Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi lợn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH DO GIUN TRÒN
TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN PHỔ YÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2009 - 2013
Thái Nguyên - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH DO GIUN TRÒN
TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN PHỔ YÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Trang 3Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Ngân - Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và NCS Nguyễn Thị Bích Ngà đã
giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các cán bộ tại trạm Thú y huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và bà con nông dân địa phương đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và người thân
đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc cán bộ, nhân viên trạm Thú y huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên công tác tốt Chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt
và thành công trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh
Trang 44
LỜI NÓI ĐẦU
Với phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, trong mục tiêu đào tạo của nhà trường, ngoài việc cung cấp kiến thức còn phải tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện kỹ năng và thái độ nghề nghiệp
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình đào tạo của tất cả các trường Đại học nói chung và Đại học nông lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường
Thực tập là thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức, rèn luyện tay nghề, học hỏi phương pháp quản lý và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học để khi ra trường trỏ thành người cán bộ kỹ thuật
có trình độ chuyên môn vững vàng, quản lý giỏi, nắm được các phương pháp
tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước Xuất phát từ mục tiêu đó, theo sự phân công của nhà trường, của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Ngân và sự tiếp
nhận của cơ sở, em đã về thực tập tại Trạm Thú y huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 13/06/2013 đến ngày 18/11/2013 và thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất, thời gian thực tập ngắn, trình độ chuyên môn còn hạn chế nên bản khóa luận này của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để chuyên
đề được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn 3
2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học 3
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn 3
2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis 6
2.1.1.4 Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh 8
2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn 9
2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis 9
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh 12
2.1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 13
2.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn 15
2.1.2.5 Biện pháp phòng và trị bệnh giun T suis cho lợn 17
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 23
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 27
Trang 77
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 27
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28
3.3.1 Tình hình nhiễm giun T suis ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 28
3.3.2 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 28
3.3.2.1 Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy giun T suis cho lợn 28
3.3.2.2 Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun T suis lợn ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 28
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh T suis cho lợn 28
3.4.1.1 Xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy T suis cho lợn 28
3.4.1.2 Bố trí thí nghiệm xác định công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt tốt để diệt trứng T suis lợn 29
3.4.1.3 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng bệnh T suis trên thực địa 30
3.4.1.4 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh T suis cho lợn 31
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 31
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN T SUIS Ở LỢN TẠI HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 32
4.2 NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN T SUIS CHO LỢN 34
4.2.1 Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun T suis cho lợn 34
4.2.1.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun T suis cho lợn thí nghiệm 35
Trang 84.2.1.2 Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên
thực địa 37
4.2.2 Nghiên cứu công thức ủ phân để tăng khả năng sinh nhiệt diệt trứng giun T suis 39
T suis của 3 công thức ủ 44
4.2.3 Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng bệnh giun T suis cho lợn 45
4.2.3.1 Thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 45
4.2.3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 2 tháng thử nghiệm 47
4.2.3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 3 tháng thử nghiệm 48
4.3 ĐỀ XUẤT VÀ ỨNG DỤNG QUY TRÌNH PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN T SUIS Ở LỢN 49
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 KẾT LUẬN 51
5.2 TỒN TẠI 51
