Trường đại học nông lâm --- Vũ Thị Tuyết Nhung Tên đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm DỊCH TỄ bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin H5N1 tại tỉnh Thái
Trang 1Trường đại học nông lâm
-
Vũ Thị Tuyết Nhung
Tên đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm DỊCH TỄ bệnh cúm gia cầm và sự
đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin H5N1 tại tỉnh
Thái Nguyên”
Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Thái Nguyên - 2011
Trang 2Đại học thái nguyên
Trường đại học nông lâm
-
Vũ Thị Tuyết Nhung
Tờn đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm DỊCH TỄ bệnh cúm gia cầm và sự
đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin H5N1 tại tỉnh Thái
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi trực tiếp nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Tô Long Thành, TS.Nguyễn Quang Tính và
sự giúp đỡ chân tình của các cô chú, anh chị: phòng virus - Trung tâm Chẩn
đoán thú y Trung ương, Chi Cục Thú y tỉnh Thái Nguyên
Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, được rút ra từ tình hình thực tế của tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Vũ Thị Tuyết Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới:
PGS TS Tô Long Thành - Giám đốc Trung tâm Chẩn đoán Thú y trung ương
TS Nguyễn Quang Tính - Trưởng phòng Công tác chính trị Học sinh sinh viên
Những người thầy uyên bác, mẫu mực, tận tình và chu đáo đã luôn cổ
vũ tinh thần, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi - Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của trương trình học
Các cán bộ thuộc phòng Virus, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi Cục Thú y, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi - Thú y của tỉnh Thái Nguyên
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả
Vũ Thị Tuyết Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 12
2 Mục tiêu của đề tài 13
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
4 Địa điểm nghiên cứu 14
5 Thời gian 14
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 15
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM 15
1.2 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM 15
1.3 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 17
1.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 17
1.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 18
1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRUS CÚM TYP A 22
1.4.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae 22
1.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A 23
1.4.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A 25
1.4.4 Thành phần hóa học của virut 27
1.4.5 Quá trình nhân lên và tác động gây bệnh của virus 28
1.4.6 Độc lực của virus 28
1.4.7 Danh pháp 30
1.4.8 Phân loại virus 31
1.4.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà 32
1.4.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm 32
1.5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM 37
Trang 61.5.1 Phân bố dịch 37
1.5.2 Động vật cảm nhiễm 37
1.5.3 Động vật mang virus 38
1.5.4 Sự truyền lây 39
1.5.5 Sức đề kháng của virus cúm 40
1.5.6 Mùa vụ phát bệnh 41
1.6 TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM 41
1.6.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 41
1.6.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm 42
1.6.3 Bệnh tích vi thể 42
1.7 CHẨN ĐOÁN BỆNH 43
1.8 KIỂM SOÁT BỆNH 44
1.9 VACCINE PHÒNG BỆNH CÚM GIA CẦM 45
1.10 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM 50
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 53 2.1.1 Đối tượng 53
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 53
2.1.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 53
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 53
2.2.1 Thực trạng chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Thái Nguyên 53
2.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm 53
2.2.3 Sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn gà, đàn vịt được tiêm vaccine H5N1 năm 2011 54
2.3 NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU 56
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
Trang 72.4.1 Phương pháp xử lý mẫu 57
2.4.2 Phương pháp phát hiện kháng nguyên 58
2.4.3 Xử lý số liệu 62
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 63
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 63
3.1.1 Tình hình bệnh cúm gia cầm từ năm 2008 đến nay 63
3.1.2 Biến động tỷ lệ bệnh cúm gia cầm theo mùa 64
3.1.3 Biến động tỷ lệ bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm 65
3.1.4 Biến động tỷ lệ mắc bệnh theo phương thức chăn nuôi 66
