1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị

55 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của chi cục Thú y huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesopha

Trang 1

HOÀNG THỊ THU KIỀU

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO GIUN

TRÒN OESOPHAGOSTOMUM SPP TRÊN LỢN TẠI HUYỆN PHÚ

LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ”

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

HOÀNG THỊ THU KIỀU

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO GIUN

TRÒN OESOPHAGOSTOMUM SPP TRÊN LỢN TẠI HUYỆN PHÚ

LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ”

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Ngân

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của chi cục Thú y huyện

Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc

điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp trên lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ chi cục Thú y huyện Phú Lương, cán

bộ xã và các hộ gia đình chăn nuôi lợn tại các xã ở địa phương nơi em thực tập cùng với sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình

Với lòng biết ơn vô hạn, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dìu dắt và dạy đỗ em trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực tập

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

TS Nguyễn Thị Ngân, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS Bùi Văn Tú đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp 42 - CNTY đã quan tâm, giúp đỡ,

động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên

Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc cán bộ, nhân viên chi cục thú y huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên mạnh khỏe công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt và thành công trong cuộc sống

Em xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Hoàng Thị Thu Kiều

Trang 4

rất cần có kiến thức thực tiễn Trên giảng đường nhà trường, sinh viên được cung cấp kiến thức chủ yếu qua lí thuyết Bên cạnh đó có những buổi thực hành, đợt thực tập để giúp sinh viên hiểu rõ hơn về kiến thức giảng dạy Tuy nhiên những hiểu biết về thực tế của sinh viên còn rất nhiều hạn chế Giai

đoạn thực tập tốt nghiệp cuối khóa giúp sinh viên hiểu rõ hơn về những kiến

thức được học trên sách vở, nắm bắt được nhiều những hiểu biết, kinh nghiệm thực tế, nâng cao tay nghề, lòng yêu nghề, tạo điều kiện giúp sinh viên có thể sống tự lập, khẳng định bản thân đồng thời cũng giúp sinh viên nhận ra được những nhược điểm của mình trong công việc từ đó rút ra kinh nghiệm để sau này ra làm việc tốt hơn, trở thành người cán bộ chuyên môn có năng lực làm việc tốt đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú

Y, thầy cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của ban lãnh đạo chi cục thú y huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em được về thực tập tại huyện Phú Lương từ ngày

9/12/2013 đến ngày 31/05/2014, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm

dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp trên lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”

Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo chi cục thú y, các cán bộ xã, thôn của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô giáo cùng với sự cố gắng lỗ lực của bản thân,

em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm thực

tế chưa có nhiều, kiến thức còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Hoàng Thị Thu Kiều

Trang 5

Bảng 4.1 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh

Oesophagostomosis cho lợn ở huyện Phú Lương,

Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo các tháng

theo dõi tại một số xã 31

Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo phương

thức chăn nuôi 32

Bảng 4.7 Sự ô nhiễm trứng Oesophagostomum ở nền chuồng, xung quanh

chuồng nuôi và vườn trồng cây thức ăn cho lợn 34 Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng 35

Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc tẩy giun Oesophagostomum cho lợn 36

Bảng 4.10.Độ an toàn của thuốc tẩy giun Oesophagostomum cho lợn trên

thực địa 37

Trang 6

Hình 1.2 Loài O longicaudum 5

Hình 1.3 Sơ đồ vòng đời giun kết hạt 6

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở một số xã thuộc huyện

Phú Lương 26

Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ cường độ nhiễm giun kết hạt ở một số xã thuộc huyện Phú Lương 26

Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo độ tuổi lợn 29

Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo giống lợn 30

Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo một số tháng theo dõi 32

Hình 4.6 Biểu đồ nhiễm giun kết hạt theo phương thức chăn nuôi 34

Trang 7

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp 3

2.1.1.1 Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum 3

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của Oesophagostomum 4

2.1.1.3 Vòng đời giun kết hạt lợn 5

2.1.1.4 Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh 6

2.1.1.5 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh 7

2.1.2 Bệnh do giun kết hạt gây ra ở lợn 8

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do giun kết hạt gây ra: 8

2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh 8

2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 9

2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý: 9

2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng 9

2.1.3.3 Bệnh tích 10

2.1.4 Chẩn đoán bệnh: 10

2.1.5 Các biện pháp phòng và điều trị 12

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 15

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 16

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18

Trang 8

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 18

3.3 Nội dung nghiên cứu 18

3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và triệu chứng lâm sàng của lợn nhiễm Oesophagostomum spp 18