5.3. ĐỀ NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình nhiễm giun T suis ở lợn tại một số xã thuộc
huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 32
Bảng 4.2: Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun T suis cho lợn thí nghiệm 35 Bảng 4.3: Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 37 Bảng 4.4: Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 38 Bảng 4.5: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T suis
T suis của 3 công thức ủ 44
Bảng 4.9: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn trước khi thử
nghiệm biện pháp phòng bệnh 46
Bảng 4.10: Tỷ lệ và cường độ nhiễm T suis ở lợn sau 2 tháng thử nghiệm 47 Bảng 4.11: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 3 tháng
thử nghiệm 48
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Giun Trichocephalus suis 5
Hình 2.2: Sơ đồ vòng đời của giun T suis ở lợn 6
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn tại một số xã thuộc
huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 32
Hình 4.2: Biểu đồ cường độ nhiễm giun T.suis ở một số xã thuộc
huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 34 Hình 4.3: Sự thay đổi nhiệt độ của các công thức ủ phân
Trang 11Ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có số đông dân số làm nông nghiệp, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ
Trang 12thống về biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra
ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao
năng suất chăn nuôi lợn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp cho lợn
- Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun Trichocephalus spp cho lợn
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình
phòng chống bệnh giun Trichocephalus spp cho lợn, có một số đóng góp mới
cho khoa học
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn
nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp cho
lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[20] vị trí của giun tròn Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân
loại động vật như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn
Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [24], màu sắc trứng giun T suis là
một màu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm Hình
dạng trứng giun T suis không bất thường đáng kể nhưng chiều ngang của
trứng có thể thay đổi chút ít, có những chiều ngang rộng hẹp khác nhau
Trứng giun T suis có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên
trong ít có những thay đổi Nhân bên trong thường thành một khối chưa phân chia
Theo Skrjabin K I (1979) [35] giun tròn T suis có hình thái cấu tạo như sau:
Con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối
đa là 48,0 mm Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm);
Trang 14phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm) Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1 Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữ phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân dạng móc xích Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân Đuôi con đực vòng xoắn ốc Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48
mm Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai
là 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; chiều rộng
là 0,290 - 0,352 mm
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối
đa 53 mm Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm) Như vậy
tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04 : 1 Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Ngay trước âm
Trang 15hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung
có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm
Trứng của giun T suis có hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích
thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày gồm 2 lớp
Hình 2.1: Giun Trichocephalus suis
a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực
(Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [19]
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18]: Giun T suis có màu trắng
đục Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc; phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực
Trang 16đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài phần cuối của giun Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Hình thể của giun T suis
giống như một sợi tóc màu trắng Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài
20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản
2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis
Vòng đời phát triển của giun T suis diễn ra theo sơ đồ sau:
Hình 2.2: Sơ đồ vòng đời của giun T suis ở lợn
Thời gian hoàn thành vòng đời của giun T suis là 30 - 52 ngày Skrjabin K I (1979) [35] cho biết: Vòng đời của giun T suis không
cần vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi
Trứng có sức gây bệnh
Lợn nuốt
Trang 17trường ngoại cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [30], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5],
tuổi thọ của giun T suis ở lợn từ 4 - 5 tháng Chu kỳ sinh học của giun T suis
gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [7], giun T suis sống được
trong cơ thể lợn 114 ngày
