1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận tải hàng không trong hàng không quốc tế

15 482 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 54,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí của vận tải hàng không: Vận tải hàng không chiếm 2030% tổng kim ngạch của buôn bán quốc tế, nhưng chỉ chiếm khoảng 12 %tổng khối lượng hàng hóa trong chuyên chở quốc tế. Là phương thức vận tải quan trọng trong thương mại quốc tế và đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Có vị trí số một trong việc vận chuyển hàng hóa giao khẩn cấp, giao ngay như: những mặt hàng đáp ứng thời cơ thị trường, cứu trợ, hàng nhạy cảm về thời gian, hàng có giá trị cao. Có vị trí quan trọng trong việc giao lưu kinh tế giữa các nước, là cầu nối giữa các nền văn hóa của các dântộc, quốc gia trên thế giới. Là phương tiện chính trong du lịch quốc tế. Là mắt xích quan trọng trong quá trình tổ chức vận tải đa phương thức quốc tế. Vận tải hàng không có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng.Đối tượng vận chuyển của vận tải hàng không: Hàng hóa có giá trị cao. Bưu kiện, bưu phẩm. Hàng cứu trợ, sách báo. Hàng chuyển phát nhanh, khẩn. Hàng hóa nhỏ, nhẹ.1.1.2. Ðặc điểm của vận tải hàng không: Các tuyến đường vận tải hàng không hầu hết là các đường thẳng nối hai điểm vận tải với nhau. Tốc độ của vận tải hàng không cao, tốc độ khai thác lớn, thời gian vận chuyển nhanh. Vận tải hàng không an toàn hơn so với các phương tiện vận tải khác. Vận tải hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao. Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn so với các phương thức vận tải khác. Vận tải hàng không đơn giản hoá về về chứng từ thủ tục so với các phương thức vận tải khác. Bên cạnh ưu điểm trên, vận tải hàng không cũng có những hạn chế sau: Cước vận tải hàg không cao.Vận tải hàng không không phù hợp với vận chuyển hàng hoá kồng kềnh, hàng hoá có khối lượng lớn hoặc có giá trị thấp. Vận tải hàng không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đào tạo nhân lực phục vụ.1.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải hàng không:a. Cảng hàng không (air port):Cảng hàng không là nơi đỗ cũng như cất hạ cánh của máy bay, là nơi cung cấp các điều kiện vật chất kỹ thuật và các dịch vụ cần thiết liên quan tới vận chuyển hàng hoá và hành khách.Cảng hàng không có các khu vực làm hàng xuất, hàng nhập và hàng chuyển tải.b. Máy bay:Máy bay là công cụ chuyên chở của vận tải hàng không. Máy bay có nhiều loại. Loại chuyên chở hành khách cũng có thể nhận chuyên chở hàng dưới boong. Loại chuyên chở hàng và loại chở kết hợp cả khách cả hàng.c. Trang thiết bị xếp dỡ và làm hàng:Trang thiết bị xếp dỡ và làm hàng ở cảng hàng không cũng đa dạng và phong phú. Có các trang thiết bị xếp dỡ và vận chuyển hàng hoá trong sân bay. có trang thiết bị xếp dỡ hàng hoá theo đơn vị. Ngoài ra còn có các trang thiết bị riêng lẻ như pallet máy bay, container máy bay, container đa phương thức...1.2. Lịch sử hàng không vận tải:Chia làm ba giai đoạn:Trước năm 1914:Nhiều nền văn hóa đã tạo ra được những dụng cụ có thể bay trong không khí, từ những vật đầu tiên được ném đi bằng sức lực như hòn đá, cái mác, tới những dụng cụ tinh vi phức tạp về hình dáng khí động học như boomerang của thổ dân Australia,đèn trời Khổng Minh bay bằng khí nóng, hoặc diều. Có những truyền thuyết cổ xưa nói về các chuyến bay của con người như câu chuyện về Icarus, và sau đó, là các câu chuyện đáng tin hơn về chuyến bay ở một khoảng cách ngắn trên một chiếc diều củaYuan Huangtou ở Trung Quốc, Armen Firman với một cuộc nhảy dù, và chuyến bay bằng tàu lượn của Abbas Ibn Firnas.Kỷ nguyên hàng không hiện đại bắt đầu khi người đầu tiên đã bay lên không trung bằng một khí cầu khí nóng vào ngày 21 tháng 11 năm 1783, do anh em nhà Montgolfier thiết kế, kể từ đó các chuyến bay bằng khí cầu ngày càng tăng kể cả về số lượng chuyến bay và khoảng cách bay trong suốt thế kỷ 19, và vẫn tiếp tục cho đến hiện tại.