3.3.2 Biện pháp phòng trị bệnh 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

3.4.1 Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh Oesophagostomosis nói riêng cho lợn ở địa phương 19

3.4.2 Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu 19

3.4.3 Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo lứa tuổi lợn 20

3.4.4 Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo các tháng trong năm 20

3.4.5 Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo giống lợn 20

3.4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo phương thức chăn nuôi 20

3.4.7 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum 20

3.4.8 Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun Oesophagostomum 21

3.4.9 Phương pháp xác định độ an toàn và hiệu lực của thuốc trị Oesophagostomum 21

3.4.10 Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh do Oesophagostomum gây ra cho lợn 21

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 22

3.5.1 Một số công thức tính tỷ lệ 22

3.5.2 Một số tham số thống kê: 22

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh Oesophagostomois ở lợn 23

4.2 Độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun tròn Oesophagostomum spp cho lợn 36

4.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh Oesophagostomosis cho lợn 38

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 42

II TÀI LIỆU DỊCH TỪ TIẾNG NƯỚC NGOÀI 44

III TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI 44

Trang 10

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta có hơn 75% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của người nông dân Từ việc chỉ chăn nuôi nhỏ, lẻ để tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân

Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta Nghề nuôi lợn luôn được chú ý phát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống nhân dân Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt Để đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã có những bước phát triển vượt bậc, tăng nhanh cả về chất lượng và số lượng Ngoài những điều kiện thuận lợi, chúng ta còn có nhiều khó khăn, hạn chế trong việc phát triển chăn nuôi lợn, nhất là các tổn thất do dịch bệnh gây ra

Thực tiễn ngành chăn nuôi lợn cho thấy, có nhiều loại dịch bệnh gây tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp như: dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn… còn phải kể đến các bệnh

ký sinh trùng Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như: bệnh sán lá, bệnh giun tròn, bệnh ghẻ Những bệnh trên đã gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không bị bệnh

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Tuy nhiên, các bệnh do giun tròn gây nên vẫn chưa được chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện Trong những bệnh giun tròn

ở lợn, bệnh Oesophagostomosis rất phổ biến, tuy không gây ra thể bệnh cấp

tính làm chết lợn hàng loạt, nhưng bệnh Oesophagostomosis làm cho lợn gầy

yếu, giảm tăng trọng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho chăn nuôi lợn

Trang 11

Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên,

tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn

Oesophagostomum spp trên lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

và dùng thuốc điều trị”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh, đặc điểm sinh học và biện

pháp phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp gây ra ở lợn

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Những thông tin khoa học thu được sau khi thực hiện đề tài về một số

đặc điểm dịch tễ bệnh và đặc điểm sinh học giun tròn Oesophagostomum spp

ở lợn, sẽ góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng và

điều trị bệnh Oesophagostomosis ở lợn Từ đó, đề xuất các biện pháp phòng,

trị bệnh cho lợn

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi về

bệnh giun Oesophagostomum spp ở lợn để từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Oesophagostomum spp cho lợn Nhằm hạn chế tác hại đối với lợn,

góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp

2.1.1.1 Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum

Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt ở lợn

Theo Skrjabin K I., Petrov A M (1977) [30] giun kết hạt

Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] về vị trí của giun

Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Trang 13

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của Oesophagostomum

Skrjabin K I., Petrov A M (1977) [30] cho biết:

Loài Oesophagostomum dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới hạn

với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim Con đực có túi đuôi, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 - 0,94 mm Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 - 0,265 mm

Loài Oesophagostomum logicaudum: Con đực dài 8,8 - 9,5 mm; con cái

dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453m - 0,543 mm Âm hộ cách đuôi 0,906 - 0,951 mm

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], các loài thuộc giống

Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất nhỏ,

quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực

có túi đuôi và một gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn

Loài Oesophagostomum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ,

không có cánh đầu, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9 mm rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lê (1998) [17], Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phan Lục (2006) [19]:

Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già lợn, không có cánh đầu

Túi miệng rộng, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Con đực dài 8 - 9 mm x 0,37 mm có túi đuôi Sườn bụng song song nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với rìa mép của túi

đuôi Ba sườn hông bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước tách rời hai

sườn kia, còn sườn hông giữa và sau song song với nhau, sườn lưng chia thành sườn lưng ngoài và sườn lưng trong, sườn lưng trong lại chia thành hai nhánh, có hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết thêm:

Giun cái dài 8 - 11,3 mm, đuôi dài 0,117 - 0,374 mm Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 - 0,388 mm Âm đạo rộng về trước, dài 0,1 - 1,15

mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng

Trang 14

Giun Oesophagostomum dentatum là loài giun tròn nhỏ không có cánh

đầu Giun đực có kích thước (7,6 - 8,8) x (0,35 - 0,38) mm có túi đuôi, có hai

gai giao hợp dài 0,792 - 1,037 mm

Giun cái dài (7,8 - 12,5) x (0,38 - 0,43) mm, đuôi dài 0,405 - 0,430 mm, dài 0,1 - 1,15, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng Trứng có hình ovan, kích thước (0,036 - 0,071) x (0,032 - 0,045) mm

Hình 1.1 Loài O dentatum

1, 2 Phần đầu cơ thể, 3 Phần đuôi cá

thể, 4 Mút và gốc gai giao phối, 5 Cơ

quan điều chỉnh, 6 Túi đuôi cá thể đực,

7 Nón sinh dục

Hình 1.2 Loài O longicaudum

1 Đầu, 2 Đuôi của con cái, 3 Đuôi của con đực, 4 Phần cuối gai giao hợp, 5 Lái, 6 Nón sinh dục của con

đực

2.1.1.3 Vòng đời giun kết hạt lợn

Những nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết:

Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian

Trứng 70 - 74 µ x 40 - 42 µ Gồm 8 - 16 hạt trong vỏ trứng khi mới nở nhiệt độ 25 - 27ºC sau 10 - 17 giờ trứng nở thành ấu trùng (theo Shoulsby cần

24 giờ) Ấu trùng I đo được 304 - 307 µ, lúc mới nở, sau phát triển đo được

Trang 15

425 - 433 µ Ấu trùng I sau 24h ở nhiệt độ 22 - 24ºC phát dục thành ấu trung

II dài 440 - 645 µ Ấu trùng II phát triển được 2 ngày thì ấu trùng gây nhiễm III, dài 515 - 532 µ kể cả vỏ dài 660 - 720 µ

Hình 1.3 Sơ đồ vòng đời giun kết hạt

Thời gian hoàn thành vòng đời là 24 - 43 ngày

Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ 3 tới 6 - 8 ngày thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa tạo thành giun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng, 1997) [9]

2.1.1.4 Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh

Theo Skrjabin K I., Petrov A M (1977) [30]: Ở nhiệt độ thích hợp (30ºC), trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ mới nở

ra và vào môi trường bên ngoài Ở nhiệt độ cao 45 - 50ºC trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp 3ºC trứng không phát triển

Archie (2000) [28] nhận xét: Sự phát triển, khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu Gặp nhiệt độ và độ

10-17 giờ Trứng

Ký chủ nuốt phải

Trang 16

ẩm thích hợp, sau 5 - 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm Khi

nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn

Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14], Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm (2000) [18], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7]: Trứng giun kết hạt theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng

2.1.1.5 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh

Alicata (1935) cho biết ấu trùng Oesophagostomum dentatum có sức đề

kháng tốt với nhiệt độ để ở -19ºC đến -29ºC qua 10 ngày vẫn sống và chết cũng để ở -19ºC đến -29ºC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm Ấu trùng rất nhạy cảm với khô ráo Ấu trùng này lẫn vào thức ăn nước uống mà vào ký chủ Khi tới mật chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén (trích theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2005) [11]

Skrjabin K I., Petrov A M (1977) [30] cho biết: Ấu trùng cảm nhiễm

Oesophagostomum sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh

này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ cũng như máng nước lâu ngày không cọ rửa Những ấu trùng cảm nhiễm có sức đề kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác động của các nhân tố hóa học tốt hơn so với ấu trùng các giai đoạn trước

Nhiệt độ cao sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển của ấu trùng và ấu trùng có thể bị chết Mưa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân tán của ấu trùng, làm ấu trùng cảm nhiễm di chuyển xa 90cm so với vị trí ban đầu và di chuyển vào trong đất ở độ sâu 15cm Có lẽ khả năng này giúp cho ấu trùng sống sót được trong những điều kiện bất lợi và tránh được sức nóng môi trường (Strom berg B E, 1997) [36]

Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của giun kết hạt, người ta thấy sức đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: Ở - 15ºC, 93% ấu trùng cảm nhiễm sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa về nhiệt độ môi trường xung quanh Các ấu trùng này cũng có thể sống sót trong môi trường axit được tổng hợp nhân tạo tương tự như môi trường axit trong dạ dày (Pit D S S và cs, 2000) [34] Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Ấu trùng có sức đề kháng tốt với nhiệt độ thấp, để ở - 19ºC đến - 29ºC qua 10 ngày ấu trùng vẫn sống, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm

Trang 17

2.1.2 Bệnh do giun kết hạt gây ra ở lợn

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do giun kết hạt gây ra

Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng ở

đường tiêu hóa của lợn nói riêng không tạo thành các ổ dịch lớn như bệnh

truyền nhiễm do virut, vi khuẩn gây ra, nhưng bệnh thường kéo dài âm ỉ, ảnh hưởng đến tình trạng và sức khỏe vật chủ, làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của lợn, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác như thuốc điều trị, thuốc sát trùng, công chăm sóc, nuôi dưỡng và đặc biệt là mở đường cho các bệnh khác xâm nhập

2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [23], Phan Thế Việt và cs (1977) [27], Phan Lục (2006) và cs [20], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12]: Bệnh giun kết hạt là một trong các bệnh giun tròn phổ biến gây hại cho lợn, phổ biến rộng trên toàn thế giới Ở Việt Nam, bệnh có ở tất cả các vùng sinh thái từ Bắc đến Nam

- Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi gia súc:

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn như sau: Lợn con có tỷ lệ nhiễm giun kết hạt nhỏ và cường độ nhẹ, ở lợn con bị nhiễm bệnh không có nhiều u kén ở ruột Ở lợn lớn tỷ lệ nhiễm cao và cường độ nhiễm nặng Khi lợn lớn bị bệnh có rất nhiều u kén ở ruột Lợn càng lớn, tỷ lệ nhiễm càng cao (lợn <2 tháng tuổi nhiễm: 46,9%, lợn

>8 tháng tuổi: 73,3%) (Chu Thị Thơm và cs, 2006) [25]

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phan Địch Lân và cs (2005) [15] nhận xét: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn <2 tháng tuổi, 3 - 4 tháng tuổi, 5 - 7 tháng tuổi và >8 tháng tuổi lần lượt như sau: 46,9%, 67,4%, 72,1%, 73,3% Các tác giả cũng cho biết thêm: Vì lợn có sức đề kháng đối với giun kết hạt nên tỷ lệ nhiễm thấp, tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài ra do thời gian sống của

Oesophagostomum dentatum ở cơ thể lợn tương đối dài từ 8 - 10 tháng

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Tỷ lệ nhiễm

đối với lợn < 2 tháng tuổi, 3 - 7 tháng tuổi và >8 tháng tuổi lần lượt là: 46,9%,

72,4% và 73,3%

Trang 18

- Tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ:

Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14]: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt lợn cao ở vụ hè - thu và giảm đi ở vụ đông - xuân

- Tỷ lệ nhiễm theo phương thức chăn nuôi:

Lợn nuôi theo phương pháp truyền thống (tận dụng) có tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn nhiều so với lợn nuôi theo phương thức công nghiệp (Nguyễn Thị Bích Ngà và cs, 2011) [21]

2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh

- Tác động mang trùng: Giun kết hạt ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm nhập, là nhân tố gây kế phát các bệnh ký sinh trùng khác

- Tác động độc tố: Giun kết hạt ký sinh, các độc tố do giun bài tiết ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa

2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng

Bệnh lý do Oesophagostomum phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của giun Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum là nguyên nhân gây “bệnh hạt ruột”, còn giai đoạn trưởng thành chúng gây Oesophagostomosis đường ruột

Theo nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phan Địch Lân và cs (2005) [15]: Vì lợn có sức đề kháng với giun kết hạt nên tỷ lệ nhiễm thấp, tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Giai đoạn hạt được coi là giai đoạn nguy hiểm hơn cả Ấu trùng chui vào ruột tạo thành những hạt mà mắt thường có thể nhìn thấy được Trong thời gian phát triển hạt, con vật đau bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa chảy Giai đoạn

Trang 19

trưởng thành sức gây bệnh ít hơn, ruột viêm cata, phủ chất nhày đặc và giun kết hạt Con vật thỉnh thoảng bị ỉa chảy (Soulsby E.J.L và cs, 1982 [35]; Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [24])

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7], Phan Lục (2006) [19], lợn

bị bệnh giun kết hạt thể hiện hai giai đoạn:

- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính: Ỉa chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ tăng cao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con vật gầy dần rồi chết

- Giai đoạn giun trưởng thành gây triệu chứng mạn tính, có từng thời kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm Các triệu chứng khác không rõ lắm

