Năm 2013 lànăm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng di tích lịch sử văn hóa và lễ hộiđền Nghè được đề cử là một trong những điểm đến tâm linh của du khách để quảng bá hình ảnh của các tỉ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1 Lí do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Error! Bookmark not defined.
4 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined.
7 Những đóng góp khoa học mới của đề tài Error! Bookmark not defined.
8 Bố cục đề tài Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: DI TÍCH ĐỀN NGHÈ Error! Bookmark not defined 1.1 Vị trí địa lý, lịch sử hình thành Error! Bookmark not defined 1.2 Các công trình kiến trúc, trang trí của đền Nghè Error! Bookmark not defined TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: LỄ HỘI ĐỀN NGHÈ Error! Bookmark not defined 2.1 Thần tích Thánh Mẫu Lê Chân Error! Bookmark not defined 2.2.Lễ hội đền Nghè Error! Bookmark not defined 2.2.1 Lễ Thánh đản Error! Bookmark not defined 2.2.2 Lễ mừng thắng trận (Lễ Khánh hạ) Error! Bookmark not defined TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Error! Bookmark not defined 3.1 Những giá trị văn hóa của lễ hội đền Nghè Error! Bookmark not defined 3.1.1 Giá trị lịch sử Error! Bookmark not defined 3.1.2 Giá trị văn hoá cố kết cộng đồng Error! Bookmark not defined 3.1.3 Giá trị văn hóa uống nước nhớ nguồn Error! Bookmark not defined 3.1.4 Giá trị văn hóa cân bằng đời sống tâm lý Error! Bookmark not defined 3.1.5 Giá trị bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Error! Bookmark not defined.
3.1.6 Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Error! Bookmark not defined.
3.2 Một số biện pháp nhằm giáo dục nhân cách cho học sinh các trường tiểu học trên
địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thông qua lễ hội đền Nghè Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Thực trạng của việc giáo dục nhân cách cho học sinh các trường tiểu học trên
địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng Error! Bookmark not defined.
3.2.3 Một số biện pháp giáo dục nhân cách cho học sinh các trường tiểu học trên
địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng Error! Bookmark not defined TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
Trang 2PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong văn hóa cổ truyền của dân tộc, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làtín ngưỡng khá phổ biến ở các làng xã người Việt Thờ Thành Hoàng làng làtín ngưỡng chính của cộng đồng làng Xuất xứ Thành Hoàng làng có nhiềunguồn gốc khác nhau: Thiên thần, Nhiên thần, Nhân thần Thần Thành hoàng
dù có hay không có họ tên, lai lịch và dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thìcũng là chủ thể trên cõi thiêng của làng và đều mang tính chất chung là hộquốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó Vì vậy, thần Thànhhoàng đã trở thành một biểu tượng tâm linh; bởi theo nhân dân, chỉ có thầnmới có thể giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt; giúp cho cuộcsống của họ ngày một thêm ổn định, thịnh vượng
Trong số các đấng thần linh được nhiều dân tộc thờ làm Thành hoànglàng thì có rất nhiều các vị có gốc xuất phát là anh hùng dân tộc như: LýThường Kiệt, Trần Hưng Đạo,…Việc thờ các anh hùng dân tộc đã có ảnhhưởng và mang lại nhiều giá trị về mặt văn hóa, lịch sử Trong lịch sử đấutranh dựng nước và giữ nước bên cạnh những trang hào kiệt, đến nhi đồng,
nữ nhi cũng trở thành anh hùng Khi Tổ quốc bị xâm lăng, họ là ngon cờquy tụ toàn dân đứng lên đánh đuổi quân thù bảo vệ nền độc lập, tự chủ củadân tộc Nữ tướng Lê Chân là một trong những anh hùng như vậy Trongtâm thức người dân Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân là hiện thân của thánhmẫu Liễu Hạnh, là con của Ngọc hoàng thượng đế giáng trần Bà không chỉ
có công giúp vua Trưng Trắc chống quân Hán xâm lược mà còn là người
đã chiêu mộ dân cư khai phá đất hoang, lập nên trang An Biên - tiền thâncủa nội thành Hải Phòng ngày nay và trấn giữ, bảo vệ vùng duyên hải HảiPhòng Vậy nên Lê Chân còn được suy tôn là thành Hoàng bản địa của HảiPhòng và được nhân dân muôn đời thờ cúng Trong rất nhiều di tích lịch sử
Trang 3văn hóa tưởng niệm Nữ tướng Lê Chân thì đền Nghè có được sự khangtrang, bề thế như ngày hôm nay chính là kết tinh của truyền thống uốngnước nhớ nguồn, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tíchlịch sử cấp quốc gia và cấp kinh phí trùng tu với quy mô lớn Năm 2013 lànăm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng di tích lịch sử văn hóa và lễ hộiđền Nghè được đề cử là một trong những điểm đến tâm linh của du khách
để quảng bá hình ảnh của các tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sôngHồng đặc biệt là Hải Phòng – thành phố đăng cai Ngoài ra, lễ hội Nữtướng Lê Chân sau 5 năm tổ chức thành công trên địa bàn quận Lê Chân,
đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phivật thể cấp quốc gia vào ngày 10/03/2016
Vì vậy, di tích và lễ hội đền Nghè đóng một vai trò rất quan trọng trongđời sống văn hóa của người dân Hải Phòng
Ngoài ra, việc giáo dục đạo đức cho học sinh bằng cách đưa loại hình
di sản văn hóa phi vật thể - di tích và lễ hội đền Nghè vào giới thiệu, giảngdạy trong nhà trường là một trong những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huygiá trị di sản văn hóa thường được các nhà quản lý văn hóa đề cập đến trongnhiều năm qua Việc đưa di sản văn hóa vào giảng dạy trong nhà trường cũng
là cách để các em học sinh biết quý trọng và bảo vệ di sản, phát huy giá trịcủa di sản, tạo ra nguồn lực cho địa phương Đó là việc làm rất cần thiết đểgiáo dục đạo đức về đạo lý “đền ơn đáp nghĩa” cho thế hệ trẻ trong đó có họcsinh ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một trong những ngôi đền lớn ở Hải Phòng, có lịch sử lâu đời, lễ hộiđền Nghè là một đối tượng nghiên cứu khoa học không phải là mới lạ Vớinhững nghiên cứu trước đây về đền Nghè, các tác giả chủ yếu tập trung vàoviệc tìm hiểu những quy trình tổ chức lễ hội, ý nghĩa tâm linh của lễ hôi, vai
Trang 4trò của Nữ tướng Lê Chân đối với người dân Hải Phòng hay Lễ hội đền Nghètrong việc phát triển du lịch ở Hải Phòng, … Một số ấn phẩm điển hình sau:
Cuốn “Hồn sử Việt – Các truyền thuyết, giai thoại nổi tiếng” của tácgiả Trần Quốc Quân – NXB Lao Động đã nhắc tới Lê Chân là một nữ tướngmiền biển của Hai Bà Trưng và đền Nghè là nơi thờ nữ tướng
Cuốn “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” của tác giả Ngô Đăng Lợi – TrịnhMinh Hiên – NXB Hải Phòng cũng đề cập tới Nữ tướng Lê Chân
Luận văn tốt nghiệp “Tìm hiểu và khai thác giá trị lịch sử - văn hóamột số di tích thờ Nữ tướng Lê Chân góp phần phát triển du lịch nhân vănHải Phòng” của tác giả Nguyễn Bảo Ngọc – lưu tại Thư viện trung tâm Đạihọc Hải Phòng đã đề cập tới giá trị lịch sử văn hóa của một số di tích thờ
Nữ tướng Lê Chân tại Hải Phòng, trong đó có đền Nghè Từ đó nêu ra một
số đề xuất trong việc bảo trọng giá trị của di tích, góp phần phát triển dulịch nhân văn của thành phố Hải Phòng
Ngoài ra, một số trang thông tin mạng cũng ít nhiều đề cập tới tiểu sử,
sự nghiệp của Nữ tướng Lê Chân và giới thiệu khái quát về đền Nghè
Tuy nhiên, các công trình và bài viết trên vẫn chưa từng nghiên cứu vềcách giáo dục để giúp các em học sinh tiểu học có cái nhìn sâu sắc hơn về giátrị văn hóa của đền Nghè Vì vậy đề tài tìm hiểu về “Lễ hội đền Nghè với việcgiáo dục nhân cách cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận LêChân, thành phố Hải Phòng” là một đề tài mới mẻ và đóng vai trò quan trọngvới việc giáo dục những giá trị tốt đẹp của đền Nghè đến học sinh các trườngtiểu học trên địa bàn quận trong thời điểm hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu khoa học hướng tới việc giáo dụcnhân cách cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân thôngqua giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của lễ hội đền Nghè
Trang 5- Nhiệm vụ nghiên cứu là giải quyết các vấn đề sau:
+ Tìm hiểu nghiên cứu về truyền thống văn hóa – lịch sử của thành phố HảiPhòng và đền Nghè
+ Tìm hiểu nghiên cứu về lễ hội hàng năm của đền Nghè, nghiên cứu và làm
rõ giá trị văn hóa của lễ hội đền Nghè
+ Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh cáctrường tiểu học trên địa bàn quận về những giá trị văn hóa, lịch sử của di tíchlịch sử đền Nghè
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Di tích và lễ hội đền Nghè với việc giáo dục chohọc sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian văn hóa, xã hội, phong tục, tập quánlối sống của người dân thuộc phường An Biên, quận Lê Chân; hoạt động họctập và sinh hoạt của học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập thông tin từ tạp chí,tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ và thông tin đại chúng có liên quan đến nộidung nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, đánh giá
- Phương pháp điền dã: quan sát, ghi chép, chụp ảnh, ghi hình, phỏngvấn, sưu tầm trên các phương tiện truyền thông
6 Giả thuyết khoa học
- Nếu chúng ta đưa vào giảng dạy các nội dung về di sản văn hóa, ditích lịch sử hay tổ chức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận
Lê Chân tham quan tại đền Nghè thì sẽ giúp cho quá trình học tập của họcsinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc
Trang 6hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, nhân cách vàđạo đức cho học sinh
7 Những đóng góp khoa học mới của đề tài
- Tìm hiểu về những giá trị văn hóa, giá trị lịch sử, từ đó xây dựngđược hệ thống tài liệu khoa học về quá trình gìn giữ, phát huy những giátrị văn hóa tốt đẹp của đền Nghè Đây có thể là những cứ liệu khoa học,tham khảo trong những công trình nghiên cứu lớn hơn hoặc rộng hơnquy mô đề tài nghiên cứu này
- Đưa ra những ảnh hưởng của các giá trị văn hóa với việc giáo dụcnhân cách cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân,thành phố Hải Phòng Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm giúp các em họcsinh tiểu học trên địa bàn quận đến gần hơn với các giá trị văn hóa, giá trịlịch sử của đền Nghè
Trang 7CHƯƠNG 1: DI TÍCH ĐỀN NGHÈ 1.1 Vị trí địa lý, lịch sử hình thành
Lê Chân là một quận nội thành của Hải Phòng với vị trí tiếp giápquận Ngô Quyền và một phần quận Dương Kinh ở phía Đông; Quận Kiến
An, huyện An Hải ở phía Tây; quận Dương Kinh ở phía Nam và QuậnHồng Bàng ở phía Bắc Là quận duy nhất của thành phố Hải Phòng không
có "ruộng", cũng chẳng có "trâu", diện tích đất tự nhiên nhỏ lại không cócác trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn, song Quận Lê Chân lại là nơitập trung nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Thếmạnh ấy chính là động lực giúp Lê Chân vượt qua mọi khó khăn và pháttriển mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân luôn ở mức hai con
số trong nhiều năm qua (25 - 31%/năm) Diện tích tự nhiên: 12 km2
Quận Lê Chân vốn nổi tiếng là mảnh đất anh hùng với tinh thần quậtkhởi, ý chí đấu tranh anh dũng, kiên cường Trong lịch sử hình thành, pháttriển, người dân Lê Chân luôn sát cánh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp giảiphóng và bảo vệ Tổ quốc
Cũng chính trong các cuộc đấu tranh đó đã xuất hiện nhiều người con
ưu tú, là niềm tự hào của người dân quận Lê Chân nói riêng, của dân tộc ViệtNam nói chung, đồng thời cũng là người mở đầu cho truyền thống đánh giặcngoại xâm của Hải Phòng và người dân quận Lê Chân Đó là nữ tướng LêChân chống quân đô hộ nhà Hán (40 - 43) Noi gương nữ anh hùng dân tộc
Lê Chân, trong suốt những thế kỷ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, người dân
Lê Chân, Hải Phòng luôn có mặt trong các cuộc nổi dậy của Lý Bí (năm 542),Mai Thúc Loan (năm 722) Đặc biệt, năm 938, trong cuộc kháng chiến chốngquân Nam Hán, nhân dân các làng An Biên, Niệm Nghĩa, An Dương, HàngKênh, Dư Hàng đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của cho trậntuyến của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng
Trang 8Bên cạnh đó, quận Lê Chân cũng là mảnh đất giàu truyền thống vănhoá Nét đẹp văn hoá ấy đã được ghi chép, phản ánh qua nhiều văn bia, ditích còn lại đến ngày nay Ở phường Niệm Nghĩa hiện còn lưu giữ bia Vănhội bi kí (tạo năm 1782), ghi chép việc đóng góp xây dựng Văn Từ - mộttrong những nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, ở Dư Hàng có bia ghi chép
về Hội Tư Văn Lê Chân cũng là quê hương của nhiều tiến sỹ, nhiều ngườihọc hành đỗ đạt (Hiện nay, ở Hàng Kênh lưu lại bia ghi tên tuổi nhữngngười đỗ đạt từ năm 1460 - 1693) Đặc biệt, ông Ngô Kim Húc đỗ tiến sỹnăm 1478, làm quan đến chức Đô đốc sự trung khoa lại và Đỗ Bảo Chân,
đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sỹ, xuất thân lúc 38 tuổi là những tấm gươngđược nhân dân coi trọng và lưu truyền trong hậu thế
Năm 1872, thực dân Pháp đánh chiếm vùng đất ven sông Cấm, cuộcphản kháng của nhân dân ta nổ ra liên tục Năm 1885, nhân dân Lê Chân ủng
hộ cuộc đấu tranh của phu đào kênh Bonnan (Sông Lấp - hồ Tam Bạc) Traitráng vùng đất Lê Chân đều tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa do Mạc ĐìnhPhúc lãnh đạo và hàng loạt những cuộc đấu tranh khác nhằm chống lại âmmưu xâm lược của kẻ thù
Trải qua những năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ,người dân trên đất Lê Chân đã xác lập những giá trị tinh thần, truyền thốngyêu nước, yêu lao động và tích cực chống ngoại xâm Tinh thần đó, truyềnthống đó vẫn còn được tiếp tục phát huy mạnh mẽ đến nhiều thế hệ sau này
Trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, cho dù còn nhiều khókhăn, thử thách nhưng truyền thống hào hùng ấy luôn là niềm cổ vũ, khích lệ,
là kim chỉ nam hoạt động của người dân Lê Chân Họ vẫn lao động và làmviệc ngày một nỗ lực hơn để xây dựng mảnh đất Lê Chân ngày càng giàu đẹp
Tại Hải Phòng, đền Nghè nằm trên góc phố giao nhau giữa phố MêLinh và Lê Chân (cách tượng đài nữ tướng Lê Chân ở vườn hoa Trung tâmTriển lãm thành phố hơn 100 m) thuộc phường An Biên, quận Lê Chân, thành
Trang 9phố Hải Phòng Đền Nghè là di tích lịch sử văn hóa thờ nữ tướng Lê Chân –
vị tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thế kỷ 1 (40 – 43), đã đếnvùng đất ngã ba sông Tam Bạc, sông Cấm, lập ấp Vẻn, sau đổi là An BiênTrang, tiền thân của thành phố Hải Phòng sau này
Đền Nghè mặt quay hướng đông, cùng phía với tượng đồng nữ tướng
Lê Chân cao 7,5 mét, cầm kiếm oai nghi, mắt dõi ra biển như ngày đêm canhgiữ vùng cửa biển phía đông tổ quốc
Đền Nghè ban đầu là một miếu nhỏ nằm trên bãi soi, nơi ngã ba sông TamBạc gặp sông Cấm, cũng là nơi đầu tiên khi Lê Thánh Công chúa từ làng quêcủa mình đặt chân đến vùng đất ven biển Tương truyền rằng: Bà sống khôn chếtthiêng, khi Bà gieo mình xuống sông thì hóa đá trôi trên mặt sông Kinh Thầy
Từ đoạn sông vùng Đông Triều quê cũ của Bà đến bến Đá (nay là Bến Bính) thìbập bồng xoay tròn trên mặt nước Nhân dân làng An Biên biết bà đã hiển thánh,liền rủ nhau mang đòn, chão ra sông vớt và khiêng đá thiêng về Khiêng đến khuvực đền Nghè hiện nay thì trời bỗng nổi cơn giông gió, chão đứt Dân làng bènchọn khu đá rơi ấy để dựng đền thờ Bà Năm 1919, đền được xây dựng khangtrang gồm 2 nhà chính – Tiền tế và Hậu cung (năm 1919 xây dựng Hậu cunggồm 3 gian, năm 1926 đền lại xây thêm tòa Tiền Tế 5 gian)
Đền Nghè hiện nay được tu bổ, tôn giáo thành một công trình mangphong cách kiến trúc thời Nguyễn đầy thế kỷ 20 Trải qua thời gian, chiếntranh, dich tích bị xuống cấp nghiêm trọng Đến năm 2007 – 2009, đềnNghè đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đầu tư cấp kinh phí tu bổ,tôn tạo như hiện nay, bao gồm: tam quan, tòa bái đường, thiên hương, hậucung, giải cũ, nhà bia, nơi đặt tượng voi đá, ngựa đá Phía sau làm thêm tòa
tứ phủ Tòa bái đường gồm 5 gian được nâng đỡ bởi 16 cột gỗ lim, kê trên
16 viên đá tảng đục đẽo công phu, tỉ mỉ Chính giữa nóc nhà bái đường đắpnổi hàng chữ Hán lớn “An Biên cổ miếu” Sau khi tu bổ, tôn tạo những nét
Trang 10đẹp của đền được gìn giữ với diện mạo khang trang đáp ứng nhu cầu thămviếng của nhân dân và du khách thập phương.
