1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chênh lệch lãi suất USD- VND và hành vi của DN kinh doanh quốc tế

16 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 481 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chênh lệch lãi suất USD- VND và hành vi của DN kinh doanh quốc tế

Trang 1

Đề tài:

CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT USD – VND VÀ HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ

GVHD: Hồ Thúy Ái

Nhóm thực hiện:

Tổng quan và thực trạng chênh lệch lãi suất USD- VND trong năm 2010 (1+2)

Nguyên nhân chênh lệch lãi suất USD-VND trong 2010 (3)

Hành vi của DN trước biến động lãi suất (4.1) Hành vi của DN trước biến động lãi suất (4.2) Biện pháp của NHNN (5)

Nhìn chung, các thành viên trong nhóm đều tham gia họp nhóm đầy đủ, đóng góp ý kiến, và làm việc nhóm ăn ý.

1 Tổng quan

Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu Có nhiều loại lãi suất như: lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng, v.v

Khi quan sát bảng niêm yết lãi suất của các ngân hàng thương mại (NHTM), thấy rằng, cùng một thời hạn, các mức lãi suất của các đồng tiền khác nhau là rất khác nhau, đồng tiền này có mức lãi suất cao và đồng tiền kia lại có mức lãi suất thấp

Khi xét đến lãi suất USD-VND ta thấy rõ được sự khác nhau đó Nhìn chung, trên thị trường chợ đen cũng như hệ thống liên ngân hàng thì mặt bằng lãi suất VND bao giờ cũng cao hơn lãi suất USD Nếu so sánh với mặt bằng chung của nhiều nền kinh

tế phát triển, thì lãi suất huy động USD ở VN đã cao hơn 10 lần, còn lãi suất cho vay cũng cao gần xấp xỉ 2 lần

Trang 2

Nhìn vào đồ thị trên, ta thấy khoảng chênh lệch giữa lãi suất huy động VND và USD rõ ràng luôn ở mức khá lớn Cụ thể, vào thời gian 3 tháng 05, 07, 09 năm 2010, khoảng chênh lệch này xấp xỉ 8%/năm

2 Thực trạng chênh lệch lãi suất trong năm 2010

Xét trong năm 2010, lãi suất huy động USD vào khoảng 4-5% trong khi đó lãi

suất huy động VND lại cao,vào khoảng 11-12% Và 9 tháng đầu năm nay có thể được chia làm 2 xu hướng chính : Xu hướng chênh lệch lãi suất cao, và chênh lệch lãi suất thấp

2.1 Chênh lệch lãi suất USD – VND cao

Nhìn chung, chênh lệch lãi suất USD – VND khá lớn tập trung vào 3 tháng đầu năm Trong những tháng này, việc nguồn vốn USD tạm dư thừa đã là vấn đề cấp bách của không ít các NHTM, vì thế bằng nhiều cách NHTM phải đẩy vốn ngoại tệ ra thông qua những sản phẩm tín dụng với lãi suất thấp so với cho vay VND Lãi suất VND tăng cao trong khi lãi suất USD giảm Đặc biệt lãi suất vay VND tăng lên từ 15% -17%/năm, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 6% - 9%/năm Đối với LS huy động, LS huy động USD là 3.5 – 4.2%/năm , VND là 11.5 – 12%/năm

2.2 Chênh lệch lãi suất USD – VND thấp

Trong 2 tháng gần đây (tháng 8, 9) khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất USD – VND dần được rút ngắn: lãi suất USD tăng cao chưa từng có trước đây, còn lãi suất VND giảm nhẹ Lãi suất huy động USD tăng nhanh, có khi lên 5.5%,VND giảm nhưng vẫn ở mức khá cao, cụ thể 11.2%/năm

Trang 3

3 Nguyên nhân chênh lệch lãi suất USD – VND trong năm 2010

3.1 Chênh lệch lãi suất cao: Lãi suất USD giảm, lãi suất VND tăng 3.1.1 Lãi suất USD giảm

Tháng 8/2009, đứng trước nỗi lo thiếu vốn USD trong dài hạn khi mà nhu cầu vay USD

