1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

NGHIỆP vụ NGÂN HÀNG THƯƠNG mại rủi RO tín DỤNG

7 310 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 177,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng Rủi ro là khả năng xảy ra sự kiện ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng.. Rủi ro tín dụng là khả năng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN

***

NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

RỦI RO TÍN DỤNG

Giảng viên: Hoàng Thiên Trang

Nhóm 1:

Nguyễn Văn Long Phan Kiều Oanh Nguyễn Khắc Viên Nguyễn Phương Trang

Vũ Thị Chang

Vũ Thị Hiệp

Phạm Thùy Chinh Nguyễn Thị Mười Nguyễn Hồng Hạnh Phạm Thị Phượng Nguyễn Thị Ban

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu trong hoạt động của các ngân hàng, tín dụng là nghiệp vụ đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nên tác động của rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, các ngân hàng cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điêu đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi

ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lí kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác Vì vậy quản trị rủi ro tín dụng là rất cần thiết trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

1.Đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng

Ngân hàng trương mại là kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế, làm trung gian giữa người có vốn nhàn rỗi và người thiếu vốn để phát triển sản xuất kinh doanh

Hoạt động của ngân hàng thương mại có tính nhạy cảm cao và luôn chịu

sự giám sát chặt chẽ của pháp luật

Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mang tính chất tương đồng , dễ bắt chước và gắn liền với yếu tố thời gian

Khách hàng của ngân hàng rất đông đảo và đa dạng

Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản rất thấp

2.Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng

Rủi ro là khả năng xảy ra sự kiện ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản vay, hoặc là việc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như: hoạt động bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính,…

3.Phân loại rủi ro tín dụng

*Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro

• Rủi ro giao dịch: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ

Trang 3

• Rủi ro danh mục: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

*Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng

• Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): là rủi ro xảy

ra khi đến thời hạn hoàn trả nợ vay mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn

• Rủi ro không có khả năng trả nợ (rủi ro mất vốn): là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả Do vậy ngân hàng phải thanh lí tài sản của khách hàng để thu nợ

3.Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

*Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng

Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỉ lệ an toàn Đồng thời cán bộ Ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng

Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn nên việc đánh giá các dự

án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay

Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng

Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuân cao hơn những khoản vay lành mạnh

Do áp lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác

Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ Ngân hàng

*Nguyên nhân từ phía khác hàng

Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động

có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho ngân hàng

Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế, doanh nghiệp vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản lưu động và cố định

Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm, dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu

sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng

Do bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của ngân hàng, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân

*Nguyên nhân khác

Trang 4

Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định, khiến cho cả ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp

Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng

Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng

Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như ngân hàng

Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước dành cho các ngân hàng khác nhau, chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước

4.Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

*Chỉ tiêu phản ánh dư nợ

Tỉ lệ dư nợ = Dư nợ ngắn hạn (trung dài hạn) / Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ

* Chỉ tiêu phản ánh nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / tổng dư nợ

*Chỉ tiêu lãi treo

Là khoản lãi tính trên nợ quá hạn mà ngân hàng chưa thu được

* Nhóm chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng

Tỷ lệ lợi nhuận từ TD = Lãi từ HĐTD / Tổng lợi nhuận

Tỷ lệ sinh lời của TD = Lãi từ TD / Tổng dư nợ BQ

HS sử dụng vốn (H1) =Tổng dư nợ cho vay / Tổng nguồn vốn huy động

HS sử dụng vốn(H2) = Tổng dư nợ cho vay / Tổng tài sản có

Tỷ lệ trích lập DPRR tín dụng = DPRR tín dụng trích lập / Dư nợ BQ

Tỷ lệ xóa nợ = Nợ đc xóa / Dư nợ BQ

Trang 5

* Nhóm chỉ tiêu phân tán rủi ro

Giới hạn cho vay tối đa đối với một khách hàng theo quy định của PL Phân tán rủi ro theo ngành kinh tế

Phân tán rủi ro theo khu vực địa lý

5.Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng

*Đối với hoạt động của ngân hàng

Rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng, khi có một khoản nợ được coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút ngay, một phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, một phần do các chi phí quản lý, giám sát phát sinh

Khi các khoản nợ quá hạn chuyển thành khó thu hoặc không thu được thì việc xử lý tài sản đảm bảo luôn gặp khó khăn về pháp lý và định giá nên trường hợp ngân hàng có thể thu hồi được nợ khi phát mại tài sản là rất khó xảy ra

Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Khi đó ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao Nếu tình trạng này kéo dài với việc hàng loạt người gửi tiền đến rút tiền, ngân hàng sẽ buộc phải đóng cửa và tuyên bố phá sản

Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau,

uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm trọng Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn

và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác

*Đối với nền kinh tế

Hoạt động của ngân hàng mạng tính xã hội hóa cao vì nó liên quan đến nhiều ngành nghề và nhiều thành phần khác nhau trong nền kinh tế Do vậy khi một ngân hàng bị phá sản nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại trong xã hội, trước tiên là các ngân hàng khác, bởi có quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động nên một ngân hàng sụp đổ có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng còn lại Ngoài ra việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn

do thiếu vốn, người gửi tiền không lấy lại tiền được Những hậu quả này còn giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, những như hiệu lực của các chính sách tiền tệ của Chính phủ Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng không những là vấn đề sống còn với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội

6.Quản trị rủi ro tín dụng

Trong mọi hoạt động kinh doanh đều chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra cơ hội đầu tư và kinh doanh

Trang 6

mới Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như các hoạt động kinh doanh khác không tránh khỏi những rủi ro Do đó quản lý rủi ro là một yêu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng Để quản lý rủi ro có hiệu quả ngân hàng cần sử dụng một cách linh hoạt các biện pháp quản trị rủi ro,

để đạt được những mục tiêu của ngân hàng cũng như hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Các biện pháp quản trị rủi ro như sau:

*Sàng lọc, lựa chọn, giám sát khách hàng

Đánh giá tình hình tài chính, khả năng thanh toán, năng lực pháp lí, mục đích sử dụng vốn vay, tính khả thi của dự án đầu tư,… của khách hàng vay vốn Quản lý và giám sát việc doanh nghiệp sử dụng vốn Nếu có dấu hiệu doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích thì ngưng việc giải ngân, đề nghị doanh nghiệp giải trình và yêu cầu thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng giải ngân

*Cho vay đồng tài trợ

Trên thực tế, có những doanh nghiệp có những nhu cầu vay vốn rất lớn

mà một ngân hàng không thể đáp ứng được, đó thường là nhu cầu đầu tư cho các

dự án lớn và khó xác định mức độ rủi ro có thể xảy ra Trong trường hợp này, các ngân hàng cùng nhau liên kết để thẩm định dự án, cho vay và chia sẻ rủi ro, đám bảo quyền lợi và nghĩa vụ mỗi bên

*Bảo hiểm tín dụng

Bảo hiểm tín dụng gồm một số loại hình như sau:

• Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm tín dụng Khi

mà khách hàng rơi vào tình trạng thất nghiệp, phá sản… không có khả năng trả nợ vay ngân hàng thì công ty bảo hiểm sẽ trả thay cho khách hàng

• Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp và sẽ được bồi thường thiệt hại nếu gặp rủi ro mất vốn tín dụng

• Bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay

Ưu điểm của biện pháp sử dụng bảo hiểm tín dụng là khi rủi ro tín dụng xảy ra thì nó có thể khắc phục một cách tốt nhất hậu quả của rủi ro đó Ttuy nhiên, nhược điểm của biện pháp này là do phải đóng một khoản phí bảo hiểm trước mắt trong khi đó nhiều người lại có xu hướng coi trọng lợi ích trước mắt hơn lợi ích lâu dài, thêm vào đó, ngành bảo hiểm nước ta cũng chưa thực sự phát triển đạt đến mức độ tạo dựng được niềm tin cho khách hàng nên nhiều khách hàng cũng như ngân hàng không mấy hứng thú trong việc mua và sử dụng bảo hiểm tín dụng

*Đa dạng hóa danh mục đầu tư tín dụng

Đây là biện pháp tốt nhất, chủ động nhất trong việc phân tán rủi ro tín dụng Ngân hàng nên chia nguồn tiền của mình vào nhiều loại hình đầu tư tín dụng, nhiều ngành nghề khác nhau cũng như nhiều khách hàng ở những địa bàn khác nhau Điều này vừa mở rộng được phạm vi hoạt động tín dụng của ngân hàng, khuếch trương thanh thế, vừa đạt được mục đích phân tán rủi ro Đây

Trang 7

chính là việc thực hiện nguyên tắc kinh điển trong kinh doanh “Không bỏ trứng

vào cùng một giỏ”.

*Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của ngân hàng không thực hiện nhgiax vụ theo cam kết vay Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng Dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và

dự phòng chung

*Xây dựng quy trình quản lí rủi ro tín dụng phù hợp

Xây dựng và hoàn thiện chiến lược quản trị rủi ro, thành lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro độc lập với bộ phận kinh doanh Áp dụng các công cụ đo lường rủi ro, phát hiện sớm các dấu hiệu, nhận biết chính xác nguyên nhân và đưa ra giải pháp kịp thời, hữu hiệu

END.

Ngày đăng: 04/06/2016, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w