Trang 1

1 KHÁI QUÁT CHUNG:

1.1 Các khái niệm:

1.1.1 Khái niệm:

- Theo nghĩa rộng: vận tải hàng không là tập hợp các yếu tố kinh tế - kỹ thuật, nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay 1 cách có hiệu quả

- Theo nghĩa hẹp: vận tải hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không trung, hay cụ thể hơn là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý, bưu kiện từ

1 địa điểm này đến 1 địa điểm khác bằng máy bay

Vị trí của vận tải hàng không:

- Vận tải hàng không chiếm 20-30% tổng kim ngạch của buôn bán quốc tế, nhưng

chỉ chiếm khoảng 1-2 %tổng khối lượng hàng hóa trong chuyên chở quốc tế

- Là phương thức vận tải quan trọng trong thương mại quốc tế và đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây

- Có vị trí số một trong việc vận chuyển hàng hóa giao khẩn cấp, giao ngay như: những mặt hàng đáp ứng thời cơ thị trường, cứu trợ, hàng nhạy cảm về thời gian, hàng có giá trị cao

- Có vị trí quan trọng trong việc giao lưu kinh tế giữa các nước, là cầu nối giữa các nền văn hóa của các dântộc, quốc gia trên thế giới

- Là phương tiện chính trong du lịch quốc tế

- Là mắt xích quan trọng trong quá trình tổ chức vận tải đa phương thức quốc tế

- Vận tải hàng không có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng

Đối tượng vận chuyển của vận tải hàng không:

- Hàng hóa có giá trị cao

- Bưu kiện, bưu phẩm

- Hàng cứu trợ, sách báo

- Hàng chuyển phát nhanh, khẩn

- Hàng hóa nhỏ, nhẹ

1.1.2 Ðặc điểm của vận tải hàng không:

- Các tuyến đường vận tải hàng không hầu hết là các đường thẳng nối hai điểm vận tải với nhau

- Tốc độ của vận tải hàng không cao, tốc độ khai thác lớn, thời gian vận chuyển nhanh

- Vận tải hàng không an toàn hơn so với các phương tiện vận tải khác

Trang 2

- Vận tải hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao.

- Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn so với các phương thức vận tải khác

- Vận tải hàng không đơn giản hoá về về chứng từ thủ tục so với các phương thức vận tải khác

* Bên cạnh ưu điểm trên, vận tải hàng không cũng có những hạn chế sau:

- Cước vận tải hàg không cao

-Vận tải hàng không không phù hợp với vận chuyển hàng hoá kồng kềnh, hàng hoá có khối lượng lớn hoặc có giá trị thấp

- Vận tải hàng không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đào tạo nhân lực phục vụ

1.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải hàng không:

a Cảng hàng không (air port):

Cảng hàng không là nơi đỗ cũng như cất hạ cánh của máy bay, là nơi cung cấp các điều kiện vật chất kỹ thuật và các dịch vụ cần thiết liên quan tới vận chuyển hàng hoá và hành khách

Cảng hàng không có các khu vực làm hàng xuất, hàng nhập và hàng chuyển tải

b Máy bay:

Máy bay là công cụ chuyên chở của vận tải hàng không Máy bay có nhiều loại Loại chuyên chở hành khách cũng có thể nhận chuyên chở hàng dưới boong Loại chuyên chở hàng và loại chở kết hợp cả khách cả hàng

c Trang thiết bị xếp dỡ và làm hàng:

Trang thiết bị xếp dỡ và làm hàng ở cảng hàng không cũng đa dạng và phong phú Có các trang thiết bị xếp dỡ và vận chuyển hàng hoá trong sân bay có trang thiết

bị xếp dỡ hàng hoá theo đơn vị Ngoài ra còn có các trang thiết bị riêng lẻ như pallet máy bay, container máy bay, container đa phương thức

1.2 Lịch sử hàng không vận tải:

Chia làm ba giai đoạn:

 Trước năm 1914:

Nhiều nền văn hóa đã tạo ra được những dụng cụ có thể bay trong không khí, từ những vật đầu tiên được ném đi bằng sức lực như hòn đá, cái mác, tới những dụng cụ tinh vi phức tạp về hình dáng khí động học như boomerang của thổ dân Australia,đèn trời Khổng Minh bay bằng khí nóng, hoặc diều Có những truyền thuyết cổ xưa nói về các chuyến bay của con người như câu chuyện về Icarus, và sau đó, là các câu chuyện đáng tin hơn về chuyến bay ở một khoảng cách ngắn trên một chiếc diều củaYuan Huangtou ở Trung Quốc, Armen Firman với một cuộc nhảy dù, và chuyến bay bằng tàu lượn của Abbas Ibn Firnas

Kỷ nguyên hàng không hiện đại bắt đầu khi người đầu tiên đã bay lên không trung bằng một khí cầu khí nóng vào ngày 21 tháng 11 năm 1783, do anh em nhà Montgolfier thiết kế, kể từ đó các chuyến bay bằng khí cầu ngày càng tăng kể cả về số