Đền Nghè đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích cấp quốc gia vào ngày
21 tháng 02 năm 1975, nhận Bằng công nhận Di sản phi vật thể cấp quốc giavào ngày 06 tháng 05 năm 2016
1.2 Các công trình kiến trúc, trang trí của đền Nghè.
Là một trong những di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng của thànhphố Hải Phòng đền Nghè thờ hai hạng mục chính đó là đền thờ Nữ tướng LêChân và phủ thờ Mẫu
Đền là một công trình mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, đầu thế
kỉ 20 với nghi môn, tòa bái đường, thiêu hương, hậu cung, giải vũ, nhà bia,nơi đặt voi đá, ngựa đá
Nghi môn Đền Nghè có kiểu cửa phương thành, đây là kiến trúc phổbiến thế kỷ 19, một sự kết hợp giữa kiến trúc cổ làng truyền thống người Việt
và phong cách kiến trúc phương Tây “vô – băng” Nghi môn Đền Nghè gồm
3 cửa vào: Cửa chính giữa (trung quan) là cửa lớn nhất, cửa này thường chỉ
mở vào những dịp chính lễ của đền Khi rước kiệu, cờ, lọng, đội tế đi của này.Cửa bên trái (hữu quan) và bên phải (tả quan) thấp hơn cửa chính giữa Haicửa này mở vào những ngày thường để nhân dân vào chiêm bái
Nghi môn được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 và được tu sửa vào năm
2007 Trên Nghi môn trang trí nhiều linh vật trong thế giới tâm linh của ngườiViệt như: chim phượng, lân, rồng,… Trên trụ phía ngoài cổng có khắc đôi câu
đố để cao công đức của vị thần thờ trong đền
Qua Nghi môn vào khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng là bước vàokhông gian của đền Nghè, phía trước là gian Tiền tế Tiền tế có kiểu tườnggồi bít đốc Trang trí trên bờ nóc là hai đầu rồng ngậm bờ nóc chầu về trungtâm, tiếp theo là hai quy tang trở Hà đồ, tiếp theo là hai phượng sải cánh trong
Trang 11tư thế tung bay Tất cả các linh vật đều hướng về phía trung tâm trong tư thế
chuyển động Trung tâm bờ nóc là cuốn thư lớn đề 4 chữ Hán “An Biên cổ
miếu”, các chữ được dát những mảnh sứ màu lam long lanh.
Tiền tế có kiểu nóc “chồng rường con thuận”, trung tâm là ban thờ
Công đồng, các quan – những tướng đã phò tá và chinh chiến cùng Nữ tướng
Lê Chân Ban thờ có một nhang án lớn thờ Công đồng, hai bên là hai lọngche, phía trước nhang án là một hệ thống bát biểu Tòa Tiền tế được dựngnăm Khải Định cửu niên (1924) dưới thời Nguyễn, đến năm 2007 được trùng
tu tôn tạo lại Hai gian bên cạnh là nơi đặt Long kiệu và Phượng kiệu tượngtrung cho âm dương đối đãi Kiệu phục vụ cho những ngày lễ chính của đền.Ngoài ra tiền tế còn đặt chuông và một khánh đá
Qua nhà Tiền bái một khoảng bước chân, nằm chính diện cân đối trênđường thần đạo về phía trong là tòa thiêu hương Tòa thiêu hương cấu trúctheo kiểu phương đình Tòa thiêu hương gồm 4 cột gỗ lớn đỡ các xà liên kếtngang và kẻ góc thu về tạo thành hai tầng mái có kiểu chồng diêm Phần gócđao trang trí đề tài “long phụng hồi chầu”, phần chồng diêm ghép các bứctranh theo đề tài đạo giáo: Ngọc Hoàng Thượng đế, Tam thanh… Các bứctranh này xoay quanh nguồn gốc và xuất xứ ly kỳ của Mẫu Lê Chân có ảnhhưởng của đạo giáo Thiêu hương đạt một sập đá lớn, trên sập đá đặt đồ tếkhí, các đồ tế khí đặt theo nguyên tắc đăng đối qua trục thần đạo Phần trên làmột bức đại tự lớn: Thượng đẳng tôn thần, dẫn theo bản sắc phong của VuaKhải Định phong năm 1924
Trung tâm của thiêu hương đặt sập thờ, đây là sập thờ khổ lớn bằng đá,kiểu chân quỳ dạ cá Mặt sập phẳng ở ra bốn góc, dưới mặt sập là các đườngchỉ trang trí cánh sen, hoa cúc dây nổi, thân sập trang trí ở bốn mặt Bốn gócsập là bốn mặt hổ phù trang trí trên mặt sập được khác nổi lấy vân mây và hoacúc dây làm nền trang trí, các linh vật có hồn sống động
Trang 12Tiếp đó là hậu cung – không gian linh thiêng nhất của đền, là một tòanhà ba kiểu tường hồi bít dốc Phía ngoài trên nóc hậu cung trang trí đề tàirồng chầu mặt nhật, tường hồi được cách điệu hình cánh cung mở góc tạo bờhội nóc có dáng mềm mại Nhìn từ chính giữa nóc hậu cung là hình mặt hổphù lớn đắp nổi hình chữ “thọ”, hai bên là hai đầu rồng chầu vào, phía trên làhình một con chim phượng lớn nổi khối sải cánh bay… Phía mái trước hậucung có kiểu mái chồng diêm, trên đắp các bức phù điêu, mỗi một mảng phùđiêu đều gắn với xuất thân, công trạng và hiển linh của Nữ tướng… Trên hiênhậu cung có một bàn đá trên thờ miếu đá được tạo tác công phu, trung tâm
mặt trước miếu khắc chìm dòng chữ: “Đương cánh Thành hoàng Nam Hải uy linh Thượng đẳng tôn thần” Bên trong tòa Hậu cung, bộ vì nóc có kiểu
chồng rường trụ trốn giá chiêng Trên thượng lương có ghi dòng chữ Hán
“Hoàng triều Khải Định cửu niên tuế thứ Giáp Tý, Thập nhị nguyệt, sơ lục nhật trùng tu cổ miếu, thụ trụ thượng lương đại cát” Chính gian giữa có bức đại tự khắc bốn chữ Hán: “Nghi gia vạn thuế” Trong cung cấm, trung tâm
của di tích là ban thờ Nữ tướng Lê Chân
Một hạng mục khác của di tích đền Nghè là điện Tứ Phủ thờ Nam Hải
uy linh Thánh Chân công chúa – một vị nữ thần, Thánh Mẫu Tứ phủ ĐềnNghè được ra đời cùng với sự ra đời của đền thờ Nữ tướng Lê Chân Tứ phủĐền Nghè có kiểu chuôi vồ (chữ Đinh), gồm một tòa Tiền bái, một tòa hậucung và hai gian phụ hai bên Tiền bái là một tòa nhà có kiểu tường hồi bítđốc Phía ngoài, có hai trụ biểu lớn ngự hai bên hồi, trên có đôi câu đối cangợi vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của vùng đất này Trên nóc Tiền bái, ở trungtâm trang trí lưỡng long chầu nguyệt, mặt nguyệt do một hổ phù lớn ngậm
theo tích “hồ phù ọe mặt trăng”, hai bên cạnh là rùa đội Hà đồ và phía góc có
hai đầu rồng ngậm nóc mái Bên trong, Tiền bái có kiểu vì chồng rường conthuận, ở trung tâm gian Tiền bái đặt ban thờ Công đồng các quan Hai bên tòatiền bái là gian thờ các ông Hoàng, bên trái thờ ông Hoàng Mười, bên phảithờ ông Hoàng Bảy
Trang 13Từ trung tâm của Tiền bái đi vào Hậu cung là một tòa ống muốnghai gian kiểu chồng rường giá chiêng Gian phía trước là nơi thờ Ngũ vịTôn ông Gian trong cùng Hậu cung và là trung tâm của di tích là nơi đặtban thờ Tam tòa Thánh Mẫu Bên cạnh các Mẫu có các hầu cô, tiên cô,nàng Hương, nàng Thị… giúp việc.