2.1.3.3 Bệnh tích

Theo Phan Lục (2006) [19]: Ở ruột có những u kén nhỏ bằng đầu đinh ghim hay hạt đậu, có điểm màu vàng, bên trong có ấu trùng giun Kết tràng thường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u kén ở ruột Có khi u kén bị hoại

tử, bên trong có mủ Có những u kén đã thành chấm sẹo Niêm mạc ruột già sung huyết, xuất huyết, trong xoang ruột có nhiều giun kết hạt trưởng thành Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Sau khi nhiễm giun 5 ngày, ở niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ Ở giữa kén này có điểm màu vàng, bên trong có ấu trùng giun Tới ngày thứ 7 - 8 thì kết tràng bị viêm có

mủ Có khi có tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột, u kén to bằng hạt

đậu, có khi chỉ dài 0,1 cm

2.1.4 Chẩn đoán bệnh

* Với gia súc sống:

Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng

kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun Oesophagostomum

ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun

Oesophagostomum ở lợn Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng

trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun

Trang 20

Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa chảy…

Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên

để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có

những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm

phân tìm trứng giun Oesophagostomum (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5]

Phương pháp xét nghiệm phân:

- Phương pháp phù nổi (Fulleborn):

Nguyên lý: Lợi dụng tỷ trọng của dung dịch muối NaCl bão hòa lớn hơn

tỷ trọng của trứng giun kết hạt, trứng sẽ nổi lên trên bề mặt dung dịch Ta có thể tìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400

Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lít nước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bề mặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Cách xét nghiệm phân: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5 - 10 gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc (nên dùng cốc nhựa) cho tiếp nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối lượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua phễu lọc vào lọ tiêu bản Cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được giữ lại

Sau khi đã để yên từ 15 - 20 phút, dùng vòng vớt lớp váng phía trên mặt dung dịch để lên phiến kính sạch, đậy lá kính và kiểm tra dưới kính hiển vi tìm trứng giun tròn

Để xác định cường độ nhiễm, sử dụng phương pháp đếm trứng giun kết

hạt trên buồng đếm Mc Master nhằm xác định số trứng giun kết hạt trên 1 gam phân

Phương pháp Mc Master được tiến hành như sau: Lấy 4 gam phân cho vào cốc thủy tinh, cho thêm nước lã sạch, khuấy đều, lọc bỏ cặn bã Nước lọc để lắng trong 1 - 2 giờ, gạt bỏ nước, giữ lại cặn Sau đó thêm 56 ml dung dịch NaCl bão hòa khuấy đều, dùng pipet bơm dung dịch vào buồng đếm Mc.Master, để yên 5

Trang 21

phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi Đếm tất cả trứng giun trong buồng đếm, rồi tính theo công thức:

Số trứng có trong 1 gam phân = số trứng có trong 1 buồng đếm*2*15

* Với lợn chết:

Việc chẩn đoán bệnh giun Oesophagostomum được tiến hành qua

phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun

Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với bệnh

ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16] cho biết: Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp Nghĩa là

ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu

quả đối với các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ

Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết, điều này phụ thuộc trước hết vào sự ô nhiễm nơi

đó Mức độ ô nhiễm cao là những nơi nuôi lợn trong tình trạng vệ sinh thú y kém,

ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn (Hagsten Dr., 2000) [29]

Công tác phòng bệnh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiêu diệt bệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng Theo Phan Địch Lân

và cs (2005) [15] việc phòng bệnh giun kết hạt cũng như phòng các bệnh ở giun tròn, gồm các bước sau:

Trang 22

* Diệt trùng ở động vật:

-Chẩn đoán bệnh chính xác để dùng thuốc điều trị

-Xác định quy mô diệt trùng: Nơi nào nhiễm thấp, diệt trùng hẹp, nơi nào tỷ lệ nhiễm cao diệt trùng toàn đàn

- Định kỳ diệt trùng: Căn cứ vào vòng đời của giun, căn cứ vào vụ mùa

để có thể chăm sóc, chăn thả gia súc phù hợp

-Dự tính hiệu quả diệt trùng: Tính tỷ lệ tẩy giun toàn đàn và tỷ lệ tẩy sạch trùng (nếu có điều kiện mổ) để dự đoán hiệu quả của biện pháp kỹ thuật

* Diệt trùng phân bằng ủ nóng sinh vật học:

Hàng năm số lượng phân chuồng rất lớn và là loại phân bón quý nhưng trong quá trình thải phân trứng giun được mang theo rất nhiều, do đó xử lý phân