Trang 3

lượng chuyến bay và khoảng cách bay trong suốt thế kỷ 19, và vẫn tiếp tục cho đến hiện tại

Thực tế những khí cầu bị hạn chế bởi thực tế chúng chỉ có thể di chuyển theo hướng gió thổi Điều đó đã thúc đẩy con người chế tạo ra khí cầu có thể điều khiển hoặc lái được, khí cầu đã được cải tiến Dù với vài khí cầu điều khiển, hoặc còn có thể gọi là khí cầu có thể lái được, đã được chế tạo trong những năm 1880, nhưng người ta đã thành lập những tuyến đường bay vận chuyển hành khách đến các địa điểm định sẵn bằng các khí cầu điều khiển, mà người đi tiên phong đầu tiên trong lĩnh vực khí cầu điều khiển là một người Brazil, ông Alberto Santos-Dumont Santos-Dumont đã tạo niên hiệu quả khi kết hợp một khí cầu hình thoi dài với một động cơ đốt trong Vào ngày 19 tháng

10 1901 ông trở nên nổi tiếng trên thế giới khi bay trên chiếc khí cầu của ông có tên là

"Number 6" đến Paris để giành chiến thắng trong cuộc đua Deutsch de la Meurthe Santos-Dumont đã thành công với những khí cầu, điều đó đã chứng minh rằng chuyến bay có kiểm soát và ổn định là có thể thực hiện được

Vào ngày 17 tháng 12, 1903, Anh em nhà Wright đã bay thành công trên một chiếc máy bay tự thiết kế chế tạo có gắn động cơ, dù chiếc máy bay chỉ bay được quãng đường ngắn do gặp vấn đề về điều khiển Sự chấp nhận phổ biến của cánh phụ máy bay làm cho máy bay dễ dàng điều khiển, và chỉ một thập niên sau đó, vào đầu Đệ nhất thế chiến, máy bay trang bị động cơ đã trở nên thiết thực trong vài trò máy bay trinh sát, chỉ điểm pháo binh, và đôi khi là tấn công vào các cứ điểm tại mặt đất Trong giai đoàn, những khí cầu điều khiển được sử dụng nhiều nhất với nhiều mục đích

Nhận xét chung, phương tiện bay vào giai đoạn này chủ yếu có thiết kế đơn giản, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu giải trí, thể thao và phạm vi hoạt dộng hẹp

Từ năm 1914 – 1944:

Xuất phát từ thành công của anh em nhà Wright các mẫu máy bay được phát triển Đến cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, máy bay đã được thiết kế hợp lý một cách đáng kể, bằng cách giảm lực cản khí động và tăng công suất động cơ để có độ cao và vận tốc lớn hơn Cuộc chạy đua chế tạo các máy bay có vận tốc lớn bắt đầu từ năm 1927, ví

dụ đáng kê nhất cho thời kỳ này là chuyến bay xuyên Đại Tây Dương một mình của Lindberg

Từ năm 1913 đến 1931, vận tốc cực đại của máy bay đã tăng gấp hơn 5 lần, từ 74 km/h với máy bay cánh đơn (máy bay Deperdussin của Pháp) lên tới 386 km/h (máy bay Supermarine 5.6.B) Cũng từ thời kỳ này máy bay cánh cố định đã có dáng dấp như ngày nay Thân được bọc kín, kết cấu chắc chắn, hình thuôn, ít chịu lực cản, cấu tạo cánh đơn dài

Thời kỳ này, máy bay đã có thể chở người, hàng hoá cụ thể như chiếc Douglas DC-3, nó đã trở thành máy bay dân dụng loại lớn đầu tiên mang lại lợi nhuận chỉ bằng hình thức vận chuyển hành khách, hay các máy bay chở quân đội, vũ khí, khí tài hoặc bom phục vụ cho chiến tranh

Do sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều thành phố và đô thị lớn

đã xây dựng các sân bay, và có nhiều phi công đủ trình độ đã gia nhập quân đội để

Trang 4

lái máy bay chiến đấu Có thể nói chiến tranh đã đem lại những cải tiến đáng kể cho các phương tiện bay

Nhận xét trong giai đoạn này phần lớn máy bay đã được phát triển và chủ yếu là các loại máy bay chiến đấu phục vụ trong quân đội Máy bay cũng được cải tiến để có thể phục vụ và dùng trong nhiều lĩnh vực như chuyên chở hành khách, hàng hoá dân sự, sử dụng trong các lĩnh vực quân sự… Phạm vi hoạt động đã vượt ra khỏi không gian của quốc gia

Từ năm 1944 tới nay:

