, chính xác khả năng phát triển sản xuất của doanh nghiệp, thị hiếu củangười tiêu dùng với sản phẩm của doanh nghiệp mình cùng với những yếu tố thuậnlợi, khó khăn của môi trường, doanh nghiệp sẽ quyết định chiến lược mở rộng thuhẹp hay ổn định sản xuất, từ đó xây dựng các kế hoạch cụ thể về sản xuất, tiêu thụ.Việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh đúng đắn quyết định đến dự thành công haythất bại của của một doanh nghiệp
Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Năng lực tài chính của doanh nghiệp là
cơ sở nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của doanhnghiệp Năng lực tài chính còn cho thấy khả năng tự chủ tài chính và sức chống đỡ củadoanh nghiệp khi có những biến động bất lợi của thị trường, của nền kinh tế
Tư cách, đạo đức của người vay: Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý
muốn hoàn trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếmđoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ranhững rủi ro không nhỏ cho vốn tín dụng của ngân hàng
Các nhân tố khác
- Môi trường kinh tế:
Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàngphát triển Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp, không có khủng hoảng, hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành tốt có hiệu quả mang lại lợi nhuậncao, doanh nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả gốc và lãi, nên hoạt động tíndụng của ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụng được nâng cao Ngược lại trongthời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút,lạm phát cao, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử
Trang 29dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Hoạt động tín dụng ngânhàng giảm sút về quy mô và chất lượng.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanhnghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng Lợi tức của ngân hàng thu được bị giới hạn bởi lợi nhuậncủa doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng, nếu mức lãi suất cao, các doanhnghiệp vay vốn ngân hàng không có khả năng trả nợ ảnh hưởng tới sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung, hoạt độngtín dụng ngân hàng lúc này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất kinh doanhphát triển và chất lượng tín dụng cũng giảm sút
Ngoài ra những sự biến động về lãi suất thị trường, tỷ giá thị trường cũngảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất của ngân hàng Bài học từ cuộc khủng hoảng tàichính Đông Nam Á đã cho thấy sự mất giá của đồng nội tệ ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động tín dụng ngân hàng
- Môi trường pháp lý và cơ chế chính sách:
Môi trường pháp lý được hiểu là một hệ thống luật và văn bản pháp quy liênquan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định cơ chếhoạt động tín dụng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng lànhmạnh, phát huy vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời duy trì hoạtđộng tín dụng được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệtín dụng Những quy định pháp luật về tín dụng phải phù hợp với điều kiện và trình
độ phát triển kinh tế xã hội, trên cơ sở đó kích thích hoạt động tín dụng có hiệu quả hơn
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đếnkhả năng trả nợ của các doanh nghiệp Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩuthay đổi đột ngột gây xáo động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không tiêuthụ được sản phẩm, hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh mới phù hợp dẫnđến nợ quá hạn, nợ khó đòi, chất lượng tín dụng giảm sút
Trang 30Tóm lại, trong kinh doanh ngân hàng việc đương đầu với rủi ro tín dụng là
điều không thể tránh khỏi Thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinhdoanh ngân hàng là yêu cầu khách quan hợp lý Vấn đề là làm thế nào để hạn chếrủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được Chương 1 của luận văn đãkhái quát các vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng cũng như đề cập đến các mô hình vàbiện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng, làm cơ sở cho các chương tiếp theo của luận văn
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐT&PT VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC
HÀ NỘI
2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Bắc Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Bắc Hà Nội
Về lịch sử hình thành:
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội được thành lập ngày31/10/1963, với tiền thân là Phòng cấp phát 3, sau chuyển thành chi điếm với têngọi là chi điếm 3 – Ngân hàng kiến thiết thành phố Hà Nội thuộc Ngân hàng kiếnthiết Việt Nam Khi đó chi điếm 3 gồm 25 cán bộ phụ trách cấp phát vốn tại haihuyện Gia Lâm và Đông Anh Đến năm 1981, Chi nhánh đổi tên thành Chi nhánhNgân hàng Đầu tư và Xây dựng khu vực 3 – thành phố Hà Nội, thuộc NHNN ViệtNam Năm 1990, Chi nhánh đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Gia Lâm - trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội (chinhánh cấp 2) Tháng 8/2001, tách khỏi Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Hà Nội và sáp nhập trở thành 1 Chi nhánh trực thuộc Sở Giao dịch 1 – Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngày 10/10/2002, Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam đã có Quyết định số 80/QĐ-HĐQT v/v thành lập Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Bắc Hà Nội trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trên
