1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện kế toán doanh nghiệp bảo hiểm ở việt nam

134 381 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 15,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài | Trong những năm qua, kể từ khi mở cửa thị trường bảo hiểm, nhất là sau khi iễm có hiệu lực 01/4/2001, hoạt động kinh doanh của các Luật Kinh doanh bảo do

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP HỌC VIỆN

Trang 2

TT | Hoc hàm, học vị Họ và tên Chức vụ, đơn vị

CHU NHIEM DE TAI

1 PGS., TS Hoang Manh Cir Phó Trưởng Khoa NH & BH

Phó Trưởng BM Bảo hiểm

THU KY DE TAI

2 Ths Ngô Văn Hậu Phó Giám đốc Trung tâm

Bồi dưỡng và Tư vấn TCKT

THAM GIA DE TAT

3 Th§ Nguyễn Thị Thu Hà Giảng viên chính

Bộ môn Bảo hiểm

4 Th§ Đoàn Thị Thu Hương Giảng viên chính

Bộ môn Bảo hiểm

Bộ môn Bảo hiểm

Trang 3

Trang

Sơ đỗ 1| Sơ đồ hạch toán chỉ phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc | 118

Sơ đồ 2_ | Sơ đỗ hạch toán chỉ phí hoạt động kinh doanh nhận tái

Sơ đỗ 7 | Trình tự ghỉ số kế toán theo hình thức Chứng từ ghỉ số 124

Sơ đỗ 8 | Mô hình kế toán trên máy của Bảo Việt 68

Trang 4

Mỡ đầu

bảo hiểm

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kế toán doanh ngi

1.1 Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.1 Vai trò của bảo hiểm

1.1.2 Vai trò của kế toán doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.3 Nội dung và yêu cầu của kế toán doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán doanh nghiệp bảo hiềm

1.2 Những nguyên tắc kế toán doanh nghiệp bảo hiểm

1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm

1.3.1 Hoạt động bảo hiểm là một ch trình kinh doanh đảo ngược

1

2 Hoạt động đầu tư tài chính luôn gắn liền với hoạt động bảo hiểm

1.3.3 Doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

1.3.4 Phạm vi hoạt động bảo hiểm rộng, bao gồm nhiều hoạt động

1.3.5 Hoa hồng bảo hiểm được tính vào chỉ phí trục tiếp

13.6 Bồi thường, trả tiền bảo hiểm là khoản chỉ chủ yếu của doanh nghiệp

1.4.3 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

1.4.4 Tổ chức hình thức kế toán theo quy định

1.4.5 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán

1.4.6 Tổ chức lập và phan tích báo cáo tài chính

1.4.7 Tổ chức áp dụng tin học trong công tác kế toán

Trang 5

hiện nay

2.1 Khái quát về thị trường bảo hiểm Việt nam

Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

Đặc điểm của thị trường bảo hiểm Việt Nam

2.2.1 Hệ thống kế toán doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước quy định

2.2.2 Hệ thống chứng từ kế toán doanh nghiệp bảo hiểm

2.2.3 Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghỉ

2.2.4 Phương pháp kế toán các nghiệp vụ chủ yếu trong kinh doanh bảo hiểm

2.2.5 Hệ thống số kế toán

2.2.6 Hệ thống báo cáo tài chính

2.3 Thực tế công tác kế toán doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán doanh nghiệp Bảo hiểm

ở Việt Nam hiện nay

3.1 u hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

Trang 6

3.3 Giải pháp hoàn thiện kế toán doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt nam hiện nay

3.3.1 Hoàn thiện chế độ tài chính tạo điều kiện cho hoạt động kế toán của các

doanh nghiệp bảo hiểm

3.3.2 Bộ sung thêm một số tài khoản kế toán

3.3.3 Mở thêm các tài khoản chỉ tiết phục vụ cho việc xác định biên khả năng,

thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm

3.3.4 Quy định phương pháp kế toán doanh thu đúng với thời điểm ghi nhận

3.3.5 Vận dụng linh hoạt các hình thức kế toán

3.3.6 Thay đổi một số chỉ tiêu, khoản mục trong Báo cáo tài chính

Phụ lục 6: Sơ đỗ hạch toán doanh thu hoạt động kinh doanh nhận tái bảo hiểm

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài |

Trong những năm qua, kể từ khi mở cửa thị trường bảo hiểm, nhất là sau khi

iễm có hiệu lực (01/4/2001), hoạt động kinh doanh của các

Luật Kinh doanh bảo

doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) mới thực sự khởi sắc, đến nay đã thu được những, kết quả đáng kể, phát huy vai trò trung gian tài chính, từng bước đáp ứng được yêu

cầu phát triển và ồn định nền kinh tế, thúc đây hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên,

hoạt động bảo hiểm trong thời gian qua vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định

như: quy mô thị trường còn nhỏ, tính chuyên nghiệp chưa cao, hiệu quả đầu tư còn

thấp, văn bản pháp lý quy định còn nhiễu bắt cập, gây cản trở cho sự phát triển

của thị trường cũng như sự quản lý giám sát của Nhà nước

Chế độ kế toán áp dụng cho các DNBH hiện nay về cơ bản đã đáp ứng yêu

cầu quản lý của Nhà nước và của doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Tuy nhiên, do việc xây dựng và ban hành chế độ kế toán DNBH chưa được

tiến hành trong điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính sách tài chính với chuẩn mực và chế độ kế toán Có nhiều nội dung đã được quy định trong chế độ kế

toán DNBH nhưng chính sách tài chính chưa quy định, hoặc quy định chưa rõ rang;

hệ thống tài khoản kế toán còn thiếu, chưa chỉ tiết; phương pháp kế toán còn chưa

cụ thể; báo cáo tài chính còn bắt cậi

- gây khó khăn và dẫn đến tình trạng áp dụng

không thống nhát, dé tùy tiện trong các DNBH

Kế toán với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quan

trọng trong quản lý nền kinh tế nói chung, quản lý hoạt động kintrdoanh bảo hiểm

Trang 8

cơ bản của chế độ kế toán DNBH và thực tế công tác kế toán trong các DNBH trên

thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua; chỉ ra các hạn chế, bắt cập của chế độ kế toán và thực tế tác nghiệp kế toán trước những xu hướng phát triển của thị trường; đề tài đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán trong các DNBH ở

Việt Nam trong thời gian tới

thọ va phi nhân thọ, theo các văn bản pháp quy về kế toán hiện hành

4 Phương pháp nghiên cứu 'Tập thể nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện

chứng; cụ thể là các phương pháp thống kê, quy nạp, phân tích, so sánh,

5 Kết cấu

Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung,

chính của đề tài được trình bày trong 3 chương:

~ Chương 1: Những vấn đề lý luận về kế toán DNBH

~ Chương 2: Thực tế công tác kế toán DNBH ở Việt Nam hiện nay

~ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán DNBH ở Việt Nam hiện nay.

Trang 9

NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VẺ KÉ TOÁN DOANH NGHIỆP BẢO HIEM

1.1 VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

Rủi ro chính là nguồn gốc phát sinh nhu cầu về bảo hiểm Mặc dù bảo hiểm

đã ra đời từ lâu, song cho đến nay vẫn có nhiều tác giả đưa ra những quan niệm

khác nhau về bảo hiểm Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn

nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau

'Về phương diện kinh tế, bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí

bảo hiểm và DNBH cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện

bảo hiểm

Về phương diện tài chính, bảo hiểm chính là sự vận động của các nguồn tài

lực trong việc huy động sự đóng góp (phí bảo hiểm) của các tổ chức kinh tế và cá

nhân tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm), để lập quỹ bảo hiểm và phân phối, sử

dụng nó bồi thường những tổn thất vật chắt, chỉ trả cho tai nạn bất ngờ xảy ra đối

với các đối tượng bảo hiểm Thực chất hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại một phần thu nhập quốc dân giữa những người tham gia bảo hiểm thông qua người bảo hiểm Quá trình phân phối này, nhờ có người bảo hiểm, đã lam phát sinh

những người tham gia bảo hiểm với nhau Vì vậy, bản chất của hoạt động bảo hiểm là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm đảm bảo an toàn cho quá trình sản xuất và đời

sống của con người trước những rủi ro, tai nạn có thẻ Xây ra

người, hoạt động bảo hiểm có vai trò rất quan trong.

