Nghiên cứu sự duy trì sinh sản hữu tính với các nguồn hạt phấn khác nhau của các dòng, giống thuộc họ cam quýt .... Nghiên cứu khả năng thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng của ống ph
Trang 1-
TRẦN THỊ DIỆU LINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN HỮU TÍNH Ở MỘT SỐ DÒNG,
GIỐNG CÂY THUỘC HỌ CAM QUÝT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Xuân Bình
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi Các kết
quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều
đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Thị Diệu Linh
Xác nhận của
Khoa chuyên môn
Xác nhận của Người hướng dẫn khoa học
PGS TS Ngô Xuân Bình
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính ở một số dòng, giống cây thuộc họ cam quýt” em luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của:
- Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Xuân Bình, Khoa Công nghệ sinh học - Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Ban Chủ nhiệm khoa Nông học, Phòng Quản lý Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Ban quản lý Thư viện Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên
- Các thầy giáo, cô giáo, các anh chị, bạn bè
Tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu trên!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 10 năm 2012
Học viên
Trần Thị Diệu Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HèNH, ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tớnh cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiờu nghiờn cứu của đề tài 2
3 Yờu cầu của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 4
1.2 Những nghiờn cứu về cõy họ cam quýt 5
1.2.1 Nguồn gốc và sự phõn bố cam quýt 5
2.2.1.1 Nguồn gốc 5
1.2.1.2 Sự phõn bố 6
1.2.2 Phõn loại và đặc điểm sinh vật học đỏng chỳ ý của họ cam 9
1.2.2.1 Phõn loại 9
1.2.2.2 Một số đặc điểm sinh học cơ bản của họ cam quýt ….9
1.2.3 Tỡnh hỡnh sản xuất và tiờu thụ cam quýt 11
1.2.3.1 Tỡnh hỡnh sản xuất và tiờu thụ cam quýt trờn thế giới 11
1.2.3.2 Tỡnh hỡnh sản xuất và tiờu thụ cam quýt ở Việt Nam 14
1.2.3.3 Thực trạng phỏt triển cam quýt ở Việt Nam 16
1.2.4 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đặc điểm sinh sản hữu tớnh ở cam quýt 17
1.2.4.1 Những nghiờn cứu về hiện tượng đa phụi ở cam quýt 17
1.2.4.2 Những nghiờn cứu quỏ trỡnh thụ phấn thụ tinh 20
1.2.4.3 Đặc điểm và sinh lý ra hoa, đậu quả, hỡnh thành hạt cõy họ cam quýt 25
1.2.4.4 Những vấn đề về sinh trưởng và ra hoa của cam quýt 26
1.2.4.5 Đặc điểm một số giống thuộc họ cam quýt 28
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 31
Trang 52.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 31
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 32
2.2 Nội dung, phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 33
2.2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm đa phôi của một số dòng, giống cam quýt 33
2.2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu ính liên quan đến quá trình thụ phấn thụ tinh 33
2.2.1.3 Nghiên cứu khả năng duy trì sinh sản hữu tính liên quan đến sự nảy mầm và bảo quản hạt phấn 34
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.2.1.Nghiên cứu đặc điểm đa phôi của một số dòng, giống cam quýt 41
2.2.2.2.Nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính liên quan đến quá trình thụ phấn thụ tinh 34
2.2.2.3 Nghiên cứu khả năng duy trì sinh sản hữu tính liên quan đến sự nảy mầm và bảo quản hạt phấn 34
2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu 44
2.2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm đa phôi của một số dòng, giống cam quýt 34
2.2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính liên quan đến quá trình thụ phấn thụ tinh 37
2.2.3.3 Nghiên cứu khả năng duy trì sinh sản hữu tính liên quan đến sự nảy mầm và bảo quản hạt phấn……… 37
2.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Kết quả nghiên cứu hiện tượng đa phôi của một số dòng, giống thuộc họ cam quýt 40
3.1.1 Nghiên cứu tỷ lệ hạt đa phôi của một số dòng, giống thuộc họ cam quýt 40
3.1.1.1 Khả năng mang hạt đa phôi của một số dòng, giống bưởi 40
3.1.1.2 Kết quả nghiên cứu khả năng mang hạt đa phôi của một số dòng, giống cam thuộc họ cam quýt 41
3.1.2 Nghiên cứu số phôi trong hạt của một số dòng, giống thuộc họ cam quýt mang hạt đa phôi 42
Trang 63.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính liên quan đến quá trình
thụ phấn thụ tinh 43 3.2.1 Khả năng tạo quả khi tự thụ và thụ phấn tự do của các dòng, giống cây thuộc họ cam quýt 43 3.2.1.1 Khả năng tạo quả khi tự thụ và thụ phấn tự do của một số dòng,
giống bưởi 43 3.2.1.2 Khả năng tạo quả khi tự thụ và thụ phấn tự do của một số dòng, giống cam 45 3.2.1.3 Tương quan giữa số lượng hạt và trọng lượng quả ở một số dòng
giống cây thuộc họ cam quýt khi thụ phấn tự do 46 3.2.2 Nghiên cứu sự duy trì sinh sản hữu tính với các nguồn hạt phấn khác nhau của các dòng, giống thuộc họ cam quýt 50 3.2.2.1 Khả năng tạo quả và hạt với nguồn hạt phấn khác nhau trên các dòng,
giống bưởi 50 3.2.2.2 Khả năng tạo quả và hạt với nguồn hạt phấn khác nhau trên các dòng,
giống cam 53 3.3 Kết quả nghiên cứu quá trình thụ phấn thụ tinh thông qua quan sát sinh
trưởng của ông phấn trong nhụy hoa 54 3.3.1 Nghiên cứu khả năng thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng của ống
phấn trong nhụy hoa của một số giống, dòng bưởi với các nguồn hạt phấn khác nhau 55 3.3.1.1 Khả năng thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng của ông phấn trong
nhụy hoa bưởi Phúc Trạch với các nguồn hạt phấn khác nhau 55 3.3.1.2 Khả năng thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng của ông phấn trong
nhụy hoa bưởi Năm Roi với các nguồn hạt phấn khác nhau 57 3.3.1.3 Khả năng thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng của ông phấn trong
nhụy hoa của bưởi Da xanh với các nguồn hạt phấn khác nhau 58 3.3.1.4 Kết quả nghiên cứu quá trình thụ phấn thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng của ông phấn trong nhụy hoa của dòng bưởi 2XB, bưởi đỏ với các nguồn hạt phấn khác nhau 59
Trang 73.3.2 Nghiên cứu quá trình thụ phấn thụ tinh thông qua quan sát sinh trưởng
của ông phấn trong nhụy hoa của các giống, dòng bưởi với các nguồn hạt
phấn khác nhau 61
3.3.2.1 Sự sinh trưởng của ông phấn trong nhụy hoa của các giống, dòng bưởi khi tự thụ 61
3.3.2.2 Sự sinh trưởng của ông phấn trong nhụy hoa của các giống bưởi với các nguồn hạt phấn khác giống 63
3.3.2.3 Thử nghiệm ảnh hưởng của phương pháp bao hoa đến năng suất quả của một số giống bưởi, cam 65
3.4 Kết quả nghiên cứu khả năng nẩy mầm của hạt phấn 65
3.3.1 Nghiên cứu khả năng nẩy mầm của hạt phấn tại thời điểm hoa nở 66
3.3.2 Nghiên cứu khả năng nẩy mầm của hạt phấn sau khi bảo quản 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 10
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi trên thế giới 11
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng cây ăn quả có múi ở một số châu lục, quốc gia trên thế giới 12
sản xuất bưởi chủ yếu trên thế giới năm 2011 12
Bảng 1.4: Sản lượng các loại cây ăn quả của Việt Nam năm 2011 15
Bảng 2.1: Đặc điểm nguồn vật liệu nghiên cứu 31
Bảng 3.1: Tỷ lệ đa phôi ở một số dòng, giống bưởi 40
Bảng 3.2: Tỷ lệ đa phôi ở một số dòng, giống cam và quýt 48
Bảng 3.3: Số lượng phôi/hạt của các dòng, giống thuộc họ cam, quýt cho hạt đa phôi 43
Bảng 3.4: Sự so sánh về tỷ lệ đậu quả, trọng lượng quả khi tự thụ và thụ phấn tự do ở các dòng, giống bưởi 44
Bảng 3.5: So sánh về tỷ lệ đậu quả, trọng lượng quả khi tự thụ và thụ phấn tự do ở các dòng, giống cam, quýt 45
Bảng 3.6: Số lượng hạt và trọng lượng quả ở một số dòng, giống cây thuộc họ cam quýt khi thụ phấn tự do 51
Bảng 3.7: Tỷ lệ đậu quả và số hạt khi thụ phấn với nguồn hạt phấn khác nhau của một số dòng, giống bưởi 58
Bảng 3.8: Tỷ lệ đậu quả và số hạt khi thụ phấn với nguồn hạt phấn khác nhau của một số dòng, giống cam, quýt 53