cơ sở tách, nâng cấp Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển khu vực Gia Lâm trực thuộc Sở giao dịch
-2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội là đại diện pháp nhâncủa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, có con dấu, có Bảng tổng kết tài sản,hạch toán phụ thuộc trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 32Phòng Dịch vụ khách hàng doanh nghiệp Phòng Dịch vụ khách hàng
cá nhân Phòng Quản lý và dịch vụ kho quỹ
Phòng Thanh toán quốc tế
Phòng Tài chính – Kế toán
Phòng
Tổ chức - Hành chính
Phòng
Kế hoạch – Tổng hợp
Phòng Điện toán
Phòng giao dịch Long Biên
Phòng giao dịch
Bồ Đề
Phòng giao dịch Ngọc Lâm
Phòng giao dịch Ngọc Thụy
Trang 33Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Chi nhánh Bắc Hà Nội
Trang 34Qua bảng số liệu về công tác huy động vốn của Chi nhánh, chúng ta có thể dễdàng nhận thấy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh có sự tăng trưởng qua các nămtuy nhiên có một thực tế là tốc độ tăng trưởng nguồn vốn không theo kịp tốc độ tăngtrưởng tín dụng tại Chi nhánh trong thời gian vừa qua Chính điều này đã gây không
ít khó khăn cho ban lãnh đạo ngân hàng trong công tác chỉ đạo điều hành và hoạchđịnh chính sách kinh doanh Trong khoảng 06 năm (từ năm 2005 đến hết năm2010), tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh đã tăng gần 3 lần
Nguồn huy động vốn tập trung vào khách hàng tổ chức kinh tế, trong đó cómột số định chế tài chính lớn như: Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội (trên 500 tỷđồng), Văn phòng Ngân hàng phát triển (trên 500 tỷ đồng),…Với các TCKT khác,đặc biệt là các tổ chức đồng thời có quan hệ tín dụng, sử dụng các dịch vụ ngânhàng: mặc dù đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi để thu hút nguồn tiền gửi nhưngkết quả đạt được còn hạn chế, nguồn vốn huy động tại chỗ chưa đáp ứng đủ nhu cầucho vay ngày càng tăng của khách hàng Chính vì vậy, Chi nhánh Bắc Hà Nộithường xuyên phải nhận điều chuyển vốn từ Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam theo lãisuất điều chuyển vốn nội bộ Sự hạn chế về quy mô vốn huy động này đang ngàycàng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, đặc biệt là khảnăng mở rộng quy mô hoạt động tín dụng
Tiền gửi dân cư có sự tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên vẫn chiếm tỷ trọngnhỏ và tốc độ tăng trưởng còn chậm Nguyên nhân là do trên địa bàn quận LongBiên hiện tại, mặt bằng thu nhập của dân cư không cao như các quận nội thành nênkhả năng tích luỹ tiết kiệm còn khiêm tốn Mặt khác, số lượng các TCTD trên địabàn là rất lớn, mức độ cạnh tranh gay gắt, lãi suất tiền gửi Chi nhánh đưa ra khônghấp dẫn bằng các Ngân hàng TMCP trên cùng địa bàn; do đó, quy mô vốn từ khuvực dân cư còn hạn chế
Nhìn chung, công tác huy động vốn luôn được Chi nhánh quan tâm và chútrọng phát triển, do đó kết quả đạt được là tương đối tốt Chi nhánh liên tục triểnkhai các chương trình huy động tiết kiệm như: tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậcthàng, tiết kiệm ổ trứng vàng, tiết kiệm tặng quà khuyến mại…để thu hút kháchhàng gửi tiền theo sự hướng dẫn và chỉ đạo của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam
Trang 35Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác huy động vốn cũng gặp không ítkhó khăn, đặc biệt là việc huy động vốn từ khu vực dân cư Do địa bàn là quậnngoại thành, thu nhập dân cư còn thấp nên tích luỹ tiết kiệm còn nhiều hạn chế, huyđộng dân cư của Chi nhánh tuy có sự tăng trưởng nhưng còn chứa đựng yếu tố thiếubền vững Ngoài ra, so với các NHTM CP, BIDV vẫn còn hạn chế do lãi suất khôngđược hấp dẫn và linh hoạt, sản phẩm chưa đa dạng Do vậy, Chi nhánh phải nỗ lựcrất nhiều trong công tác huy động vốn để nâng cao tỷ lệ cân đối vốn tại chỗ, giảmdần lệ thuộc vào nguồn vốn điều chuyển của BIDV, từ đó chủ động hơn trong hoạtđộng kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
2.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong hoạt động tín dụng, nhưngtrên thực tế, vấn đề rủi ro tín dụng vẫn luôn tiềm ẩn trong hoạt động của BIDV Bắc
Hà Nội – là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Số liệu tổng hợp về hoạt động cho vay qua các năm của Chi nhánh được tổnghợp cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Cơ cấu cho vay tại Chi nhánh Bắc Hà Nội
Phân loại theo thành
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NH ĐT&PT Bắc Hà Nội)
Trang 36Qua bảng số liệu ở trên cho thấy trong 06 năm trở lại đây, hoạt động tín dụngcủa ngân hàng có sự tăng trưởng khá mạnh mẽ (tốc độ tăng trưởng nằm ở nhóm đầutrong các Chi nhánh cùng hệ thống BIDV) Dư nợ của Chi nhánh hiện xếp thứ 4trong toàn hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam và là tổ chức tín dụng có dư nợlớn nhất trên địa bàn quận Long Biên.