Sau chiến tranh, đặc biệt ở Bắc Mỹ, có một sự bùng nổ trong hàng không dân dụng, cả tư nhân lẫn thương mại, khi hàng nghìn phi công được giải ngũ và nhiều máy bay vận tải, huấn luyện của quân đội dư thừa không được sử dụng đến nên chúng đã được bán đi và không đắt lắm Các hãng chế tạo máy bay như Cessna, Piper, và Beechcraft mở rộng sản xuất để cung cấp máy bay hạng nhẹ cho thị trường giai cấp tiểu tư sản mới

Vào thập niên 1950, việc phát triển máy bay phản lực dân dụng dần dần trở nên lớn mạnh, bắt đầu vói de Havilland Comet, dù máy bay phản lực đầu tiên được sử dụng rộng rãi là Boeing 707 Cùng lúc này, người ta đẩy mạnh việc nghiên cứu phát triểnđộng

cơ tuốc bin khí, bắt đầu xuất hiện máy bay giá rẻ, làm cho khả năng phục vụ trong những quãng đường nhỏ tốt hơn, và chúng có thể bay trong mọi điều kiện thời tiết

Không chỉ trong lĩnh vực máy bay, chuyên chở mà còn có các cuôc chạy đua vào

vũ trụ giữa các cường quốc mà cụ thể là Mỹ và Liên Xô Yuri Gagarin là người đầu tiên bay vào vũ trụ ngày 12 tháng 4 1961, trong khi Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng ngày 21 tháng 61969

Từ thập niên 1960, vật liệu composite đã được ứng dụng để làm thân máy bay giúp chúng hoạt động hiệu quả hơn, những động cơ hiệu suất cao trở nên thông dụng và sẵn có, nhưng những sáng kiến quan trong nhất đã diễn ra trong lĩnh vực trang bị máy móc và điều khiển máy bay như tụ điện thể rắn, hệ thống định vị toàn cầu, vệ tinh viễn thông, một thiết bị rất nhỏ nhưng có sức mạnh rất lớn là máy tính và màn hình Luxeon; chúng đã thay đổi đáng kể buồng lái trên máy bay dân dụng và máy bay quân sự Phi công có thể định hướng chính xác hơn và có tầm nhìn địa hình, vật cản và mọi thứ khác gần máy bay trên một bản đồ số hóa hoặc tầm nhìn ảo, dù trong ban đêm hay tầm nhìn thấp

Các hãng chế tạo máy bay như Boeing, Airbus, và Tupolev tập trung vào những máy bay phản lực dân dụng thân rộng và thân hẹp, trong khi Bombardier và Embraer tập trung vào máy bay dân dụng khu vực

Cho đến thập niên 1970, đa số những hãng hàng không lớn là do các quốc gia thành lập, được hỗ trợ từ phía chính phủ và được bảo vệ khỏi các cuộc cạnh tranh Từ đó, những thỏa thuận về hiệp định “Bầu trời mở” đã tạo ra nhiều lựa chọn cho hành khách và tạo ra những cuộc tranh giành thị phần mới, cùng với sự cạnh tranh là giá vé hàng không cũng giảm xuống

Có thể nói, cả ba phương diện về phương tiện bay, lĩnh vực phục vụ lẫn phạm vi hoạt động của ngành hàng không nói chung và ngành hàng không vận tải nói riêng đã

Trang 5

được mở rộng, phát triển và đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều Quốc gia

1.3 Lịch sử hàng không Việt Nam:

Từ năm 1950 đến 1975:

Lịch sử ngành hàng không dân dụng ở Việt Nam bắt đầu từ ngày 8 tháng

6 năm 1951, với sự thành lập của hãng hàng không dân dụng đầu tiên Air Vietnam Với

số vốn 18 triệu piastre (tức 306 triệu franc Pháp), hãng được hình thành bởi 6 cổ đông ban đầu là Chính phủ Quốc gia Việt Nam (50%), hãng Air France (33,5%), Vận tải hàng không Ðông Dương (SITA) (11%), Vận tải biển (Messageries maritimes) (4,5%), Hiệp hội hàng không vận tải (Union aéronautique des transports) (0,5%), và Aigle Azur Indochine (0,5%) Năm 1968, hãng tái cơ cấu lại vốn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa mua lại các phần góp và tăng vốn kiểm soát lên 75% và Air France giảm còn 25%

Từ một đội bay nhỏ gồm 5 chiếc Cessna 170, với các điểm đến chủ yếu tới những thị trấn nhỏ khắp Việt Nam, Air Vietnam dần phát triển mạnh lên thêm về số lượng máy bay cũng như hệ thống đường bay quốc tế trong suốt 24 năm tồn tại

Ở miền Bắc, ngành hàng không dân dụng bắt đầu từ ngày 15 tháng 1 năm 1956, khi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam Đây được xem là ngày thành lập chính thức của Hàng không Việt Nam hiện tại Với một đội máy bay nhỏ gồm 5 chiếc của miền Bắc, hàng không Việt Nam mở đường bay quốc tế đầu tiên tới Bắc Kinh Trong những năm sau đó, về danh nghĩa, nhiều tuyến bay quốc tế được mở đến các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa, thậm chí đến một số nước phương Tây, nhưng trên thực tế đều thực hiện quá cảnh sang Trung Quốc