Bảng 3.9: Số lượng ống phấn trong nhụy hoa ở các tổ hợp thụ phấn trên cây bưởi Phúc Trạch 55
Bảng 3.10: Số lượng ống phấn trong nhụy hoa ở các tổ hợp thụ phấn trên cây bưởi Năm Roi 57
Trang 9Bảng 3.11: Số lượng ống phấn trong nhụy hoa ở các tổ hợp thụ phấn trên cây
Bảng 3.14: Số lượng ống phấn trong nhụy hoa ở các tổ hợp bưởi tự thụ 62
Bảng 3.15: Số lượng ống phấn trong nhụy hoa ở các tổ hợp bưởi giao phấn 64
Bảng 3.16: Kết quả thử nghiệm ảnh hưởng của phương pháp bao hoa đến
năng suất quả của một số giống bưởi, cam thí nghiệm 65
Bảng 3.17: Tỷ lệ nẩy mầm của hạt phấn của một số dòng, giống bưởi, cam tại
thời điểm nở hoa 67
Bảng 3.18: Tỷ lệ nảy mầm sau bảo quản của hạt phấn một số dòng giống
bưởi, cam thuộc họ cam quýt (ở nhiệt độ 5o
C) 68
Trang 10DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, CÁC HÌNH
Đồ thị 3.1: Tương quan giữa số hạt/quả và trọng lượng quả của dòng bưởi TN4 47
Đồ thị 3.2: Tương quan giữa số hạt/quả và trọng lượng quả của dòng bưởi TN2 48
Đồ thị 3.3: Tương quan giữa số hạt/quả và trọng lượng quả của dòng cam TN6 48
Đồ thị 3.4: Tương quan giữa số hạt/quả và trọng lượng quả của dòng cam TN1 49
Đồ thị 3.5: Tương quan giữa số hạt/quả và trọng lượng quả của bưởi Phúc trạch 49
Hình 3.1: H ạt phấn nẩy mầm và tạo thành các ống phấn (mũi tên) sinh trưởng ở đầu
Hình 3.2: Ống phấn sinh trưởng ở phần 1/3 giữa vòi nhụy (MS) của bưởi Phúc
Hình 3.3: Ống phấn bị ức chế sinh trưởng và bị dừng sinh trưởng ở phần 1/3 phía
Hình 3.4: Không quan sát th ấy ống phấn trong bầu hoa (OV) của bưởi Phúc Trạch
Hình 3.7: Không quan sát th ấy ống phấn ở phần 1/3 phía dưới vòi nhụy (phía trên
Hình 3.8: Ống phấn được quan sát ở phấn 1/3 phía dưới vòi nhụy (phần nằm phía
trên b ầu hoa) ở công thức Năm Roi x Da Xanh 8 ngày sau khi thụ phấn 58
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Họ cam quýt gồm nhiều loài cây có giá trị kinh tế, dinh dưỡng, giá trị
y học và văn hóa - xã hội cao [21], [23] Cam, bưởi có vị trí quan trọng trong chuyển đổi giống cây trồng, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội [22] Ở Việt Nam, 1ha cam quýt độ tuổi 8 năm – độ tuổi kinh doanh cho năng suất trung bình 16 – 20 tấn quả/năm [21], [22] Nhiều nhà
vườn trồng bưởi Diễn, sau 4 - 5 năm có thể thu lãi 40 – 100 triệu đồng/ha,
năng suất cao tới 250 quả/cây ở vườn có mật độ khoảng 1000 – 1200 cây/ha
Quả của cây có múi được dùng ăn tươi, chế biến thành rất nhiều sản
phẩm có giá trị như: Nước quả, mứt, rượu,…[48] Cây thuộc họ cam quýt có giá trị dinh dưỡng cao, có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền của dân tộc [25], [30] Chúng là loại nam dược quý để chữa các bệnh đường ruột, tim
mạch; lá bưởi dùng chữa sốt, ho, nhức đầu, hắt hơi; lá bưởi non chữa sưng
khớp, bong gân Thịt quả có tác dụng giải khát, tiêu đờm, lợi tiểu và tiêu hoá [21], [22]
Sinh sản hữu tính ở cây trồng là quá trình hình thành hạt (hạt hữu tính) sau khi thụ tinh với sự tham gia của cả giao tử đực (cây bố) và giao tử cái (cây mẹ) Sinh sản hữu tính tồn tại ở hầu hết các loại cây trồng [53] Đối
với cây thuộc họ cam quýt, quá trình sinh sản hữu tính phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: Hiện tượng hạt đa phôi (trong đó chỉ có một phôi hữu tính và một
hoặc nhiều phôi vô tính), quá trình thụ phấn, thụ tinh, hiện tượng tự bất hòa
hợp và bất hòa hợp, hiện tượng bất dục đực, bất dục cái [47], [49], [50] Nhiều đặc tính liên quan đến sinh sản hữu tính bao gồm cả quá trình duy trì
và ức chế sinh sản hữu tính của cây họ cam quýt mang đến một số đặc tính kinh tế có giá trị, các giống mang đặc tính tự bất hòa hợp, giống bất dục có
khả năng rất cao trong việc tạo quả không hạt có chất lượng cao [27], [32]
Trang 12Việc nghiên cứu hiểu rõ đặc điểm sinh sản hữu tính ở cam quýt là rất cần thiết, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho các kỹ thuật tạo quả không hạt và giúp các nhà chọn tạo giống và sản xuất phát huy các đặc điểm có lợi, hạn chế các đặc điểm không có lợi trong chọn giống và sản xuất đối với cây trồng thuộc
họ cam quýt
Từ thực tiễn sản xuất và nghiên cứu, việc tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính ở một số dòng, giống cây thuộc họ cam quýt" là rất
cần thiết Kết quả nghiên cứu làm tiền đề cho việc tạo quả không hạt, có năng
suất và chất lượng cao Đồng thời bổ sung thêm kiến thức hiểu biết về cây cam quýt nói riêng và cây ăn quả nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định đặc điểm sinh sản hữu tính ở một số giống, dòng cây thuộc
họ cam quýt nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc chọn tạo giống và thâm canh cây cam quýt
3 Yêu cầu của đề tài
- Xác định hiện tượng đa phôi liên quan đến đặc điểm sinh sản hữu tính ở một số giống, dòng thuộc họ cam quýt;
- Xác định đặc điểm của quá trình thụ phấn thụ tinh liên quan đến sinh sản hữu tính ở một số giống, dòng thuộc họ cam quýt;
- Xác định cơ chế thụ phấn thụ tinh liên quan đến khả năng duy trì sinh sản hữu tính của một số giống, dòng thuộc họ cam quýt
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Hiện tượng tạo quả không hạt của cam quýt được giải thích do 3 trường
hợp: Giao tử đực bất dục, giao tử cái bất dục và tự bất hòa hợp Trong đó thường
gặp là hiện tượng tự bất hòa hợp Đây là hiện tượng ống phấn không kéo dài trong vòi nhuỵ nên không có sự thụ tinh mặc dù có sự thụ phấn [42], [49], [53]
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên các loài cây ăn quả (trừ
những giống cho quả không hạt), đã chứng minh: Nguồn hạt phấn khác nhau ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả, số lượng hạt và cuối cùng là năng suất,
chất lượng quả [35] Ở một số cây ăn quả như: Cây hồng (D Kaki) có 2 nhóm
giống chính, nhóm tự thụ phấn và nhóm giao phấn, trong đó nhóm giao phấn khi cho tự thụ quả rất hay rụng, có thể rụng tới 100% Đối với nho, cam quýt,
tiến hành tự thụ bắt buộc lại tạo ra quả không hạt có năng suất chất lượng cao [25], [31], [32] Khi tiến hành các thí nghiệm thụ phấn với các nguồn hạt phấn khác nhau, ta có thể xác định các tổ hợp lai, nguồn hạt phấn cho năng suất,
chất lượng quả cao
Để xác định đặc điểm sinh sản hữu tính ở thực vật nói chung và cây
có múi nói riêng chúng ta cần quan tâm nghiên cứu: Khả năng nảy mầm của
hạt phấn (quá trình thụ phấn); khả năng hoàn thiện của hoa cái để tiếp nhận
thụ tinh (quá trình thụ tinh); khả năng kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái
để hình thành hợp tử (quá trình thụ tinh); quá trình đậu quả, tạo hạt từ phôi
Trang 14hữu tính (quá trình kết hạt) [53] Thụ phấn là cần thiết trong việc sản xuất hạt
và ngay cả trong việc kích thích sinh trưởng bầu nhụy ở các giống gần như không hạt [52], [53]
Trong các vấn đề liên quan đến đặc điểm sinh sản hữu tính của cây thuộc họ cam quýt, chúng ta cần quan tâm các vấn đề liên quan đến phôi hạt, quá trình thụ phấn thụ tinh và đặc điểm hạt phấn
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Kết quả điều tra cho thấy có khoảng 95% vườn bưởi Năm Roi được
trồng xen với các loại cây cam quýt khác đều xuất hiện hạt [15] Về hình dạng
quả bên ngoài của quả, chúng ta rất khó phân biệt được quả có hạt và quả không hạt Hiện tượng xuất hiện nhiều hạt này cũng xảy ra với giống bưởi Da Xanh và nguyên nhân được cho rằng do thụ phấn chéo [25] Trên một số
giống bưởi không hạt nhưng khi thụ phấn chéo thì có nhiều hạt, số hạt/quả thông thường khoảng 100 [15]
Trong thực tiễn sản xuất, nhiều nông trại sản xuất đã ứng dụng các
biện pháp kỹ thuật tác động đến các hiện tượng sinh học của họ cây có múi để nâng cao năng suất, chất lượng quả và hiệu quả kinh tế Họ lợi dụng hiện
tượng đa phôi để tạo nguồn gốc ghép, con giống đồng đều; tự thụ tạo quả không hạt có năng suất, chất lượng cao trên bưởi Năm Roi, bưởi Diễn, cam,… [6]; trồng xen với cây trồng khác giống để cung cấp phấn bổ sung, kích thích giao phấn tăng tỷ lệ đậu quả, nâng cao năng suất chất lượng, chống thoái hóa