để hưởng lãi suất thấp và nhu cầu vay vốn ngoại tệ để nhập khẩu phục vụ cho quá trình sản xuất vào giai đoạn cuối năm tăng lên, làm bùng lên một làn sóng tăng lãi suất USD Mức điều chỉnh tăng lãi suất USD cao nhất lên đến 0,5%/năm, cụ thể tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á, từ mức lãi suất trước đây là 3%/năm kì hạn 60 tháng thì vào đầu tháng 9/2009 lên đến 3,5%/năm

Để ổn định thị trường ngoại tệ, tháng 12/2009, NHNN ban hành thông tư số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt là các đối tượng xuất khẩu Thông tư này tác động tín dụng ngoại tệ tăng đột biến tới 14,07% trong quý I/2010, trong khi cùng kì năm ngoái giảm 2,24%

Cũng trong tháng 12/2009, với chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ, NHNN ban hành thông tư 26/2009/TT-NHNN hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng nhằm thu hẹp một lượng ngoại tệ rất lớn đang được găm giữ Việc bán lại được thực hiện khá nhanh, tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó

Ngoài ra, để giảm bớt tình trạng thiếu hụt USD, CP có thể vay nợ nước ngoài hoặc cung ứng USD từ nguồn dự trữ ngoại hối Việc vay nợ nước ngoài có thể là trong nay hoặc mai, tuy nhiên, còn phải cân nhắc rất nhiều yếu tố Trước tình hình đó, ngày 18/1/2010, NHNN ban hành quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỉ lên dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng Việc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ làm nguồn vốn để các ngân hàng thương mại cho vay trên thị trường tăng một cách đáng kể

Cụ thể đối với kì hạn dưới 12 tháng, tỉ lệ dự trữ bắt buộc còn 4% thay vì 7%, đối với kì hạn trên 12 tháng còn 2% thay vì 3% làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000

tỉ đồng)

Đặc biệt, việc quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm khi mà NHNN ban hành thông tư số 03/2010/TT-NHNN, điều này làm ảnh hưởng rất lớn tới lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng USD, bởi trước đó, họ được hưởng lãi suất 2,3% - 4%/năm tại các NH thương mại nhà nước, và 3,3% - 4,5%/năm tại các NH thương mại cổ phần Quy định này buộc các tổ chức trên phải tự cân nhắc lợi ích, có thể bán ngoại tệ chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn Đồng thời, các NHTM đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này

Chính những nguyên nhân trên làm thay đổi tình trạng từ lo thiếu hụt vốn USD sang tình trạng dồi dào về nguồn cung USD trên thị trường Đây cũng chính là nguyên nhân chính khiến lãi suất USD giảm trong những tháng đầu năm 2010

Trang 4

3.1.2 Lãi suất VND tăng

Trong thời buổi đất chật, người đông, cùng với vàng, đô la, bất động sản được xem như

là nóng lên từng giờ, nhất là đối với những khu vực trung tâm, thành phố lớn Từ giữa năm 2009, nhiều khu vực tại TP.HCM và Hà Nội bùng lên các cơn sốt đất, đặc biệt là ở

Hà Nội khiến nhu cầu rút tiền gửi từ ngân hàng, vay vốn từ ngân hàng,…tăng lên Việc cầu vốn nội tệ trên thị trường bất động sản tăng, đẩy lãi suất VND lên cao

Hơn nữa, để đối phó với NHNN, khi NHNN ấn định tỉ lệ khống chế số dư vốn huy động (không quá 20% huy động từ các tổ chức và dân cư) và tỉ lệ sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn (không quá 40%) của các NHTM dẫn đến sự mất cân dối giữa huy động và sử dụng vốn tại các NHTM, buộc các NHTM phải tăng lãi suất huy động để giảm bớt sự mất cân đối giữa huy động và sử dụng vốn