3.1.5 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm 68
3.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ ĐỘ DÀI MIỄN DỊCH CỦA ĐÀN GÀ, VỊT ĐƯỢC TIÊM VACCINE CÚM H5N1 69
3.2.1 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm cho đàn gia cầm của tỉnh Thái Nguyên năm 2010 và 2011 69
3.2.2 Kết quả giám sát lâm sàng trên đàn gia cầm sau khi tiêm phòng vaccine 70
3.2.3 Giám sát huyết thanh học của đàn gà sau khi được tiêm phòng vaccine 71
3.2.4 Khảo sát đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt được tiêm vaccine H5N1 Trung Quốc tại Thái Nguyên năm 2011 82
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Đề nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 94
II TÀI LIỆU TIẾNG ANH 98
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TN : Thí nghiệm
ARN : Acid ribonucleic
cADN : Complementary ADN
GMT : Geographic Mean Titre - Hiệu giá kháng thể trung bình
HA : Hemagglutination test
HI : (Hemagglutination inhibitory test) - Phản ứng ngăn trở ngưng kết
hồng cầu HPAI : (High Pathogenicity Avian Influenza) - Virus cúm thể độc lực cao
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm tình từ năm 2008- 2011 63
Bảng 3.2 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa vụ 64
Bảng 3.3: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo loại gia cầm 66
Bảng 3.4: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức
chăn nuôi 67
Bảng 3.5: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm 68
Bảng 3.6: Kết quả tiêm phòng vaccine cúm cho đàn gia cầm của tỉnh Thái Nguyên đợt 2 năm 2010 và đợt 1 năm 2011 69
Bảng 3.7: Kết quả theo dõi độ an toàn của vaccine H5N1 trên đàn gia cầm 70 Bảng 3.8: Hiệu giá kháng thể trung bình của gà được tiêm vaccine H5N1 72
Bảng 3.9: Tần số phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vaccine H5N1 75
Bảng 3.10: Hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn gà thí nghiệm 79
Bảng 3.11: Hiệu giá kháng thể trung bình, tỷ lệ bảo hộ của đàn gà thí nghiệm và các đàn gà trong tỉnh 81
Bảng 3.12: Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt được tiêm vaccine H5N1 83 Bảng 3.13: Phân bố hiệu giá kháng thể của đàn vịt trong tỉnh được tiêm vaccine qua các thời điểm 84
Bảng 3.14: Hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn vịt thí nghiệm 88
Bảng 3.15: Hiệu giá kháng thể trung bình, tỷ lệ bảo hộ của đàn vịt TN và các đàn vịt trong tỉnh 90
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể của gà được tiêm vaccine
H5N1 74 Hình 3.2: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời
điểm sau tiêm 30 ngày 77
Hình 3.3: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời
điểm sau tiêm 60 ngày 77
Hình 3.4: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời
điểm sau tiêm 90 ngày 78
Hình 3.5: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời
điểm sau tiêm 120 ngày 78
Hình 3.6: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời
điểm sau tiêm 150 ngày 79
Hình 3.7: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm được
tiêm vaccine H5N 80 Hình 3.8: Đồ thị so sánh hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm và gà thực
địa của tỉnh Thái Nguyên 82
Hình 3.9: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể của vịt được tiêm vaccine
H5N1 84 Hình 3.10: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịt tại thời
điểm sau khi tiêm vaccine 30 ngày 85
Hình 3.11: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịt tại thời
điểm sau khi tiêm vaccine 60 ngày 86
Hình 3.12: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịt tại thời
điểm sau khi tiêm vaccine 90 ngày 86
Trang 11Hình 3.13: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịt tại thời
điểm sau khi tiêm vaccine 120 ngày 87
Hình 3.14: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể của đàn vịt thí nghiệm được
tiêm vaccine H5N1 89 Hình 3.15: Đồ thị so sánh hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt thí
nghiệm với các đàn vịt trong tỉnh 91
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm
nhiễm bệnh Bệnh do virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với nhiều
phân typ khác nhau gây nên Virus gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim và còn gây bệnh cho cả con người Với những tính chất nguy hiểm của bệnh, Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp bệnh vào Bảng A - Bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất
Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, có thể ảnh hưởng đến tình hình chính trị và xã hội Virus cúm gia cầm là virus ARN phân mảnh có 2 kháng nguyên bề mặt H (từ H1 đến H16) và N (từ N1
đến N9) có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học (Tô Long