Trang 151.2 Những nghiên cứu về cây họ cam quýt
1.2.1 Nguồn gốc và sự phân bố cam quýt
2.2.1.1 Nguồn gốc
Nhiều nhà khoa học nhất trí: Cam quýt có nguồn gốc từ miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Inđônesia hoặc kéo đến lục địa Úc [23], [44], [46] Một
số báo cáo khoa học gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có
thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn tìm
thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại [26], [33] Citrus medica có nguồn gốc
tại miền Nam Trung quốc là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỉ 1 sau công nguyên [21] Các loài chanh vỏ mỏng (Lime, C Auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc
ở miền Nam Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó các thuỷ thủ đầu tiên đến Ấn Độ đã mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải, châu Âu [23], [33]
Các loài chanh núm (Lemon, Citruslemon) chưa xác định được nguồn
gốc, nhưng nhờ kĩ thuật di truyền hiện đại gần đây cho thấy có thể chanh núm
là con lai tự nhiên giữa Citrus medica và Citrus Aurantiflia, do chanh núm có
dạng hình thái trung gian giữa 2 loại vừa kể trên [33] Chanh núm được sử
dụng sớm nhất vào năm 1150 ở Bắc Phi, vùng biển Địa Trung Hải và châu
Âu Cam ngọt (Citrus Sinensis.L) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam
Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonexia, sau đó cũng giống như loài
Citrus medica chúng được các thuỷ thủ và những người lính viễn chinh mang
về trồng ở châu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỉ 13 đến thế kỉ 17 [33]
Giống cam nổi tiếng thế giới (Washington Navel), ở Việt Nam vẫn thường gọi
là cam Navel được báo cáo là dạng đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt,
giống này được phát hiện ở Bahia Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1824; ở Florida (Mỹ) năm 1835; ở Califorlia năm 1870 và nó trở nên rất nổi tiếng ở
Trang 16Washington [44] Sau đó, giống Wasshington Navel được du nhập và trồng
khắp các vùng trồng cam quýt trên thế giới
Các giống bưởi (Citrus grandis) được xác định có nguồn gốc ở
Malaysia, Ấn Độ [51] Thuyền trưởng Shaddock (người Ấn Độ) đã mang
giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó theo gót các thủy thủ
bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau công nguyên và ở châu Âu sau thời gian đó [46] Bưởi chùm (Citrus paradisis) là dạng đột biến hay dạng
con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), xuất hiện sớm nhất ở vùng
Barbadas miền tây Ấn Độ, được trồng lần đầu tiên ở Florida Mỹ năm 1809
và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ [43]
Các giống quýt cũng được xác định có nguồn gốc ở miền Nam châu
Á, gồm miền Nam - Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó những người
đi biển đã mang đến trồng ở Ấn Độ [46] Quýt (Citrus reticulata) được trồng
ở vùng Địa Trung Hải, châu Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác vào khoảng năm 1805 [33]
Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các đoàn thuyền buôn, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
trồng cây có múi do một số bệnh hại điển hình của vùng khí hậu nhiệt đới:
Bệnh Greening [13], [16], [17] Khí hậu á nhiệt đới hạn chế được nhiều loại
Trang 17sâu bệnh hại nên cam quýt ở vùng này ngày càng có xu hướng tăng nhanh, phát triển mạnh về diện tích, năng suất, sản lượng, chất lượng quả [39]
Theo phân vùng địa lý, hiện nay thế giới có các vùng trồng cam quýt chính như sau:
* Vùng cam quýt châu Mỹ: Vùng cam quýt châu Mỹ trải dài từ Trung
Mỹ, kéo lên phía bắc đến khoảng 40o
vĩ Bắc, xuống phía Nam đến vĩ độ tương đương [20], [21] bao gồm các nước như: Mexico, Cuba, Hoa Kỳ, Brazil, Honduras, Costarica, Equado Ngoài ra cam quýt còn được trồng trong nhà kính và ở những vùng ấm áp ven biển miền nam Canada Tuy không phải là
nơi khởi nguyên của cam quýt nhưng lịch sử trồng cam quýt ở châu Mỹ gắn
liền với lịch sử khám phá ra châu lục này của các nhà thám hiểm châu Âu, đặc biệt là của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử du nhập cam quýt vào châu Mỹ, phần lớn cho rằng nhà thám
hiểm người Tây Ban Nha, phó vương Columbo đã mang cam quýt đến châu
Mỹ trong chuyến đi lần thứ 2 năm 1483 [23], [33], [40], [41]
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng cam quýt được đưa vào châu Mỹ
từ những người đi biển Bồ Đào Nha trước năm 1483 [26], nhận định này cũng
giống như một số ý kiến của các nhà sử học cho rằng châu Mỹ được người Bồ Đào Nha khám phá trước khi Columbo đặt chân lên châu lục này Nhờ điều
kiện thiên nhiên ưu đãi cũng như sự phát triển nhanh về mọi mặt của lục địa châu Mỹ, cam quýt được phát triển mạnh cả về diện tích, năng suất và sản
lượng [51]
Ở châu Mỹ có một số giống cam quýt nổi tiếng, cam Navel được chọn
lọc ở đây Ngoài các giống cam ngọt nổi tiếng, bưởi chùm (Citrus paradisis)
cũng là sản phẩm chính thức của châu Mỹ, với đặc điểm vỏ mỏng, có mùi vị
thơm mềm, độ chua ngọt vừa phải, bưởi chùm được đặc biệt ưa chuộng làm món tráng miệng trên thế giới Châu Mỹ là nơi sản xuất, xuất khẩu chủ yếu
bưởi chùm, cam Navel và các giống cam ngọt khác Năm 1997 sản lượng cam
Trang 18quýt của châu Mỹ đã đạt khoảng trên 30 triệu tấn cam, trên 2 triệu tấn quýt, trên 3 triệu tấn chanh, trên 4 triệu tấn bưởi các loại [23] [48]
* Vùng cam quýt Địa Trung Hải và châu Âu: Bao gồm các nước như: Algeria, Ai Cập, Hy Lạp, Isarel, Italia, Moroco, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Syrian, Tunisia, Thổ Nhĩ Kì Vùng cam quýt Địa Trung Hải có lịch sử lâu đời
hơn cam quýt châu Mỹ, được du nhập từ châu Á theo gót chân những người lính viễn chinh và các thủy thủ Ấn Độ Do ảnh hưởng của khí hậu đại dương khá ôn hòa mát mẻ, điều kiện đất đai phù hợp, nghề trồng cam quýt rất phát triển, nổi tiếng với các giống có vị ngọt thuộc loài Citrus medica [23][33]
Các loài cam quýt được trồng ở đây có tuổi thọ rất cao mà vẫn cho năng suất khá [36], [37] nên nhiều nước trong vùng xuất khẩu và chế biến cam quýt với
số lượng lớn: Tây Ban Nha, Italia, Isrel [23]
* Vùng cam quýt châu Á: Châu Á là quê hương của cam quýt, tuy có
sản lượng cao ở Trung Quốc và Nhật Bản, Đài Loan nhưng do điều kiện kinh
tế xã hội kém phát triển của các nước châu Á nên nghề trồng cam quýt chưa được quan tâm nhiều [38], [39] Công tác chọn tạo giống kĩ thuật canh tác (trừ
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng trồng cam quýt khác trên thế giới [51] Nghề trồng cam quýt ở châu Á là sự pha trộn
của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Đài Loan) và sự canh tác truyền thống như: Trung
Quốc, Ấn Độ, Philippin [19], [20]
Ngoài những vùng trên, cam quýt còn được trồng ở một số nước thuộc châu Đại Dương như Australia, Niuzilan [20] Hiện nay cam quýt bắt đầu được trồng nhiều trong nhà kính ở các nước có khí hậu lạnh như Nauy,
Thụy Điển, Phần Lan, Tuy nhiên sản lượng ở những nước này không nhiều,
chủ yếu là chế biến phục vụ nhu cầu trong nước [29].
Trang 191.2.2 Phân loại và đặc điểm sinh vật học đáng chú ý của họ cam
1.2.2.1 Phân loại
Họ cam quýt có những đặc điểm phân loại: Cây có mang tuyến dầu (chủ yếu ở lá), bầu mọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa,
quả gồm 2 hay nhiều noãn bên trong [26]
Cam quýt thuộc bộ cam (Rutales) Họ cam quýt (Rutaceae) được
phân chia thành 130 giống (genera) thuộc 7 họ phụ khác nhau, trong đó họ
phụ hoa hồng (Aurantirideae) có ý nghĩa nhất Sự phân loại chi tiết hơn dưới
họ phụ Aurantirideae có tộc Citreae (28 giống) và tộc phụ Citrinae (13
giống), 3 nhóm tộc phụ Citrinae (13 giống), 3 nhóm: "tiền cam quýt", "gần
cam quýt” và cam quýt thực sự (True Citrus Group) được phân nhóm từ Citreace [22]
Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố: Nhiều giống
(Cultivars) trong s ản xuất và các dạng con lai của các giống này (Hybrids),
hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân
tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt [21], [33].