Từ 1975 đến nay:

Năm 1976, sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh những cơ sở vật chất

đã tiếp quản trước đó, chính phủ Việt Nam tịch thu các tài sản còn lại của Air Vietnam và chuyển cho Tổng Cục Hàng không Dân dụng quản lý và sử dụng Đội bay Hàng không Dân dụng Việt Nam, ngoài các máy bay Boeing 727 thu được của Air Vietnam, còn được tăng cường bởi các máy bay của Liên Xô như Tupolev Tu-134, Tupolev Tu-154 Một số đường bay quốc tế mới đến Viêng Chăn và Băng Cốc được mở lần lượt vào các năm 1976 và 1978 Bấy giờ, tên giao dịch của Hàng không Dân dụng Việt Nam

là Vietnam Civil Aviation; đối với một số tuyến bay đến các nước phương Tây, tên giao

dịch Air Vietnam vẫn được sử dụng

Tháng 4 năm 1993, Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Airlines) được thành lập và là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam

Ngày 27 tháng 5 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam(Vietnam Airlines Corporation) trên

cơ sở sáp nhập 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng không mà Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam là nòng cốt

Năm 2002, Vietnam Airlines ký với Airbus việc mua 90 chiếc Airbus A330 Cùng với đó, hãng kí với Boeing mua thêm 8 máy bay Boeing 777-200,9 máy bay Boeing

Trang 6

777-300 giúp nâng cao hơn nữa chất lượng máy bay của hãng Cùng năm đó, ngày 28 tháng

10, hãng đã chuyển hoạt động của mình từ Sân bay quốc tế Sheremetyevo sang Sân bay Quốc tế Domodedovo

Ngày 20 tháng 6 năm 2005, hãng đưa hoạt động của mình đến sân bay thứ hai của Đức, với hai chuyến một tuần giữa Frankfurt với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (điểm đến trước đây là Berlin) Giai đoạn 2004-2005, số lượng ghế đạt khoảng 70% khi khai thác các chuyến bay giữa hai nước

Năm 2006, sau khi được đạt được chứng chỉ uy tín về an toàn khai thác của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế, Vietnam Airlines đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế và khẳng định chất lượng dịch vụ mang tiêu chuẩn quốc tế của mình

Vào ngày 15 tháng 4 năm 2009, Vietnam Airlines ký văn bản thỏa thuận tham gia liên minh hàng không lớn thứ 2 thế giới - SkyTeam vào giữa năm 2001 Với việc này, Vietnam Airlines sẽ là đối tác quan trọng của các thành viên trong SkyTeam trên toàn thế giới cũng như tại khu vực Đông Nam Á và hành khách sử dụng dịch vụ của Vietnam Airlines có thể đến hơn 950 điểm đến trên khắp thế giới và hành khách của hãng chỉ cần làm thủ tục 1 lần cũng như được thừa hưởng nhiều quyền lợi khác khi hãng gia nhậpSkyTeam

Tháng 10-2011, Vietnam Airlines đã ký thỏa thuận mua 8 chiếc Boeing 787-9 Dreamliner và sẽ được giao hàng bắt đầu từ năm 2015

Tháng 12 năm 2011, Vietnam Airlines mở đường bay thẳng giữa Việt Nam và London bắt đầu từ ngày 8/12/2011

Tháng 12 năm 2011, Vietnam Airlines thông báo sẽ tăng giá vé với mức tăng cao nhất lên tới 20%

Vietnam Airlines dự kiến sẽ mở đường bay thẳng tới Los Angeles, Mỹ bằng loại máy bayAirbus-380 hoặc Boeing 787 hoặc Boeing 777, hiện nay chưa thành công vì còn vướng những thủ tục an toàn khắt khe ở Mỹ Mặc dù được chính phủ Mỹ giúp đỡ, như trong năm 2008, Mỹ trợ giúp Việt Nam 1,4 triệu đô la Mỹ để nâng cao năng lực giám sát an toàn phù hợp chuẩn mực quốc tế

• Hệ thống sân bay tại Việt Nam:

o Miền Bắc

 Điện Biên Phủ (Sân bay Điện Biên Phủ)

 Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài)

 Hải Phòng (Sân bay Cát Bi)

o Miền Trung

 Thanh Hóa (Sân bay Thọ Xuân)

 Vinh (Sân bay Vinh)

 Đồng Hới (Sân bay Đồng Hới)

Trang 7

 Chu Lai (Sân bay Chu Lai)

 Đà Nẵng (Sân bay quốc tế Đà Nẵng)

 Huế (Sân bay Phú Bài)

 Khánh Hòa (Sân bay Cam Ranh)