Trang 10

Bao hiểm còn được xem như một chính sách xã hội, phục vụ cho công cuộc

xây dựng và phát triển xã hội Hoạt động của các DNBH đã góp phẩn thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo; giúp Ngân sách nhà nước không bị động trong

việc chỉ trợ cấp do thiên tai, tai nạn bất ngờ ; luôn chú ý đến việc áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo

an toàn cho tính mạng, sức khoẻ con người, của cải vật chất của xã hội; góp phần

giải quyết tình trạng thiểu việc làm và những vấn đề xã hội liên quan

Dưới góc độ tài chính, bảo hiểm là một khâu tài chính tập trung thực hiện chức năng phân phối dưới hình thức giá trị, đồng thời thực hiện chức năng giám

đốc quá trình phân phối

Trong cơ chế thị trường, bảo hiểm là một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đặc

Không chỉ thỏa mãn nhu cầu đảm bảo về mặt tài chính trước các rủi ro cho

khách hàng bảo hiểm, các DNBH còn có vai trò trung gian tài chính, thu hút vốn,

cung ứng vốn, góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn, thúc đẩy tăng nhanh sự luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nên kinh tế, thúc đây phát triển kinh tế xã hội

Trên tất cả các phương diện đó thể hiện bảo hiểm không chỉ có tính chất kinh

doanh mà còn đóng vai trò là người phục vụ cho nền kinh tế Vai trò quan trọng,

của bảo hiểm cũng thể hiện xu hướng phát triển của hoạt động kinh doanh bảo

hiểm ngày càng mạnh mẽ và phức tạp để phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội

Trang 11

Do vậy đòi hỏi cần có sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh này, trong

đó kế toán DNBH đóng vai trò quan trọng

1.1.2 Vai trò của kế toán DNBH

Là công cụ phục vụ cho hoạt động quản lý kinh tế, kế toán ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người Gắn liền với hoạt động quản lý, kế toán đã có sự thay đổi và phát triển không ngừng về nội dung, phương pháp, để đáp ứng nhu cầu quản lý ngày càng cao các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Các quan niệm, nhận thức về kế toán theo đó cũng phát

triển và ngày càng hoàn thiện Tuy còn có những quan điểm ở những phạm vi và góc độ khác nhau, nhưng hiện nay tắt cả các quan niệm đều gắn kế toán với việc

phục vụ cho công tác quản lý Luật Kế toán Việt Nam (có hiệu lực từ 01/01/2004)

cũng chỉ rõ “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông

tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của các DNBH, với tư cách là khoa

học thu nhận, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin, kế toán được coi là

một trong những công cụ rất quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động kinh

tẾ, tài chính Thông tin kế toán ở các DNBH không những cần thiết cho người ra quyết định quản lý trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng ở bên

ngoài doanh nghiệp Do có phạm vi cung cấp, phục vụ thông tin khác nhau nên kế

toán DNBH được chia thành kế toán tài chính DNBH và kế toán quản trị DNBH

Kế toán tài chính DNBH là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng các báo cáo tài chính cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của DNBH -

Kế toán quản trị DNBH là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông

bộ DNBH.

Trang 12

Khi thực hiện công việc kế toán tài chính và kế toán quản trị, DNBH phải

thực hiện kế toán tổng hợp và kế toán chỉ tiết

Kế toán tổng hợp phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng quát về hoạt động kinh tế, tài chính của DNBH Kế toán tổng hợp sử dụng đơn vị tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả

hoạt động kinh tế, tài chính của DNBH

Kế toán chỉ tiết phải thu thập, xử lý, ghỉ chép và cung cấp thông tin chi tiết

bằng đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động theo từng đối

iết minh họa cho kế toán tổng hợp

tượng kế toán cụ thể trong DNBH Kế toán chỉ

Số liệu kế toán chỉ tiết phải khíp đúng với số liệu kế toán tổng hợp trong một kỳ kế

toán

Sản phẩm cuối cùng của kế toán DNBH là hệ thống báo cáo tài chính chứa

đựng những thông tỉn cần thiết cho các đối tượng sử dụng khác nhau nhằm đề ra

được các quyết định quản lý phù hợp

Kế toán DNBH không chỉ cung cắp thông tin thoả mãn nhu cầu của các nhà

quản trị doanh nghiệp mà còn chủ yếu phục vụ cho các đối tượng có lợi ích trực

tiếp và lợi ích gián tiếp bên ngoài DNBH

'Nhờ vào các thông tin đo kế toán cung cấp, các nhà quản trị DNBH như Hội

đồng quản trị, Ban Giám đốc, biết được tình hình sử dụng các loại tài sản, lao động, vật tư, tiền vốn, tình hình chỉ phí và kết quả hoạt động kinh doanh, nhằm

phục vụ cho việc điều hành, quản lý kịp thời; đồng thời phân tích, đánh giá tình hình, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó đề ra các biện pháp, quyết định

Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán cung cấp là

các chủ đầu tư, các cổ đông, những đối tác liên doanh, các chủ nợ Dựa vào các

thông tin kế toán của DNBH cung cắp, họ có thể đưa ra những quyết định đầu tư,

góp vốn, cho vay,

Trang 13

Những đối tượng có lợi ích gián tiếp đối với thông tin do ké toán cung cấp là

các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước như Thuế, Tài chính, Thống kê, Vụ

tin do kế toán tài chính cung cấp để kiểm tra, giám sát tình hình tài chính cũng như

tình hình hoạt động kinh doanh của DNBH; kiểm tra việc chấp hành các chính

sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính Tài liệu, số liệu kế toán tài chính là cơ sở

để xem xét, xử lý vi phạm pháp luật Trên cơ sở thông tin kế toán DNBH, các cơ

quan quản lý, cơ quan ban hành chính sách, chế độ tiến hành tông hợp, nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách, chế độ quản lý hiện hành và đề ra những chính sách, chế

độ phù hợp nhằm thực hiện chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

1.1.3 Nội dung và yêu cầu của kế toán DNBH

1.1.3.1 Nội dung công tác kế toán DIVBH

Đối tượng của kế toán trong mọi loại hình doanh nghiệp với các lĩnh vực hoạt động khác nhau đều là tài sản, sự vận động của tài sản và những quan hệ có tính pháp lý trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

Sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm hình thành nên các nghiệp vụ kinh tế tài chính rat phong phú, đa dạng với nội dung, mức

độ và tính chất phức tạp khác nhau, đòi hỏi kế toán phải phản ánh, ghi chép, xử lý,

phân loại và tống hợp một cách kịp thời, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống theo các

nguyên tắc, chuẩn mực và những phương pháp của kế toán tài chính Tuy các

nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đa dạng, song căn cứ vào đặc điểm hình thành

và sự vận động của tài sản cũng như nội dung, tính chất cùng loại của các nghiệp

vụ kinh tế tài chính, toàn bộ công tác kế toán DNBH bao gồm những nội dung chủ

yếu sau:

- Kế toán tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

- Kế toán tài sản cố định và đầu tư dài hạn

- Kế toán các khoản thanh toán

Trang 14

- Kế toán chỉ phí kinh doanh

- Kế toán doanh thu, xác định kết quả và phân phối kết quả

~ Kế toán nguồn vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

- Lập hệ thống báo cáo tài chính

Những nội dung trên của kế toán DNBH được Nhà nước quy định thống nhất

từ việc lập chứng từ các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, cũng như quy định

nội dung, phương pháp ghỉ chép trên các tài khoản kế toán, số kế toán tổng hợp và

lập hệ thống báo cáo tài chính phục vụ cho công tác điều hành và quản lý thống

nhất trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Điều này hoàn toàn phù hợp với các nội

dung công tác kế toán được quy định tại chương II của Luật Kế toán Việt Nam (có

¡ khoản kế toán và số kế toán;

kế

hiệu lực từ 01/01/04), bao gồm: Chứng từ kế toán:

Báo cáo tài chính; Kiểm tra kế toán; Kiểm kê tài sản, bảo quản, lưu trữ tài

toán; Công việc kế toán trong trường hợp đơn vị kế toán chia, tách, hợp nhất, sáp

nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản

1.1.3.2 Yêu cầu của kế toán tài chính DNBH

Để cung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng nhằm phát

huy vai trò quan trọng trong công tác quản lý, kế toán DNBH phải đảm bảo được

những yêu cầu quy định tại điều 6 Luật Kế toán Việt Nam (01/01/04), bao gồm:

1 Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế

toán, số kế toán và báo cáo tải chính

Các số liệu, thông tin kinh tế, tài chính của DNBH phải được phản ánh từ khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh cho đến lúc nó kết thúc, tức là phải theo dõi trên một quá trình

2 Phân ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tỉn, số liệu kế toán

Các thông tin và số liệu kế toán tài chính DNBH phải được ghi chép và báo

cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ, giúp cho

các đối tượng sử dụng thông tin có thể đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tế

Trang 15

3 Phân ánh rõ rang, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán

Người sử dụng thông tin kế toán là những người có hiểu biết về kinh doanh,

về kinh tế tài chính ở mức trung bình Những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài

chính phải được giải trình trong phần thuyết minh

4 Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của

nghiệp vụ kinh tế, tài chính

Việc ghỉ chép phải được thực hiện trên cơ sở những bằng chứng đúng với

thực tế, không được có sự sai lệch, xuyên tạc hay bóp méo, nếu không sẽ dẫn đến

sai lầm trong quyết định của người sử dụng thông tin Chính vì vậy, đây là một yêu cầu quan trọng

5 Thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến

khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt

động của đơn vị kế toán; số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp theo số liệu

kế toán của kỳ trước

6 Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và

có thể so sánh được

Để đảm bảo yêu cầu này, đòi hỏi phải có sự nhất quán giữa chính sách và phương pháp kế toán mà DNBH áp dụng

Các yêu cầu nêu trên cũng được quy định tại Chuẩn mực Kế toán Việt Nam

số 01 “Chuẩn mực chung” (Ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ- BTC ngày

31/12/2002), đó là: Trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thé so sánh được

Điều 5 Luật Kế toán Việt Nam (01/01/04) quy định các nhiệm vụ của kế toán Kế toán DNBH là một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp trong nền kinh tế nên cũng phải thực hiện những yêu cầu và nhiệm vụ chung của kế toán,

Trang 16

Trong các DNBH, kế toán được sử dụng như một công cụ có hiệu quả nhất

để phản ánh khách quan và giám đốc quá trình kinh doanh bảo hiểm Điều này

được thể hiện qua các nhiệm vụ của kế toán DNBH:

- Thu thập, xử lý thông tỉn, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công

iệc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán

- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chỉ tài chính, các nghĩa vụ thu, nội

phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

- Phân tích thông tỉn, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục

vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của DNBH

- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ bản trên, kế toán DNBH cần tôn trọng các

nguyên tắc cơ bản của kế toán

12 NHỮNG NGUYÊN TẮC KÉ TOÁN DOANH NGHIỆP BẢO HIẾM

gia đều có chế độ kế toán DNBH phù hợp Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế

“mở”, cùng với sự hội nhập về kinh tế, nhất thiết phải có sự hội nhập về kế toán

giữa các quốc gia Chính vì vậy, việc ghỉ chép, phản ánh, xử lý, cung cấp thông tin

kế toán cần phải tuân thủ những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận do Liên

đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC- International Federation of Accountant) nghiên cứu

và ban hành Những nguyên tắc này cũng được quy định tại Chuẩn mực Kế toán

Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” (Ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ- BTC ngày 31/12/2002)

1.2.1 Cơ sở dồn tích

Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DNBH liên quan đến tài sản, nợ phải

trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chỉ phí phải được ghỉ sổ kế toán vào thời

Trang 17

điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chỉ tiền hoặc

tương đương tiền

Như vậy, kế toán dựa trên cơ sở dồn tích khác với kế toán quỹ trước đây Khi

áp dụng kế toán quỹ, doanh thu chỉ được ghi nhận khi đã thu được tiền, còn chỉ phí

chỉ được ghỉ nhận khi đã chỉ tiền

Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích thông báo cho người sử dụng

không chỉ thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính đó phát sinh, liên quan đến việc thu chỉ tiền, mà cả thông tin về những nghĩa vụ chỉ tiền, cũng như những

khoản tiễn sẽ thu được trong tương lai của doanh nghiệp bảo hiểm Như vậy báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp

bảo hiểm trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

Một trong những lợi ích quan trọng của báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn

tích là đảm bảo tính so sánh giữa các kỳ kế toán

1.2.2 Hoạt động liên tục

Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là DNBH đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gan, nghĩa

là DNBH không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải

thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình

Hoạt động liên tục có liên quan đến việc lập các báo cáo tài chính Việc áp dụng nguyên tắc này đồi hỏi tài sản của DNBH phải được ghi nhận ban đầu theo gid gốc, bởi lẽ khi DNBH đang hoạt động liên tục và tiếp tục hoạt động trong tương lai gần thì những tài sản của DNBH sẽ không bị bán đi, do vậy giá thị trường của tài sản không phù hợp và không cần thiết phải phản ánh khi lập báo cáo tài chính

Nguyên tắc này đúng trong hẳu hết các trường hợp Tuy nhiên, trong trường,

hợp DNBH bị giải thể, phá sản, sáp nhập thì nguyên tắc này không còn đúng nữa

Lúc đó, DNBH phải khóa số kế toán, đánh giá lại tài sản của mình, khi ấy, giá thị

trường của tài sản lại được sử dụng,

Trang 18

1.2.3 Giá gốc (giá vốn)

Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã

trả, phải tra hộc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đĩ vào thời điểm tài sản đĩ được ghỉ nhận

Nguyên tắc này địi hỏi tất cả các tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chỉ phí

phải được ghỉ nhận theo giá gốc DNBH khơng được tự điều chỉnh lại giá trị tài sản

đã ghỉ số kế tốn trừ khi cĩ qui định khác của pháp luật hoặc chuẩn mực kế tốn cụ

Nguyên tắc này chú trọng đến những yếu tố mang tính quyết định đến bản

chất của sự kiện kinh tế, đồng thời cho phép bỏ qua những yếu tố khơng ảnh hưởng

trực tiếp đến bản chất của sự kiện kinh tế phát sinh

Trang 19

Chỉ phí có liên quan đến việc tạo ra doanh thu bao gồm chỉ phí trong kỳ, chỉ

phí kỳ trước, chỉ phí phải trả để tạo ra doanh thu đó

1.2.6 Thận trọng

'Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính

kế toán trong các điều kiện không chắc chắn

Sở dĩ cần thiết phải áp dụng nguyên tắc này là do trong hoạt động kinh

doanh, các DNBH luôn phải đối mặt với những rủi ro và những tình huống không,

chắc chấn như khả năng tăng giảm giá chứng khoán hay khả năng thu hồi các

khoản nợ khó đòi

Nguyên tắc này đòi hỏi phải thực hiện những yêu cầu sau:

~ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn

- Không được đánh giá cao hơn giá trị các tài sản và thu nhập

- Không được đánh giá thấp hơn giá trị các khoản nợ và chỉ phí

~ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về

khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chỉ phí chỉ được ghỉ nhận khi có bằng chứng

về khả năng phát sinh chỉ phí

1.2.7 Nhất quán

Các chính sách và phương pháp kế toán DNBH đã chọn phải được thống

nhất trong suốt các niên độ kế toán Trường hợp có thay đổi thì phải giải thích lý do

và ảnh hưởng của sự thay đổi đó

Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho số liệu, thông tin kế toán được trung

thực, khách quan, đảm bảo tính thống nhất, so sánh được các chỉ tiêu giữa các kỳ

kế toán Điều 7 Luật Kế toán Việt Nam (có hiệu lực từ 01/01/04) quy định các nguyên tắc kế toán nói chung:

~ Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, gồm chỉ phí mua, bốc xếp, vận

Trang 20

- Các quy định và phương pháp kế toán đã chọn phải được áp dụng nhất

quán trong kỳ kế toán năm; trường hợp có thay đổi về các quy định và phương pháp kế toán đã chọn thì đơn vị kế toán phải giải trình trong báo cáo tài chính

- Đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

~ Thông tỉn, số liệu trong báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải được công khai theo quy định về nội dung công khai báo cáo tài chính của Luật Kế toán Việt Nam

~ Đơn vị kế toán phải sử dụng phương pháp đánh giá tài sản và phân bổ các

khoản thu, chỉ một cách thận trọng, không được làm sai lệch kết quả hoạt động

kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán

13 DAC DIEM HOAT DONG KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP BAO

HIEM ANH HUONG DEN CONG TAC KE TOAN

Để thực sự là một trong những công cụ quản lý, đảm bảo việc thu nhận, xử

lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính phục vụ cho việc ra quyết định, kế toán

DNBH phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, hoạt động quản

lý, quy mô và địa bản hoạt động Dưới đây là những đặc điểm cơ bản trong hoạt động kinh doanh của các DNBH ảnh hưởng đến kế toán DNBH

1.3.1 Hoạt động bảo hiểm là một chu trình kinh doanh đảo ngược

Các DNBH thu phí bảo hiểm trước (từ người tham gia bảo hiểm đóng góp)

và thực hiện việc bồi thường, trả tiền bảo hiểm sau (khi xảy ra sự kiện bảo hiểm)

Do đó, các DNBH luôn hình thành một quỹ từ các khoản phí thu được và quỹ này

phải được quản lý chặt chẽ để đảm bảo khả năng chỉ trả, thực hiện đầy đủ các cam

kết với khách hàng

Trang 21

Nghị định 46/2007/NĐ-CP (27/3/2007) quy định các DNBH phải lộn dự trữ khoản tiền dùng để bồi thường, trả tiền bảo hiểm thường xuyên Khoản tiên này

được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và được quy định không

thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm đối với DNBH phi nhân thọ,

không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm đối với DNBH nhân thọ

Điều này đòi hỏi kế toán DNBH phải quản lý chặt chẽ các khoản vốn của

DNBH, nhất là các khoản vốn bằng tiền nhằm đảm bảo khả năng thực hiện cam kết

đối với khách hàng bảo hiểm

1.3.2 Hoạt động đầu tư tài chính luôn gắn với hoạt động bảo hiểm

Đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là có sự chênh lệch giữa thời

điểm thu phí và thời điểm bồi thường, trả tiền bảo hiểm nên DNBH luôn có nguồn

vốn nhàn rỗi, do đó hoạt động đầu tư tài chính luôn gắn với hoạt động kinh doanh

bảo hiểm

Mọi DNBH đều phải tiến hành hoạt động đầu tư tài chính với mục đích phục

vụ cho hoạt động kinh doanh và thu lợi nhuận để bảo toàn và phát triển vốn nhằm

đảm bảo thực hiện cam kết với khách hàng, nhất là các DNBH nhân thọ Thực tế

hiện nay, ngày cảng có nhiều DNBH tham gia thị trường, mức độ cạnh tranh ngày

càng gay gắt, do vậy, việc thực hiện hoạt động đầu tư có hiệu quả là một yếu tố giúp DNBH đảm bảo kết quả kinh doanh, phát triển an toàn và lành mạnh

Không chỉ từ các khoản phí bảo hiểm thu được, Nghị định 46/2007/NĐ-CP

(27/3/2007) da chỉ rõ nguồn vốn đầu tư của DNBH bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và các nguồn hợp pháp khác

theo quy định của pháp luật

Do vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm là khoản nợ của DNBH đối

với khách hàng bảo hiểm, vì vậy, nguồn vốn này cần được quản lý chặt chẽ Nghị định 46/2007/NĐ-CP (27/3/2007) đã quy định phạm vi đầu tư đối với nguồn vốn

Trang 22

1 Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ:

a) Mua trái phiều Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế;

b) Mua cỗ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 35%;

©) Kinh doanh bắt động sản, cho vay tối đa 20%;

2 Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:

a) Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiểu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế;

b) Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào

các doanh nghiệp khác tối đa 50%;

©) Kinh doanh bắt động sản, cho vay tối đa 40%

Đặc điểm này đòi hỏi kế toán DNBH phải quản lý chặt chẽ hoạt động đầu tư không chỉ theo từng hình thức (ngắn hạn, dài hạn), theo tỷ trọng, vốn (quyền biểu quyết), mà còn theo phạm vi, danh mục (nhất la bat động sản) và nguồn vốn đầu tư vào mỗi danh mục,

1.3.3 DNBH phải trích lập DPNV bảo hiểm

Trích lập các quĩ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm (DPNV) là sự bắt buộc đối

với DNBH Về phương diện kỹ thuật, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một chu trình kinh doanh đảo ngược DNBH thu phí bảo hiểm trước (tiền bán sản phẩm bảo

hiểm), việc bồi thường, trả tiền bảo hiểm (giá trị sử dụng chủ yếu của sản phẩm bảo

hiểm) được thực hiện sau khi mua sản phẩm bảo hiểm một thời gian, có thẻ là khá

dài 5 năm, 10 năm, (trong bảo hiểm nhân thọ) Nếu so sánh với các loại hàng hoá thông thường khác, không thẻ có chuyện "tiền giao, cháo múc" trong quan hệ mua bán sản phẩm bảo hiểm

Trang 23

Đứng trên góc độ tài chính, DNBH luôn tạm thời nắm giữ, quản lý một lượng tiền thu trước của khách hàng, đó là số phí bảo hiểm đã thu nhưng tạm thời

bảo thực hiện các cam kết với khách hàng mà DNBH còn “nợ” Ở nước ta, Luật

Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (có hiệu lực từ 01⁄4/2001) tại Điều 77, Khoản 2

cũng qui định: "DNBH được coi là đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ

dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm"

Luật pháp của các nước còn bắt buộc các DNBH phải trích lập DPNV bảo

hiểm riêng biệt cho từng nghiệp vụ bảo hiểm Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (có hiệu lực từ 01/4/2001) tại Điều 96 khoản 2 quy định: “DPNV bảo hiểm phải

được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng với phần trách nhiệm của DNBH” Bên cạnh mục đích bảo vệ quyền lợi cho khách hàng bảo hiểm, việc Nhà nước quy định trích lập DPNV bảo hiểm thực chất là một chính sách tài chính

nhằm quản lý lý vốn, tài sản của các DNBH, đảm bảo nguyên tắc phù hợp và thận

trọng Các quĩ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm luôn là đối tượng kiểm tra, giám sát

của Nhà nước đối với DNBH Tùy thuộc vào bản chất kỹ thuật của nghiệp vụ là

bảo hiểm phi nhân thọ hay bảo hiểm nhân thọ mà DNBH phải trích lập các dự

phòng nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau

Các DNBH phi nhân thọ phải trích lập các DPNV, bao gồm: Dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thưởng và dự phòng dao động lớn Các DNBH nhân thọ phải trích lập các DPNV, bao gồm: Dự phòng toán bọc, dự phòng phí

chưa được hưởng, dự phòng trả tiền bảo hiểm, dự phòng cam- kết chia lời và dự

phòng đảm bảo cân đối

Dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm là loại dự phòng riêng có của DNBH Cũng như các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, các DNBH