Bonner Stewart T và cs (2000) [34] cho biết: Những ấu trùng này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [19], giun cái đẻ trứng trong ruột già ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: Điều kiện thuận lợi nhất
cho sự phát triển của trứng giun T suis thành trứng cảm nhiễm ở ngoài môi
trường là nhiệt đột từ 18 - 300
C, ẩm độ 80 - 85% sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Sau khi thụ tinh, giun cái
đẻ trứng trong ruột già ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được
nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy loài, nhưng đối với
T suis cần 30 ngày
Trang 182.1.1.4 Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác
động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng giun T suis Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng T suis ở môi trường ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun T suis, đồng thời
là cơ sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun T suis
có hiệu quả
Ở môi trường ngoại cảnh, trứng giun T suis phát triển thuận lợi nhất ở
nhiệt độ từ 18 - 300
C, ẩm độ 80 - 85% Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [23], ở ẩm độ tối đa (gần 100%) nếu ở nhiệt độ 220
C thì trứng phát triển được đến giai đoạn ấu trùng Nhưng cũng có điều kiện ẩm độ như trên mà ở
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], trứng giun giun T suis bị
diệt dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố
ủ tăng lên tới 45o
C sẽ làm hủy trứng giun giun T suis Tuy nhiên, trứng
non có khả năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng
Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ : Ở 30oC cần 17 ngày, ở nhiệt độ thấp hơn, thời gian này kéo dài hơn Ở 10oC trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Nhiệt độ từ 45oC trở lên diệt
được trứng giun T suis
Trang 19Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: Các chất sát trùng như dung dịch NaOH 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% diệt được trứng
giun T suis
2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn
2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], lợn nhà và lợn rừng đều có
khả năng nhiễm giun T suis
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [32], người nhiễm bệnh khi nuốt
phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay trong thức ăn thực vật chưa được nấu chín Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun T suis
trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người Giun đẻ trứng, trứng này được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau khi phát triển và chứa
ấu trùng thì có khả năng gây nhiễm cho lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển
chỉ có 11%, trong khi giun T suis ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86%)
Phan Địch Lân và cs (2005) [19] đã điều tra trên các giống lợn Yorkshire, Landrace nhập nội, lợn lai F1 (ngoại x nội) và giống lợn nội ở vùng đồng bằng (Hà Nội, Hà Tây) cho biết: thành phần các loại giun sán chính ở lợn ngoại, lợn lai và lợn nội khác nhau không nhiều; các loài giun
sán phổ biến ở lợn ngoại và lợn lai cũng là: T suis, A suum, O ransomi…
Bùi Qúy Huy (2006) [8] cho biết, giun T suis ở lợn và giun Trichuris trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học
và kháng nguyên, do đó bệnh giun T suis dễ lây sang người
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống
Lây nhiễm trực tiếp: lợn bệnh bài xuất trứng giun T suis qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống Vì vậy,
Trang 20lợn khỏe dễ dàng bị nhiễm trứng giun T suis Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu
giữa lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một ô chuồng Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ
Lây nhiễm gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác nhân mang mầm bệnh Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây
nhiễm giun T suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô
chuồng khác
Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng
giun theo bụi, mang trứng giun T suis từ chuồng này sang chuồng khác gây
phát tán mầm bệnh
* Tuổi mắc bệnh
Lương Văn Huấn và cs (1990) [7] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun T suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 20,4%
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 21,2%
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 8,5%
Trên 6 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 6,4%
Nguyễn Đăng Khải (1996) [9] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun T suis
ở lợn cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi sau đó giảm dần, ít gây hại đối với lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], bệnh giun T suis ở lợn
phân bố trên toàn thế giới Tại Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm
giun T suis từ 4,3 - 30% (ở lợn từ 2 - 6 tháng tuổi) và 0,56 - 7,8% (ở lợn
trên 6 tháng tuổi)
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: Bệnh giun T suis thường
xảy ra đối với lợn dưới 6 tháng tuổi Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm
giun T suis nhẹ hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng
Trang 21* Vùng mắc bệnh
Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [9], tỷ lệ nhiễm T suis ở 7 vùng
kinh tế như sau:
1 Trung du và miền núi Bắc Bộ