 Pleiku (Sân bay Pleiku)

 Qui Nhơn (Sân bay Phù Cát)

 Tuy Hòa (Sân bay Đông Tác)

o Miền Nam

• Buôn Ma Thuột (Sân bay Buôn Ma Thuột)

• Cà Mau (Sân bay Cà Mau)

• Cần Thơ (Sân bay quốc tế Trà Nóc)

• Côn Đảo (Sân bay Cỏ Ống)

• Đà Lạt (Sân bay Liên Khương)

• Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)

• Thành phố Vũng Tàu (Sân bay Vũng Tàu)

• Phú Quốc (Sân bay Phú Quốc)

• Rạch Giá (Sân bay Rạch Giá)

• Tính đến tháng 8/2010 các hãng HKVN (Vietnam Airlines, Jetstar Pacific Airlines, VASCO) đang khai thác đội tàu bay gồm 74 tàu bay hiện đại gồm B777, A330, A321, A320, B737, ATR72-500 với độ tuổi trung bình 7,1 tuổi Điều nổi bật là số lượng tàu bay

sở hữu chiếm 46% với độ tuổi trung bình 5,4 tuổi Trong thời gian tới, các hãng HKVN

đã có kế hoạch mua/thuê khô bổ sung nhiều chủng loại tàu bay mới, hiện đại trên thế giới như B787-9, A350-900, Bombardier CRJ900 Dự kiến đến năm 2015, đội tàu bay của HKVN sẽ đạt từ 150-160 tàu bay các loại

• Hiện nay, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đang quản lý và khai thác 17 cảng hàng không nội địa, 03 cảng hàng không quốc tế Sản lượng hành khách, hàng hóa, bưu kiện thông qua các cảng hàng không trong nước, đặc biệt các cảng hàng không quốc

tế, một số cảng hàng không địa phương có mức tăng trưởng rất cao

• Nếu năm 1990 mới chỉ có 1.1 triệu lượt hành khách thông qua các cảng hàng không, năm 2009 đã có trên 26 triệu lượt hành khách, tăng hơn 25 lần so với năm 1990, năm 2010 dự kiến có trên 30 triệulượt hành khách thông qua cảng hàng không của Việt

Nam.

• Từ sau năm 1990, ngành Hàng không đã đầu tư nâng cấp toàn diện 03 cảng hàng không quốc tế; Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất và 22 cảng hàng không địa phương trong cả nước với tổng số tiền đầu tư 1.570 tỷ đồng và thực hiện quy hoạch tổng thể mạng cảng hàng không trong toàn quốc Cụ thể:

Trang 8

• Cảng HK Quốc tế Nội Bài với năng lực phục vụ từ 850.000 lượt hành khách, 5.000 tấn hàng hóa năm 1990, đã được nâng lên 7.849.728 lượt hành khách và 153.011

tấn hàng hóa năm 2009.

• Cảng HK Quốc tế Đà Nẵng với năng lực phục vụ từ 350.000 lượt HK và 1.000 tấn

HH năm 1990, đến năm 2009,số lượng hành khách thông qua cảng đạt 2.093.595 lượt

HK và 9.380 tấn HH Cuối năm 2010, đã đưa nhà ga quốc tế mới vào khai thác với công suất là 4 triệu lượt khách/năm

• Cảng HK Quốc tế Tân Sơn Nhất với năng lực phục vụ từ 610.000 lượt hành khách

và 11.000 tấn HH năm 1990, đến năm 2009, số lượng hành khách thông qua cảng đạt 12.778.554 lượt HK, 277.400 tấn HH,Sau khi đưa nhà ga hành khách quốc tế mới vào khai thác,công suất nhà ga hành khách quốc tế là 10 triệu khách, nội địa là 7-9 triệu khách

• Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ điều hành bay, vận tải hành khách, hàng hóa, nộp ngân sách liên tục vựơt kế hoạch năm sau cao hơn năm trước, đóng góp vào sự phát triển của Ngành, địa phương và đất nước:

• Nếu năm 1990 Hàng không Việt Nam mới chỉ điều hành 43.330 chuyến bay, năm

2009 điều hành 311.917 chuyến bay, tăng 7,2 lần so với năm 1990, dự kiến năm 2010

điều hành 315.701 chuyến bay

• Năm 1990, thị trường vận chuyển hàng không Việt Nam mới vận chuyển được trên 900 nghìn hành khách, năm 2009 vận chuyển đạt 17,5 triệu khách, tăng 19 lần

so với năm 1990, dự kiến năm 2010 là 20 triệu hành khách

• Năm 1990 vận chuyển: trên 18 nghìn tấn hàng hóa, năm 2009 vận chuyển đạt gần

350 nghìn tấn, tăng 19 lần so với năm 1990, dự kiến năm 2010 vận chuyển đạt 420 nghìn tấn