Trong thời gian này, các tổ chức tín dụng đua nhau phát hành chứng khoán để tăng vốn theo quy định, tăng vốn theo kế hoạch ( 20 NHTM phải tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỉ đồng theo quy định, nhiều công ty niêm yết thực hiện tăng vốn theo kế hoạch năm 2010, các DN đua nhau phát hành trái phiếu),… buộc các tổ chức phải tăng cường thu hút vốn từ nền kinh tế Điều này càng làm cho mặt bằng lãi suất VND tăng thêm

3.2 Chênh lệch lãi suất thấp: Lãi suất USD tăng, lãi suất VND giảm nhẹ 3.2.1 Lãi suất USD tăng

Trong những tháng đầu năm 2010, trong khi lãi suất VND cao, lãi suất USD trở nên hấp dẫn hơn, chính điều này làm tín dụng ngoại tệ tăng nhanh, tăng 27% trong sáu tháng đầu năm, vượt khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng, thậm chí dư nợ cho vay ngoại

tệ của toàn hệ thống NH vượt tổng huy động ngoại tệ 2,05 tỉ USD (40.000 tỉ đồng) Nhằm cân đối cung cầu, trong 2 tháng gần đây, tháng 8 và tháng 9, các ngân hàng đã liên tục tăng lãi suất huy động USD Cụ thể, tại các ngân hàng lớn, lãi suất USD khoảng 4,5%/năm kì hạn 12 tháng, còn ở các NH nhỏ lên đến 5%/năm Lãi suất USD tăng nhanh, gấp đôi so với một năm trước, thậm chí lãi suất USD trong nước cao gấp 10 lần thế giới Với huy động kì hạn 3 tháng, ở VN lãi suất USD là 4,5 - 4,6%/năm, trong khi trên thị trường quốc tế chỉ khoảng 0,25 – 0,35%/năm với cùng kì hạn Tuy nhiên, vì huy động một lượng lớn USD từ tổ chức nước ngoài với mức lãi suất thấp như trên thị trường quốc tế là không thể nên các NH trong nước lại tiếp tục huy động từ thị trường nội địa Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, “lãi suất USD ở VN đang cao một cách phi lí” khi so với thị trường quốc tế, nhưng vì giữ chân khách hàng (nhất là khi tỉ giá tăng mạnh, khách hàng có thể rút tiết kiệm USD đem bán và chuyển sang VND) và để thu hút khách hàng về nên lãi suất USD của các NH cứ đồng loạt tăng

Chưa kể các khoản vay USD của các doanh nghiệp từ đầu năm dồn dập đáo hạn từ tháng 9, trong khi đó, hiện tại các NH đều đang khan USD, bởi lượng USD huy động ở mức thấp, do đó, để tăng lượng huy động buộc các NH cũng phải sử dụng đến công cụ lãi suất

Ngày 18/8/2010, NHNN thực hiện phá giá VND gần 2,1 % từ 18.544 VND/USD xuống 18.932 VND/USD, nhằm tạo điều kiện cho các NH thuận lợi hơn trong việc huy động

Trang 5

USD, thế nhưng, mức phá giá này vẫn chưa đủ để cân đối cung - cầu Các NH tiếp tục chạy đua lãi suất huy động USD, chưa kể kèm theo các dịch vụ khuyến mãi Ví dụ tại

NH xuất nhập khẩu VN (Eximbank), lãi suất USD kì hạn 12 tháng là 4,25%/năm, và lên đến 4,45%/năm nếu cộng thêm 0,2%/năm lãi suất thưởng

Ngày 1/10/1010, áp dụng thông tư số 13, chỉ được sử dụng tối đa 80% vốn huy động để cho vay, trong đó không bao gồm tiền gửi không kì hạn của các tổ chức kinh tế, kho bạc nhà nước, bảo hiểm xã hội và các tổ chức khác, khiến nguồn vốn dành để cho vay giảm

đi Do đó, các NH lại phải tăng lãi suất huy động

Ngoài những nguyên nhân trên, thâm hụt cán cân thương mại, thâm hụt cán cân vãng lai,… cũng là nguyên nhân khiến các NH tăng lãi suất huy động USD