đảm bảo diệt được ấu trùng giun nhưng vẫn giữ được chất lượng của phân

Người ta đã lợi dụng hoạt động của vi sinh vật để tiêu độc phân tự nhiên gọi là phương pháp ủ nóng sinh vật học Cách ủ phân như sau: Phân được chuyển đến chỗ chứa, lúc đầu thành từng đống nhỏ 1m2 , trộn rác lá cho phân xốp để không khí lưu thông trong đống phân Qua 3 - 7 ngày nhiệt độ trong

đống phân tăng đến 55 - 70ºC khiến sinh vật đại bộ phận bị tiêu diệt Nén chặt đống phân lại lúc đó lượng vi sinh vật còn sống giảm đến 90% Ở nhiệt độ

này trứng giun bị ung, hỏng trong 15 - 25 ngày ủ

* Tổ chức vệ sinh nơi ăn uống:

Nước uống, máng uống cho lợn phải sạch, sau một ngày uống nước phải

được quét rửa Các nguồn nước không bị nhiễm hóa chất, xăng dầu độc hại

Các biện pháp vệ sinh khu chăn nuôi như sau:

-Vệ sinh bên ngoài: Vệ sinh nền chuồng, sân chơi không để nước tiểu, nước rửa chuồng, nước phân chảy vào theo thức ăn xanh của lợn, phân lợn phải được ủ trước khi mang đi sử dụng, xung quanh chuồng lợn nên trồng nhiều cây xanh, thức ăn xanh cho lợn ăn phải được rửa nhiều lần

- Định kỳ tẩy giun theo quy định: 2 tháng tuổi tẩy giun lần thứ nhất, lợn

5 - 6 tháng tuổi tẩy giun lần thứ 2

-Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trên thế giới là sử dụng vacxin chế tạo theo phương pháp phóng xạ để phòng bệnh giun tròn cho lợn

Trang 23

-Tăng cường bồi dưỡng chăm sóc cho lợn là biện pháp tăng cường sức chống bệnh của con vật, hạn chế tác hại do giun chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật nuôi

-Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong một khu vực Nếu

có lợn ốm phải được cách ly

Phan Lục và cs (2006) [20], Chu Thị Thơm và cs (2006) [25] cho biết: Để phòng bệnh giun kết hạt phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun Định kỳ tẩy giun Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật

* Dùng thuốc:

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [8] chữa bệnh ký sinh trùng phải nhằm đạt ba yêu cầu sau:

Trước hết phải diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho con vật (diệt

ký sinh trùng hay tẩy ký sinh trùng còn sống ra ngoài) Phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là phải độc với nó nhưng không độc với ký chủ Hệ

số giữa liều lượng độc với con vật và liều lượng chữa bệnh cho nó phải trên 3 Nên chọn thuốc nào có hiệu lực nhất với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất với ký chủ, rẻ tiền nhất và dễ dùng nhất (dễ dàng dùng cho toàn dân) Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu lực chống được nhiều loại ký sinh trùng

Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm: Đưa ngay con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc nơi đó trước khi đưa con vật vào lại

Phải làm cho con vật hồi sức: Cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, vitamin và muối Có thể dùng thuốc bổ, thuốc kích thích, tiếp máu Giữ vệ sinh tốt, chữa các triệu chứng

Có rất nhiều loại thuốc có tác dụng phòng trị giun tròn đường tiêu hóa Thuốc có tác dụng làm giun bị tê liệt Làm tăng co bóp ruột, làm ngừng sự phát triển của trứng và ấu trùng, làm ký sinh trùng bị tê liệt, cộng với tác động kích thích nhu động ruột của thuốc, từ đó tẩy giun ra ngoài

Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết, các thuốc thường được dùng

để điều trị bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá là:

Trang 24

Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng thành

Hiệu lực tẩy giun kết hạt là 72 - 99%

Ivermectin: tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Tiêm

dưới da liều 0,3 mg/kg TT cho lợn có tác dụng làm giảm 94 - 100% các giai

đoạn chưa trưởng thành của giun kết hạt

Dipterex 0,15g/ kg trộn thức ăn đạt hiệu quả 100% Có thể dùng Phenothiazin 0,2 - 0,5g/ kg Nhưng hiệu quả kém Dipterex (Phạm Sỹ Lăng và

cs (2005) [10])

Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [3] có thể sử dụng: Levamisole: 5mg/ kg

TT hay Ivemectin dạng premix: 100µg/ kg TT/ ngày Trộn vào thức ăn liên

tục 7 ngày

Ngoài ra, theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] có thể điều trị bằng một trong các thuốc sau:

- Levamisole: Dùng liều 12 - 15mg/ kg TT lợn, cho uống hoặc tiêm

- Phenothiazin: Dùng liều 0,2 - 0,3g/ kg TT lợn, cho uống 2 lần vào 2

buổi sáng

- Ivermectin (Hanmectin): Dùng liều 0,2mg/ kg TT cũng cho kết quả khả

quan và an toàn, cần tiêm thuốc cho lợn 2 lần với liều trên, cách nhau 1 ngày

Tiêm Hanmectin với liều 1ml/ 10kg TT

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tuổi lợn nhiễm các loài giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49 - 65,9% Qua mổ khám thấy các loại giun sán

chính ở lợn có sự xuất hiện của Oesophagostomum (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ

Dương Thái, 1978) [24]

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [6] cho biết: lợn bình thường nhiễm giun kết hạt là 20,86%, tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,02% Mật

độ nhiễm giun kết hạt ở lợn tiêu chảy nặng hơn so với lợn bình thường

Bùi Lập (1978) [13] cho biết, lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 7 loài giun sán

trong đó có giun kết hạt Các loài nhiễm tăng theo tuổi lợn là: Fasciolopsis buski, Stephanurus dentatus và O dentatum

Trang 25

Nghiên cứu hiệu lực của các thuốc tẩy giun tròn trên lợn, Phan Lục,

Nguyễn Đức Tâm (2000) [18] đánh giá: Thuốc Levamisole, Pyrantel, Dichlorvos, Febendazole, Ivermectin có hiệu quả rất mạnh (++++) đối với giun kết hạt; thuốc Piperazine có hiệu quả một phần (+) và thuốc Thiabendazole không có hiệu quả trong điều trị bệnh giun kết hạt lợn (-)

Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2010) [26] cho biết: Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt ở Cần Thơ là 53,33% với cường độ nhiễm nhẹ và trung bình Thuốc

Albendazole với liều 5 mg/kg TT và thuốc Ivermectin 0,3 mg/kg TT cho hiệu

quả tẩy giun kết hạt lợn là 100% sau một lần tẩy duy nhất

Theo Nguyễn Thị Bích Ngà và cs (2011) [21], lợn ở tỉnh Thái Nguyên nhiễm giun kết hạt là 33,76%, cường độ nhiễm nặng chiếm 13,69% trong số lợn nhiễm

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Klexov N D và Xkulikoe N (1931) đã chữa bệnh giun kết hạt và cho rằng, phương pháp hiệu lực hơn cả là dùng dung dịch pha loãng 0,8 - 1g Iod trong 100ml nước (dẫn theo Skrjabin K I., Petrov A M., 1977) [30]

Theo Miax E A., Nikova (1937) có thể tẩy giun kết hạt cho lợn bằng cách thụt 0,5 formalin với liều 2000ml cho 1 lợn nặng 124 - 140kg chữa bằng formalin nên tiến hành ở nền chuồng nghiêng 30 - 40ºC để đầu thấp hơn phía sau, làm như vậy thì thuốc ngấm nhiều nhất trong ruột già tức là ngấm nhiều

ở chỗ giun sán ký sinh (dẫn theo Skrjabin K I., Petrov A M., 1977) [30]

Johanes Kafuman (1996) [31] cho biết: Sự nhiễm giun tròn cho lợn con

có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ

Bezimidazole, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây nhiễm Ivermectin (300µg/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng trước

đẻ 1 - 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh

Lai M và cs (2010) [33] cho biết: Trong tổng số 2971 mẫu phân lợn lấy

từ các trang trại lợn ở Trùng Khánh - Trung Quốc được xét nghiệm có: 362

mẫu (12,18%) nhiễm Ascaris suum, 301 mẫu (10,13%) nhiễm Trichuris suis,

301 mẫu (10,13%) nhiễm Oesophagostomum spp., 491 mẫu (16,53%) nhiễm

Trang 26

Eimeria spp., 149 mẫu (5,02%) nhiễm Isopora suis, 677 mẫu (22,79%) nhiễm Balantidium coli và 196 mẫu (6,60%) nhiễm Cryptosporidium spp

Kagira J M và cs (2010) [32] đã xét nghiệm phân của 360 lợn từ 135

trang trại ở Kenya cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun Oesophagostomum spp là 75%, Strongyloides ransomi là 37% và Ascris suum là 18%

Trang 27

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn các lứa tuổi nuôi tại một số xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp ở lợn