• Doanh thu toàn Ngành: Năm 1990 là 277,8 tỷ đồng, năm 2004: 20.120 tỷ đồng, tăng 78,80 lần so với năm 1990, dự kiến năm 2005 đạt 21.893 tỷ đồng

• Nộp ngân sách Nhà nước năm 1990 là 58,6 tỷ đồng, năm 2004 đạt 1.287 tỷ đồng, tăng 21,96 lần so với năm 1990, dự kiến năm 2010: 1307,100 tỷ đồng

2 ẢNH HƯỞNG CỦA NGÀNH VẬN TẢI HÀNG KHÔNG ĐẾN CÁC LĨNH VỰC:

2.1 Chính trị:

Tầm quan trọng của ngành vận tải hàng không trong bối cảnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với đặc điểm nổi bật là sự phát triển mạnh

mẽ của việc giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới, nghành vận tải hàng không đóng một vai trò hết sức quan trọng

Thứ nhất, chúng ta có thể thấy được rằng, trong lĩnh vực ngoại giao, hiện nay việc

thăm viếng công tác trao đổi giữa các quốc gia được thực hiện bằng các phương tiện bay

là chủ yếu bởi các ưu điểm của vận chuyển hàng không như: sự an toàn và tiết kiệm thời gian, kể từ khi ngành vận tải hàng không xuất hiện và phát triển, đã thúc đẩy sự tiếp xúc gặp mặt giữa các nhà nước và chính phủ xảy ra thường xuyên hơn qua đó thực hiện tốt hơn việc phát triển các mối quan hệ đối ngoại, trong những tình huống khẩn cấp để đến

Trang 9

hiện trường nhanh chóng, khắc phục tốt các vấn đề cấp bách có ý nghĩa liên quan tới hòa bình, thế giới, hay công tác nhân đạo, vận chuyển hàng không được xem như là nghành đóng góp vô cùng to lớn

Thứ hai, chúng ta có thể thấy được rằng thông qua việc phát triển ngành vận tải

hàng không đặc biệt là vận tải hàng không quốc tế, việc xây dựng, phát triển và kiện toàn các văn bản luật nhằm hướng dẫn chi tiết các quy trình, cách thức vận chuyển hàng không ngày càng chặt chẽ hơn, bởi hàng không là một lĩnh vực đặc biệt có tính chất đặc biệt nhạy cảm bới nó liên quan đến yếu tố chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên không Vận chuyển hàng không là nghành cần có yếu tố nhân lực, vật lực cần trình độ kỹ thuật cao,

để đảm bảo các tính năng để điều hành và đảm bảo an toàn hàng không, việc xây dựng các tiêu chuẩn về cấp phép hàng không, chất lượng của phương tiện bay, năng lực của nhân viên hàng không Hiện nay nghành vận tải hàng không cũng đang đối mặt với một nguy cơ hết sức nghiêm trong đó là khủng bố hàng không và tội phạm hàng không, những điều này gây ra một hậu quả vô cùng nghiêm trọng điển hình như Ngày 23/12/1988, chiếc phi cơ Boeing 747 của hãng hàng không Pan Am bị nổ tung vì bom trên bầu trời Lockerbie, Scotland Toàn bộ 270 hành khách và phi hành đoàn đều thiệt mạng hay nổi tiếng nhất chiếc phi cơ của hãng hàng không United Airlines lao thẳng vào tòa tháp phía nam của Trung tâm Thương mại Quốc tế ngày 11/9/2001 Thành viên mạng lưới khủng bố Al Qaeda đã cướp chiếc phi cơ này, Vụ tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới khiến 2.750 người chết, những con số nói trên đã gây ra chấn động mạnh

mẽ cho các quốc gia và từ đó đặt ra việc bảo vệ an ninh hàng không nghiêm ngặt, bằng việc đặt ra các quy định về kiểm soát khách hàng, hành lý và bưu kiện, cũng như tiêu chuẩn cất cánh…cũng được kiện toàn nhằm hạn chế tối đa những trường hợp đáng tiếc

Thứ ba, về việc phát triển quốc phòng, tăng cường bảo vệ vùng trời thuộc lãnh thổ

quốc gia, việc vận chuyển hàng không được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận cho phép sử dụng vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia của mình, khai thác các đường bay, điều này đặt

ra nhu cầu bảo vệ vùng trời và an toàn của mặt đất trong trường hợp có hành vi xâm phạm xảy ra, đòi hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình hệ thống phòng thủ thích hợp, toàn diện để đối phó với các nguy cơ có thể xảy ra trong quá trình vận tải hàng không và bảo đảm chủ quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ của nước mình Để làm tốt công việc trên cần đòi hỏi sự hợp tác của rất nhiều quốc gia, ngày 28/6, Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) và Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã ký thỏa thuận tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm vận tải hàng hóa bằng đường hàng không an toàn trước các

hoạt động khủng bố, tội phạm và đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa trên toàn cầu.