Hiện nay tồn tại 2 hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp
dụng Trong đó chủ yếu là theo sự phân loại của Tanaka (Nhật Bản): Cam
quýt gồm 160 - 162 loài (species) Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho
rằng các giống (cultivars) cam quít qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở
thành giống mới Ông quan sát, ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của các
giống đã biến dị và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka Swingle đã phân chia cam quýt ra thành
16 loài [33], bảng phân loại của Swingle đơn giản hơn nên được sử dụng nhiều hơn, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến tên
Trang 20từng giống 10 loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người nhất trong
nhóm “true citrus group” và nhóm con lai được liệt kê ở bảng 1.1:
Bảng 1.1: Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Tên loài Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
Citron Lime Tritoliate (poncirus) Kumquat
Cam ngọt Cam chua Quýt
Bưởi chùm
Bưởi Chanh ta Chanh núm Chanh vỏ mỏng có núm Chanh đắng (chanh 3 lá)
Quất
Bưởi (C.grandis): quả to nhất trong các loài cam quýt, vị chua hoặc
ngọt, bầu có từ 13–15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay các giống bưởi
phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước nhiệt đới
như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Trung Quốc Việt Nam có rất nhiều giống
bưởi nổi tiếng như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi [21]
Bưởi chùm (C.paradisi): Được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của
bưởi C.grandis vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi C.grandis
nhưng lá nhỏ hơn, eo cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua
nhẹ Bưởi chùm cho những giống ít hạt như Duncan, phần lớn các giống bưởi
chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép [27], [28]
Cam ngọt (C.sinensis): Cam ngọt quả to hơn các loài cam khác, mùi
vị tinh dầu ở các loài cam quýt là một đặc điểm để phân loại, lá quýt có mùi cay đậm hơn các loại lá khác Đặc điểm cam ngọt có vị rất ngọt, quả có từ 9–
13 múi, vỏ mỏng và mịn
Quýt (C reticulata): Tuyến dầu của quýt có mùi đặc trưng nên dễ dàng phân biệt được với các loài khác, quả quýt nhỏ, vỏ nhẵn, rất rễ bóc vỏ, lá
Trang 21có răng cưa điển hình, ở một số giống, mặt dưới lá có màu xanh nhạt, hoa
mọc đơn hoặc chùm nhưng không bao giờ mọc thành chùm có nhánh, màu
sắc vỏ quả rất hấp dẫn từ vàng đến vàng – đỏ, đỏ [22]
Các loại chanh: Chanh núm (C medica), chanh núm vỏ mỏng (C aurantifolia), chanh ta (C limon) Các giống chanh được chia chủ yếu thành 2 nhóm chanh chua và chanh ngọt Hạt chanh đa số là hạt đa phôi, mùi tinh dầu
của lá cũng đặc trưng cho từng loài, chanh chua độ axit có thể lên đến 7-8%
Việt Nam có cả 3 loại bao gồm chanh yên, phật thủ (C medica), chanh giấy,
chanh vỏ mỏng có núm (C aurantifolia), chanh ta (C limon)
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt
1.2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Hàng năm thế giới sản xuất khoảng 6 - 10 triệu tấn trái cây có múi
Chủ yếu là cam, bưởi, chanh, quýt Những năm gần đây diện tích, năng suất,
sản lượng cây có múi tăng nhanh theo nhu cầu tiêu dùng
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi trên thế giới
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2005 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
năm tiếp theo diện tích đã tăng 10,4% (2008/2000), 113,4 nghìn ha Năm
2009, thế giới có tốc độ tăng diện tích cây ăn quả có múi cao nhất với 257,3 nghìn ha Năm 2010, diện tích cam quýt thế giới chỉ tăng 7,4 nghìn ha và đạt 1264,6 nghìn ha
Về năng suất: Giai đoạn 2000-2005, tốc độ tăng trưởng về năng suất
của cây thuộc họ cam quýt tăng trung bình 2,26 tấn/ha/năm Giai đoạn
2005-2008, sự tăng trưởng cao hơn với 4,3 tấn/ha/năm Năng suất cam quýt đạt
Trang 22ngưỡng cao nhất vào năm 2009 (93,5 tấn/ha) cao hơn năm 2008 là 5,8 tấn/ha
Năm 2010, do sâu bệnh hại nặng ở một số quốc gia châu Á nên năng suất cây
có múi giảm 0,4 tấn/ha so với năm 2009
Về sản lượng: Cùng với sự tăng nhanh về diện tích, năng suất, sản
lượng cây ăn quả có múi của thế giới tăng tương ứng Năm 2009 thế giới có
sản lượng cao nhất với 11.759,1 nghìn tấn tăng 1.225,7 nghìn tấn so với năm
2008 Năm 2010, sản lượng cây có múi thế giới chỉ tăng 23,2 nghìn tấn do
năng suất giảm
Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi của một số châu lục và quốc gia
năm 2010 được thể hiện trong bảng số liệu 1.3:
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng cây ăn quả có múi năm 2010
ở một số châu lục, quốc gia trên thế giới
TT Châu lục/quốc gia Diện tích thu
hoạch (1000ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 23Trái cây thuộc học cam quýt được sản xuất tập trung ở một số quốc gia trên thế giới như: Mêhico, Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Nigieria, Cô-lôm-bi-a, Guinea …
Châu Á là cái nôi phát sinh của cam quýt đồng thời là khu vực sản
xuất lớn trên thế giới Nơi đây có sự phát triển cây ăn quả không đồng đều
Sản lượng cây ăn quả có múi cao ở Trung Quốc, Phi - lip - pin, Nhật Bản và Đài Loan Ở các nước châu Á khác, nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều nên diện tích, năng suất, sản lượng thấp Mặt khác, vùng này hiện nay
có diễn biến sâu bệnh hại trên cây có múi xẩy ra nghiêm trọng do một số bệnh
hại như bệnh Greening, Tristeza…
Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản xuất và tiêu thụ quả cây thuộc
họ cam quýt Ở Trung Quốc các cây có múi được trồng nhiều tại các tỉnh
Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan Theo một số tài liệu mới: Các loại cây ăn quả có múi ở Trung
Quốc phát triển mạnh hơn so với các loại cây ăn quả khác Năm 1989 diện tích cây có múi của Trung Quốc là hơn 50 nghìn ha, sản lượng trên 210 nghìn
tấn Năm 2010 diện tích cây trồng này đã đạt gần 186,4 nghìn ha, năng suất,
sản lượng đạt cao nhất thế giới (năng suất đạt 262,3 tấn/ha; sản lượng đạt 4.888,6 nghìn tấn quả)
Ấn Độ: Tại đây, cây ăn quả có múi trồng trên quy mô thương mại ở
một số vùng Năm 2010, Ấn Độ sản xuất được 781,8 nghìn tấn quả cam quýt các
loại [29] Trong đó, sản lượng bưởi quả cao nhất đạt trên 200 nghìn tấn xếp
thứ 2 về sản xuất bưởi quả ở các nước châu Á Dự kiến năm 2015, Ấn Độ sẽ
tăng gấp đôi diện tích trồng bưởi xuất khẩu và sản lượng dự kiến tăng 30% [29]
Châu Phi là châu lục có diện tích trồng cây có múi cao nhất và sản
lượng đứng thứ 2 trong số các châu lục nhưng năng suất tại dây rất thấp chỉ đạt 49,7 tấn/ha bằng 1/2 năng suất bình quân của toàn thế giới Tại đây có
Trang 24Nigieria là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về diện tớch và sản lượng cam quýt
nhưng năng suất chỉ đạt 47,1 tấn/ha
Chõu Mỹ chỉ cú 88,8 nghỡn ha cam quýt tập trung ở một số nước: Cụ
- lụm - bi -a, Mexico, Cuba, Hoa Kỳ, Brazil Trong đú đứng đầu về năng
suất là Hoa Kỳ, về diện tớch và sản lượng là Cụ - lụm - bi - a
1.2.3.2 Tỡnh hỡnh sản xuất và tiờu thụ cam quýt ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nơi khởi nguyên của nhiều loại cây trồng, với điều kiện khí hậu và địa bàn phức tạp Việt Nam là một trong những nước có thể trồng được nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây ăn quả [22], [23]
Cam quýt mới thực sự phát triển mạnh trong thời kỳ sau năm 1945, thời
kỳ xây dựng XC hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, đặc biệt sau những năm 60 của thế