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu phân tươi của lợn nuôi ở các lứa tuổi tại một số xã tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Kính hiển vi quang học

- Buồng đếm Mc Master và các dụng cụ thí nghiệm khác

- Dung dịch muối NaCl bão hòa

- Thuốc tẩy giun tròn Oesophagostomum cho lợn

- Các hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm triển khai đề tài: Đề tài được thực hiện ở các hộ gia đình và các trang trại chăn nuôi lợn với quy mô khác nhau ở một số xã tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm, phân tích và xử lý mẫu:

Phòng thí nghiệm - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 9 tháng 12 năm 2013 đến ngày 31 tháng 5 năm 2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và triệu chứng lâm sàng của lợn nhiễm Oesophagostomum spp

- Điều tra về thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng

cho lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Ngày đăng: 03/06/2016, 19:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan (2003), Dược lý học thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 220 - 223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
2. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỳ, Nguyễn Văn Thưởng (1995), Kỹ thuật nuôi lợn thịt lớn nhanh, nhiều nạc, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 62 -63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn thịt lớn nhanh, nhiều nạc
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỳ, Nguyễn Văn Thưởng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
3. Phạm Khắc Hiếu (2009), Giáo trình dược lý học thú y, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr. 124 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y (Giáo trình dùng cho bậc Đại học), Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr 166 - 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y (Giáo trình dùng cho bậc Đại học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
6. Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa ở Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập VII (số 3), tr. 36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa ở Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 103 - 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
8. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
9. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
10. Trương Lăng, Xuân Giao (2002), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Lao động xã hội, tr. 65 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2002
11. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2005), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị (tập II), Nxb Nông nghiệp, tr. 20 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị (tập II)
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
12. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị kim Thành, Nguyễn Văn Thụ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr. 204 - 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị kim Thành, Nguyễn Văn Thụ, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
13. Bùi Lập (1978), “Khu hệ giun sán của lợn miền trung trung bộ”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học và kĩ thuật nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 138 - 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ giun sán của lợn miền trung trung bộ”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học và kĩ thuật nông nghiệp
Tác giả: Bùi Lập
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1978
14. Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang (2002), Bệnh ký sinh trùng ở đàn dê Việt Nam, Nxb Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 75 - 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở đàn dê Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
15. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc (2005), Bệnh giun tròn của vật nuôi ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 27, 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn của vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
16. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học - kỹ thuật, tr. 157 - 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học - kỹ thuật
Năm: 1996
17. Nguyễn Thị Lê (1998), Ký sinh trùng học đại cương, Nxb Khoa học - kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học - kỹ thuật
Năm: 1998
18. Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm (2000), “Giun tròn chủ yếu ký sinh ở lợn và hiệu quả của thuốc tẩy”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 124 - 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun tròn chủ yếu ký sinh ở lợn và hiệu quả của thuốc tẩy”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
19. Phan Lục (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Hà Nội, tr. 124 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
20. Phan Lục, Ngô Thị Hòa, Phan Tuấn Dũng (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục, Ngô Thị Hòa, Phan Tuấn Dũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Bích Ngà, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Kim Lan, Trương Thị Tính (2011), “Tình hình nhiễm giun Oesophagostomum spp. tại tỉnh Thái Nguyên ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, Tập XVIII, số 5, tr. 73 - 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun Oesophagostomum spp. tại tỉnh Thái Nguyên ”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngà, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Kim Lan, Trương Thị Tính
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Loài O. longicaudum - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 1.2. Loài O. longicaudum (Trang 14)
Hình 1.1. Loài O. dentatum - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 1.1. Loài O. dentatum (Trang 14)
Hình 1.3. Sơ đồ vòng đời giun kết hạt - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 1.3. Sơ đồ vòng đời giun kết hạt (Trang 15)
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum (Trang 33)
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở một số xã thuộc - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở một số xã thuộc (Trang 35)
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ cường độ nhiễm giun kết hạt ở một số xã thuộc - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ cường độ nhiễm giun kết hạt ở một số xã thuộc (Trang 35)
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo tuổi lợn - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo tuổi lợn (Trang 36)
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo độ tuổi - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo độ tuổi (Trang 38)
Bảng 4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum theo - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum theo (Trang 38)
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo giống lợn - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo giống lợn (Trang 39)
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo một số tháng theo dõi - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo một số tháng theo dõi (Trang 41)
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng (Trang 44)
Bảng 4.8 cho thấy: - Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Trên Lợn Tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị
Bảng 4.8 cho thấy: (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w