Thành và cs, 2009)[39]
Hiện nay, dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm và là điều đáng lo ngại trên phạm vi toàn cầu, đến nay đã có hơn 50 nước trên thế giới xuất hiện dịch, dịch có chiều hướng diễn biến rất phức tạp
Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện bất ngờ vào cuối năm 2003, trong khi chăn nuôi gia cầm chủ yếu rải rác ở các nông hộ Đây là một loại bệnh dịch mới, lây lan rất nhanh
Sau khi dịch cúm gia cầm xảy ra tại nước ta, Ban Chỉ đạo Phòng chống dịch Quốc gia đã nghiên cứu, áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm trong cả nước Việc áp dụng tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm được coi như một giải pháp, một công cụ hỗ trợ tích cực để ngăn chặn, khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm ở những vùng
Trang 13bị nhiễm bệnh Theo quan điểm của OIE, FAO, WHO, vaccine nên sử dụng như một biện pháp chiến lược toàn diện phòng chống bệnh cúm gia cầm Trong năm 2010, Thái Nguyên cũng sử dụng vaccine H5N1 của Trung Quốc để tiêm phòng cho đàn gia cầm trong toàn tỉnh
Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, với cùng một loại vaccine nhưng khi tiêm phòng đại trà tại các địa phương khác nhau thì cho đáp ứng miễn dịch với đàn gia cầm cũng khác nhau Vì vậy, nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của gia cầm với vaccine H5N1 ngoài thực địa tại tỉnh Thái Nguyên
để biết hiệu quả phòng bệnh của vaccine, tỷ lệ bảo hộ và độ dài miễn dịch của
gia cầm, từ đó xác định thời gian tiêm nhắc lại phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của vaccine là hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine H5N1 tại tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được khả năng đáp ứng miễn dịch của gà và vịt được tiêm vaccine H5N1 tại tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu tại Thái Nguyên nhằm cung cấp, bổ sung và hoàn thiện các thông tin về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
- Có biện pháp tổ chức tiêm vaccine cúm gia cầm đại trà cho đàn gia cầm
của tỉnh Thái Nguyên để đạt được kết quả cao nhất Từ đó rút ra được những kinh nghiệm tiêm phòng trong thực tế cho tỉnh nói riêng và cho cả nước nói chung
Trang 14- Xây dựng kế hoạch tiêm phòng vaccine cúm trên địa bàn của tỉnh trong thời gian tiếp theo
4 Địa điểm nghiên cứu
Phòng virus- Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW, Trung tâm Thú y vùng
Hà Nội, các cơ sở và hộ chăn nuôi gia cầm của tỉnh Thái Nguyên, các Trạm thú y của tỉnh Thái Nguyên, Chi Cục Thú y tỉnh Thái Nguyên
5 Thời gian
Từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM
Bệnh cúm ở gia cầm - bệnh cúm gà (Avian influenza), là một bệnh
truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với
nhiều subtyp khác nhau (Ito và Kawoaka, 1998) [56]
Trước đây bệnh còn được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng
từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville (Mỹ), năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm động lực cao ở gia cầm (Highly Pathogenic Avian Influenza viết tắt là HPAI) để chỉ virus cúm typ A
có độc lực cao (Cục Thú y, 2004) [6]
Bệnh cúm gia cầm HPAI là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Virus gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể thành đại dịch, vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết (Cục Thú y, 2005) [7], (Lê Văn Năm, 2004) [28]
1.2 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về một bệnh ở gà như bệnh cúm hiện nay Năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và
từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ
đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918, 1957, 1968 (Cục Thú y, 2004) [6]
Năm 1878 ở Italy đã xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm
và được gọi là bệnh dịch tả gia cầm (Fowl plague), bệnh lần đầu tiên được Porroncito mô tả và ông nhìn nhận một cách sáng suốt rằng tương lai sẽ là
Trang 16một bệnh quan trọng và nguy hiểm Năm 1901, Centanni và Savunozzi đã đề cập đến ổ dịch này và xác định được căn nguyên siêu nhỏ qua lọc (Filterable agent) là yếu tố gây bệnh Đến năm 1955, Achafer đã xác định được căn nguyên gây bệnh thuộc nhóm virus cúm typ A thông qua kháng nguyên bề mặt là H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Lê Văn Năm, 2004) [28]
Năm 1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, phân typ H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên hệ giữa lợn và
gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm typ A phân typ H1N1 đã ở lợn và truyền cho gà tây, ngoài ra phân typ H1N1
ở vịt còn truyền cho lợn (Cục Thú y, 2004) [6]
Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979 bệnh được phát hiện ở Canada, Mehico, Achentina, Braxin, Nam Phi, Ý, Pháp, Anh, Hà Lan, Australia, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô (Đào Yến Khanh, 2005) [24]
Các công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh cúm gia cầm lần lượt
được công bố ở Australia năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983 -
1984, ở Ailen năm 1983 - 1984 về đặc điểm sinh học, bệnh học và dịch tễ học, các phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh
(Đào Yến Khanh, 2005) [24]
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỉ lệ nhiễm virus cúm
cao ở một số loài thuỷ cầm di trú (Cục Thú y, 2004) [6]
Trang 17Từ sau khi phát hiện ra virus cúm typ A, các nhà khoa học thấy rằng virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới Bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất với gia cầm thuộc phân typ H5 và H7 như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là
H5N2 (Cục Thú y, 2004) [6]
Đến nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khoẻ của cộng
đồng, đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chức hội thảo
chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen năm 1992 Từ đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [28]
1.3 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Virus cúm gia cầm phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới
Năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [25] Cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đã phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng
Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7 Năm 1 986 ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ A subtyp H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu diệt vì đã gây tử vong cho con người (Cục Thú y, 2004) [6] Như vậy đây là lần đầu tiên virus cúm
Trang 18gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18 người nhiễm bệnh, trong đó có 8 người chết
Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm gia cầm xảy ra với quy mô lớn do chủng H7N7 gây ra, 30 triệu gia cầm bị tiêu huỷ, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [26]
Từ cuối năm 2003 - 2005 đã có 11 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam Ngoài ra có
7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm các chủng khác là Pakistan, Hoa Kỳ, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đài Loan Vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng ngàn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm Tính đến nay, đã có tổng cộng 55 nuớc và vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm làm 250 triệu con gia cầm bị chết hoặc tiêu hủy bắt buộc Bệnh cúm cũng lây sang người với 258 trường hợp nhiễm bệnh và 154 người đã chết (Lê Văn Năm, 2004) [27]
1.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm phát ra tại trại gà giống của Công ty
C.P (Thái Lan) ở xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, gây ốm
và chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 02/01/2004, Công ty đã tiến hành tiêu huỷ 100.000 gà Dịch đã nhanh chóng lay lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước
Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch
từ khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành 6 đợt dịch như sau:
* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2003: Cuối năm 2003,
dịch cúm gia cầm thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh là virus cúm H5N1 xảy ra ở Việt nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta dịch cúm gia cầm xuất hiện ở Hà Tây, Long An và Tiền Giang, vì thế nó có thể được coi là một
Trang 19bệnh mới ở gia cầm Dịch lây lan một cách nhanh chóng cùng một lúc ở nhiều
địa phương khác nhau, đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm Chỉ
trong vòng 2 tháng, đến ngày27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6%) thuộc 381 huyện, quận, thị xã (chiếm 60%) của 57 tỉnh, thành phố trong cả nước Tổng số gia cầm bị mắc bệnh, chết và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng đàn, trong đó gà là 30,4 triệu con; thủy cầm là 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ
* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004: Dịch cúm gia
cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện vào giữa tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh
thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi
nhỏ lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi qui mô lớn nào bị nhiễm bệnh Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm Dịch đã xảy ra ở 46 xã phường của 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1
điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ trong thời gian này là 84.078 con,
trong đó có 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút
* Đợt dịch thứ 3 từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: Trong thời gian
này dịch đã xuất hiện ở 670 xã của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Dịch xuất hiện nhiều nhất vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành phố, số gia cầm tiêu hủy là 470.495
gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm, 2004-2005) [3]
* Đợt dịch thứ 4 từ 01/10/2005 đến 15/12/2005: Từ đầu tháng 10/2005
đến 15/12/2005 dịch đã tái phát ở 285 xã, phường, thị trấn thuộc 100 quận,
huyện của 24 tỉnh, thành phố Số gia cầm ốm, chết và tiêu hủy là 3.735.620 con,
Trang 20trong đó có 1.245.282 gà; 2.005.557 vịt; 484.781 chim cút, bồ câu, chim cảnh
* Trong 10 tháng đầu năm 2006 ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia về hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine
Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007 Dịch không tập
trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia nhiều đợt Từ ngày 6/12/2006
đến 7/3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc 11
tỉnh, thành gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hà Nội, Hải Dương và Hà Tây Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 103.094 con, trong đó có 13.622 gà; 89.472 ngan, vịt Từ 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 10 huyện, thị thuộc 23 tỉnh, thành là Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Quảng Nam, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng,
Cà Mau, Điện Biên, Quảng Bình, Thái Nguyên và Trà Vinh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 294.894 con (21.525 gà; 264.549 vịt và 8.775 ngan) Sau khi bị khống chế trong vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007, dịch lại tái phát trên địa bàn các tỉnh Trà Vinh, Quảng Trị, Nam Định, Cao Bằng, Hà Nam và Bến Tre
* Đợt dịch thứ 6 từ đầu năm 2008 đến nay, xảy ra lẻ tẻ, rải rác với 74
đàn gia cầm tại 57 xã, phường của 40 huyện thị thuộc 21 tỉnh phát dịch Tổng
số gia cầm tiêu hủy là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thủy cầm (Văn Đăng Kỳ, 2008) [32]
Về phân bố địa lý: Các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng bằng
Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và
Trang 21việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác
Về thời gian xảy ra dịch: Dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao
điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ
ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm tồn
tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia cầm và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch
Về loài mắc bệnh: Đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỉ lệ gà mắc bệnh cao
hơn vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đã có sự thay đổi lớn khi các thống kê cho thấy tỉ lệ mắc bệnh, chết và tiêu huỷ ở vịt cao gần gấp 2 lần gà Điều này cho thấy mầm bệnh đã lây lan, tồn tại trong đàn thuỷ cầm, có thể tăng độc lực
và bột phát thành đợt dịch thứ 3 Tỉ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thuỷ cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3
Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: Dịch phát ra ở tất cả các loại hình
chăn nuôi, tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia
cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn nuôi gà
có số lượng lớn Qui mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt 2, 3 và 4 mặc dù
dịch vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô giảm đi nhiều (Dự án
sử dụng vaccine ) [8]
* Tình hình dịch cúm gia cầm tại Thái Nguyên
Theo thống kê của Chi Cục Thú y tỉnh Thái Nguyên, dịch cúm gia cầm
xảy ra trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên bắt đầu từ ngày 27/01/2004 đến nay đã xảy ra 6 đợt dịch
* Đợt dịch đầu tiên từ 27/01 - 08/04/2004
Đợt dịch này đã xảy ra trên 48 xã, phường thuộc 8 huyện: Phú Bình, Phổ Yên, Phú Lương, Định Hoá, Sông Công, Đồng Hỷ, Đại Từ và Thành phố Thái Nguyên Tổng số gà mắc bệnh là: 164.258 con, vịt, ngan là: 7.728 con và
Trang 22sản phẩm gia cầm mắc bệnh là: 13.760 quả trứng Dich cúm gia cầm xảy ra lần đầu tiên vì vậy tổng thiệt hại cho tình là lớn nhất, làm cho người dân lao
đao vì dịch bệnh hoành hành mà chưa biết biện pháp khắc phục
* Đợt dịch thứ 2 từ ngày 17/01 đến 20/12/2005
Đợt dịch này chỉ xảy ra ở 5 xã trên địa bàn của 2 huyện là Phú Lương và Sông Công nhưng nó kéo dài đến tận cuối năm, làm chết 323 gà và 9 vịt tổng thiệt hại là không đáng kể so với năm đầu phát dịch