kỷ 20 nhờ chính sách phát triển nông nghiệp của Chính phủ Diện tích và sản lượng cam quýt tăng nhanh, nhiều nông trường trồng cam quýt được hình thành trong giai đoạn này ở miền Bắc: Nông trường Sông Lô, Cao Phong, Sống Bôi, Thanh Hà, Vân Du, Đông Hiếu, Sông Con, Phủ Quỳ, Bố Hạ Diện tích hàng ngàn ha cam quýt ở các nông trường quốc doanh này, cùng với các vùng cam quýt truyền thống như bưởi Đoan Hùng, Bưởi Phúc Trạch, cam Bố Hạ, Quýt vàng Bắc Sơn, cam sành Tuyên Quang, nghề trồng cam quýt đC vươn lên trở thành một nghề sản xuất - xuất khẩu có thu nhập cao [13], [22]
Nhúm cõy ăn quả cú mỳi là một trong 4 loại cõy ăn quả chủ lực
Trồng cam, quýt, bưởi mang lại hiệu quả kinh tế cao Thụng thường những nhà vườn trồng 30 cõy bưởi Đoan Hựng là thu được mỗi năm 15 - 20 triệu đồng/năm [13], [15] Những năm gần đõy, cõy ăn quả cú mỳi ngày càng được quan tõm phỏt triển Theo số liệu của Bộ Nụng nghiệp và phỏt triển Nụng thụn, năm 2011 cả nước đạt 8 triệu tấn trỏi cõy ăn quả, trong đú sản lượng cam, quýt là 700 nghỡn tấn, sản lượng bưởi là 417,6 nghỡn tấn [1] Bảng 1.5
thể hiện tầm quan trọng của cõy thuộc họ cam quýt đối với sản xuất cõy ăn
quả của Việt Nam:
Trang 25Bảng 1.4: Sản lượng các loại cây ăn quả của Việt Nam năm 2011
hoạch (1000tấn)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [1]
Cả nước hiện có trên 800.000 ha cây ăn trái với những loại trái cây
chủ yếu như: Dứa, chuối, cam, quýt, bưởi, xoài, thanh long, vải thiều, nhãn, chôm chôm, sầu riêng Kim ngạch xuất khẩu trái cây trong những năm gần đây trên 180 triệu USD/năm [1], [3] Cây ăn quả có múi chiếm vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng về sản lượng với 1.117,6 nghìn tấn đạt 13,97% tổng sản
lượng cây ăn quả các loại Trong các giống cam quýt có giá trị, cam sành,
bưởi Năm Roi là 2 trong 11 loại cây ăn quả có lợi thế cạnh tranh chủ lực phục
vụ xuất khẩu [1], [6]
Sù ph©n bè vïng trång cam quýt ë n−íc ta tËp trung ë c¶ 3 miền B¾c, Trung, Nam và ®−îc chia lµm c¸c vïng sinh th¸i trång cam quýt kh¸c nhau Theo các tác giả Trần Thế Tục và công sự [19], [20], [21] nước ta có 4 vùng
trồng cây có múi chủ yếu là:
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Ở đây có tập đoàn cam quýt rất phong phú: Cam chanh, cam sành, cam giấy, bưởi, quýt, quất Các giống được
ưa chuộng và trồng nhiều hiện nay là cam sành, cam mật, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyền Chủ yếu trồng tại các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long,
Trang 26Cần Thơ, Bến Tre Theo thống kê hàng năm diện tích cây có múi ở Đồng
bằng sông Cửu Long chiếm 60 - 70% diện tích cây ăn quả có múi cả nước
Năng suất bình quân tương đối cao trong đó bưởi đạt 7,4 tấn/ha
- Vùng Bắc Trung bộ: Chủ yếu tập trung tại các tỉnh Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế với các giống bưởi Phúc Trạch, bưởi đường Hương Sơn, bưởi Thanh Trà, trong đó diện tích và sản lượng lớn nhất
là giống bưởi Phúc Trạch Diện tích cây ăn quả có múi khu vực miền Trung chiếm khoảng hơn 10% diện tích cây có múi toàn quốc
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Tập trung chủ yếu tại Hà Nội, Hưng Yên với giống chủ lực là bưởi Diễn, đây là giống bưởi ngọt đặc sản nổi tiếng khu vực phía bắc Tuy nhiên sản phẩm bưởi Diễn chủ yếu sử dụng cho tiêu dùng trong nước Quả có thể để trên cây trong thời gian dài, thuận lợi trong
bảo quản, nên giá bán rất cao vào cuối năm, nhất là dịp tết Nguyên Đán
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Cây có múi ở vùng này được
trồng ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, sông Chảy, gồm các tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình, chủ yếu trồng giống
bưởi Đoan Hùng và giống bưởi Phú Diễn
Tóm lại: Cây có múi là loại cây ăn quả quan trọng không chỉ về giá trị dinh dưỡng mà cả về hiệu quả kinh tế Những năm gần đây, cây ăn quả có múi nhanh chóng tăng cao về giá trị xuất khẩu của Việt Nam Đặc biệt là nhóm giống bưởi và chanh Đồng thời với việc tăng giá trị xuất khẩu, diện tích, năng suất, sản lượng của các sản phẩm cây ăn quả có múi cũng được nâng cao rõ rệt
1.2.3.3 Thực trạng phát triển cam quýt ở Việt Nam
- Vườn cam quýt kinh doanh thường rất nhỏ, không tập trung; ở miền núi phía Bắc Việt Nam có một số vườn rộng vài chục ha, đại bộ phận các
Trang 27vườn ở đồng bằng sông Mekong rất nhỏ, thường rất ít vườn có diện tích từ 1 ha
trở lên, gây nhiều khó khăn trong việc cơ giới hoá, thu hái và vận chuyển [1], [3]
- Trồng cam quýt gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật và phòng trừ sâu
bệnh, lũ lụt ở vùng đồng bằng, xói mòn rửa trôi ở vùng đất dốc Việt Nam thuộc vùng trồng cam quýt nhiệt đới, có thời tiết nóng, mưa nhiều Nhiều loại
bệnh hại cam quýt điển hình của vùng nhiệt đới phá mạnh như: Bệnh greening đã phá huỷ hàng ngàn ha cam quýt ở miền núi phía bắc và vùng đồng bằng sông Cửu Long [2], [3]
- Thị trường cam quýt trong nước và xuất khẩu không ổn định, nhất là sau sự sụp đổ của các nước Đông Âu, thị trường xuất khẩu cam quýt của Việt Nam bị thay đổi theo hướng bất lợi [7], [15] Đồng thời, sự nhập khẩu bất hợp pháp cam quýt từ Trung Quốc với giá rẻ cũng làm giá cam quýt nội địa giảm
và không ổn định Những yếu tố trên ảnh hưởng không ít đến nghề trồng cam quýt ở nước ta [1], [3]
- Chưa có kế hoạch đầu tư, quy hoạch phát triển vùng trồng cam quýt
một cách thống nhất, đồng bộ, đôi khi các vùng cam quýt được hình thành tự phát trong sản xuất [1], [3]
1.2.4 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính ở cam quýt
1.2.4.1 Những nghiên cứu về hiện tượng đa phôi ở cam quýt
Đa phôi là hiện tượng sinh học của cây trồng Xét về bản chất tiến hoá của thực vật, hiện tượng đa phôi và hiện tượng tạo quả không hạt khi cho
tự thụ phấn là 2 quá trình cùng tồn tại giúp cho sinh vật tiến hoá và duy trì nòi
giống Hiện tượng quả không có hạt khi cho tự thụ có thể giải thích là cơ chế
tự bảo vệ để chống lại sự thoái hoá do giao phấn gần ở thực vật Chính nhờ cơ
chế này mà thực vật luôn tiến hoá và qua chọn lọc tự nhiên sẽ chỉ tồn tại
những loài mới có khả năng thích nghi với điều kiện sống [23], [27], [28]
Trang 28Trái lại hiện tượng đa phôi sẽ giúp cho thực vật duy trì được nòi giống ít bị
biến động qua nhiều thế hệ
Đối với cam quýt nói riêng và các loài cây ăn quả nói chung hiện
tượng đa phôi gây trở ngại cho công tác lai tạo giống mới, là một yếu tố có ý nghĩa thực tiễn giúp tạo nên quần thể gieo hạt đồng đều phục vụ làm gốc ghép trong nhân giống vô tính ở cây ăn quả
Hạt đa phôi ở cam quýt phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Có tính chất di truyền cho thế hệ sau
- Số lượng phôi/hạt phụ thuộc giống, tuổi cây, điều kiện ngoại cảnh
- Hạt đa phôi khi gieo thì tỷ lệ cây hữu tính rất thấp
- Tỷ lệ hạt đơn phôi của giống có hạt đa phôi phụ thuộc vào từng
cứu khá tỷ mỉ hiện tượng đa phôi, sự phát triển của phôi hữu tính và phôi vô tính của hạt đa phôi ở cam quýt Trên cơ sở đó đã xây dựng thành công các
phương pháp cứu phôi hữu tính trong hạt đa phôi phục vụ cho công tác chọn
tạo giống, đồng thời phương pháp này có thể tạo giống mới bằng cách tạo đột
biến ở phôi vô tính trong phòng thí nghiệm dựa trên cơ sở của phương pháp nuôi cấy mô tế bào nhằm tạo ra một quần thể cây con đồng đều với số lượng
lớn theo ý muốn [21], [27], [28]
Hiện tượng đa phôi mang nhiều nhân tố tích cực nên trong nghiên cứu