Năm 2006 và năm 2007 là những năm bản lề, đánh dấu bước phát triển mạnh
mẽ và đột biến của Chi nhánh Bắc Hà Nội Điều này có thể được lý giải bởi cácnguyên nhân là trong 2 năm này, Chi nhánh Bắc Hà Nội đã đạt độ chín cần thiết về
cơ sở vật chất và nhân lực cho sự phát triển kể từ năm 2002 Hơn nữa, Chi nhánh đã
có chủ trương thâm nhập vào 02 lĩnh vực quan trọng mà sự phát triển của nó trong 2năm qua rất mạnh, đó là lĩnh vực cho vay kinh doanh thép nhập khẩu và cho vayphục vụ lĩnh vực tàu biển Đây là 02 lĩnh vực có sự tăng trưởng tín dụng đột biếntrong 2 năm vừa qua, bên cạnh lĩnh vực đầu tư vào các nhà máy sản xuất sợi tại TháiBình và Hải Dương
Về cơ cấu tín dụng theo thời hạn: Trong sự tăng trưởng tín dụng của Chi
nhánh Bắc Hà Nội thời gian qua thì hoạt động cho vay ngắn hạn cũng có sự tăngtrưởng khá nhanh Năm 2010, dư nợ cho vay ngắn hạn cuối kỳ của Chi nhánh đạt4.890 tỷ đồng, tăng 384 tỷ đồng (tăng 8,5%) so với năm 2009 và chiếm 67,7% tổng
dư nợ Đây là một cơ cấu hợp lý mà Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giaocho Chi nhánh Bắc Hà Nội
Về cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế: Một đặc thù của Chi nhánh Bắc
Hà Nội trong thời gian gần đây là tỷ lệ dư nợ cho vay doanh nghiệp ngoài quốcdoanh chiếm tỷ trọng rất lớn Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh trêntổng dư nợ từ năm 2008 đến năm 2010 lần lượt là 74%, 76 % và 77% Đây là mộtnét rất mới và có tính đột phá của Chi nhánh Bắc Hà Nội trong vài năm trở lại đây.Xuất phát từ đặc thù là một Ngân hàng thương mại Nhà nước, thời gian từ trướcnăm 2004, dư nợ của Chi nhánh Bắc Hà Nội phần lớn là đầu tư cho khối các doanhnghiệp nhà nước trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp như: Công ty cầu 12, cầu 14,cầu 5 – Thăng Long, Đường 120, Đường 122, Công ty May Đức Giang, May 10,
Trang 37Tổng công ty Hàng Không, Tập đoàn Vinashin,…với tỷ trọng cho vay khối doanhnghiệp nhà nước này luôn chiếm trên 80% tổng dư nợ Sự chuyển hướng sang đầu
tư phát triển cho khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã thể hiện phần nào sự nhạybén của ban lãnh đạo ngân hàng bởi thực tế chứng minh là phần lớn các doanhnghiệp nhà nước đều đang ở tình trạng khó khăn và kinh doanh thiếu hiệu quả, nợđọng vốn ngân hàng Nhiều doanh nghiệp đã phải xử lý rủi ro hoặc bị xếp ở nhóm
nợ xấu
chú trọng đa dạng hoá ngành nghề, lĩnh vực, hạn chế cho vay những lĩnh vực có tỷsuất lợi nhuận thấp tiềm ẩn rủi ro như cho vay xây lắp,…tuy nhiên vẫn tập trung vàomột số ngành hàng như: vận tải biển, sắt thép, dệt may, dịch vụ thương mại,…cụ thể:
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay theo ngành nghề
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng của Chi nhánh Bắc Hà Nội)
Qua bảng trên cho thấy trong kết cấu cho vay theo ngành nghề, dư nợ ngànhvận tải biển và ngành thép chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng dư nợ của Chi nhánh.Việc cho vay tập trung lớn vào một số ngành nghề cũng là nguy cơ rủi ro tiềm ẩn tạiChi nhánh