3.2.2 Lãi suất VND giảm nhẹ

Ngày 5/7, nhóm các NHTM, thành viên của hiệp hội ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã họp và đồng thuận điều chỉnh lãi suất huy động VND xuống mức 11%/năm đối với nhóm NHTM nhà nước, và 11,2%/năm đối với nhóm NHTM cổ phần

Ngoài ra, NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ nhằm ổn định mặt bằng lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần: tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kì hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ, chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn

và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp với diễn biến nền kinh tế

Thực hiện thông tư 13, ngành ngân hàng tập trung thực hiện giảm lãi suất VND, cụ thể NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã tăng vốn điều lệ lên thêm 33% từ 13.224 tỉ đồng là bằng chứng cho quyết tâm thực hiện giảm lãi suất VND

Tuy nhiên, lãi suất VND chỉ giảm nhẹ và hiện vẫn còn đang ở mức cao

4 Hành vi của doanh nghiệp trước sự biến động của lãi suất

4.1 Các doanh nghiệp tham gia nhằm mục đích kiếm lời

Trước thực trạng chênh lệch lãi suất giữa VND-USD, các doanh nghiệp khi tham gia thị trường sẽ thực hiện kinh doanh trên sự chênh lệch đó Các doanh nghiệp lựa chọn đồng tiền nào cho mục tiêu kinh doanh của mình sẽ phải xem xét các yếu tố khi quyết định đầu tư

4.1.1 Cơ sở ra quyết định của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp khi quyết định lựa chọn đồng tiền đi đầu tư hay đi vay đều phải chú ý đến lãi suất của các đồng tiền Tuy nhiên đồng tiền có lãi suất cao không có nghĩa rằng nhà đầu tư sẽ đầu tư vào đồng tiền đó Lãi suất các nhà đầu tư nhận được lúc này là lãi suất danh nghĩa chứ không phải lãi suất thực của các đồng tiền

Trang 6

 Lãi suất danh nghĩa: chỉ đơn thuần là lãi suất khi ta nhìn vào bảng lãi suất của các ngân hàng niêm yết trên thị trường

 Lãi suất thực : chính là lãi suất của các đồng tiền khi ta quy đổi kèm theo tỷ giá giữa hai đồng tiền đó

 Khi doanh nghiệp có trong tay số tiền là A VND.Tỷ giá giao ngay lúc này là St Doanh nghiệp có hai phương án lựa chọn:

 Thứ nhất, doanh nghiệp đem tiền vào ngân hàng gửi với lãi suất huy động là Ih/năm Sau 1 năm doanh nghiệp thu về khoản tiền A*(1+Ih) VND

Thứ hai, doanh nghiệp đem số tiền A VND bây giờ đổi ra A/St USD và gởi ngân hàng với lãi suất huy động If/ năm Sau một năm doanh nghiệp thu về khoản tiền A*(1+If)/St

USD

Tuy nhiên để có thể so sánh được khoản đầu tư nào đem lại lợi ích nhiều hơn thì doanh nghiệp cần quy đổi chúng về cùng một đơn vị thì mới có thể so sánh được Giả sử tỷ giá lúc này là Fn, khoản tiền doanh nghiệp thu về ở phương án thứ hai là A*(1+If)*Fn/St VND Chênh lệch giá trị giữa hai khoản tiền thu được từ phương án một và phương án hai phụ thuộc hoàn toàn vào lãi suất và tỷ giá của chúng Sau đây là bảng so sánh lợi ích từ hai khoản tiền thu về:

So Sánh

I h > I f I h = I f I h < I f

S t <

F n

Hai khoản đầu tư bằng nhau cần có một mức bù kì hạn Nghĩa

là tỷ giá lúc sau phải cao hơn tỷ giá lúc đầu

Khoản đầu tư bằng VND sẽ đem lại lợi nhuận ít hơn USD

Hai khoản đầu tư bằng nhau cần có một mức bù kì hạn (Fn < St) TH này St <

Fn nên đầu tư vào USD sẽ được lợi hơn

S t =

F n

Khoản đầu tư bằng VND sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn USD