Trang 24

dự phòng giảm giá hàng tồn kho hay dự phòng phải thu khó đòi Tuy nhiên, giữa

dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của DNBH và các loại dự phòng trên có bản chất khác nhau

Các loại dự phòng vừa kể trên có vị trí trong Bảng cân đối kế toán ở bên

phòng nghiệp vụ bảo hiểm của DNBH không làm giảm giá trị tài sản Đây là khoản

bên Nguồn vốn, phần Nợ phải trả

1.3.4 Phạm vi hoạt động bảo hiểm rộng, bao gồm nhiều hoạt động

M tiêu thức khác nhau, các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành những loại khác

¡ DNBH triển khai nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau Tùy theo những

nhau Theo đối tượng bảo hiểm, các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành 3 loại: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người Theo hình

thức bảo hiểm, các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành bảo hiểm tự nguyện và bảo

hiểm bắt buộc Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo

hiểm (Chương I, điều 7), các nghiệp vụ bảo hiểm được chỉa thành:

1 Bảo hiểm nhân thọ, bao gồm: Bảo hiểm trọn đời; bảo hiểm sinh kỳ; bảo hiểm tử kỳ; bảo hiểm hỗn hợp; bảo hiểm trả tiền định kỳ; bảo hiểm liên kết đầu tư; bảo hiểm hưu trí

2 Bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

sắt và đường hàng không; bảo hiểm hàng không; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nỗ; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; bảo hiểm trách

nhiệm; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; bảo

hiểm nông nghiệp

Trang 25

3 Bảo hiểm sức khoẻ, bao gồm: Bảo hiểm tai nạn con người; bảo hiểm y tế; bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ

lý nhà nước về bảo hiểm cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho DNBH, kiểm

tra hoạt động của các DNBH và thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về bảo

hiểm Cũng theo tiêu thức này, trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, đã xuất hiện các loại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động, bao gồm: doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm sức

khỏe Tùy theo những loại doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau mà chế độ kế toán áp

dụng được quy định là không giống nhau

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm

Kinh doanh bảo hiểm bao gồm các hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, kinh doanh

nhận tái, kinh doanh nhượng tái,

- Kinh doanh bảo hiểm góc: Là việc doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp các

dịch vụ bảo hiểm trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm

- Kinh doanh nhận tái bảo hiển: Là việc DNBH nhận một phần hay toàn bộ rủi ro của DNBH khác

- Kinh doanh nhượng tái bảo hiểm: Là việc DNBH chuyển một phần hay

toàn bộ rủi ro đã nhận tái bảo hiểm cho DNBH khác

Hơn nữa, trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, đòi hỏi DNBH phải đa

đạng hóa sản phẩm, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu về bảo hiểm của xã hội, trong mỗi hoạt động lại có nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau

Đặc điểm này chỉ phối đến toàn bộ công tác kế toán DNBH, Việc tổ chức

công tác kế toán của các DNBH chủ yếu phù hợp với mô hình kế toán nửa tập

trung, nửa phân tán Chỉ phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh bảo hiểm

phải được hạch toán chỉ tiết cho từng loại hoạt động, từn; : ig khoản mục, từng nghiệp

vụ bảo hiểm,

Trang 26

Ye

tu

hy

1.3.5 Hoa hồng bảo hiểm được tính vào chỉ phí trực tiếp

Hoa hồng bảo hiểm là các khoản chỉ phí của DNBH trả trực tiếp cho doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm sau khi những tổ chức, cá nhân này

mang lại dịch vụ cho DNBH Tùy theo nội dung công việc được ủy quyền và trong

phạm vi tỷ lệ hoa hồng được trích, DNBH có thể phân bổ cho từng nội dung Mục

V khoản 6 tiết 6.1 Thông tư 155/2007/TT-BTC (20/12/2007) và Điều 41 Thông tư 124/TT-BTC (30/7/2012) quy định DNBH được chủ động sử dụng hoa hồng bảo hiểm chỉ cho các nội dung sau:

- Chỉ phí khai thác ban đầu (tìm hiều, thuyết phục, giới thiệu khách hàng);

- Chỉ phí thu phí bảo hiểm;

~ Chỉ phí theo dõi hợp đồng, thuyết phục duy trì hợp đồng bảo hiểm

Nguồn chỉ trả hoa hồng bảo hiểm được lấy từ phí bảo hiểm Điều đó cũng

đồng nghĩa với việc môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm chỉ có thể được nhận hoa hồng trên cơ sở phí bảo hiểm thực thu Khoản | Điều 22 Nghị định 45/2007/NĐ-

CP (27/3/2007) quy định các DNBH chỉ được chỉ trả hoa hồng bảo hiểm từ phần

phí bảo hiểm thu được theo tỷ lệ

Tỷ lệ hoa hồng môi giới bảo hiểm được xác định trên cơ sở thoả thuận giữa

DNBH và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phù hợp với luật pháp Việt Nam và tập quán quốc tế Tuỳ thuộc vào phạm vi, mức độ và nội dung dịch vụ môi giới bảo

thực tế thu được

Các DNBH chỉ được trích hoa hồng đại lý bảo hiểm không vượt quá tỷ lỆ

hoa hồng đại lý đo Bộ Tài chính quy định Tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm tối đa mà

DNBH được phép trả cho đại lý bảo hiêm đối với từng loại nghiệp vụ bảo

được thực hiện theo quy định tại Thông tư 155/2007/TT-BTC (20/12/2007) và hiện

nay là Thông tư 124/TT-BTC (30/7/2012) Đối với hợp đồng bảo hiểm trọn gói,

Trang 27

hoa hồng đại lý bảo hiểm được tính bằng tổng số hoa hồng của từng rủi ro được

bảo hiểm

Đối với DNBH, hoa hồng bảo hiểm là khoản chỉ chủ yếu trong chỉ phí ban đầu để có được dịch vụ Thông thường khoản chỉ này được hạch toán vào chỉ phí

bán hàng Song do đặc thù của hoạt động bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm được xác

định chính xác cho mỗi dịch vụ, phát sinh chắc chắn (không mang tính bếp bênh

như khoản chỉ bồi thường, trả tiền bảo hiểm), phát sinh thường xuyên và có thể

chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong một số dịch vụ, do vậy, để đảm bảo nguyên tắc phù hợp và trọng yếu, hoa hồng bảo hiểm được hạch toán vào chỉ phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm

1.3.6 Bồi thường, trả tiền bảo hiểm là khoản chỉ chủ yếu của DNBH

Hoạt động của DNBH bao gồm hoạt động kinh doanh bảo hiểm (bao gồm cả

tái bảo hiểm), hoạt động tài chính và hoạt động khác Để tồn tại và phát triển,

DNBH phải bỏ ra những khoản chỉ phí cho từng hoạt động Chỉ phí của DNBH là

số tiền phải chỉ, phải trích phát sinh trong kỳ

Như vậy, chỉ phí của DNBH phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định theo năm (kỳ kế toán cơ bản) hoặc quý, tháng (kỳ kế

toán tạm thời) Nó bao gồm tất cả các chỉ phí mà DNBH phải chỉ ra, phải trích lập

để tồn tại và để hoạt động, bất kể đó là chỉ phí khách quan hay chủ quan (khoản

thiệt hại về tài sản, khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng, ) Các khoản phải trích

lập chủ yếu là dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Để đảm bảo nguyên tắc “phù hợp”,

khái niệm chỉ phí của DNBH cần được xem xét trong mối quan hệ với doanh thu,

thu nhập của DNBH

Chỉ phí trong DNBH bao gồm nhiều loại, nhiều khoản mục khác nhau Để

thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chỉ phí cũng như phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế, chỉ phí của doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu

Trang 28

+ Chỉ phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Bao gồm chỉ phí trực tiếp kinh

doanh bảo hiểm, chỉ phí bán hàng và chỉ phí quản lý doanh nghiệp

+ Chỉ phí hoạt động tài chính

+ Chỉ phí khác

Chỉ phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm bao gồm các khoản chỉ cho các hoạt

động kinh doanh bảo hiểm gốc, kinh doanh nhận tái và kinh doanh nhượng tái

Chí bồi thường, trả tiền bảo hiểm gồm những khoản tiền mà DNBH trả trực

tiếp theo cam kết của hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng bảo hiểm khi xảy ra rủi

ro thuộc phạm vi trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm gốc Đây là khoản chỉ phí

cơ bản trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của DNBH Khoản chỉ phí này phát sinh thường xuyên, chiếm tỷ trọng lớn và thường có qui mô tỷ lệ thuận với năng

lực kinh doanh của DNBH vẻ các nghiệp vụ bảo hiểm

Trong thực tiễn kinh doanh bảo hiểm, sau khi bồi thường/ trả tiền bảo hiểm, DNBH có thể thu lại được một khoản tiền từ người nhượng tái (theo hợp đồng tái

bảo hiểm), từ người thứ ba (do thực hiện nguyên tắc thế quyền) hoặc từ việc xử lý

những tài sản đã bồi thường 100% Về bản chất, những khoản thu trên đã góp phần

làm số thực chỉ bồi thường/ trả tiền bảo hiểm giảm; do vậy chúng không được ghỉ

nhận là doanh thu Để phản ánh điều này, chế độ kế toán DNBH quy định những khoản giảm chỉ kinh doanh bảo hiểm gốc, bao gồm: Thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm; thu đòi người thư ba; thu xử lý hàng bồi thường 100%

1.3.7 Tính đặc thù về doanh thu và ghi nhận doanh thu của DNBH

“Theo Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” (31/12/01):

Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, bao gồm:

Trang 29

- Doanh thu bán hàng

~ Doanh thu cung cấp dịch vụ

~ Tiền lãi,

Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghỉ nhận khi kết quả của

„ Kết quả của giao dịch cung lền bản quyền, cô tức và lợi nhuận được chia

giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy,

cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn tất cả 4 điều kiện sau:

a Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

b Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;

c Xác định được phần công việc đã hoàn vào ngày lập Bảng cân đối kế toán;

d Xác định được chỉ phí phát sinh cho giao dịch và chỉ phí để hoàn thành

giao dịch cung cấp dịch vụ đó

Theo Nghị định 46/2007/NĐ- CP (27/3/07): Doanh thu của DNBH là số tiền

phải thu phát sinh trong kỳ

Ngoài khái niệm doanh thu, Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu

nhập khác” (3 1/12/01) cũng đưa ra khái niệm thu nhập khác Theo chuẩn mực này, thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu

Hoạt động của DNBH được chia thành: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động bắt thường khác, Theo đó, doanh thu được

tạo ra từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính, còn thu

nhập được hình thành từ hoạt động bắt thường khác của DNBH

Thời điểm ghỉ nhận doanh thu đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm là thời điểm DNBH đã nhận trách nhiệm trước các rủi ro đã cam kết trong hợp đồng bảo

hiểm, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền: Điều 15 Luật Kinh

doanh bảo hiểm sửa đổi (24/11/2010) quy định:

khi có một trong những trường hợp sau đây: “Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh

Trang 30

2 Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa

DNBH và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm;

3 Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua

bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.”

Cần phải lưu ý rằng chỉ khi hợp đồng bảo hiểm thực sự phát sinh hiệu lực thì

doanh thu phí bảo hiểm mới được ghi nhận, đồng thời doanh thu ghỉ nhận trong kỳ

kế toán nào phải là số phí bảo hiểm phải thu của những hợp đồng bảo hiểm phát sinh hiệu lực trong kỳ kế toán ấy Nếu hợp đồng bảo hiểm mới chỉ được ký kết mà

chưa đến ngày bắt đầu có hiệu lực, mặc dù đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh

toán phí bảo hiểm, thì vẫn chưa được ghỉ nhận là doanh thu

1.4 TÔ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa, để tồn tại và phát triển DNBH

cũng như các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác phải sử dụng có

hiệu quả các nguồn lực Muốn vậy, DNBH phải nắm bắt đầy đủ, kịp thời mọi thông

tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Để đáp ứng điều

đó nhằm đảm bảo thực hiện tốt vai trò của mình trong công tác quản lý, đòi hỏi tổ chức công tác kế toán DNBH phải thực hiện đồng bộ các yêu cầu sau:

~ Đúng những quy định trong Luật Kế toán và Chuẩn mực Kế toán

~ Phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh (nhân thọ, phi nhân thọ), hoạt động quản lý và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp

~ Tuân thủ chế độ, chính sách, văn bản pháp quy về kế toán của Nhà nước

- Phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ

quản lý, cán bộ kế toán trong doanh nghiệp

~ Đảm bảo gọn nhẹ, tiết kiệm và hiệu quả.

Trang 31

Những nội dung cơ bản của việc tổ chức công tác kế toán tài chính DNBH

bao gồm:

~ Tổ chức bộ máy kế toán

- Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

~ Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

~ Tổ chức hình thức kế toán theo qui định

~ Tổ chức công tác kiểm tra kế toán

- Tổ chức lập và phân tích báo cáo tài chính

~ Tổ chức trang bị và ứng dụng các phương tiện kỹ thuật xử lý thông tin

1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán

Việc tổ chức bộ máy kế toán phải đảm bảo hợp lý, gọn nhẹ, hoạt động có

hiệu quả; đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và hữu ích cho

đối tượng sử dụng, đồng thời góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ kế toán Để thực hiện điều đó, tổ chức bộ máy kế toán DNBH phải căn cứ vào phạm vi hoạt động, đặc điểm tổ chức và quy mô kinh doanh, tình hình phân cấp quản lý, khối lượng và tính chất phức tạp của các nghiệp vụ triển khai,

Có 3 mô hình tổ chức kế toán doanh nghiệp bảo hiểm có thể lựa chọn:

~ Mô hình tổ chức công tác kế toán tập trung

~ Mô hình tổ chức công tác kế toán phân tán

~ Mô hình tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán

Mô hình tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán được áp dụng, phô biển đối với các DNBH hiện nay Sở dĩ lựa chọn mô hình này vì việc tổ chức kinhdoanh của DNBH được chia thành nhiều bộ phận (công -ty thành viên, chỉ nhánh, phòng bảo hiểm khu vực, ) phủ kín trên địa bàn hoạt động rộng; có những

Độ phận trực thuộc ở gần, có những bộ phận trực thuộc ở xa văn phòng,

doanh nghiệp Công tác kế toán ở các bộ phận trực thuộc xa văn phòng, trụ sở do trụ sở của

phòng, tổ kế toán ở các bộ phận đó thực hiện, định kỳ tổng hợp số liệu gửi về Ban,

Trang 32

Phòng kế toán của doanh nghiệp Hoạt động kế toán của các bộ phận ở gần sẽ do

Ban, Phòng kế toán của doanh nghiệp thực hiện cùng với việc tổng hợp số liệu

chung toàn doanh nghiệp và lập báo cáo tài chính định kỳ

1.4.2 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm rất đa dạng, diễn ra thường xuyên, liên tục

Để phản ánh kịp thời, đầy đủ và trung thực những thông tin kinh tế về hoạt động

kinh doanh bảo hiểm, DNBH cần phải tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, hạch toán ban đầu và luân chuyển chứng từ một cách khoa học và hợp lý