Hai gian bên cạnh Tam tòa, gian bên trái là ban thờ Hưng Đạo ĐạiVương Trần Quốc Tuấn, thần tượng đặt trong khám thờ trong tư thế ngồi,tượng mặc văn phục, tay cầm hốt lệnh điều quân… Gian bên phải là thờ MẫuSơn trang, vị Mẫu cai quản miền núi rừng
Ngoài ra, đền Nghè còn lưu giữ hai vật tích độc đáo, đó là khánh đá
và sập đá Khánh làm bằng một tấm đá nguyên dày 5cm được tách ra thànhhình chiếc khánh Mặt trước khánh khắc nổi hai con rồng chầu mặt nguyệt
và hình mây bay xung quanh Mặt sau khánh khắc hình mây bay và sóngnước Cả hai mặt có hai núm tròn, lồi cao là chỗ để gõ Ngoài ra nơi đâycòn lưu giữ tấm bia đá có kích thước lớn được tạc vào thời Nguyễn, ghitiểu sử của nữ tướng Lê Chân
Đền Nghè sở hữu một công trình kiến trúc đặc sắc mang phong cáchcủa thời Nguyễn, nơi thờ tự Nữ tướng Lê Chân – vị tướng tài ba của dân tộc,
vị Thành Hoàng của người dân Hải Phòng
Trang 14TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bằng việc giới thiệu vị trí địa lý, lịch sử hình thành và các công trìnhkiến trúc của đền Nghè chúng ta hiểu được phần nào những nội dung cơ bản
về di tích đền Nghè Đây là cơ sở, nền tảng để phục vụ cho việc đưa thông tin
về di tích đền Nghè vào giảng dạy cho học sinh tại các trường tiểu học trênđịa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Sau đây đề tài nghiên cứu khoa học sẽ giới thiệu một vấn đề mang ýnghĩa nhân văn sâu sắc Đó là lễ hội đền Nghè, một trong những truyền thốngđang được người dân Hải Phòng bảo vệ, gìn giữ và phát huy Trong chươngsau đề tài không chỉ nghiên cứu về lễ hội mà còn nghiên cứu thêm về cuộcđời và một thời kì lịch sử hào hùng gắn liền với tên tuổi của nữ tướng LêChân Qua đó, chúng ta sẽ thấy tầm quan trọng trong việc giáo dục nhân cáchcho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân về các giá trị lịch
sử, giá trị văn hóa mà lễ hội đền Nghè mang lại
Trang 15CHƯƠNG 2: LỄ HỘI ĐỀN NGHÈ
Trong lịch sử đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, phụ nữViệt Nam luôn song hành cùng nam giới, làm nên những chiến công bất hủ.Năm 40, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, phụ nữ đóng vai trò thenchốt cả về chỉ huy và chiến đấu Bà Lê Chân là vị tướng xuất sắc, công lao,chiến tích của bà lưu dấu ấn sâu đậm ở nhiều địa phương
Đền Nghè là một công trình kiến trúc tiêu biểu thờ Nữ tướng Lê Chân –
nữ tướng của Hai Bà Trưng, đồng thời là người có công khai khẩn lập nênvùng đất đời sau phát triển thành thành phố Hải Phòng ngày nay
2.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Hải uy linh Thánh Chân công chúa
Ở Hải Phòng, liên quan đến danh xưng Nam Hải thì có một vị thần rất linh thiêng, được nhân dân tôn kính thờ phụng đó là Nam Hải uy linh Thánh Chân công chúa Bà được coi là người đầu tiên có công khai phá ra mảnh
đất An Biên trang (nay là thành phố Hải Phòng) và có công dạy bảo nhândân làm ăn, phát triển kinh tế cuộc sống Ngày nay, hình tượng của bà đã trởthành biểu tượng tiêu biểu của nhân dân thành phố cảng Một quận củathành phố được mang tên bà đó là quận Lê Chân và tượng của bà cũng đượcdựng lên rất hoành tráng tại giữa khu vực trung tâm thành phố để ghi nhớcông ơn về một vĩ nhân, đã có công đầu tiên xây dựng nên mảnh đất quêhương Hải Phòng Cũng giống như thần Tô Lịch là Thành hoàng của đấtThăng Long – Hà Nội thì Lê Chân Thánh Mẫu cũng đã trở thành Thànhhoàng của cả vùng đất An Biên xưa kia – Hải Phòng ngày nay
Lê Chân nguyên quán ở xã An Biên, huyện Đông Triều, phủ KinhMôn, trấn Hải Dương (nay là xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh QuảngNinh) Bà sinh vào khoảng đầu công nguyên, cha là ông Lê Đạo, mẹ là bàTrần Thị Châu, gia đình chuyên nghề dạy học, làm thuốc dốc lòng làm việc
Trang 16Cũng giống như bao vị thần khác, thần tích về sự sinh nở của bà cũng
có nhiều điểm thần kỳ Lấy nhau lâu ngày không có con, ông bà đã phải sửa
lễ lên tận đỉnh Yên Tử để cầu tự Đêm ấy, ông nằm mơ thấy thiên sứ nhàTrời dẫn ông lên Thiên đình, đến trước một vị đại quan mặc áo bào vàng vàđược truyền bảo rằng: “Nhà ngươi làm việc thiện tiếng đến Thiên đình,Ngọc Hoàng ban phúc cho tiên thánh giáng trần đầu thai làm con nhà ngươi,ngày sau làm nên nghiệp lớn, rạng rỡ gia đình, không bậc nam nhi nào sánhkịp” Bỗng chuông, trống nổi lên làm ông chợt tỉnh mới biết mình nằm mơ.Sáng hôm sau, bà Châu ra ngoài ấp thấy vết chân lớn lạ thường bèn đưachân ướm thử, cảm động rồi mang thai Ngày mùng 8 tháng 2, sau 12 thángmang thai, bà sinh được một nữ nhi má phấn, môi son, dung mạo khácthường Nhân cớ ướm chân có thai nên đặt tên con là Chân
Ngày tháng trôi qua, Lê Chân lớn lên, tuổi mười tám, đôi mươi thôngminh hơn người, cầm thi cung kiếm đều thạo, nhiều chàng trai trong vùng có
ý ướm hỏi nhưng nàng đều từ chối với lí do còn giúp nhà, giúp nước khi ấyđang bị ngoại bang thống trị Thái thú Tô Định khi ấy nghe tiếng nàng cũngmuốn ép lấy nhưng bị từ chối, hắn đã ra tay sát hại cha nàng Ôm mối thùnhà, quyết tìm cách rửa hận cho nước, nàng tụ tập dân quê lánh đến vùng hạlưu của các con sông lớn đổ ra biển để khai phá đát đai, sinh cơ lập nghiệp,thực hiện mưu lớn Qua vài ba năm, mảnh đất mới được khai phá đã trở thànhtrang ấp lớn Nhớ quê cũ, nàng bèn lấy tên quê gốc để đặt tên cho vùng đấtmới là trang An Biên (khu vực nội thành Hải Phòng ngày nay)
Khi ấy, hai chị em Trưng Trắc – Trưng Nhị cùng phát cờ khởi nghĩađánh đuổi giặc Tô Định Nghe theo lời hiệu triệu, Lê Chân lập tức mộ đượchơn 100 thanh niên trai tráng ở trang An Biên, kéo về Sơn Tây tham gia độiquân đánh giặc Trưng Trắc thấy nàng có diện mạo khác thường, chí khí bậctài trai, nên rất ưng ý và phong nàng là Thánh Chân Công chúa, đem quâncùng Trưng Nhị đem quân tiến đánh Tô Định Với khi thế dũng mãnh, đoàn
Trang 17quân của ta đã đánh tan quân giặc một cách nhanh chóng, Tô Định phảiđóng giả dân thường chạy về Bắc quốc
Sau chiến thắng, Lê Chân được Trung Vương phong là Chưởng quảnbinh quyền lĩnh ấn Trấn Đông đại tướng quân, thống lĩnh đạo quân NamHải Phòng thủ miền biển
Sau thất bại, vua Tàu tiếp tục phong Mã Viện làm Phục ba tướngquân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó tướng sang đánh nước ta TrưngVương bèn triệu tập các vị chỉ huy đồn trong đó có nữ tướng Lê Chân vềkinh đô bàn kế đánh giặc
Lê Chân đã tổ chức phòng ngự đánh giặc từ địa đầu biển giới ĐôngBắc nhưng thế giặc rất mạnh, bà phải rút về bảo vệ căn cứ Mê Linh và CẩmKhê Tại đây, một trận chiến vô cùng các liệt đã xảy ra giữa ta và địch,nhưng vị lực lượng nhỏ hơn, tướng lĩnh và quân sĩ lần lượt hy sinh Hai BàTrưng cũng tự tận trên dòng sông Hát (sông Đáy ngày nay) để giữ tròn tiếtnghĩa, còn nữ tướng Lê Chân đã anh dũng chiến đấu phá tan vòng vây củagiặc, chạy về lập căn cứ cố thủ để chống giặc ở núi rừng Lạt Sơn (ngày naythuộc huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) Chẳng bao lâu, Ma Viện kéo quântiến đánh căn cứ, tướng quân Lê Chân cùng các quân sĩ cảm tử chiến anhdũng tiêu diệt nhiều quân giặc, xong do lực lượng quá chênh lệch nghiêng
về phía giặc, quân của Lê Thánh Công chúa bị thất trận, nữ tướng Lê Chân
đã noi gương Hai Bà Trưng gieo mình xuống chân núi Giát Dâu tuẫn tiết,
đó là ngày 25 tháng chạp, Trưng Vương năm thứ 4 (năm 43)
Về cái chết của nữ tướng Lê Chân, theo truyền ngôn còn có một số giả thiết:
- Bà trầm mình theo Hai Bà Trưng tự vẫn
Trang 18- Sau khi chống quân Mã Viện ở vùng sông nước Bạch Đằng khôngthành, bà phải lui về vùng Hồ Tây rồi Mai Động (thuộc Hà Nội ngàynay) và hy sinh ở đây.