Trang 38Dư nợ ngành vận tải biển chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của Chi nhánh.Nguyên nhân là do cuối năm 2005, Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam ký Biên bản thỏathuận hợp tác toàn diện với Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (bao gồmCông ty mẹ và các đơn vị thành viên); đồng thời giao Chi nhánh Bắc Hà Nội là đầumối trong quan hệ tín dụng, dịch vụ với Tập đoàn này Kết quả là dư nợ đối vớingành công nghiệp tàu thủy tăng mạnh Trong tổng dư nợ ngành công nghiệp tàuthủy, chủ yếu là dư nợ ngắn hạn bổ sung vốn lưu động phục vụ đóng tàu và vận tảibiển Tính đến nay Chi nhánh đang quan hệ tín dụng với hơn 20 khách hàng ngànhcông nghiệp đóng tàu và vận tải biển như Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam(bao gồm Công ty mẹ và các đơn vị thành viên), Công ty Vận tải biển Tùng Dương,Công ty VTB Đại Nam, Công ty CP Đóng tàu Hoàng Gia, Công ty CP VTB AnhTuấn,…Trong năm 2009, các doanh nghiệp vận tải biển là những doanh nghiệp chịuảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới với sựsuy giảm đột biến trên thị trường cước vận tải biển, nhu cầu về tàu biển cũng giảmmạnh Các doanh nghiệp vay kinh doanh đóng tàu, khai thác tàu tại Chi nhánh cũnggặp rất nhiều khó khăn do cước vận tải giảm, không có đơn đặt hàng, huỷ hợp đồng,
…vì vậy, các khoản vay của doanh nghiệp tại Chi nhánh cũng thường xuyên phảithực hiện điều chỉnh, gia hạn thời gian trả nợ
Dư nợ ngành thép năm 2010 chiếm 15% tổng dư nợ chủ yếu là cho vay ngắnhạn kinh doanh thương mại thép và cho vay trung dài hạn đầu tư các dự án sản xuấtthép Nhóm khách hàng sản xuất thép bao gồm Công ty CP Vạn Lợi, Công tyTNHH xây lắp và vật liệu Công nghiệp, Công ty CP Luyện gang Vạn Lợi, nhómkhách hàng kinh doanh thương mại sắt thép bao gồm: Công ty CP TM&ĐT TânHương, Công ty TNHH Tân Hưng, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ NamBắc, Công ty Thuận Lâm,…Năm 2008 các doanh nghiệp sắt thép chịu ảnh hưởnglớn của thép nhập khẩu từ Trung Quốc có giá thành rẻ, giá sắt thép thường xuyênbiến động không ngừng do đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đối với các khoản vaytại Chi nhánh, một số khoản nợ phải gia hạn hoặc để quá hạn
Trang 39Dư nợ ngành xơ sợi - dệt may các năm chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng dư
nợ Các đơn vị dệt may quan hệ với Chi nhánh Bắc Hà Nội trong những năm gầnđây chỉ có Công ty CP May 10 và Công ty CP May Đức Giang, 2 doanh nghiệp nàyđều là những đơn vị có tiềm lực tài chính mạnh trong Tập đoàn Dệt may Việt Nam,hoạt động kinh doanh chủ yếu là gia công hàng may mặc theo các đơn hàng xuấtkhẩu có đầu vào - đầu ra rõ ràng (bên đặt hàng nước ngoài cung ứng cả nguyên liệuđầu vào để sản xuất) Trong cơ cấu dư nợ của ngành dệt may tại Chi nhánh chỉ có
dư nợ ngắn hạn, xấp xỉ khoảng 70 tỷ đồng Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực xơ sợi tại Chi nhánh: Công ty TNHH Sợi Vĩ Sơn, Công ty CP Vĩ Sơn, Công tyĐức Vượng, Công ty TNHH Hợp Thành, Công ty Xơ Polyester Thái Bình, Công tyTNHH Dệt Đại Cường Thái Bình, Công ty CP Tập đoàn Đại Cường, Công ty CP