Hệ thống chứng từ kế toán DNBH bao gồm chứng từ bắt buộc và chứng từ

hướng dẫn Các DNBH phải thực hiện các quy định về nội dung, phương pháp lập giá trị pháp lý của các chứng từ thống nhất bất buộc Đối với các chứng từ hướng

dẫn, tùy thuộc điều kiện, yêu cầu cụ thể, DNBH lựa chọn, vận dụng cho phù hợp

Căn cứ vào hệ thống chứng từ do Nhà nước ban hành, các DNBH cần vận

dụng những mẫu chứng từ ban đầu phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát

sinh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Ngoài những chứng từ thống nhất như

các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác, các DNBH còn phải lập các chứng từ đặc thù

Nội dung tổ chức hệ thống chứng từ kế toán DNBH:

- Lập danh mục chứng từ sử dụng cho từng bộ phận, hướng dẫn ghi chép,

kiểm tra và phân loại chứng từ đối với từng nhân viên kế toán

- Phân công và qui định rõ trách nhiệm cho từng người, từng bộ phận trong,

việc thu nhận, xử lý thông tin ban đầu

~ Qui định qui trình luân chuyển chứng từ, phục vụ cho việc ghi số kế toán

- Lưu trữ chứng từ

1.4.3 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

Hệ thống tài khoản kế toán DNBH là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống chế độ kế toán DNBH

Trang 33

Hệ thống tài khoản kế toán DNBH phải được xây dựng dựa trên hệ thống tài

khoản kế toán doanh nghiệp nói chung; đồng thời phải có tính đặc thà đề đảm bảo phản ánh đẩy đủ các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh trong các DNBH, phù

hợp với yêu cầu quản lý, đặc điểm thị trường bảo hiểm và nền kinh tế nước ta hiện nay cũng như trong thời gian tới Bên cạnh đó, hệ thống tài khoản kế toán DNBH

phải thể hiện được sự vận dụng có chọn lọc các chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt

Nam, phù hợp với các thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực có tính phổ biến của kế

toán các nước có thị trường bảo hiểm phát triển; đồng thời tạo khả năng ứng dụng

công nghệ thông tin và xử lý thông tin bằng máy tính

1.4.4 Tổ chức hình thức kế toán theo qui định

Hình thức kế toán là hệ thống tổ chức sổ kế toán, bao gồm số lượng sổ, kết cấu mẫu sổ, mối quan hệ giữa các loại s6 được sử dụng đẻ ghi chép, tổng hợp, hệ thống hoá số liệu từ chứng từ gốc

Hiện nay có các hình thức kế toán sau:

- Hình thức kế toán nhật ký- chứng từ

- Hình thức kế toán nhật ký sổ cái

- Hình thức kế toán chứng từ ghi số

- Hình thức kế toán nhật ký chung

Hình thức kế toán chứng từ ghỉ sổ được áp dụng đối với các DNBH Hình

thức kế toán này có đặc trưng cơ bản là lập và sử dụng các “Chứng từ ghỉ sổ” làm

căn cứ trực tiếp để ghỉ số kế toán tổng hợp Việc ghỉ số kế toán tổng hợp bao gồm:

~ Ghỉ theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ

- Ghỉ theo nội dung kinh tế trên Số Cái

Chứng từ ghỉ số do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc Bảng

Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế,

Trang 34

1.4.5 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán

Công tác kiểm tra kế toán trong DNBH được thực hiện bởi bộ phận kiểm tra

kế toán hoặc nhân viên chuyên trách kiểm tra kế toán do Giám đốc và kế toán trưởng chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo Tùy theo yêu cầu, có thể tiến hành kiểm

các nội dung hoặc theo từng nội dung riêng biệt Nội dung công tác kiểm tra kế

toán trong DNBH bao gồm:

- Kiểm tra việc lập và luân chuyển các chứng từ kế toán; kiểm tra việc sử

dụng tài khoản và ghỉ chép các số kế toán đảm bảo đúng qui định của Luật kế toán,

chế độ kế toán, chính sách chế độ tài chính

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện trách nhiệm và sự phối hợp công việc giữa các nhân viên trong bộ máy kế toán, mối quan hệ công tác giữa bộ phận kế

toán và các bộ phận quản lý chức năng khác trong doanh nghiệp

Phương pháp kiểm tra kế toán được áp dụng là phương pháp đối chiếu, bao gồm: Đối chiếu số liệu giữa các chứng từ kế toán, số kế toán và báo cáo tài chính

với nhau; giữa số liệu kế toán của doanh nghiệp với các đơn vị kế toán có liên quan; giữa số liệu kế toán với thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và

từ kế toán, số kế toán, báo cáo kế toán) Tuy nhiên, để giảm bớt khối lượng công việc kiểm tra, rút ngắn thời gian kiểm tra mà vẫn đảm bảo tính đúng đắn và khách

Trang 35

quan, trong thực tẾ công tác kiểm tra kế toán thường được tiến hành họng tâm,

trọng điểm, trình tự từ trên xuống (báo cáo kế toán, số kế toán, chứng từ kế toán)

Kiểm tra kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, công tác kế

toán; giúp DNBH phát hiện và ngăn ngừa những hiện tượng vi phạm chính sách,

chế độ quản lý và kế toán Vì vậy công tác kiểm tra kế toán cần phải được thực

hiện thường xuyên, tiến hành theo đúng chế độ quy định Kết quả kiểm tra kế toán

DNBH phải được lập biên bản hoặc trình bảy trong báo cáo kiểm tra, trong đó chứa

đựng các nội dung cụ thể như: Nội dung kiểm tra, phạm vi và thời gian tiến hành,

những kết luận, nhận xét, đề nghị của Ban kiểm tra kế toán,

1.4.6 Tổ chức lập và phân tích báo cáo tài chính

Hệ thống báo cáo tài chính của DNBH bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán

~ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

~ Thuyết mình báo cáo tài chính

Đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp niêm yết trên thị trường,

chứng khoán phải lập hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ (báo cáo tài chính 4wý) Các Tập đoàn (Công ty mẹ trong tập đoàn) và Tổng công ty nhà nước phải

lập báo cáo tài chính hợp nhất Các đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán

trực thuộc phải lập báo cáo tài chính tổng hợp Việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các DNBH tuân thủ theo quy định tại chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận cho ngành ban hành

Ngoài các báo cáo tài chính nêu trên, các DNBH còn phải lập các báo cáo

thông kê, báo cáo nghiệp vụ theo quy định về chế độ tài chính -

Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ phương pháp lập,

nộp báo cáo tài chính, đồng thời phải đảm bảo nội dung va th ời hạn công khai báo nội dung và thời hạn

Trang 36

thành tài sản; kết quả hoạt động kinh doanh; trích lập và sử dụng các quĩ; thu nhập của người lao động

Không chỉ phản ánh, ghi chép, tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán vào

còn phải phân tích các báo cáo tài chính Việc phân tích báo cáo tài chính giúp DNBH đánh giá tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh và tình hình

biến động của một số chỉ tiêu chủ yếu, từ đó có những kiến nghị, đề xuất cho lãnh

đạo doanh nghiệp để đưa ra các giải pháp hữu hiệu, các quyết định thích hợp cho việc điều hành, quản lý và định hướng phát triển cho doanh nghiệp

1.4.7 Tổ chức áp dụng tin học trong công tác kế toán

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán

được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính Phân mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán

hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi số kế toán, nhưng phải in được đầy đủ số kế toán và

báo cáo tài chính theo quy định Phần mềm kế toán được thiết kế theo hình thức kế

toán nào sẽ có các loại số của hình thức kế toán đó nhưng không hoản toàn giống

mẫu số kế toán ghỉ bằng tay

Nội dung chủ yếu tổ chức kế toán trên máy bao gồm: Tổ chức mua sắm trang

bị phần cứng, phần mềm phù hợp; tuyển dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ thực hiện;

xây dựng hệ thống số kế toán chỉ tiết và tổng hợp, trình bày và cung cấp thông tin;

tổ chức hệ thống mã hóa các đối tượng quản lý; tổ chức việc nhập dữ liệu; tổ chức

thực hiện chương trình tren máy và quản trị người sử dụng

Trang 37

Kế toán trên máy được thực hiện theo trình tự sau: /

- Hàng ngày hoặc định kỳ, kế toán căn cứ vào chứng từ k toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi

sổ, xác định tài khoản ghỉ Nợ, tài khoản ghi Có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng, biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán

Theo quy trình của phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào

số kế toán tổng hợp và các sổ, thẻ kế toán chỉ tiết liên quan

- Cuối tháng, cuối năm (hoặc bất kỳ vào thời điểm nào), kế toán thực hiện các thao tác khoá số (cộng sô) và lập báo cáo tài chính Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chỉ tiết được thực hiện tự động và luôn đảm bảo chính xác,

trung thực theo thông tin đã được nhập trong kỳ Kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu

số liệu giữa số kế toán với báo cáo tài chính sau khi đã in ra gi

- Cuối tháng, cuối năm số kế toán tổng hợp và sổ kế toán chỉ tiết được ïn ra giấy, đóng thành quyền và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về số kế

loại DNBH (nhân thọ/ phi nhân thọ) đều phải tuân thủ và dựa trên cơ sở những

nguyên tắc nhất định Do kế toán DNBH tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh nên việc đưa ra những vấn đề

c thù trong kinh doanh bảo hiểm ảnh hưởng đến công, tác kế toán là cần thiết Đề tài đã di sâu làm rõ nội dung để tổ chức công tác kế toán

DNBH Những nội dung trên là cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá chế độ kế toán

và thực tẾ công tác kế toán trong các DNBH hiện nay ở Việt Nam, được trình bày trong Chương 2, và các giải pháp đưa ra ở Chương 3,

Trang 38

THUC TE CONG TAC KE TOÁN

DOANH NGHIEP BAO HIỂM O VIET NAM HIEN NAY

2.1 KHAI QUAT VE THI TRUONG BAO HIEM VIET NAM

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

Có thể chia quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt

nam thành hai giai đoạn chủ yếu:

~ Giai đoạn từ năm 1993 trở về trước

Ngay từ thời kỳ nước ta vẫn còn bị Pháp đô hộ đã tồn tại hoạt động bảo

hiểm, thậm chí đã phát triển đáng kể ở miền Nam dưới chế độ cũ Tuy nhiên, dấu

mốc đáng chú ý cho sự hình thành thị tường bảo hiểm CHXHCN Việt nam là sự ra

đời của Công ty Bảo hiểm Việt nam (nay là Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo

Việt) theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ và

chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965

Trong thời gian từ năm 1965- 1975, Bảo Việt chủ yếu thực hiện các nghiệp

vụ bảo hiểm đối ngoại cần thiết tối thiểu cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước như bảo hiểm hàng hóa xuất - nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển và tái bảo hiểm

Từ năm 1975- 1986, Bảo Việt đã thống nhất các công ty bảo hiểm ở miền Nam để trở thành Công ty bảo hiểm nhà nước duy nhất ở nước ta Trong giai đoạn

này, để phục vụ cho công cuộc tái thiết đất nước, Bảo Việt đã mở rộng hệ thống

bảo hiểm trong cả nước, các chỉ nhánh và phòng đại diện bảo hiểm ở các địa

phương Ngoài các nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại, các nghiệp vụ bảo hiểm đối nội

đã được nghiên cứu, thử nghiệm và được triển khai như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm

con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Từ năm 1986 đến 1993, để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội

theo chủ trương của Đảng và Nhà nước khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị

Trang 39

trường, Công ty bảo hiểm Việt nam được nâng cáp thành Tổng công ty bảo hiểm

Việt nam theo quyết định số 27/TCQĐ/TCCB ngày 17/12/1989 của Bộ trưởng Bộ

Tài chính Bên cạnh các loại hình bảo hiểm mang tính kinh doanh, Bảo Việt đã tiền

hành một số nghiệp vụ bảo hiểm nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước

giao như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, và bước đầu nghiên

cứu để tiến hành bảo hiểm nhân thọ Việc mở rộng các loại.hình bảo hiểm đã thu

hút ngày càng đông khách hàng tham gia, doanh thu thị trường bảo hiểm tăng

nhanh, chẳng hạn, năm 1990 tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 83,2 tỷ VND; năm

1991 là 156 tỷ VND; năm 1992 là 500 tỷ VND, năm 1993 là 700 tỷ VND,

Giai đoạn từ năm 1965 đến tháng 6/1992, đặc điểm cơ bản nhất là độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm ở Việt nam Hoạt động bảo hiểm vẫn được quan niệm là

“Bảo hiểm nhà nước” Công ty bảo hiểm Việt nam, tổ chức bảo hiểm duy nhất thực

hiện cả hai chức năng: quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh bảo hiểm

Từ năm 1980 trở về trước, Bảo Việt thực hiện chế độ quản lý và hạch toán

theo chế độ hành chính sự nghiệp, Nhà nước bao cấp thu chỉ ngoại tệ và đồng Việt nam, Bảo Việt chưa hoàn toàn chịu trách nhiệm vẻ hạch toán kinh doanh và kết quả

tài chính các hoạt động bảo hiểm

Trong thời gian này hoạt động bảo hiểm chủ yếu mang tính phục vụ, tính

kinh doanh chưa rõ nét Sự tồn tại của cơ chế bao cấp trên mọi lĩnh vực cũng làm cho vai trò của bảo hiểm bị lu mờ, cơ chế thị trường chưa thể thực sự tồn tại trong hoạt động của ngành bảo hiểm

Trong giai đoạn này, ngoài Bảo Việt, chưa xuất hiện một tổ chức tài chính nao liên quan trực tiếp tới sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

~ Giai đoạn từ năm 1994 đến nay

Việc ban hành Nghị

inh 100/ND-CP ngay 18/12/1993 của Chính phủ về

Kinh doanh bảo hiểm đã đánh dấu một bước ngoat trong quá trình hình thành và

phát triển thị trường bảo hiểm ở nước ta

Trang 40

Minh (nay là Tổng công ty cổ phần Bảo Minh - thành lập ngày 28/12/1994), Công

ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO - thành lập ngày 15/6/1995), Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long - thành lập ngày 11/7/1995), Cùng thời gian này, Nhà nước đã cấp giấy phép cho 2 công ty liên doanh gồm Công ty liên doanh

ệt Nam (VIA), Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC)

bảo hiểm quốc tế

Tháng 8/1996, để đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp dân cư đồng thời tạo

nguồn tài chính lớn đầu tư trở lại cho nền kinh tế, lần đầu tiên các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã được Bảo Việt đưa ra thị trường Sự xuất hiện các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và đặc biệt, sự có mặt thêm 4 công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn đầu

tư nước ngoài trong 2 năm 1999-2000 như: Prudential (Anh), AIA (Mỹ) khiến

thị trường bảo hiểm trở nên sôi động hơn

Ngày 09/7/1999 Hiệp hội bảo hiểm Việt nam được thành lập Hiệp hội là cầu

nối giữa các DNBH với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo

hiểm, đồng thời duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đấy hợp tác trong

kinh doanh giữa các DNBH

Để tạo ra một khuôn khổ và hành lang pháp lý nhằm nâng cao vai trò quản lý

của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm, ngày 22/12/2000 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội CHXHCN Việt

nam khoá X, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã được thông qua và có hiệu lực thi hành

từ 01/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn Luật được ban

hành sau đó đã bước đầu tạo khung pháp lý cơ bản để điều chỉnh những vấn đề phát

sinh từ thực tiễn kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt là trong xu hướng mở cửa và hội

nhập, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

Sau khi Luật Kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực (01/4/2001), nhiều văn bản hướng dẫn Luật đã được ban hành Để đáp ứng yêu cầu phát triển của TTBH trong

Ngày đăng: 03/06/2016, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w