- Sau khi bà tuẫn tiết trên núi Giát Dâu, Mã Viện đã sai người némxác bà xuống sông Dâu…
Sau khi mất, Thánh Chân Công chúa hiển linh báo tin cho dân làng
An Biên Truyền thuyết kể rằng: khi cuộc khởi nghĩa tan rã, Thánh Chântrầm mình xuống sông, lúc này ở trang An Biên, người và vật không yên.Ban đêm, có người thấy Lê Thánh Công chúa báo mộng về: “Ta vốn vàTiên nữ trên Thiên đình xuống hạ giới, nay đã hết duyên trần phải về chầuThượng đế Thượng đế ăn phong làm Thành hoàng, các ngươi nếu mai ra
bờ sông thấy vật gì lạ thì rước về mà thờ phụng” Người ấy tỉnh mộng bèn
kể cho mọi người Sớm hôm sau mọi người ra bờ sông thấy bầu trời u ám,gió lớn, mưa to, mặt nước sông cuồn cuộn chảy, rùa giải đua bơi, cá kình
rẽ sóng Bỗng thấy có một phiến đá từ từ trôi ngược dòng nước, nhân dâncác nơi thấy lạ dâng lễ quỳ lạy nhưng phiến đá không thấy trôi vào Dânlàng An Biên thấy như ứng trong mộng, bèn vào chợ mua sắm lễ vật Lúc
đó đã cuối buổi chợ phiên, tìm khắp nơi mọi người chỉ mua được một sóccua bể và một mâm bún lá để dâng lễ mà thôi Sau một hồi cùng nhauthành tâm sụp lạy, rì rầm khấn vái, lạ thay phiến đá từ từ trôi vào bờ, trên
phiến đá có một miếu đá, trong miếu thấy có dòng chữ Thánh Chân Công chúa Nhân dân An Biên liền lập đền thờ phụng bà tại đó, càng ngày càng
tỏ rõ linh nghiệm
Cũng theo truyền thuyết, thế kỷ thứ 13, vua Trần Anh Tông trênđường đi đánh dẹp giặc Chiêm Thành vào cướp hải phận nước ra, một hômhành quân qua địa phận An Biên, trời tối vua nghi lại ở đây Đêm đến vuanằm mộng thấy một người phụ nữ xiêm áo chỉnh tề đến tâu với vua rằng:
“Thiếp tôi vốn là tướng của vua Trưng, bị giặc Hán sát hại Sau khi mất,
Trang 19Thượng đế ân phong ban cho làm phúc thần xứ này Nay Hoàng đế ra quândẹp giặc, thiếp tôi nguyên xin âm phù vận nước, giúp đỡ ba quân, đợi tinchiến thắng, thần thiếp cũng rửa được hận cũ” Nhà vua tỉnh giấc mới hay
là mơ bèn ghi nhớ để xem ứng nghiệm ra sao Đến khi tiến quân, thuyềntrôi như bay thẳng tiến tới đất Chiêm giao chiến, quân giặc chạy tan tác.Dẹp yên giặc, vua xét thưởng công tội và ban sắc phong cho Thánh ChânCông chúa mỹ hiệu là Nam Hải uy linh, sai rước sắc về xã An Biên, cấpthêm 100 quan tiền để sửa sang đền miếu thờ tự Từ đó về sau thường tỏ ralinh ứng, giúp nước, che chở cho dân, các triều đại về sau có sắc phongtặng mỹ hiệu [ 3; tr 81–84]
2.2 Lễ hội đền Nghè
Lễ hội là nét đẹp truyền thống của người Việt Nam, là một nét sinh hoạtvăn hóa cộng đồng, có tính phổ biến trong đời sống xã hội và có sức lôi cuốnđông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
Việc tổ chức lễ hội đền Nghè hàng năm nhằm thể hiện những tình cảm,tấm lòng biết ơn, ngưỡng mộ đối với những người có công với nước, với dânđược nhân dân làm đền thờ cúng Đồng thời trong đó còn chứa đựng cả nhữngước mong, những nguyện vọng của nhân dân về môt cuộc sống ấm no, hạnhphúc thông qua các hoạt động trong phần lễ và phần hội
Lễ hội đền Nghè được tổ chức theo quy mô cấp quận, những ngườitham gia lễ hội không chỉ là người dân trong quận Lê Chân, trong thành phố
mà còn nhiều du khách tới tham dự
Không gian của lễ hội thay đổi từ trầm lắng trang nghiêm khi thực hiệncác nghi lễ cho tới náo nhiệt của không gian hội đã tạo ra niềm vui, sự hàohứng cho những người tham gia lễ hội Không những thế, không gian của lễhội với sự tái hiện lại quá khứ oai hung của dân tộc đã tạo ra trong mỗi ngườilòng tự hào cũng như động lực để xây dựng tổ quốc ngày một giàu đẹp hơn
Trang 20Vào ngày mồng 6 tháng 5 năm 2016 Lễ hội đền Nghè đón nhận Bằngcông nhận Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia.
Lễ rước có hai đoàn tiến hành từ 6 giớ sáng ngày 8 tháng 2, một đoàntheo hành trình từ Đền Nghè ra đường Nguyễn Đức Cảnh, rẽ qua quán hoa,đường Quang Trung đến Tượng đài Nữ tướng Lê Chân; một đoàn khởihành từ đình An Biên ra đường Hai Bà Trưng, Cát Cụt, Nguyễn Đức Cảnh
về quảng trường Tượng đài Nữ tướng Lê Chân Các đoàn rước đều có độimúa lân, cờ đỏ sao vàng, cờ hội, trống, chiêng, đoàn bát biểu, kiệu LongĐình, đoàn nhạc bát âm, đoàn tế nữ quan, đoàn dâng lễ, đoàn phụ nữ, đoàncựu chiến binh, …
Phần lễ chính ngày 8 tháng 2 có màn đánh trống khai hội, biểudiễn trống hội, múa lân sư; lễ dâng hương, lễ tế tạ… Phần hội hấp dẫnbao gồm nhiều hoạt động như: thi thể dục dưỡng sinh: thi cắm tỉa hoacùng các tiết mục hát ca trù, chèo cổ, nhạc cụ dân tộc, kịch… với rấtnhiều các hoạt động
Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục,quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng cùng các đồ tế tự, thaytrang phục mũ cho thần…
Trang 21Nhiều hoạt động sẽ được diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghithức lễ tế, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui Đây là toàn bộ những hoạtđộng chính có ý nghĩa nhất của một lễ hội Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay
ít khách đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn bịchi phối vởi các hoạt động trong những ngày này
2.2.1.1 Về phần lễ
Trước khi tiến hành Lễ Thánh đản, nhân dân trong làng cử ra một Banhành lễ để điều hành lễ hội Người đứng đầu trong Ban hành lễ được gọi làTiên Chỉ Những người tham gia trong thời gian diễn ra lễ hội phải kiêng kịnhiều điều: gia đình không có tang ma, con cái song toàn, mạnh khỏe,…
Lễ Thánh đản được tiến hành theo trình tự các nghi lễ:
Lễ Nhập tịch
Ngày 7 tháng 2 (Âm lịch) nhân dân thực hiện Lễ Nhập tịch (Lễ vàođám) chuẩn bị cho ngày chính lễ Trong ngày này, Thủ từ biện lễ cáo thần xinphép được chuẩn bị cho ngày chính hội Thủ từ cùng những người trông coiđền chỉ đạo việc quét dọn vệ sinh khu đền, loại bỏ những đồ hư hỏng trong
đề, sắm sửa bổ sung các trang thiết bị phục vụ lễ hội,
Lễ Mộc dục
Trong ngày mồng 7, Thủ từ làm lễ Mộc dục (lễ tắm tượng), một nghi lễquan trọng trong lễ vào đám Thủ từ thắp nhang, gieo quẻ âm dương để xemthần có ứng trì cho việc làm lễ Mộc dục không Nếu được đồng ý (bằng quẻ
âm dương), Thủ từ sẽ đưa tượng ra tòa Đại bái hoặc ra sân Nước tắm tượng
do một trai đinh bơi ra giữa sông Tam bạc lấy chóe đựng nước, sau đó rước
về tắm tượng, sau khi tắm tượng, dùng nước thơm (ngũ vị hương) để xông,thay áo mới cho thần tượng Đây là nghi thức mà dân gian trong truyền thuyếtlàm với hy vọng rằng thần tượng sẽ mang lại nhiều phúc ấm cho nhân dân
Lễ Cáo yết
Trang 22Đây là lễ báo cáo với thần linh mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất
để chuẩn bị cho ngày chính lễ Lễ vật dùng trong Lễ Cáo yết gồm haimâm xôi, hai con gà
Lễ tế
Lễ tế gồm lễ Trình và lễ Tiến phẩm Đây là nghi lễ nghiêm trang vàlong trọng nhất tại Đền Nghè Lễ vật ở đây là lợn Lợn thờ được gọi là ônglợn hay lợn tế Thánh phải được chọn và nuôi cẩn thận, được ăn theo chế
độ riêng Lợn được lấy thịt đầu và đuôi để biện lễ trên nhang án
Ngoài đình nhân dân còn làm Lễ Mao huyết Ngoài lễ phẩm, Banhành lễ cử người viết văn tế, thường do một người hay chữ, có uy tín tronglàng viết Văn tế ca ngợi công đức của vị thánh, thể hiện được ước muốncủa nhân dân hướng lên Lê Thánh công chúa để được ban ơn mưa cho mùamàng bội thu, hải vận phong phú, cầu mong sự phù trì để nhân đân ấm no,quốc thái dân an, nhân khang vật thịnh
Lễ rước
Sau khi lễ tế tại Đền Nghè kết thúc, đoàn rước sẽ đưa bát nhang từ ĐềnNghè lên kiệu để rước ra đình An Biên Trước khi kiệu khởi hành từ ĐềnNghè, trống chiêng đánh liên hồi để mọi người biết được chuẩn bị tham gia.Khi rước kiệu ra khỏi đền, kiệu dừng lại một hồi để mọi người đứng vàohàng Đi đầu là cờ hiệu, sau đó là năm cờ đuôi nheo, màu sắc theo Ngũhành: Cờ vàng, đỏ, xanh, trắng và đen Tiếp theo cờ Ngũ hành là trống cái.Tiếp đến là chiêng Trống và chiêng sẽ giữ nhịp cho đám rước Tiếp theo lànhững người rước bát biể và bộ chấp kích, phía sau người rước bát biểu là
hai người đi song song mang biển: “Tĩnh túc” và biển: “Hồi tỵ” Sau đoàn
vác biển là phường đồng văn gồm: một người cai cầm trống khẩu, một