* Đợi dịch thứ 3 từ ngày 28/08 - 20/09/2007
Sau một năm dịch cúm gia cầm lại tái phát trở lại trên địa bàn tỉnh, nhưng lần này chỉ xảy ra trên 1 hộ thuộc 1 xã của huyện Phổ Yên và đã được khống chế kịp thời không để dịch lây lan trên diên rộng như những năm trước Lần này thiệt hai là 35 gà và 150 vịt bị tiêu huỷ Thiệt hại ít là do tỉnh đã có công tác tiêm phòng vaccine H5N1 trước đó
1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRUS CÚM TYP A
1.4.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae
Họ Orthomyxoviridae gồm có 4 nhóm virus là:
+ Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho các loài chim, một số động vật có
vú và cả con người
Trang 23+ Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người
+ Nhóm virus cúm C: Gây bệnh cho người, lợn
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéo dài, đường kính khoảng 80 - 120 nm
Vỏ virus có bản chất protein có nguồn gốc từ nguồn tế bào mà virus đã gây nhiễm, bao gồm một số protein được glycosyl hóa (glycoprotein) và một
số protein dạng trần không được glycosyl hóa (non glycosylated protein)
Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoprotein, đó là những gai, mấu có độ dài 10 - 14 nm, đường kính 4 - 6 nm
Nucleocapsid bao bọc lấy nhân virus là tập hợp của nhiều protein phân
đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 - 150 nm, tạo vòm (loop) ở giới
hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptit Phân
tử lượng của hạt virus vào khoảng 250 triệu dalton (Lê Thanh Hòa, 2004 [19]; Muphy, 1996 [64])
1.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A
Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Hemagglutinin (HA) và một loại protein có chức năng là một loại enzim phá hủy thụ thể của virus có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các glycoptein riêng biệt (Kawoaka, 1988) [58]
Trang 24Hạt virion có cấu trúc là axit Ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài 13.500 nucleotit chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa cho 10 loại protein khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, BP1, BP2, PA, NS1, NS2 Tám phân đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp
điện di (Muphy, 1996) [64]
- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein
có chức năng là enzim polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho
hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus (Biswas, 1996) [46]
- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng
tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus (Bosch.F.X, 1979) [47] HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc trưng cho các subtyp H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng (Bosch.F.X, 1979) [47], (Vey.M và cs, 1992) [69] Mô typ của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtyp H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới (Lê Thanh Hòa, 2004 [19]; Bosch, 1979 [47]; Holsinger, 1994 [53]; Vey và cs, 1992 [59])
Trang 25- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein
được phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm
(Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân
đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleo protein (Lê Thanh Hòa,
2004) [19]; (Buckler White, 1998) [48]
- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein enzim Neuraminidae (NA), có chức
năng là một enzim phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm Phân
đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein, giúp giải phóng ARN virus từ
endosome và tạo hạt virus mới (Castrucci và cs, 1993) [50]
- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1 và M2 là protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus (Horimoto và cs, 1995) [53]
- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân
ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interfron (Luong.G và cs, 1992) [61]
1.4.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A
Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (Nucleoprotein, NP), protein đệm (matrix protein, M1), protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin, HA) và protein enzim cắt thụ thể (Neuraminidase, NA) NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm (genus - specific antigen), ký hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu typ và dưới typ (typ - specific antigen), ký hiệu là ts kháng nguyên
Một đặc tính quan trọng là virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng
Trang 26cầu của nhiều loài động vật Đó là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối virus,
gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (Hemagglutination test)
Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh Nó có thể phong toả sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu KN- KT có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)
Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm
Theo Ito và Kawaoka (1998) [55], sự phức tạp trong diễn biến kháng
nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên (Horimoto và cs, 1995) [54] Có 2 cách
biến đổi kháng nguyên của virus cúm:
+ Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc
về kháng nguyên - Antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay
đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H
và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân typ cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng với loài vật chủ khác nhau và có mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1- H16) và 9 kháng nguyên N (N1 - N9) (Cục Thú y, 2005) [7]
+ Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca - Antigenic Shift) Hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện
Trang 27tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus Điều này tạo nên sự sai khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và
động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm
1918 - 1819 làm chết 40 - 50 triệu người mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1
từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có
độc lực rất mạnh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [26]
Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus
có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau (Cục Thú y, 2004) [6]
Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết thanh học không hoặc rất ít vaccine cúm để phòng bệnh cho người và động vật (Ito và cs, 1998 [56]; Kawoaka, 1991 [57])
Khi xâm nhập nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể
kháng HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus và cho bảo hộ
miễn dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2, không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu và cs, 1999 [60]; Seo và cs, 2001) [66]
1.4.4 Thành phần hóa học của virut
ARN của virus chiếm 0,8 - 1,1%; protein chiếm 70 - 75%; lipit chiếm
20 - 24%; hydratcacbon chiếm 5 - 8% khối lượng hạt virus
Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipit có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipit và một ít hydrocacbon gồm các loại men galactose, ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein (Lê Văn Năm, 2004) [27]
Trang 281.4.5 Quỏ trỡnh nhõn lờn và tỏc động gõy bệnh của virus
Virus được hấp phụ vào bề mặt tế bào nhờ cú receptor mà bản chất là glycoprotein chứa axit Sialic, từ đó virus chui qua màng tế bào nhờ một loại men đặc biệt để vào trong nguyờn sinh chất và nhõn tế bào Tại đú virus sinh trưởng nhanh chúng và phỏt triển theo phương thức nhõn đụi
Theo nhiều tỏc giả sau khi vào cơ thể, virus cỳm tiếp cận với cỏc tế bào
đớch xõm nhập và giải phúng vật chất di truyền Virus sử dụng cỏc cơ quan
trong tế bào và nguồn nguyờn liệu của tế bào để tổng hợp nờn protein và RNA
đặc trưng Cỏc protein kết hợp với RNA virus tạo thành hạt virus và được giải
phúng ra ngoài Tế bào chủ khụng bị dung giải, nhưng sẽ chết đi do mất trạng thỏi cõn bằng vốn cú, đồng thời bị đầu độc bởi cỏc sản phẩm sinh ra Số lượng virus tăng lờn ngày càng nhanh theo cấp số nhõn Tế bào đớch bị phỏ huỷ hàng loạt Sự suy giảm hụ hấp khiến sức đề khỏng của cơ thể giảm sỳt rừ rệt, làm
kế phỏt cỏc bệnh vi khuẩn, virus khỏc (Alexander, 1993) [44]
1.4.6 Độc lực của virus
Độc lực của virus cỳm gia cầm cú sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Cỏc nghiờn cứu ở mức độ phõn tử cho thấy khả năng lõy nhiễm của virus phụ thuộc vào tỏc động của men proteaza vật chủ đến sự phỏ vỡ của liờn kết húa học sau khi dịch mó của phõn tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tớnh thụ cảm của ngưng kết tố và sự phỏ vỡ liờn kết của men protease lại phụ thuộc vào
số lượng cỏc amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phỏ vỡ cỏc liờn kết Cỏc enzim
giống trypsin cú khả năng phỏ vỡ liờn kết khi chỉ cú một phõn tử Arginin, trong
khi đú cỏc enzim protease khỏc lại cần nhiều amino axit cơ bản
Tại Hội thảo thế giới lần đầu tiờn về bệnh cỳm gà 1981, Bankowski và cộng sự thụng bỏo virus cỳm gà cú khỏng nguyờn bề mặt H7 thuộc loại cú độc lực cao Nhưng Pensyvania (Mỹ) đó chứng kiến trận dịch cỳm gà gõy chết