Thỏa thuận hợp tác tập trung vào việc sắp xếp và điều chỉnh khuôn khổ các quy chế của ICAO và WCO liên quan đến vận tải hàng hóa hàng không, chia sẻ các dữ kiện điện tử tiên tiến và thông tin ở tất cả các cấp giữa các chính phủ, giữa hải quan các nước cũng như giáo dục đào tạo nguồn nhân lực và quản lý rủi ro

Các chuyên gia của hai tổ chức trên sẽ thăm dò việc ứng dụng quản lý rủi ro để nhận dạng các mối đe dọa và thực hiện các biện pháp an ninh cần thiết

Trang 10

Bên cạnh việc phòng thủ chung của toàn nhân loại, các quốc gia cũng cần xây dựng cho mình các hệ thống phòng thủ thích hợp cũng như chuẩn bị các phương án nhằm đối phó với các nguy cơ khác nhau, đảm bảo an toàn hàng không

2.2 Kinh tế:

Tầm quan trọng của ngành vận tải hàng không đối với nền kinh tế:

Có thể khẳng định, trong thời đại ngày nay không có ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động nào của từng quốc gia và toàn thể cộng đồng toàn cầu nói chung không chịu ảnh hưởng của vận tải hàng không ở mức độ nhất định nào đó, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (International Air Transport Association - IATA)

đánh giá vai trò của vận tải hàng không trong thời đại ngày nay như sau: “Vận tải hàng không là một trong những nguồn lực thiết yếu sống còn nhất của thế giới Sự phát triển của nó với tư cách ngành kinh tế và lĩnh vực dịch vụ đã đặt vận tải hàng không vào vị trí của một trong những ngành có đóng góp lớn nhất vào thành tựu của xã hội hiện đại”

Vai trò của vận tải hàng không trong nền kinh tế quốc dân được thể hiện trên nhiều lĩnh vực

Trước hết với tư cách là ngành kinh tế vận tải hàng không thế giới hiện nay tạo ra

giá trị tăng thêm mỗi năm khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, tức là vượt quá GDP của nhiều quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh và lớn gấp gần 20 lần GDP của Việt Nam

“Có khoảng 2 tỷ hành khách hằng năm di chuyển trên các chuyến bay và chuyến bay thuê bao, chiếm khoảng 50% các chuyến bay trên toàn thế giới Công nghệ vận chuyển hàng không đang tạo ra khoảng hơn 200 tỷ USD thu nhập hàng năm và sử dụng hơn 3 triệu lao động" Theo IATA vào năm 2010, việc vận chuyển hàng không sẽ tăng khoảng

400%, đem lại thu nhập hàng năm là 1500 tỷ USD và sử dụng 30 triệu lao động Tổng số máy bay thương mại trên thế giới hiện nay là hơn 10 ngàn chiếc…

Hàng không Việt Nam cũng có những bước phát triển nhảy vọt, bất chấp những khó khăn chung của kinh tế thế giới Khoảng thời gian từ 1995 đến 2004, thị trường hàng không đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao với tổng số 72,6 triệu lượt khách (tăng bình quân 10%/năm), 1,6 triệu tấn hàng hóa (tăng bình quân 14%/năm) Mạng đường bay quốc tế của Vietnam Airlines và Pacific Airlines cùng 24 hãng hàng không quốc tế và nước ngoài đã nối Việt nam với 27 thành phố thuộc châu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Úc ”

Đến nay chúng ta có 51 hãng Hàng không nước ngoài khai thác 68 đường bay từ

22 quốc gia, vùng lãnh thổ đến Việt Nam; mạng đường bay nội địa do 5 hãng HKVN khai thác với 41 đường bay từ 3 trung tâm chính là Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh tới

17 Cảng hàng không, sân bay địa phương; Riêng VN khai thác 48 đường bay quốc tế đến

28 cảng hàng không thuộc 15 quốc gia và vùng lãnh thổ Thị trường vận tải HK Việt Nam

năm 2012 đạt 25,3 triệu khách, tăng 6,5%; hàng hoá, bưu kiện đạt 527 nghìn tấn, tăng 10,9% Cất hạ cánh tại các CHKSB Việt Nam đạt 310 nghìn lần chuyến, tăng5,1% Sản lượng điều hành bay đạt 454.076 lần chuyến, tăng 7,94% so với năm 2011 Lợi

nhuận trước thuế của các Đơn vị doanh nghiệp lớn của ngành HK (Tổng công ty HKVN,

Ngày đăng: 04/06/2016, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu về sự tăng trưởng của từng hệ thống GTVT từ 2000 đến 2010 - Vận tải hàng không trong hàng không quốc tế
Bảng s ố liệu về sự tăng trưởng của từng hệ thống GTVT từ 2000 đến 2010 (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w