và sản xuất, hạt đa phôi được sử dụng làm gốc ghép hoặc nhân giống bằng gieo hạt Trong chọn tạo giống, hạt đa phôi gây khó khăn khi xác định con lai
Trang 29ở các thế hệ sau đặc biệt ở đời F1 [22] Trong hạt đa phôi, những phôi vô tính
nảy mầm thành cây khỏe hơn và có khuynh hướng giống cây mẹ nhiều hơn cây mọc từ phôi hữu tính [23] nên khi lai tạo giống, các con lai yếu và thường
chết gây khó khăn cho công tác chọn tạo và chăm sóc cây lai
Hạt ở các giống thuộc họ cam quýt có hai dạng, hạt đơn phôi và hạt
đa phôi Với các giống chỉ có hạt đơn phôi, hạt được xác định hình thành từ quá trình thụ tinh Những hạt chỉ mang một phôi duy nhất được xác định là phôi hữu tính Đối với các giống có hạt đa phôi, đặc điểm hạt là có một phôi
hữu tính và từ một đến nhiều phôi vô tính (phát triển từ tế bào cây mẹ không qua thụ tinh) Trong quá trình phát triển của hạt, phôi hữu tính trong hạt đa phôi thường sinh trưởng yếu và đa phần bị đào thải nên quần thể hạt đa phôi
thường là cây mọc từ phôi vô tính Hiện tượng đa phôi ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh sản hữu tính gây khó khăn trong quá trình lai tạo chọn con lai Tuy nhiên, hiện tượng đa phôi được lợi dụng trong nhân giống cây trồng bằng
phương pháp gieo hạt để tạo ra quần thể cây đồng đều mang đặc điểm di truyền của cây mẹ từ quần thể hạt đa phôi và được ứng dụng trong nhân
giống, chọn làm gốc ghép
Hiện tượng đa phôi đã được nghiên cứu nhiều trên cây ăn quả cũng
như ở cam quýt, nhưng chưa có nhiều ứng dụng trong chọn giống Trong một
số nghiên cứu và ứng dụng hiện tượng đa phôi, Manporia, Rudin và Exinovka (Nga), Kadziura (Nhật Bản) đã tạo được những giống cam quýt không hạt, chín sớm, chịu rét, có năng suất cao và phẩm chất tốt [36], [37] Nghiên cứu
về đặc điểm đa phôi, nhiều công trình đã xác định các giống cam quýt có hạt
đa phôi Các loài cam quýt, chanh đều đa phôi còn bưởi chua là đơn phôi
[27] Chi cam quýt (Citrus) có hạt đa phôi nhưng chỉ có một phôi phát triển thành cây Cam sành (quýt king), loài quýt lai giữa cam chanh và quýt thường có hạt đa phôi Quýt (C nobolis) cũng có đặc điểm đa phôi
Trang 30[23] Phật thủ và chanh yên (citrus medica), hai dòng được thuần dưỡng
sớm nhất ở Đông Dương, Ấn Độ, Trung Quốc là giống đơn phôi [23]
Bưởi (Citrus grandis) thường có hạt đơn phôi, bưởi chùm (C paradise),
một dạng đột biến của bưởi lại có hạt đa phôi [21], [23] Các giống bưởi đều có hạt đơn phôi, nhân giống bằng hạt, cây rất xấu nên phải nhân
giống vô tính [22]
Hiện tượng phổ biến ở đa số giống và loài cây có múi, riêng ở 11
giống thuộc nhóm bưởi pumelo không thấy hiện tượng đa phôi [49] Tính đa phôi được xem như một đặc điểm phân biệt bưởi pummelo với nhóm bưởi
grapefruit Trong nhóm quýt C reticulata, r ất nhiều giống bao gồm Ponkan, Satsuma có nhiều phôi và tỷ lệ phôi vô tính cao Rất nhiều giống quýt là
đơn phôi (monoembryonic) Trong nhóm cam C sinensis, số phôi trong hạt
thường trung bình hoặc cao Số phôi vô tính thường khá cao ở đa số các
giống, không có giống đơn phôi ở nhóm này [27]
Ở Việt Nam hiện tượng đa phôi ở cam quýt chưa được nghiên cứu nhiều, mới chỉ có một số công trình điều tra đánh giá hạt đa phôi làm cơ sở để
tạo gốc ghép đồng đều hoặc cứu phôi Nghiên cứu đặc điểm sinh sản hữu tính trong lai tạo là điều rất cần thiết
1.2.4.2 Những nghiên cứu quá trình thụ phấn thụ tinh
a) Sự thụ phấn
Sự tự thụ phấn: Sự vận chuyển hạt phấn đến núm nhụy xảy ra bên trong 1 hoa (hoa lưỡng tính, nhị và nhụy phải chín cùng một lúc) hay giữa 2 hoa trên cùng một cá thể Sự tự thụ ở thực vật làm cho hậu thế yếu đuối, kém phát triển, giảm khả năng thích nghi của cơ thể đối với điều kiện môi trường, thu hẹp khả năng chống chịu và khả năng phát tán của loài Để hạn chế hiện
tượng tự thụ, thực vật thường có cơ chế ức chế thụ phấn thu tinh như: Tính tự
bất hòa hợp, tính bất dục đực, tính bất dục cái, bất dục cả đực và cái
Trang 31Sự thụ phấn chéo: Là hình thức thụ phấn xảy ra ở các hoa trên các cây khác nhau, hoa phải là hoa đơn tính Hoa lưỡng tính cũng có thể thụ phấn chéo với điều kiện nhị và nhụy không chín cùng một lúc Thụ phấn chéo dẫn đến kết quả tính biến dị lớn hơn trong số con cháu và thường được chọn lọc
tự nhiên ủng hộ Muốn xảy ra sự thụ phấn chéo cần có tác nhân trung gian:
Nhờ côn trùng, nhờ gió, nhờ nước, nhờ con người Tất cả đều có hình thức
tiến hóa riêng
b) Sự thụ tinh
Khi hạt phấn được mang đến núm nhụy, nó nảy mầm tạo ra một ống
phấn Hạt phấn nảy mầm chứa một nhân ống phấn và hai nhân tinh trùng là
thể giao tử đực trưởng thành Ống phấn sinh trưởng rồi chui qua các tế bào
của núm nhụy và vòi nhụy để đến lỗ noãn
Cơ chế ức chế thụ phấn thụ tinh
1- Tính tự bất hòa hợp: Tự tương khắc là đặc tính tự không sinh sản, hạt
phấn đồng tính (autopollen) không có khả năng khởi đầu sự nẩy mầm hoặc không sinh trưởng đến noãn nên không có sự thụ tinh ở trong cùng một hoa, trong hoa của cùng một cá thể Trong trường hợp này có sự không hòa hợp giữa các yếu tố sinh ra
do cùng một kiểu gen quy định [34]
Di truyền kiểm soát tính tự bất hòa hợp ở các giống cam quýt đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Tác giả Soost chứng minh có nhiều alen S
của gen điều khiển tính bất hòa hợp di truyền ở cây cam quýt và có ít nhất 4 alen S của gen tự bất hòa hợp được phát hiện thấy ở các giống quýt “Dancy”, quýt “Clementine”, quýt lai “Minneola” Dựa trên kết quả nghiên cứu về phân
ly đời con lai, Soost đã xác nhận: Có hơn 8 alen của gen tự bất hòa hợp di truyền ở các giống bưởi [31] Năm 1988, tác giả Ueno quan sát sự hình thành
hạt và khả năng đậu quả của các giống cam quýt: “C.hasaku”, “C.tachibana”,
“C.nastdaidai” Dựa vào kết quả quan sát trên, Ueno cho rằng, kiểu gen tự bất
Trang 32hòa hợp đối với giống “C.hasaku” là S1S1, với giống “C.nastdaidai” là S2S3,
với giống “C.tachibana” là S1S2 [32]
Trên họ cam quýt, hiện tượng tự bất hòa hợp tạo quả không hạt Ở các
tổ hợp lai bất hòa hợp (bao gồm cả tự thụ và thụ phấn chéo), sản phẩm của gen S (gen bất hòa hợp) sẽ ức chế quá trình thụ tinh và cho quả không hạt Protein của gen S chỉ xuất hiện tại thời điểm hoa nở [41], [46] Quá trình thụ
phấn diễn ra ở các thời điểm trước và sau khi hoa nở (khi protein của gen S
chưa xuất hiện) thì gen S không tác động, quá trình thụ tinh được thực hiện bình thường và tạo quả có hạt Cũng trong nghiên cứu, tác giả đã phát hiện ra đặc điểm: Protein của gen S chỉ có thể ức chế quá trình thụ tinh với những hạt
phấn có cùng alen (của gen S) với giao tử cái nằm trong noãn của hoa Khi
tạo nên nhận biết nhầm lẫn các hạt phấn có cùng alen S, có thể thúc đẩy quá trình thụ tinh và hình thành hạt ở cam quýt
Tù kh«ng dung hîp lµ một trong các nguyªn nh©n g©y ra hiÖn t−îng thô phÊn thô tinh bÊt th−êng t¹o qu¶ kh«ng h¹t ở c¸c gièng b−ëi kh«ng h¹t næi tiÕng cña Th¸i Lan Do vậy để s¶n xuÊt qu¶ b−ëi kh«ng h¹t, c¸c nhµ khoa häc
®C khuyÕn c¸o trång b−ëi t¸ch biÖt víi c¸c t¸c nh©n thô phÊn kh¸c [42]
Một số nghiên cứu khác chứng minh rằng: Sự kéo dài ống phấn liên quan đến hoạt động của enzim PME (pectin methylesterase) [51] Sự kéo dài ống phấn phụ thuộc vào sự hình thành vách tế bào của ống phấn Ngay tại chóp của ống phấn, hiện diện duy nhất là chất pectin mà không thấy có xen-lu-lô hoặc ca-lô trong điều kiện bình thường [52] Khi có mặt enzim PME thì nhóm cac-bô-xin sẽ liên kết với can-xi làm cho vách tế bào của ống phấn trở nên dày hơn bất thường Kết quả là ống phấn không kéo dài được trong vòi nhụy [53]