SX TM San Hoàng với tổng dư nợ khoảng 235 tỷ đồng gồm cả dư nợ vay ngắn vàtrung dài hạn Dư nợ trung dài hạn là các khoản cho vay xây dựng nhà máy, dâychuyền máy móc sản xuất sợi tại Hải Dương và Thái Bình
Dư nợ ngành bất động sản chiếm tỷ trọng khá nhỏ tuy nhiên trong năm 2010
dư nợ vay phát sinh tăng hơn 300 tỷ so với năm 2009 Đây là khoản vay với lĩnhvực kinh doanh khá mới mẻ Kinh doanh dịch vụ đền bù giải toả quyền sử dụng đất.Khách hàng vay vốn là Tổng Công ty CP Đền bù giải toả là doanh nghiệp duy nhấtđược thành lập thí điểm theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ
Ngành xây lắp: dư nợ đối với các doanh nghiệp xây lắp, cơ khí xây dựng tạiChi nhánh Bắc Hà Nội giảm dần qua các năm Lý do là: sau một giai đoạn phát triểnnóng trong cho vay xây lắp, nhiều doanh nghiệp xây lắp đã có những biểu hiện yếukém trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số công trình thi công chậm tiến độ,chậm được nghiệm thu và thanh toán, lệch nguồn… Chính vì vậy, khi có công văn
số 925/CV-TDDV1 ngày 03/04/2003 vv cho vay hỗ trợ ngắn hạn phục vụ thi côngxây lắp và Quy định số 6480/QĐ-PTSP ngày 11/11/2009 vv cho vay phục vụ thicông xây lắp của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, Chi nhánh Bắc Hà Nội đã tích cực
rà soát dư nợ đối với các doanh nghiệp xây lắp đang quan hệ, triệt để thu hồi nợ vàthực hiện cho vay – thu nợ theo từng công trình, xác định giới hạn tín dụng cho từng
Trang 40phương án trên cơ sở nguồn thu đảm bảo (loại bỏ hình thức cho vay theo hạn mứcluân chuyển).
Sự tăng trưởng, mở rộng đầu tư tín dụng luôn đi kèm với những rủi ro tiềm
ẩn có thể xảy ra trong tương lai Kinh nghiệm thực tế cho thấy, sự tăng trưởng nóngtín dụng một giai đoạn nào đó thường để lại hậu quả về tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấutrong những năm tiếp theo Cùng với các chỉ tiêu về quy mô, cơ cấu tín dụng nhưtrên, các chỉ tiêu thể hiện chất lượng tín dụng như nợ quá hạn, nợ xấu trong 03 năm
từ 2006 - 2010 của Chi nhánh Bắc Hà Nội được thể hiện như tại bảng số liệu sau:
Bảng 2.5: Nợ quá hạn tại Chi nhánh Bắc Hà Nội
(Nguồn: báo cáo của Phòng Quản lý rủi ro Chi nhánh Bắc Hà Nội)
Qua bảng số liệu trên thể hiện phần nào chất lượng tín dụng của Chi nhánhBắc Hà Nội Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng tăng qua các năm Do bắtđầu từ năm 2008 tình hình kinh tế có những diễn biến bất lợi làm cho khách hànggặp nhiều khó khăn trong việc thanh toán nợ vay ngân hàng nhất là các doanhnghiệp thuộc lĩnh vực vận tải biển, sắt thép và xơ sợi tại Chi nhánh
Phần lớn nợ quá hạn tập trung vào nợ ngắn hạn Các khoản nợ ngắn hạn quáhạn tại các thời điểm cuối năm hầu hết là các khoản nợ đã hết thời gian gia hạn theoquy định của NHNN về việc cơ cấu nợ (tổng thời gian gia hạn của một khoản vayngắn hạn không vượt quá 12 tháng) Thực tế là, đối với các khoản nợ đến hạn gầnvới thời điểm cuối năm còn khả năng gia hạn, ngân hàng thường xem xét gia hạn nợchứ không thực hiện chuyển nợ quá hạn vào thời điểm này, do vậy số liệu nợ quáhạn tại các thời điểm cuối năm thường thấp hơn tại một thời điểm bất kỳ trong năm