Trang 23người cầm thanh la, hai người cầm sênh tiền, bốn người đánh trống bảnngũ hồi Sau phường đồng văn là một người mặc áo thụng xanh, vác cờ
thêu chữ: “lệnh” gọi là cờ vía Một người dâng giá văn trên có văn tế phủ
vải điều, ba người mang gươm và kiếm Tiếp theo là phường bát âm gồm:
kèn, sáo, nhị… thường tấu điệu nhạc lưu thủy, hành vân và ngũ đối Sau
phường bát âm là kiệu hương Kiệu võng do các trinh nữ mặc áo đỏ, dộikhăn đỏ, đi hài xanh, trang phục đẹp đẽ thay nhau khiêng kiệu Sau kiệuvõng là kiệu thánh, Kiệu có lọng cắm do tám trai đinh khiêng bước theonhịp trống Kiệu thánh là trung tâm của đoàn rước, với ý nghĩa rước anhlinh của Lê thánh ngự từ Đền Nghè về đình dự đại tế vì vậy kiệu mang ýnghĩa như sự hiện hữu của Lê thánh công chúa Tiếp theo kiệu là các đoàn
tế nam, nữ của địa phương lân cân, các chức sắc, bô lão đi theo hộ giá, sau
là nhân dân tham gia đông đảo
Vào dịp rước thánh Lê Chân, nhân dân trong vùng và khác thập phương
nô nức kéo về trẩy hội, nhân dân hòa vào đoàn tế, đứng hưởng ứng hai bênđường để chiêm ngưỡng anh linh của Lê Thánh Mẫu ban phát ơn mưa chomọi người
Kiệu thánh rước về tế an vị tại đình An Biên Trong đình, Ban hành
tế tiếp tục thực hiện lễ tế, đọc chúc văn và hóa chúc, kết thúc phần nghi lễcủa Lễ Thánh đản
2.2.1.2 Về phần hội
Sau khi phần lễ xong, các trò chơi diễn ra sôi nổi, các hoạt động vuichơi thường diễn ra ở đình Các trò chơi được tổ chức trong lễ hội dền Nghègắn với xuất xứ từ lúc sinh thời của Nữ tướng nhằm luyện tập sức khỏe vàgiải trí ngoài giờ thao trường của quân lính
Tuy nhiên, với quy mô của một hội làng, hầu hết tại các điểm ditích đều có các hoạt động trò chơi, nhưng nổi bật vẫn là các trò chơi diễn
Trang 24ra ở đình An Biên và Đền Nghè Tiêu biểu như: trò đấu vật, pháp đất,đánh phết, đánh cờ…
Các trò chơi dân gian này dành cho mọi lứa tuổi có thể tham gia Vìthế, đối với học sinh trường tiểu học Minh Khai đây là cơ hội để các em cóthể mở rộng hiểu biết của mình về văn hóa dân gian và truyền thống lâu đờicủa dân tộc
Đấu vật
Hội vật làng An Biên còn gọi là vật đập đất (vật ngã xuống đất), thườngdiễn ra vào mồng 5 Tết Âm lịch và ngày 8 đến mồng 10 tháng 2 Âm lịch Hộidiễn ra trong không khí của ngày lễ tưởng nhớ công trạng lúc sinh thời của
Nữ tướng Lê Chân
Trong truyền thống, các đô vật là các trai đinh mạnh khỏe trong cácgiáp đăng ký tham dự Khi hội vật làng An Biên mở ra cũng thu hút nhiều hộivật của các tỉnh lân cận cùng tham gia như: lò vật Bắc Hà, Hà Nam, Namsách, … Người thắng cuộc được năm vuông vải lụa, một gói chè hảo hạng vàmột mâm trầu cau, một ít tiền Trầu cau thì người thắng, người thua đều đượcnhận Lễ phẩm này gắn liền với truyền thuyết nhằm chứng tỏ lễ hội đã đượcduy trì từ lâu đời mang ý nghĩa nguồn cội
Đánh Phết
Phết là một trò chơi dân gian phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ Tươngtruyền, Nữ tướng Lê Chân khi qua vùng Tam Nông (nay thuộc Phú Thọ) thấytrẻ em chơi trò này, Bà đã về An Biên bày lại cho mọi người chơi Ngườitham gia chơi cầm một chiếc gậy tre cong một đầu hoặc đẽo vát một đầu đánhvào quả cầu để đưa cầu đi Gậy đó gọi là gậy phết và quả cầy gọi là quả phết.Người chơi phết được chia làm hai bên, thông thường là mười người chơi.Bên nào đánh được quả phết vào lỗ là thắng cuộc
Pháo đất
Trang 25Công cụ để chơi pháo đất được làm từ các loại đất có độ quánh cao nhưđất sét, đất thịt… Pháo thường có dạng như hình cái chảo không có tay cầmhoặc hình bầu dục có thành dày hơn đáy với kích thước linh hoạt và nhiều khiphụ thuộc vào lượng đất nguyên liệu mà trẻ em kiếm được
Trong lễ hội, pháo đất được chế tác rất to, gọi là mâm pháo và có thể
dùng từ 20kg đến 50kg đất Sân chơi thường là một mặt bằng càng phẳngcàng tốt để vành pháo có thể tiếp xúc khít nhằm gây tiếng nổ to Đất được sửdụng để nặn pháo nhiều lần do đó mặt bằng được làm sạch bụi để bụi khônglàm khô đất Khi chơi, những người chơi sẽ được chia những phần đất đềunhau để làm quả pháo đất của mình Những người chơi sẽ lần lượt cho pháo
nổ, pháo của ai nổ to được coi là thắng cuộc Ở các cuộc thi, pháo đất ngoài
nổ to phải kèm theo yêu cầu vết phá ở đáy pháo càng rộng càng tốt hoặcvành pháo sau khi nổ phải tách rời ra và nằm vắt ngang thân mà không bịđứt đoạn Pháo đất cũng có thể chia nhiều người chơi thành hai phe và cửđại diện cho pháo nổ
Hội thi hoa Thủy tiên
Hội thi hoa Thủy tiên ở đền Nghè là một nét đẹp văn hóa của nhândân Hải Phòng Hội được tổ chức phổ biến khoảng đầu thế kỷ XX Dấu ấncủa hội thi hoa Thủy tiên xưa kia đến nay còn lưu lại qua bức đại tự “Vạn cổanh phong” và đôi câu dối do Hội hoa hữu (Hội những người bạn của hoa)cung tiến:
“Thủy ánh ngân đài lạc phố từ minh An Lĩnh nguyệt
Tiên khai ngọc vũ Giao trì hội hiến Hán cung vương”
Nghĩa của câu đối: Ngôi đền soi ánh nước lung linh từ chốn đô hộ nàynhư mặt trăng sáng trên núi An Lĩnh (Yên Tử) – Miếu ngọc do tiên mở hộiGiao trì thơm đến tận cung Hán (Thiên đình) Câu đối này tác giả đã ghépđược hai chữ đầu của mỗi vế thành chữ “Thủy tiên”
Trang 26Theo nguồn tư liệu của Hội hoa hữu cung cấp: từ năm 1920 – 1943,đền Nghè đều mở hội thi Hoa Thủy tiên Chỉ những dòng Thủy tiên có nămcánh trắng mới được tham dự thi để dâng cúng nữ anh hùng vào ngày mồng
8 tháng 2 Âm lịch – ngày sinh của Nữ tướng Hội kéo dài trong ba ngày.Người Hải Phòng đinh ninh rằng, nếu hội thi tuyển chọn được đúng nhữngbình hoa Thủy tiên đẹp nhất để làm lễ dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân thì đờisống của mọi người nằm trong quyền năng, tha lực bảo trợ của Thánh Mẫu
sẽ tươi đẹp nhất trong năm
Ngoài một số trò chơi dân gian, trong phần hội của lễ Thánh đản cònnhiều hoạt động như thi thể dục dưỡng sinh của Hội người cao tuổi gắn vớiviệc Nữ tướng rèn luyện binh sĩ giúp Hai Bà Trưng giữ nước với ý nghĩanhắc nhở các thế hệ con cháu rèn luyện sức khỏe, tu tập bản thân để xâydựng đất nước; hay màn biểu diễn trống hội như thúc giục, khuyên bảo concháu sống và cống hiến hết mình để xứng đáng với những gì cha ông đã đểlại và nhiều hoạt động thú vị khác
Sau khi khâu chuẩn bị đã hoàn tất, sáng ngày 15, tại đền Nghè, lễ được
Trang 27Thánh Công chúa từ đền Nghè về đình An Biên (khi rước giống như trong lễThánh đản) Đi đầu cuộc rước là người cầm cờ, rước phướn đủ màu sắc, theosau là các hiệu chiêng, hiệu trống, phường bát âm và các bô lão Khi về đếnđình cử hành lễ tế Đặc biêt, những người chủ trì và tham dự lễ thiêng là phụ
nữ, các vai nữ quan cúng tế theo nghi lễ truyền thống Tế lễ xong, lễ vật đượcđem chia đều cho dân làng, không phân biệt nam hay nữ đều có phần
2.2.2.2 Phần hội
Sau lễ tế, dân làng tổ chức các hội vui chơi Trong hội, dân làng diễnnhiều trò vui: cờ người, đấu vật, thi tài, ban đêm thì hát xướng… Đây lànhững trò chơi dân gian thu hút được nhiều sự chú ý của mọi tầng lớp
Cũng như các trò chơi dân gian trong Lễ Thánh đản, các em họcsinh trường Tiểu học Minh Khai cũng có thể tham gia vào các trò chơinhư: cờ Người, hát xướng, …
Cờ Người
Đây là một trong số những trò chơi dân gian đặc sắc diễn ra trong cácdịp lễ hội của Việt Nam nói chung và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng Tròchơi này không đơn thuần chỉ để giải trí mà còn là một cuộc đấu trí đầy trí tuệmang đậm bản sắc dân tộc Việt
Cờ Người thực chất là một môn cờ tướng do người đó thế thành cácquân cờ Bàn cờ được chọn là sân đất rộng hoặc sân đình, chùa Mỗi ván cờlúc bắt đầu phải đủ 32 quân, bao gồm 16 nam và 16 nữ Đây là những namthanh, nữ tú của các gia đình nề nếp được dân làng quý trọng và đồng tình.Hai tướng (tướng ông và tướng bà) là những người có ngoại hình đẹp nhất vànổi bật nhất trong số 32 quân cờ Ngoài 32 người chơi trong sân cờ, cờ Người
Trang 28không thể thiếu người thứ 33 là tổng cờ, tức là trọng tài của bàn cờ Đây làngười trực tiếp giúp Ban giám khảo theo dõi việc thắng, thua của cuộc đấu cờ.