Cam Washington Navel vµ quýt Satsuma có phần lớn lượng hạt phÊn bÊt dôc vµ nÕu kh«ng ®−îc thô phÊn chÐo víi h¹t phÊn h÷u thô kh¸c chóng sÏ
Trang 33tạo quả không hạt Nhiều giống thương phẩm là không hạt hoặc ớt hạt (2 tới 4 hạt) là do tỷ lệ hạt phấn sống thấp và mức độ noCn bất dục cao [43], [47]
Khi nghiên cứu những biểu hiện về sự sinh trưởng của ống phấn bưởi
ở cả hai trường hợp “tự tương khắc” và “hòa hợp” tỏc giả Ngô Xuân Bình kết
luận: trường hợp “tự tương khắc” ống phấn bị ngừng sinh trưởng trong vòng từ 1- 6 ngày sau khi thụ phấn [40], [41] Ngược lại, ở trường hợp “hòa hợp” ống phấn sinh trưởng nhanh tới bầu và noCn trong khoảng từ 4-8 ngày sau khi thụ phấn Ống phấn dị hình về hình thái được phát hiện ở cả hai trường hợp “tự tương khắc” và “hòa hợp” nhưng gặp nhiều ở trường hợp “tự tương khắc”
Ở trường hợp “tự tương khắc” nhiều ống phấn sinh trưởng và xuyên
được vào bầu noCn Khi hoa được thụ phấn sau khi nở 2 - 6 ngày thì sự sinh trưởng của ống phấn tương tự như hoa được thụ phấn đúng lúc hoa nở
2- Hiện tượng bất dục
Hiện tượng bất dục là sự khụng cú khả năng sinh sản hữu tớnh, khụng
tạo ra hạt và cú thể tạo quả đơn tớnh Quả phỏt triển được trong trường hợp này khụng phải là kết quả của quỏ trỡnh thụ tinh mà do cỏc chất ausin kớch thớch quả lớn lờn Đõy là biểu hiện phỏt triển khụng bỡnh thường của quỏ trỡnh sinh sản hữu tớnh ở thực vật Nguyờn nhõn tạo ra hiện tượng bất dục cú thể là
do nội tại của cõy làm cho cỏc phụi tử đực, phụi tử cỏi bị chết khi cũn non nờn khụng tạo được cỏc giao tử, hoặc tạo ra giao tử nhưng phụi bị trẫm… Hoặc
do nguyờn nhõn bờn ngoài như sự thay đổi bất thường của mụi trường khiến cho quỏ trỡnh thụ tinh khụng được thực hiện [53]
Ngày nay, người ta cú thể chủ động tạo ra cỏc loài bất thụ bằng cỏc
biện phỏp: Thụ phấn bằng hạt phấn lạ hoặc hạt phấn đó chết; lợi dụng tỏc
dụng của dịch tiết hạt phấn; sử dụng chất kớch thớch sinh trưởng; dựng tỏc động của điều kiện ngoại cảnh; dựng phương phỏp đa bội thể tạo dũng khụng hạt…
Trang 34Hiện tượng bất dục là biểu hiện phỏt triển khụng bỡnh thường của quỏ trỡnh sinh sản hữu tớnh ở thực vật nhưng ở cõy cam quýt, hiện tượng bất dục
tạo ra những quả cú giỏ trị dinh dưỡng cao: Cam Navel, quýt Satsuma,… Cỏc
loại quả này khụng hạt, hàm lượng đường cao, mụ cơ giới ớt phỏt triển, chớn
sớm, chất lượng cao hơn cỏc loại quả được thụ tinh và cú hạt [22], [23]
Nhiều giống cây thuộc họ cam quýt có quá trình thụ phấn, thụ tinh
không bình thường Theo Nakamura giống cam Washington Navel và một vài
giống khác, có hạt phấn đực bị thoái hóa trước khi bước vào giai đoạn phân bào thứ nhất, dẫn đến kết quả là không sản sinh ra được hạt phấn bình thường
nên thụ phấn thụ tinh không bình thường và tạo quả không hạt Chanh Tahiti,
là một giống tam bội có ý nghĩa kinh tế quan trọng trên thế giới, sự bất dục của hạt phấn không do bản chất tam bội mà do tế bào mẹ hạt phấn bị thoái hóa
trong giai đoạn sớm giống như ở cam Navel [53]
Tính bất dục đực của quýt Satsuma là một hiện tượng rất phức tạp, số
lượng hạt phấn tạo ra trong bao phấn không đồng đều, khi ít, khi nhiều, đôi khi hoàn toàn không có hạt phấn; tế bào mẹ hạt phấn có thể bị thoái hóa ở giai
đoạn sớm, nhưng hầu hết trải qua giai đoạn giảm nhiễm bình thường Tuy nhiên, hầu hết tế bào hạt phấn thoái hóa ở các giai đoạn khác nhau của sự phát triển, kết quả là vào giai đoạn nở hoa, chỉ một vài hạt phấn phát triển bình thường, còn lại đều bị thoái hóa [35]
Ảnh hưởng của quỏ trỡnh thụ phấn, thụ tinh đến năng suất, chất lượng quả:
Chất lượng quả cam quýt được đỏnh giỏ bởi cỏc đặc điểm sau: Vị quả, màu sắc quả, tỷ lệ thịt quả, độ mềm thịt quả và số lượng hạt, hàm lượng dinh
dưỡng, Mục tiờu của cỏc nhà chọn tạo giống là chọn giống cõy ăn quả cú mỳi khụng hạt [34], [39] Quả cam quýt cú số lượng hạt ớt hoặc khụng hạt được đỏnh giỏ rất cao Quả khụng hạt ở cam quýt là kết quả của cỏc hiện
tượng sau: Cõy bị bất dục đực hoặc bất dục cỏi, bất dục cả đực và cỏi, cõy ở
Trang 35thể đa bội lẻ (3n), (5n),… Nhiều nghiên cứu gần đây chứng minh rằng quả không hạt còn là kết quả của một số giống khi cho tự thụ hoặc giao phấn với nguồn hạt phấn khác nhau [31], [32] Nagai và Tanigawa (Nhật Bản) sử dụng
20 giống cam quýt tự thụ và giao phấn đã cho kết quả có 4 giống khi tự thụ cho quả không hạt, tuy nhiên công thức giao phấn tác giả chưa tìm được tổ
hợp lai cho quả không hạt [25]
Một số nghiên cứu quá trình tự thụ và giao phấn trên cây thuộc họ cam quýt cho thấy: Trong công thức tự thụ tìm được 3 giống cam quýt cho
quả không hạt, ở công thức giao phấn cũng tìm thấy 3 tổ hợp lai cho quả không hạt [25] Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu trên mới chỉ dừng ở mức
độ kiểm tra về tỷ lệ đậu quả, số lượng hạt mà chưa đi sâu tìm hiểu về chất
lượng quả Một số nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn hạt phấn khác nhau đến
khả năng đậu quả và chất lượng của cam quýt cho thấy: Nguồn hạt phấn khác nhau có tỷ lệ đậu quả và số lượng hạt/quả khác nhau, kích thước quả thay đổi đôi chút, các chỉ tiêu chất lượng khác thay đổi không nhiều Điều này chứng
tỏ nguồn hạt phấn ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng quả thông qua khả
năng nâng cao tỷ lệ đậu quả và khả năng tạo quả không hạt [35]
Ngày nay các nhà khoa học đều khẳng định rằng có tới 50% số loài trong ngành thực vật hạt kín mang khả năng tTạo quả không hạt hoặc tăng tỷ
lệ đậu quả, giảm số lượng hạt/quả bằng các nguồn hạt phấn khác [31], [47], [53] Từ những kết quả nghiên cứu trên, việc tìm ra nguồn hạt phấn phù hợp
để sử dụng làm cây trồng thụ phấn cho vườn cam quýt nhằm tăng năng suất,
chất lượng quả là điều rất có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
1.2.4.3 Đặc điểm và sinh lý ra hoa, đậu quả, hình thành hạt cây họ cam quýt
Hoa: công thức hoa: K5 C5A(20 – 40)G(8 – 15) Hoa cây họ cam quýt là
loại hoa đầy đủ, hoa thường ra đồng thời với cành non và ra rộ Một cây cam
có thể nở tới 60.000 hoa nhưng chỉ còn 1% đậu quả và có thể đạt sản lượng
Trang 36100kg/cây Vì vậy hoa, quả cam quýt thường rụng nhiều, có giống yêu cầu
thụ phấn nhưng cũng có giống không thụ phấn cũng đậu quả như cam Navel
Thông thường tỷ lệ đậu quả của cam quýt là 3 - 11% [9]
Quả: Thuộc loại quả mọng, khi còn xanh chứa nhiều acid đến khi chín thì lượng acid giảm, hàm lượng đường và chất tan tăng lên Cấu tạo quả
gồm 2 phần: vỏ ngoài và vỏ giữa
Sự phát triển của quả trải qua hai đợt rụng quả sinh lý:
- Đợt 1: Sau khi ra hoa khoảng một tháng, quả còn nhỏ khi rụng mang theo cả cuống
- Đợt 2: Khi quả đạt đường kính 3 - 4cm, quả rụng không mang theo
cả cuống, rụng quả non Sự rụng quả này do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân
chủ yếu là do sự điều tiết sinh lý của cây, bên cạnh đó có sự ảnh hưởng của
thời tiết, khí hậu chủ yếu là độ ẩm và một phần do tác động của chế độ chăm sóc [5], [21] Sự rụng quả này xảy ra từ khi hình thành quả non đến khi quả
ổn định thuần thục về mặt sinh trưởng và phụ thuộc vào từng giống, loài Khi quan sát thí nghiệm trên quýt Satsuma ở điều kiện ở nhiệt đới tác giả thấy có
3 thời kỳ rụng quả: Thời kỳ đầu là thời kỳ ra hoa và kết thúc hoa (đến tháng 4); thời kỳ hai vào tháng 6 và thời kỳ ba vào tháng 7, 8 [22], [30]
1.2.4.4 Những vấn đề về sinh trưởng và ra hoa của cam quýt
Bình thường giống như các loại cây ăn quả khác, vòng đời cam quýt đều trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn cây con (giai đoạn kiến thiết), giai đoạn ra