Khoản tiền đầu tư bằng VND sẽ đem lại lợi nhuận bằng USD

Khoản đầu tư bằng VND sẽ đem lại ít lợi nhuận hơn USD

S t >

F n

Hai khoản đầu tư bằng nhau cần có một mức bù kì hạn (St

<Fn) TH này S t > Fn

nên đầu tư VND sẽ lợi hơn

Khoản đầu tư bằng VND sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn USD Hai khoản đầu tưbằng nhau cần có

một mức bù kì hạn Nghĩa là tỷ giá lúc sau phải thấp hơn tỷ giá lúc đầu

Trang 7

Qua bảng phân tích trên các doanh nghiệp cần nhận thấy rằng:

 Mặc dù có sự chênh lệch lãi suất danh nghĩa tuy nhiên các doanh nghiệp chỉ nên quan tâm đến chênh lêch lãi suất thực Và nhân tố quan trọng quyết định chênh lệch lãi suất thực đó chính là sự thay đổi của tỷ giá kỳ hạn so với tỷ giá giao ngay

 Lãi suất danh nghĩa của đồng tiền này cao không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ đầu tư vào đồng tiền đó Điều đó còn phụ thuộc vào tỷ giá kỳ hạn

4.1.2 Phân tích hành vi của các doanh nghiệp trong thời gian qua

Trong xu hướng 1 thị trường lúc này đang có sự chênh lệch lớn giữa lãi suất USD và VND Lãi suất USD thấp trong khi đó lãi suất VND cao Cùng với sự biến động tỷ giá trong ngắn hạn xem như là không đáng kể Lãi suất thực của USD lúc này thấp hơn lãi suất thực của VND Như vậy doanh nghiệp đi vay bằng USD sẽ chịu chi phi thấp hơn, doanh nghiệp gửi ngân hàng bằng VND sẽ có lợi nhuận cao hơn Thật vậy:

Đối với hoạt động lựa chọn đồng tiền đầu tư:

Với cùng một khoản tiền VND nhất định để đầu tư, các doanh nghiệp nhận thấy khi đầu

tư vào VND sẽ được hưởng một khoản tiền lớn do lãi suất huy động VND lúc này khá cao khoảng 11.5-12% Hơn là khi đầu tư vào USD bằng cách chuyển số tiền VND đó sang USD với tỷ giá nhất định rồi sau đó đem gửi ngân hàng với lãi suất USD thấp khoảng 3.5-4.2%

Ví dụ: giả định tỷ giá giao ngay và kì hạn không đổi 1USD = 19000VND

Với số tiền 19 tỷ VND, DN đem đi gửi NH với lãi suất 11,5%, sau một năm DN nhận được 21.185 tỷ VND

Nếu đem khoản tiền này đổi sang USD, DN thu được 1 triệu USD sau đó đem gửi NH với lãi suất 4%/năm, thì sẽ thu được 1,04 triệu USD, đem quy về VND chỉ thu được 19,76 tỷ VND

Như vậy đem số tiền bằng VND đi gửi ngân hàng doanh nghiệp nhận về khoản lợi lớn hơn

Đối với hoạt động lựa chọn đồng tiền đi vay:

Cũng tương tự thì với cùng một khoản tiền cần vay các doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng khi vay bằng VND thì họ phải trả số lãi cao cho mức lãi suất vay VND cao vào khoảng 16-18% Thay vào đó, họ có thể đi vay số tiền tương đương bằng USD theo tỷ giá chuyển đổi nhất định với lãi suất thấp hơn chỉ khoảng 6-9%, do đó họ sẽ phải trả một số lãi ít hơn là vay bằng VND

Trang 8

Trong trường hợp các doanh nghiệp chỉ có USD thì họ sẽ phải bán đi để lấy VND gửi ngân hàng, còn các doanh nghiệp đi vay nếu cần VND thì sẽ vay USD rồi bán lại lấy VND

Như vậy, nếu là các doanh nghiệp lựa chọn đồng tiền để đầu tư thì họ sẽ chọn đầu tư bằng VND trong khi các doanh nghiệp đi vay thì sẽ chọn vay USD