Trang phục trên sân cờ là màu quân đỏ hoặc vàng (16 chàng trai) vàmàu quân đen hoặc quân xanh (16 thiếu nữ) Trang phục của “quân cờ” phảichỉnh tề và thống nhất Tướng được đội mũ tướng soái, mặc triều phục báquan văn võ, chân đi hài, lọng che Sĩ đội mũ cánh chuồn có tua vàng Trướckhi cuộc thi diễn ra, các “quân cờ” sẽ tiến hành tập luyện các thế đi, đường võ
để khi chuẩn bị xung trận biểu diễn cho từng thế cờ
Trước khi vào vị trí trên sân, cả đội cờ múa theo tiếng trống, đàn,phách Sau khi đã vào vị trí, một hồi trống dài nổi lên, hai đấu thủ cờ mặc áodài, khăn xếp xuất hiện để giới thiệu danh tính; mỗi người cầm một cây cờđuôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh Theo quy định, đấu thủ cầm quân
đỏ được đi trước, sau đó đến quân đen va luân phiên theo thứ tự cho đến hết
Cứ thế, cờ Người diễn ra trong không khí tưng bừng của ngày hội Cứ mỗi lần
ăn quân của đối phương thì quân cờ thể hiện bằng một bài biểu diễn song đấuhoặc một bài tự vệ Các “quân cờ” phải trải qua sự tập luyện lâu dài và giankhổ vì các đòn thế biểu diễn không phải dễ dàng
Bơi chải
Bơi chải là một lễ hội đặc trưng vùng sông nước gắn với cư dân nôngnghiệp, biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực cầu mùa Hội bơi chải làng AnBiên thường tổ chức đối với cả nam và nữ Đối với nữ bơi bằng thuyển nan,với nam bơi bằng thuyền gỗ Chải là một loại thuyền gỗ nhỏ đục từ một thâncây gỗ, có khi bơi chải bằng cả thuyền nan Người tham gia thi đấu, đầu chítkhăn xanh hoặc đỏ; thắt lưng bằng vải xanh, đỏ quang bụng Đích bơi đượccắm trên sông Tam Bạc Đội nào đưa thuyền về đích trước tiên là đội thắngcuộc Hội được nhân dân tham gia hò reo cổ vũ rất vui nhộn
Trang 29TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Sau khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Hải uy linh ThánhChân công chúa chúng ta phần nào thấy được tầm ảnh hưởng của vị Thànhhoàng làng trong tâm thức của mỗi người dân Hải Phòng
Hàng năm cứ đến ngày mồng 8 tháng Chạp người dân nơi đây tổ chức
lễ hội đền Nghè để tưởng nhớ và tái hiện những chiến công mà vị nữ tướngtài giỏi đã giành được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền củađất nước
Chúng ta nhận thấy rằng, lễ hội là truyền thống không thể thiếu trongtâm thức của mỗi người dân Việt Nam Tất cả mọi tầng lớp đều có thể thamgia và học sinh tại các trường Tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân, thành phốHải Phòng cũng có thể tham gia dưới sự hướng dẫn của giáo viên và ban tổchức lễ hội Đây là cơ hội để các em học hỏi, giao lưu và tham gia góp phầnvào công cuộc bảo vệ, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của địa phương
Sau đây, đề tài sẽ nghiên cứu tiếp về cách giáo dục nhân cách cho họcsinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đểgiúp các em có cơ hội đến gần hơn với các giá trị văn hóa, giá trị lịch sử của
lễ hội đền Nghè
Trang 30CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
THÔNG QUA LỄ HỘI ĐỀN NGHÈ 3.1 Những giá trị văn hóa của lễ hội đền Nghè
“Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng vàphong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao độngmệt nhọc, một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống; để giải quyết những nỗi lo âu, nhữngkhao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được” [4;56]
Lễ hội như là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, đến với lễ hội làcon người được ôn lại lịch sử hào hùng của cha ông, được trở về với cộinguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong những điều tốtlành Đồng thời, lễ hội là nơi người dân được vui chơi, giải tỏa, bù đắp về tinhthần giúp họ gắn kết với nhau hơn, tạo dựng không gian văn hóa vừa sangtrọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo nức Từ đó đã tạo nên những giá trịriêng cho từng lễ hội và lễ hội đền Nghè cũng ẩn chứa trong nó những giá trịđộc đáo riêng
3.1.1 Giá trị lịch sử
Bác Hồ - người cha già kính yêu của dân tộc ta đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
[Lịch sử nước ta ; Hồ Chí Minh]
Có thể nói lịch sử Việt Nam là một lịch sử của những chiến công trênmặt trận chống giặc ngoại xâm trải dài qua các triểu đại, chúng ta có thể điểmqua những giai đoạn chính của tiến trình lịch sử chống giặc ngoại xâm củadân tộc ra như: thời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc (thế kỉ 8 – 179 TCN) chống
Trang 31giặc nhà Tần và nhà Triệu; thời Hai Bà Trưng (thế kỉ 1) chống giặc Hán; thời
Lý Nam Đế (thế kỉ 6) đánh giặc Lương và thành lập nhà nước Vạn Xuân; thờiNgô Quyền (thế kỉ 10) chống giặc Nam Hán; thời Tiền Lê (thế kỉ 10) và thời
Lý (thế kỉ 11) đnáh giặc nhà Tống; thời nhà Trần (thế kỉ 13) 3 lần đánh giặcNguyên – Mông; thời Hậu Lê (thế kỉ 15) đánh giặc Minh; thời Quang TrungNguyễn Huệ (thế kỉ 18) đánh giặc Xiêm và giặc Thanh; thời Nguyễn (thế kỉ
19 – 20) nổ ra nhiều cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và giặc Mỹ thốngnhất tổ quốc, sau năm 1975 chúng ta còn có các cuộc chiến đấu bảo vệ tổquốc với quan Khơme đỏ ở biên giới Tây – Nam và quân Trung Quốc ở biêngiới phía Bắc…
Cùng với các cuộc chiến tranh vệ quốc chống giặc từ phương Bắc, từthế kỉ 11 đến thế kỉ 18, lần lượt các triều đại phong kiến Việt Nam còn cónhiều cuộc chiến tranh ở biên giới phía Nam bảo vệ tổ quốc và mở mang bờcõi Đến thế kỉ 18, cơ bản lãnh thổ phần đất liền của Việt Nam có diện mạonhư ngày nay Từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19, người Việt Nam cơ bản xác lậpchính thức quyền kiểm soát các đảo và quần đảo như Hoàng Sa, Trường Sa…các đảo và quần đảo này ngày nay thuộc chủ quyền của Nhà nước Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng không có một thời đại nào trong lịch
sử phát triển quốc gia dân tộc, người Việt Nam không phải đứng lên chống lại
sự xâm lược của các thế lực ngoại bang Những cuộc chiến tranh vệ quốc nhưvật là một minh chứng cho tinh thần yêu nước và ý trí kiên cường, anh dũngkhông chịu khuất phục trước mọi kẻ thù của dân tộc Việt Nam
Nổi lên trong những cuộc chiến tranh vệ quốc đó là gượng mặt tiêubiểu của các anh hùng dân tộc, xuất hiện và ghi dấu ấn đậm nét vào nhữngtrang sử truyền thống hào hùng của dân tộc, ví dụ như : Lý Nam Đế, TriệuQuang Phục, Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Quang Trung Nguyễn Huệ,… Tấtthảy họ đều được suy tôn là các vị thần, vị thánh Bởi vậy, tất cả anh hùng dân
Trang 32tộc đều được cộng đồng ghi ơn, đưa vào điện thần, muôn đời được tưởng nhớ,
biết ơn Đó là tâm thực sâu nặng của dân tộc hướng về cội nguồn : “uống
nước nhớ nguồn” Để tưởng nhớ công lao dựng nước và giữ nước đầu tiên của
tổ tiên, chỉ tính riêng trên vùng đất Tổ thôi đã có hàng nghìn đền miếu thờcúng các vua Hùng và tướng lĩnh Nối tiếp ý chí bất khuất vì độc lập dân tộccủa Hai Bà Trưng Lý Bí, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, lịch sửchống quân xâm lược còn ghi danh những tên tuổi như Lý Thường Kiệt, TrầnHưng Đạo, Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, NguyễnHuệ… Vì vậy, việc tổ chức các lễ hội là cách rất hiệu quả để truyền đạt chocon người về lịch sử dân tộc