Trang 37hoa kết quả (giai đoạn kinh doanh) và cuối cùng là thời kỳ già cỗi Cam quýt
cũng mang những đặc trưng chung của thực vật đó là sự phát triển cân đối và xen kẽ nhau giữa bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất Nhìn chung khi còn ở giai đoạn cây con sự sinh trưởng có phần nghiêng về bộ rễ [38], [39] Trong một năm cam quýt có thể ra nhiều đợt lộc tuỳ vào từng vùng sinh thái, giống, tuổi cây và những tác động kỹ thuật của con người, thông thường
có từ 2 - 4 hoặc 5 đợt lộc [6], [9], [11] Loại cành mẹ và số đợt lộc trong năm liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm
Cành cam quýt sau khi mọc một thời gian khi đã gần đến độ thuần
thục tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng các auxin giảm đột ngột làm cho các tế bào đỉnh sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh trưởng bị
chết Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng “tự rụng ngọn” nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục, sau đó các mầm từ nách
lá lại mọc ra và phát triển thành đợt lộc mới Vì vậy mà cành cam quít không
có thân chính rõ rệt, cành lá rậm rạp sau một năm sinh trưởng [22], [38]
Bộ lá của cam quýt cũng được nghiên cứu nhiều nhằm xây dựng biện pháp kỹ thuật tăng năng suất Một số tác giả cho rằng bộ lá trên cành quả và cành mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất của cam quýt [39] Trong khi đó một số tác giả khác lại cho rằng chỉ số diện tích lá và tổng
số lá trên cây tính bình quân trên một quả có vai trò quan trọng hơn Quýt Ôn Châu Nhật Bản có năng suất cao thì ít nhất phải có từ 40 lá trung bình cho
một quả [36], [37] Tác giả Turrall lại cho rằng, ở cam quýt 9 tuổi cần phải có
ít nhất 2,3m2
lá để sản xuất 1 kg quả Reuther tổng kết rằng ở giai đoạn đầu
để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho hoa đậu quả, cành mẹ đóng vai trò quan trọng, sau khi quả lớn thì tổng diện tích lá bình quân trên 1 quả sẽ là yếu tố quyết định năng suất và phẩm chất quả [39] Tuy nhiên mối liên hệ giữa số lá, sự
Trang 38sinh trưởng của lá và năng suất ở cam quít cần được nghiên cứu kỹ hơn nhằm xây dựng hệ thống các biện pháp kỹ thuật cần thiết
1.2.4.5 Đặc điểm một số giống thuộc họ cam quýt
Bưởi Diễn: Bưởi Diễn được trồng nhiều ở Phú Diễn – Phú Minh - Từ Liêm, Hà Nội Đây có thể là một biến dị của bưởi Đoan Hùng Quả tròn, vỏ
quả nhẵn, khi chín vỏ quả mầu vàng cam, trọng lượng trung bình từ 0,8 - 1kg,
tỷ lệ phần ăn được từ 60 – 65%, số hạt trung bình khoảng 50hạt/quả, múi và vách múi dễ tách rời nhau Thịt quả mầu vàng xanh, ăn dòn, ngọt, độ brix từ 12-14% [8], [10]
Bưởi Da xanh: Có nguồn gốc từ ấp Thanh Sơn, xã Thanh Tân, huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, hiện được trồng nhiều nhất tại xã Mỹ Thạnh An, thị xã
Bến Tre Ngoài tiêu thụ nội địa bưởi Da Xanh được xuất khẩu sang một số
nước như Mỹ, Thái Lan…
Bưởi Da xanh trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam có chất lượng cao,
ngọt và giòn, không chua Dạng quả hình cầu, nặng trung bình 1,2 – 2,5 kg/quả Vỏ quả mầu xanh đến xanh hơi vàng khi chín, dễ lột và mỏng 14 – 18
mm Con tép mầu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi Nước quả khá,
vị ngọt không chua (độ brix 9,5 – 12%), mùi thơm, ít đến nhiều hạt (5 – 50
hạt/quả), tỷ lệ thịt quả/quả hơn 55% [10]
Bưởi đỏ Mê Linh: Bưởi đỏ có nguồn gốc ở huyện Mê Linh Quả có 2
dạng hình cầu hơi dẹt và thuôn dài, trọng lượng quả trung bình từ 1 – 1,2kg, khi chín cả vỏ quả, cùi và thịt quả đều có mầu đỏ gấc, vỏ quả nhẵn có nhiều túi tinh dầu thơm Thịt quả thường bị khô, vị hơi chua [8], [10]
Bưởi Năm Roi: Bưởi Năm Roi có nguồn gốc tại huyện Bình Minh,
tỉnh Vĩnh Long Trái bưởi to, mã đẹp, dễ bóc múi, dễ lột vỏ, rất ít hạt hoặc không có hạt, tỷ lệ thịt quả/quả hơn 55%, chất lượng cao [16] Dạng trái hình
quả lê đẹp, nặng trung bình 0,9 – 1,45kg/trái, khi chín vỏ quả có mầu xanh
Trang 39vàng hoặc vàng sáng, độ dầy vỏ trung bình 15 – 18mm Con tép mầu vàng
nhạt, đồng nhất, dễ tách khỏi múi, nhiều nước, có vị ngọt chua (độ brix 9 - 12%) thơm ngon [15,16]
Bưởi Phúc Trạch: Bưởi Phúc Trạch có nguồn gốc ở xã Phúc Trạch –
Hương Khê – Hà Tĩnh Đây là giống bưởi ngon của nước ta hiện nay Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ quả mầu xanh, trọng lượng trung bình từ 1 - 1,2 kg/quả,
tỷ lệ thịt quả đạt 60 – 65%, số hạt 50 – 80 hạt, mầu sắc thịt quả và tép múi
phớt hồng, vách múi giòn dễ tách rời, thịt quả mịn, đồng nhất, vị ngọt hơi chua, độ brix từ 12 – 14% [16], [18]
Cam V2: Là giống cam được chọn tạo từ giống Valencia Olinda, có vị
ngọt, chín muộn, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, thu hoạch muộn vào cuối tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau Cây sinh trưởng phát triển
tốt, phân cành đều, cây cân đối, khả năng ra hoa đậu quả cao [8], [22] Quả
gần như không hạt (từ 0 đến 6 hạt, trung bình 4,5 hạt/quả trong điều kiện
trồng xen Quả dễ bảo quản và bảo quản được lâu trên cây, thành phần và chất
lượng nước quả ngon [8], [15] Quả to trung bình (190,0 - 250,0 g/quả), có thể
lưu giữ trên cây lâu mà không bị giảm chất lượng, vỏ quả mỏng, vàng đẹp với
độ dày trung bình 3,0mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11, hàm lượng nước cao, tỷ lệ xơ thấp, chất lượng thơm, ngọt đậm, ít hạt, khả
năng kháng bệnh (bệnh loét, chảy gôm, nấm đen gốc, khô cành) tốt hơn so với các giống hiện có trong nước [22], [23]
Cam Sành Tuyên Quang (Quýt Kinh): Là một loại quýt trồng phổ biến ở
nước ta có tên thường gọi là cam Sành Cam Sành sinh trưởng khỏe, cành mập
hơi thưa, có thể có gai hoặc không có gai Lá to dày, xanh đậm, eo lá to, răng cưa trên mép lá thưa và nông, túi tinh dầu nổi rõ Hình thức quả không đẹp, vỏ dày thô, sần sùi, chất lượng quả khá cao, thơm ngon, ngọt đậm [10], [16]
Trang 40Cam Vinh: Là giống cam được bảo hộ tại tỉnh Nghệ An Cam Vinh
có ưu điểm màu vàng đẹp, mùi thơm, vị ngọt, tươi lâu, không hạt nên rất được người tiêu dùng ưa chuộng [10], [16]
Cam Đường Canh: Là quýt, nhưng người dân quen gọi là cam giấy vì vỏ
mỏng và dai Một số dạng thường gặp: Quýt đường Hà Tĩnh, quýt đường Quảng Đông Cam Đường Canh cho năng suất cao, thích ứng rộng, cây sinh trưởng
khỏe, ít gai, phân cành mạnh Lá có dạng hình khác nhau, mép lá gợn sóng, đuôi
lá nhọn, gần như không có eo Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ mỏng, khi chín có màu
đỏ gấc Thịt quả hơi dai, mọng nước, ít xơ bã, ít hạt, ngọt đậm [8], [10]
Quýt Bắc Kạn: Quýt Bắc Kạn có đặc điểm quả tròn dẹt kích thước khoảng 4 - 6cm, màu vàng tươi, vỏ nhẵn và dày trên 1mm, múi to đều mọng
nước, tép màu vàng, ít hạt, vị chua dịu, khi ăn rất thơm [8], [16]
Quýt Bắc Sơn: Quýt vàng Bắc Sơn là giống cây ăn quả bản địa Cây
ưa ánh sáng tán xạ, độ ẩm vừa phải, sinh trưởng tốt trong các khe núi, thung
lũng thuộc vùng núi đá huyện Bắc Sơn - vùng có nền nhiệt với biên độ chênh
lệch giữa ngày và đêm khá lớn Quýt Bắc Sơn có màu sắc rất hấp dẫn, mã quả vàng sáng, múi quả căng mọng màu vàng sẫm, ít hạt, ăn có vị ngọt đậm hơi chua, hương vị rất đặc trưng mà quýt ở nơi khác không có được [15], [16]
Cây ăn quả có múi mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, sản xuất
vẫn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch nên còn nhiều bất cập Sản phẩm quả
chủ yếu sử dụng ăn tươi, hiện chưa đủ để cung cấp cho thị trường trong nước
Để nâng cao và ổn định năng suất, phẩm chất các giống cây ăn quả có múi đặc sản cần có những nghiên cứu cơ bản cho từng giống khác nhau