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh giun T suis lây nhiễm
quanh năm, nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu Mùa đông, thời tiết lạnh, ẩm độ thấp, không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng
cảm nhiễm nên tỷ lệ nhiễm giun T suis trong đàn lợn giảm đi
Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) đã mổ khám 89 con lợn ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng
Ngãi, Bình Định, kết quả cho thấy: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis
có sự khác nhau giữa các vùng, trong đó sự khác nhau này có liên quan đến khí hậu giữa các vùng Vùng đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ chiếu nắng 2000 - 2300 giờ /năm) nhiệt độ những tháng nóng
có thể lên tới 38 - 400C nên tỷ lệ nhiễm các loài giun sán nói chung đều
thấp, đặc biệt là các loài giun sán nhiễm trực tiếp như T suis (dẫn theo
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái, 1978) [28]
Trang 22* Phương thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh
hưởng tới khả năng nhiễm giun T suis của lợn
Phạm Văn Lan (1970) mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân tại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài
giun tròn ở lợn nuôi thả rông là 96,5% Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun T suis
ở lợn nuôi nhốt là 30%; lợn nuôi thả rông là 47% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh, 1977) [27]
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: Các cơ sở chăn nuôi có
điều kiện vệ sinh kém, lợn bị nhiễm giun T suis với tỷ lệ cao gây thiệt
Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt là manh
tràng và kết tràng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12]
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: Bệnh giun T suis lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian Trứng giun T suis cảm
nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải
thức ăn, nước uống có lẫn trứng giun Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở
ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng và kết tràng
Trang 23* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian thì bài xuất trứng theo phân ra ngoại cảnh Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có chứa ấu trùng bên trong)
* Cơ chế sinh bệnh
Giun T suis có phần đầu nhỏ, dài, phần này cắm sâu vào niêm mạc
ruột gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ
Trong quá trình sống, giun T suis tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật
trúng độc
Giun T suis lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây nên hiện
tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy (Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 1999) [12]
Ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của lợn, giun T suis còn
gây tác hại nặng nề cho lợn
- Tác động cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], phần đầu của giun cắm sâu vào thành ruột gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ
- Tác động mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5],
giun T suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác
xâm nhập Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn
- Tác động do độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun T suis bài
tiết ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa
2.1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
* Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tùy thuộc vào tuổi con vật
và số lượng giun T suis ký sinh trong cơ thể lợn Ở những lợn trưởng thành
Trang 24không thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng khi kiểm tra phân lợn
mới thấy lợn nhiễm giun T suis
Theo Skrjabin K I (1979) [35], triệu chứng bệnh giun T suis phụ
thuộc vào cường độ cảm nhiễm Khi nhiễm nặng, lợn có biểu hiện da khô,
xù lông, ỉa chảy rồi bị táo bón… Độc tố do T suis tiết ra có tác động gây
bệnh mạnh, làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất
cấu tạo và bị phân hủy
Lợn bị bệnh giun T suis có những biểu hiện lâm sàng giống hội
chứng hồng lỵ Vì vậy, nhiều trường hợp nghi bệnh lỵ điều trị bằng kháng
sinh không khỏi Khi xét nghiệm phân mới phát hiện giun T suis ký sinh
(Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [5]
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], khi lợn nhiễm giun T suis ở cường độ nhẹ thì triệu chứng lâm sàng không rõ Khi nặng thì con vật gầy yếu,
thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật bị kiết lỵ
Nếu gây nhiễm cho lợn với lượng trứng T suis lớn (20.000 - 200.000 trứng), thì
triệu chứng biểu hiện rất nặng: ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết Lợn bị
nhiễm giun T suis mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
Lợn trưởng thành nhiễm giun T suis thường không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổi bị nhiễm giun T suis
xuất hiện các triệu chứng như: ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhầy như dịch mũi, lẫn máu, mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong lưng lên để rặn nhưng phân ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh lỵ Nếu lợn bị bệnh mãn tính thì còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [17]
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không
có nhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước còn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu
bù trừ nước khi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột già
Trang 25do tác động của giun T suis ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước,
dẫn đến tiêu chảy
* Bệnh tích
Theo Rutter J M và cs (1974) [41], khi mổ khám những lợn con bị
bệnh T suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường hợp, thành
ruột già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế bào hoại tử bong ra từ lớp niêm mạc
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [29], xác lợn chết gầy, có nhiều
giun T suis ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu đầu
vào niêm mạc ruột Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm Niêm mạc ruột bị bong ra
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho biết: Giun T suis ký sinh gây
viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết loét và tạo ra nhiều niêm dịch
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], xác lợn chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất là ở manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được, trên niêm mạc ruột có vết loét to
bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng toàn bộ ruột già có giun T suis ký
sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần sùi có thể bị bong tróc từng mảng
2.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn
Việc chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn có thể dựa vào đặc điểm
dịch tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân lợn và kiểm
tra bệnh tích
* Với lợn còn sống
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Trang 26Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc
không có giun T suis ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để nghiên cứu tình hình nhiễm giun T suis ở lợn Nghiên cứu định lượng nhằm xác
định lượng trứng trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những biểu hiện lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông
xù, ỉa chảy, tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các đặc điểm nói trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác
bệnh phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng giun T suis
Theo Phan Lục và cs (2006) [22], có 4 phương pháp xét nghiệm phân:
Nguyên lý chung của phương pháp này là dựa trên sự chênh lệch về
tỷ trọng giữa dung dịch NaCl bão hòa và trứng giun T suis nhẹ hơn ra
khỏi phân Khi đó dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên, ta tìm được trứng
Trang 27tâm với tốc độ 3000 vòng / phút trong thời gian 3 - 5 phút Sau đó, đỏ bỏ lớp nước phía trên và giữ lại cặn trong các ống ly tâm Tiếp theo cho nước muối bão hòa vào các ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hòa đều trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần 2 với tốc độ và thời gian như trên Dùng lồng vòng sắt vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến kính sạch và soi dưới
kính hiển vi tìm trứng giun T suis
dưới kính hiển vi tìm trứng giun T suis
- Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số
trứng giun T suis trong buồng đếm Mc Master nhằm xác định số trứng giun T suis /gam phân
* Với lợn chết: Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết: Đối với
nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán khi con vật chết là chính xác
nhất Việc chẩn đoán bệnh giun T suis được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun T suis Khi phát hiện nhẹ
nhàng lấy giun ra và để chết tự nhiên trong nước sạch, sau đó bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịch Barbagallo gồm 30 ml Formol; 7,5 g NaCl;
nước cất 1000 ml) và ghi nhãn đầy đủ
2.1.2.5 Biện pháp phòng và trị bệnh giun T suis cho lợn
* Biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh giun T suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng đường
tiêu hóa ở lợn nói chung có ý nghĩa quan trọng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả
trong việc phòng bệnh giun T suis cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
Trang 28- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ Không sử dụng các dụng cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đông ấm hè mát
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực
- Thức ăn phải đảm bảo, nước uống sạch sẽ
- Có kế hoạch tẩy giun T suis cho lợn theo định kỳ
- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom hàng ngày và ủ kỹ đúng nơi quy định Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong tự nhiên
Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: lợn rất mẫn cảm với bệnh ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định
kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [20]
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], biện pháp phòng bệnh tổng hợp đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: định kỳ tẩy giun cho lợn Mỗi năm
tẩy mấy lần là tuỳ điều kiện của từng vùng và từng loại lợn
- Diệt căn bệnh bên ngoài: trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là
nguyên nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn Có thể diệt trứng giun bằng
Trang 29cách ủ phân hoặc các biện pháp lý hoá Các loại thuốc hoá học diệt trứng giun có hiệu quả như: creolin, axit cacbonic kiềm tính
Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1986) [4] cho biết: Ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học là cách tốt nhất để tiêu diệt
trứng giun T suis Nhiệt độ môi trường xung quanh có ảnh hưởng trực
tiếp đến nhiệt độ trong hố ủ Trong cùng một hố ủ, về mùa hè có thể duy trì ở nhiệt độ 500
C Nhưng vào mùa đông, nhiệt độ chỉ là 370
C Tuy nhiên, nếu ủ phân kín với lá xanh, rắc vôi, lân thì nhiệt độ trong hố ủ có thể lên tới
500
C, khi đó trứng giun T suis sẽ bị diệt bởi nhiệt độ cao
Phan Lục và cs (2006) [22], Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho
biết: Để phòng bệnh giun T suis phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại,
dụng cụ chăn nuôi Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun, định kỳ tẩy giun Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], để phòng bệnh T suis cần
thực hiện tốt các biện pháp sau:
- Thực hiện vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi
để hạn chế sự phát tán trứng giun; đồng thời sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định kỳ như: Dung dịch NaOH 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% để diệt trứng giun
- Ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng một trong những hóa dược đặc hiệu tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn lứa tuổi 2 - 4 tháng tuổi
- Ủ phân cũng là biện pháp diệt trứng giun có hiệu quả
* Điều trị bệnh giun T suis
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt được những yêu cầu sau:
Trang 30Trước hết phải tiêu diệt được ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ,
rẻ tiền và dễ dùng nhất
Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi đưa vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng tẩy nhiều loài giun tròn
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [6], hiện nay trên thị trường có nhiều
thuốc điều trị bệnh giun T suis và được chia thành các nhóm:
• Các Benzimidazol
Đây là nhóm thuốc quan trọng vì phổ chống ký sinh trùng rộng,
không chỉ tác dụng lên giun trưởng thành mà cả lên trứng và ấu trùng Các
Benzimidazol ức chế quá trình trao đổi chất sản sinh năng lượng của giun thông qua cơ chế: Ức chế enzyme Fumaratreductase, nhằm cản sự hấp thu glucose, đồng thời ức chế sự trùng hợp (polymerization) tại các vi mao quản trong hệ thống trao đổi chất của giun Quá trình tác động của thuốc xảy ra chậm, do đó điều kiện cơ bản để đạt hiệu lực cao là thuốc phải duy
trì sự gắn kết trong thời gian dài với giun T suis
Trang 31• Các Macrolid
Là những thuốc có vòng Lacton lớn Đáng chú ý là các Ivermectin và các Milbemycin Thuốc có tác dụng tẩy giun T suis và các giun tròn đường
tiêu hóa khác ở lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], có thể dùng một trong các
hóa dược sau để tẩy giun T suis cho lợn
Mebenvet: Dùng liều 50 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần Fenbendazol: Liều 30 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15 ngày Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn Febentel: Liều 20 mg /kg TT, thuốc dùng dạng uống
Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg /kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần, cách nhau 1 - 2 ngày
Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [21], cho biết: Levamisol tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay
pha nước uống có phổ tác dụng rộng với giun T suis Ngoài ra,
fenbendazol tên thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong 3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh
đối với giun T suis
Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1] cho biết: hiện này trên thị
trường có nhiều thuốc điều trị bệnh giun T suis Tuy nhiên, tác giả khuyên nên dùng một trong các hóa dược sau đây để tẩy giun T suis cho lợn:
- Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT
- Mebendazol: Liều 0,5 mg /kg TT
- Ivermectin: Liều 0,3 mg /kg TT
Trong thời gian điều trị cần chăm sóc, nuôi dưỡng tốt
Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [25] cho biết: Có thể dùng Tayzu
để tẩy giun T suis cho lợn với liều 4g /30 - 40 kg TT, trộn vào thức ăn hoặc
dùng Levasol 7,5% tiêm dưới da với liều 1ml /10 kg TT
Trang 32Để tẩy giun T suis có hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy ho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [20]
• Các Imidazothiazol
Các thuốc nhóm này tan trong nước, phổ chống giun tròn rộng Tác dụng chống ký sinh trùng nhanh hơn so với các benzymidazol
Thuốc có tác dụng kích thích hạch, gây co cơ nhanh và kéo dài Ở
liều cao gây ức chế hệ enzym Fumaratreductase của giun T suis Trong ruột, levamisol tác dụng với cả giun trưởng thành và dạng ấu trùng của
giun Ngoài ra, thuốc còn kích thích hệ thống miễn dịch của lợn
Liều lượng: Tetramisol 12 mg /kg TT
Levamisol 5 mg /kg TT
• Các Piperazin
Piperazin base tan tốt trong nước nhưng tác dụng chống giun T suis
kém ổn định
Thuốc gây cực hóa (Hyperpolarisation), xóa điện thế tự động của
thần kinh - cơ, nên làm mềm toàn bộ cơ thể giun T suis Những giun T suis bị
liệt sẽ bị nhu động ruột đẩy ra ngoài theo phân Do tác dụng của piperazin,
sự thấm ion qua màng tế bào bị giảm, đáp ứng với Acetylcholin của hệ thần
kinh giun T suis cũng giảm, cơ giun giảm tạo Succinat (do cơ giun liệt,
không cần nhiều năng lượng nên cũng không cần nhiều Succinat)