Trong số các vị vua và các vị anh hùng dân tộc kể trên được nhân dânthờ cúng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chúng ta thấy nữ tướng Lê Chân – vịtướng được người dân Hải Phòng nói riêng và nhân dân cả nước biết đến cônglao to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ chủ quyền của tổ quốc
Hàng năm, người dân Hải Phòng tổ chức lễ hội đền Nghè và ngàymồng 8 tháng chạp (Âm lịch) để tưởng nhớ vị nữ tướng tài giỏi Lê Chân Trảiqua bao thăng trầm của lịch sử, đền Nghè với lễ hội của mình vẫn còn đónhững giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội của một vùng đất, cư dân địa phương.Nơi đây vẫn chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử rất riêng và quan trọng
đó là sự gắn bó với lịch sử hình thành, sinh sống của người Hải Phòng, củatiếng trình mở mang, bảo vệ, giữ gìn bờ cõi
Tham gia đầy đủ các lễ hội tưởng niệm Nữ tướng Lê Chân tại đềnNghè, chúng ta thấy lễ hội nào cũng mang dấu ấn gắn với từng giai đoạn của
vị Nữ tướng Từ lễ Thánh đản cho tới lễ Khánh hạ với các nghi lễ, trò chơi táihiện lại cuộc đánh, chiến công của vị Thành hoàng Hải Phòng Đó là trò đấuvật tái hiện lại sới vật do Nữ tướng lập ra hay trò pháo đất Nữ tướng đã tổchức để nghi binh… Mục đích của các trò chơi đang được duy trì, bảo tồn vàphát huy trong lễ hội này nhằm tái hiện lại trang sử hào hùng về Nữ tướng Lê
Trang 33Chân Qua các hoạt động trên, vai trò của Nữ tướng Lê Chân đối với HảiPhòng nói riêng và Việt Nam nói chung hiện rõ.
Thứ nhất, Bà là người có công khai khẩn lập nên vùng đất đời sau pháttriển thành thành phố Hải Phòng ngày nay Không chỉ khai phá đất lập ratrang An Biên, Bà con phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm và đánh bắt thủyhải sản tạo nên một vùng đất trù phú
Thứ hai, vào năm 40, khi dất nước nằm dưới sự cai trị, áp bức, bóc lộttàn nhẫn của chính quyền phong kiến phương Bắc, gây nên sự căm thù, oánhận trong nhân dân, từ đó đã xuất hiện rất nhiều phong trào yêu nước nổi dậycủa nhân dân, từ đó đã xuất hiện rất nhiều phòng trào yêu nước nổi dậy củanhân dân ta, tiêu biểu là cuộc dấy binh khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Lê Chânkhi đó đã chiêu mộ trai tráng để luyện binh, huấn luyện chu đáo, đặc biệt là vềthủy trận Sau đó, Bà đem theo binh lính gia nhập quân khởi nghĩa của Hai BàTrưng, lập nhiều chiến công giúp ta thu phục được 65 thành, Tô Định phải lui
về nước Từ đó, Bà được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa, giữchức chưởng quản binh quyền nội bộ, đứng ra tổ chức, luyện tập quân sĩ, tănggia sản xuất Đến năm 43, Mã Viện lại đưa quân sang xâm lược, Nữ tướngcùng quân Hai Bà Trưng chống cự quyết liệt cho đến khi không thể chống đỡđược nữa, Hai Bà Trưng trầm mình xuống Hát Giang tự vẫn Lê Chân cũngmất năm đó
Mặc dù đã trải qua thời gian rất dài nhưng việc tổ chức lễ hội đền Nghè
đã giúp cho thế hệ con cháu Hải Phòng ôn lại truyền thống đấu tranh chốnggiặc ngoại xâm của ông cha ta thuở trước Từ đó, bày tỏ được tấm lòng biết
ơn nữ tướng Lê Chân – người đã phai phá ra mảnh đất Hải Phòng cũng nhưcông lao của bà trong cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi của Tổ quốc Đồng thời,đối với học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận, lễ hội đền Nghè sẽ
là địp dể các em mở mang hiểu biết, tưởng nhớ đến công lao của vị nữ tướng
Trang 34của dân tộc Ngoài ra, đây cũng là dịp để các em có thể tham gia vào khônggian văn hóa dân tộc lâu đời của thành phố.
Có thể nói, giá trị lịch sử là giá trị điển hình và có ý nghĩa nhất, tạo nênlinh hồn của lễ hội đền Nghè Để từ xa xưa đến nay, lễ hội đền Nghè vẫn tiếptục duy trì, bảo tồn và phát huy Lễ hội đền Nghè chính là một minh chứngcho truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”của người Hải Phòng nói riêng, của người Việt Nam nói chung
3.1.2 Giá trị văn hoá cố kết cộng đồng
Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định
Đó có thể là cộng đồng làng xã (hội, làng), cộng đồng nghề nghiệp (hộinghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dântộc (hội Đền Hùng) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ…Chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kếtdính tạo nên sự cố kết cộng đồng
Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nên tảng gắnkết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữutài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phốicủa một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sựđồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)…
Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộngcảm của sức mạnh cộng đồng Trong lễ hội, người dân lo việc làng, cùng tổchức, thưởng thức, hòa mình vào lễ hội, quên đi những mâu thuẫn hàng ngày
Trong lễ hội không chỉ có người dân trong làng mà còn có người dâncác nơi khác về tham dự, tạo nên một không gian mang đậm tính cộng đồng.Trong lễ hội, tính cộng đồng này còn thể hiện trên tất cả các bình diện Mọihoạt động diễn ra trong lễ hội đều thể hiện tính cố kết cộng đồng, mang tínhbiểu trưng cao, tập trung sức mạnh của quần chúng
Trang 35Đối với người dân Hải Phòng, lễ hội đền Nghè là thời điểm để biểudương sức mạnh, sự cố kết tình cảm cộng đồng Trong đời sống thường nhật
và đặc biệt trong những sinh hoạt văn hóa dân gian, người dân còn gắn kếtvới nhau bởi nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa như âm nhạc,hát, múa… Tính cộng đồng của lễ hội đền Nghè được thể hiện từ trong côngviệc chuẩn bị, lễ hội, tổ chức lễ hội, trình diễn các điệu múa cờ, các trò chơi…tới khi kết thúc lễ hội
Ban đầu nhân dân trong vùng lập ra một Ban hành lễ cùng nhau đảmnhận trách nhiệm thực hiện các nghi lễ trong lễ hội
Tiếp theo, nhân dân trong vùng mà cụ thể nhân dân nơi diễn ra lễ hộiđền Nghè đã cùng nhau lau dọn các đồ tế khí, lau dọn di tích, sửa chữa nhữngchỗ hư hỏng, mua sắm những đồ mới để chuẩn bị cho việc tiến hành tổ chức
lễ hội thật trang nghiêm và sạch sẽ
Cuối cùng là việc thực hiện các nghi lễ có sự phân công chặt chẽ.Nhân dân không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, sang giàu cùng nhau thamgia như: các bậc trưởng lão uy tín được bầu vào Ban hành lễ, những ngườiphụ nữ cùng nhau đảm nhận các điệu múa trong quá trình rước kiệu haytrong phần hội, một số trai đinh thì rước kiệu, lấy nước tắm cho tượng(thực hiện lễ Mộc Dục), hay như những cụ già 70 – 80 tuổi đến từ 4h sángmặc quần áo lễ hội; các em học sinh ở các trường tiểu học, trung học cơ sở,trung học phổ thông cùng thầy, cô giáo luyện tập cho hội diễn; những bànội chợ, tiểu thương tự may quần áo, mua trống rồi mời thầy về dậy và lập
ra đội trống như câu lạc bộ trống đình Trực Cát (Vĩnh Niệm – Lê Chân –Hải Phòng)… Như vậy, ai cũng muốn góp một phần công sức vào việc tổchức lễ hội nhằm mục đích lễ hội diễn ra suôn sẻ, thành công Đây chính làbản chất nhân văn của con người, qua đó, tình đoàn kết, gắn bó, tương trợgiữa người với người thêm sâu sắc hơn