Do chênh lệch lãi suất quá lớn các doanh nghiệp sẽ tận dụng cơ hội để kiếm những khoản lợi đầu tư lớn và sẽ chỉ phải chi những chi phí thấp hơn

Trong xu hướng hai khoảng cách chênh lệch lãi suất lúc này đã được rút bớt

Lãi suất USD tăng cao song lãi suất VND giảm không đáng kể Có thể nói mặt bằng lãi suất VND vẫn còn khá cao so với USD Vì vậy các doanh nghiệp lúc này vẫn lựa chọn

đi vay bằng USD là chủ yếu

Hơn nữa, cuối năm các doanh nghiệp cần nguồn USD để thanh toán các đơn hàng, các hợp đồng đến hạn, do đó nhu cầu USD là rất lớn

Những khoản lợi mà các doanh nghiệp kiếm được trong các trường hợp trên chỉ tồn tại trong ngắn hạn Bởi vì trong ngắn hạn sự biến động của tỷ giá được xem như là không đáng kể Tuy nhiên, tỷ giá thì luôn biến động trong tương lai mà các doanh nghiệp không thể dự đoán trước Tỷ giá biến động sẽ gây rủi ro cho các doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp lựa chọn các hình thức bảo hiểm rủi ro tỷ giá và lãi suất để hạn chế bớt rủi ro cho mình

4.2 Các doanh nghiệp đi bảo hiểm rủi ro tỉ giá và lãi suất

4.2.1 Những rủi ro tiềm ẩn từ hoạt động kinh doanh

Như phần phân tích trên chúng ta thấy trong thời gian qua các doanh nghiệp đã lựa chọn

đi vay đồng USD và đầu tư vào đồng VND nhằm tiềm kiếm lợi ích trong sự chênh lệch lãi suất thực giữa hai đồng tiền Tuy nhiên có một điều mà chúng ta cần chú ý: hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất chỉ thực hiện được khi sự biến động của tỉ giá là không đáng kể đủ để đảm bảo cho các doanh nghiệp còn duy trì được lợi ích cho mình Chính

vì vậy bước sử dụng hợp đồng kì hạn trong phân tích trên có thể thấy là một bước không thể thiếu nhằm hạn chế sự biến động bất lợi của tỉ giá

Ngay cả những doanh nghiệp không tham gia vào để kinh doanh chênh lệch lãi suất, tuy nhiên đứng trước giữa hai đồng vốn rẻ và đắt cũng đưa họ đến quyết định phải lựa chọn một đồng vay phù hợp là điều cần thiết Tuy nhiên lợi ích chỉ là trong ngắn hạn, chỉ là những dự tính ban đầu của họ Về lâu dài kinh tế biến động chúng ta không thể dự tính được bởi vậy nguồn lợi nhuận tương lai cũng không thể xác định trước được Các doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì đây là 1 điều quá rủi ro và tối kị

Trang 9

Vì vậy hơn bao giờ hết công cụ phái sinh ra đời là một biện pháp cần thiết cho các doanh nghiệp trang bị thêm công cụ phòng chống sự rủi ro trước sự biến động của tỉ giá cũng như lãi suất

4.2.2 Doanh nghiệp sử dụng các hợp đồng phái sinh hạn chế rủi ro tỉ giá

và lãi suất

Hiện nay ở Việt Nam thị trường phái sinh vẫn còn rất hạn chế Bên cạnh đó trước sự biến động của tỷ giá thì chính phủ luôn có những động thái tương ứng nhằm điều chỉnh lại tỉ giá nên nhìn chung sự biến động tỉ giá ở Việt Nam dường như là không đáng kể Bởi vậy các công cụ phái sinh không thể có một môi trường thuận lợi để phát triển cũng như phát huy tác dụng của mình Hiện nay, các giao dịch phái sinh chủ yếu chỉ xoanh quoanh 2 loại giao dịch chính đó là