Trang 33Bản thân sự thiếu năng lượng này làm cho giun tê liệt nặng hơn Tuy nhiên, quá trình liệt này có hồi phục
Liều lượng Piperazin Adipat: 200 - 400 mg /kg TT
Các muối của Piperazin ổn định hơn Do đó sử dụng các muối Citrat, Phosphat và Adipat Trong 3 muối này, muối Citrat tan tốt trong nước nhưng vị đắng Muối Phosphat và Adipat tan ít hơn và ít vị đắng hơn
(Phạm Khắc Hiếu, 2009) [6]
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [26], tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn
từ 2 - 6 tháng tuổi là 4,3 - 30%; lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8% Tỷ
lệ nhiễm thấp nhất trong những điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và ăn đủ (2,5%), điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng cao (23%)
Phạm Văn Khuê (1982) [10] cho biết, tỷ lệ nhiễm T suis ở lợn
của một số tỉnh phía Bắc: Nghĩa Lộ nhiễm 40,3%; Quảng Ninh 33,7%; Bắc Giang; Bắc Ninh 27,3%; Thanh Hoá 12,5%; Hưng Yên 15,1%; Nam Định; Hà Nam 33,3%; Hà Tĩnh 19,4%; cường độ nhiễm cao, có
trường hợp thấy 1219 giun T suis ký sinh ở ruột già của một lợn
Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1990) [7] cho biết:
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lợn nhiễm T suis với tỷ lệ 14%;
Quảng Nam - Đà Nẵng 8,75%; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5%; Phú Yên, Khánh Hoà 8,3%; Lâm Đồng 10%; Đồng Nai 26,3%; Bình Dương, Bình Phước 10%; Tây Ninh 8,6%; thành phố Hồ Chí Minh 39,0%; Long An 11%; Tiền Giang 2%; Cần Thơ, Sóc Trăng 8,69 - 30%
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [19], điều tra qua mổ khám lợn
ở 7 tỉnh miền Bắc và miền Trung, kết qủa như sau: Tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 13 - 43% với cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con/lợn
Tỷ lệ nhiễm giun T suis từ 12,5 - 40,3%
Trang 34Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [13] khi nghiên cứu T suis và
các loại ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn
nuôi ở Thái Nguyên nhiễm T suis, Oesophagostomum sp và Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm T suis 23,01%; Oesophagostomum 20,86%; Fasciolopsis buski 18,71%; tỷ lệ nhiễm
tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01%; 23,85% và 16,95%, mức độ nhiễm
T suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn bình thường
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho rằng, giun T suis phát triển
vòng đời không cần vật chủ trung gian Thời gian hoàn thành vòng đời là
30 ngày Theo Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [20], ở trong đất ẩm và nhiệt độ 15 - 370
C trứng giun T suis phát triển thành trứng cảm nhiễm
sau 2 - 4 tuần
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [14], giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa Lợn sau cai sữa tại Thái Nguyên mắc tiêu chảy là 11,81% Ở lợn bình thường và lợn
bị tiêu chảy đều nhiễm các loại Ascaris suum, Oeesophagostomum sp., Strongyloides, Fasciolopsis buski và Trichocephalus suis, nhưng lợn tiêu
chảy nhiễm cường độ nặng hơn
Tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [15] đã xác định
được đặc điểm bệnh lý lâm sàng của lợn bị bệnh giun tóc T suis qua gây nhiễm giun tóc T suis cho 5 lợn 30 ngày tuổi khỏe mạnh và có đối chứng
để so sánh
Sử dụng Tetramisol để tẩy giun T suis cho lợn có hiệu quả cao và
an toàn Thuốc hầu như không thấm qua đường tiêu hóa, bài tiết nhiều qua phân, ít thấm vào sữa; thuốc dung nạp tốt đối với gia súc có chuẩn
và gia súc non, không gây ảnh hưởng cảm quan đối với thịt (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [17]
Trang 352.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Hale O M và cs (1979) [37], T suis thuộc lớp giun tròn được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới Kết quả nghiên cứu của Powers (1959)
cho biết: có từ 30,9% đến 85% lợn ở các lứa tuổi khác nhau ở vùng
Wisconsin bị nhiễm T suis (dẫn theo Hale O M và cs, 1979) [37]
Johanes Kaufmann (1996) [40] cho biết: Ivermectin với liều 300 mg/kg TT cho hiệu quả tốt trong 1 - 2 tuần Tuy nhiên, cần chú ý tới lượng sữa của lợn mẹ khi sử dụng thuốc tẩy
Theo Bowman D.D (1999) [36], biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống nhất: Phenothiazin là một trong những thuốc ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và có tác dụng tẩy cả giun non nên được khuyến cáo dùng mang tính chất phòng bệnh
Mejer H và cs (2001) [42] cho biết: Ngoài Ascaris suum thì Oesophagostomum và T suis cũng rất phổ biến ở lợn tại Đan Mạch Oesophagostomum và T suis ký sinh ở ruột già (manh tràng) nhưng những tác động bệnh lý do chúng gây ra là rất đáng kể T suis nhiễm ở mức nặng
ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể gây chết nhiều lợn con
Pedersen S và cs (2001) [43] đã nghiên cứu ảnh hưởng của giun T suis
và A suum ký sinh đến sự thiếu sắt của cơ thể lợn Sáu mươi hai lợn ở 10
tuần tuổi được chia làm 2 lô: Lô 1 gây nhiễm đồng thời 4500 trứng giun
T suis và 1200 trứng giun A suum Lô 2: Đối chứng Khẩu phần ăn của lợn ở 2 lô là như nhau Kết quả cho thấy, giun T suis và A suum ký sinh
đã làm cho cơ thể lợn thiếu sắt, ngoài ra số lượng hồng cầu trong máu của những lợn này giảm thấp
Helene Kringel và cs (2006) [38] đã làm thí nghiệm sau:
Lô thí nghiệm: Gây nhiễm 40 lợn với 5000 trứng giun T suis /lợn