 Giao dịch ngoại tệ

 Giao dịch phái sinh

Chúng ta sẽ không nói quá nhiều về các loại hợp đồng này để tránh lạc đề Chúng ta chỉ cần biết vì sao những hợp đồng này lại được sử dụng trong hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất của các nhà đầu tư và bên cạnh đó chúng ta sẽ cùng làm rõ những đặc điểm khác biệt của các loại hợp đồng này

Đây là bảng do nhóm thống kê về các loại hợp đồng phái sinh hiện đang cung cấp tại các NHTMCP hiện nay

NGÂN HÀNG

TMCP

Trang 10

4.2.2.1 Giao dịch ngoại tệ:

Hạn chế sự biến động của tỉ giá là một điều rất cần thiết giúp các doanh nghiệp dự đoán được lợi nhuận hàng năm của mình Sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về các loại giao dịch này

Trong thời gian vừa qua việc doanh nghiệp lựa chọn đi vay USD và đầu tư vào đồng VND đã được giải thích trong phần trên Nhưng có 1 bước quan trong trong hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất mà chúng ta không được bỏ qua Đó là thời điểm mà nhà kinh doanh đồng thời kí 1 hợp đồng kì hạn vào lúc vay USD để bảo vệ khoản tiền qui đổi được sau này của mình trước sự biến động của tỉ giá

Điều chúng ta cần chú ý lúc này là cách xác định tỉ giá kì hạn cho các chủ thể mua quyền

là như thế nào Có một qui tắc chung làm nền tảng để ta xác định giá trị cũng như chi phi

hay tỉ giá thực hiện cho các loại hợp đồng phái sinh đó là: “Chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia phải được bù đắp bởi chênh lệch tỷ giá giữa hai đồng tiền để những người kinh doanh chênh lệch giá không thể sử dụng hợp đồng kỳ hạn kiếm lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch lãi suất” Điều này có nghĩa là nếu lãi suất ngắn hạn ở

VND cao hơn ở Mỹ thì thì trong tương lai đồng VND sẽ giảm giá so với USD đủ để

bù đắp những khoản lợi nhuận từ việc kinh doanh chênh lệch lãi suất

Nếu ta gọi

• F là tỷ giá kỳ hạn

• S là tỷ giá giao ngay, chẳng hạn S = USD/VND

• rd là lãi suất của đồng tiền định giá, tức là lãi suất VND

• ry là lãi suất của đồng tiền yết giá, tức là lãi suất USD

Giả sử hiện tại rd > ry lãi suất VND cao hơn USD Nhà đầu tư cảm nhận trong ngắn hạn việc đi vay USD đầu tư vào VND là rất thuận lợi

Vậy là các nhà đầu tư Mĩ sẽ dịch chuyển nguồn vốn từ Mĩ sang VN, bởi vậy lúc này họ cần VND Giả sử họ có trong tay p USD  số tiền VND họ có được p*S VND, sau 1 năm họ nhận p*S(1 + rd) Lúc này các nhà đầu tư cần qui đổi số tiền này về USD để sử dụng trong nước  p*S(1 + rd)/F USD

Nếu không có sự dịch chuyển nguồn vốn đầu tư sang VN thì số tiền mà các nhà đầu tư

Mĩ nhận được sau 1 năm p*(1 + ry) USD

Rõ rang theo nguyên tắc trên thì tỉ giá kì hạn phải được xác định sao cho không tồn tại 1

cơ hội kinh doanh chênh lệch lãi suất Hay nói cách khác ta có

p*S(1 + r d )/F = p*(1 + r y ) hay F = S(1 + rd)/(1+ ry)

Đây là các bước để xác định tỉ giá kì hạn cho hợp đồng

Sau đây ta cùng điểm qua ví dụ sau để hiểu rõ vì sao loại hợp đồng này ra đời

 Công ty X tại VN đang muốn huy động một nguồn vốn lớn Tuy nhiên lãi suất kì vọng của các nhà đầu tư hiện tại đang khá cao Vậy là họ quyết định phát hành các chứng khoán ra nước ngoài với mức lãi suất thấp hơn Các nhà đầu tư muốn đa

Ngày đăng: 04/06/2016, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w