Trang 2975% số gà, khi phân lập virus có kháng nguyên bề mặt H5 mà không phải là H7 Để đánh giá độc lực của virus cúm một cách khoa học, các nhà khoa học
sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch nước trứng đã được gây nhiễm virus Sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus
có độc lực cao nhất Theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), virus nào có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao (Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [11]; OIE, 1992 [66])
Bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đã gây nhiễm virus
được pha loãng ở nồng độ 1/10 cho gà mẫn cảm từ 3 - 6 tuần tuổi, các nhà
khoa học đã thống nhất chia độc lực của virus ra 3 loại:
- Virus có độc lực cao: Nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải làm chết 75 - 100% số gà thực nghiệm Virus gây bệnh cúm gà (có thể là typ phụ) phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin Theo Nguyễn Tiến Dũng, 2008) [14], Protein HA gồm 2 phần HA1 và HA2 nối với nhau trong cấu trúc bậc 1 qua 1 chuỗi axit amin kiềm được gọi là Cleavage site (điểm cắt) Khi xâm nhập vào ký chủ có hoạt tính giống như trypsin (trypsin- like) cắt đôi cấu trúc này ra thì virus mới bám vào thụ thể của tế bào ký chủ, xâm nhập vào nội bào và bắt đầu quá trình tăng sinh Men trypsin và tương đương chỉ có tác dụng vào các axit amin kiềm (Arginine và Lysine) do vậy nếu điểm cắt càng
có nhiều loại axit amin này thì khả năng HA được cắt đôi càng lớn và quá trình xâm nhập vào nội bào càng nhanh nên virus có độc lực càng cao
- Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
- Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong
cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt,
Trang 30không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có
độc lực thấp - LPAI (Light Pathogenic Avian Influenza) Loại virus có độc
lực cao - HPAI (Highly Pathogennic Avian Influenza)
Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh (Horimoto
và cs, 1995) [54]
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao - HPAI (Collins RA và
cs, 2002 [51]; Mo và cs, 1997 [63])
Theo Mary Pantin-Jackwood và cs (2008) [30], tất cả các virus cúm phân lập được của Việt Nam trong năm 2005 - 2007 không chỉ có độc lực cao với gà, mà còn gia tăng đáng kể độc lực đối với vịt so với các virus phân lập trước đó Sự tăng độc tính này là hệ quả của sự gia tăng virus nhân lên trong các cơ quan nội tạng và sự tăng thích nghi ở diện rộng hơn của virus đối với các cơ quan nội tạng Sự thay đổi độc tính của các virus đang lưu hành có ảnh hưởng lớn tới dịch tễ học của virus vỡ công tác khống chế
Trang 311.4.8 Phân loại virus
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008) [14], virus cúm gia cầm được phân loại như sau:
* Phân loại theo kháng nguyên:
Khi dùng phản ứng kết tủa trên thạch hoặc kết hợp bổ thể, người ta thấy
có 3 nhóm virus khác nhau và đặt tên cho 3 nhóm virus là A, B và C Vào năm 1941 Hirst đã phát hiện thấy virus cúm có khả năng ngưng kết hồng cầu, khi ông quan sát việc thu hoạch virus sau khi cấy trên trứng gà có phôi và khả năng này bị kháng thể kháng virus cúm ngăn trở hay ức chế Dùng phản ứng này người ta thấy virus cúm typ A lại có nhiều loại khác nhau Trên cơ sở kết quả của phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu, khi phát hiện ra rằng kháng thể kháng ngưng kết hồng cầu là kháng thể được tạo ra để chống lại protein HA nhưng không ức chế toàn bộ các virus typ A Từ đó virus typ A được chia thành các typ phụ (subtype) trên cơ sở có phản ứng HI đặc hiệu
Cho đến năm 2004, tổng số subtyp chia theo khả năng ngưng kết hồng cầu là 16 Với protein NA, người ta phát hiện ra 9 loại NA có tính kháng nguyên khác nhau và được đặt tên là từ N1 cho đến N9 Virus cúm typ A là kết quả của sự tổ hợp giữa 2 loại protein này Chính vì vậy chúng ta có virus cúm đặt tên là HxNy (x có giá trị từ 1 đến 16 và y có giá trị từ 1 đến 9) Việc phân loại virus như trên do Ủy ban định danh quốc tế về virus tiến hành
Các loại virus cúm có cùng danh hiệu nhưng không chắc có cùng nguồn gốc và về gen di truyền chúng có sự khác nhau, nói cách khác là rất đa dạng Với virus cúm H5N1 đang gây bệnh đại dịch cho gia cầm, có nguồn gốc từ Châu Á và được gọi tên đầy đủ là “virus H5N1 dòng Châu Á” nhằm phân biệt với các loại H5N1 khác Virus H5N1 dòng Châu Á lại được phân loại chi tiết hơn nữa Có 2 kiểu phân loại virus H5N1 dòng Châu Á (theo quy định của WHO) đó là:
- Phân loại theo kiểu gen: Virus cúm dòng Châu Á phải có 2 đoạn RNA
Trang 32chịu trách nhiệm tổng hợp Protein HA và NA có nguồn gốc từ virus cúm H5N1 phân lập từ ngỗng ở Quảng Đông (Trung Quốc) vào năm 1996 Tùy theo nguồn gốc của 6 đoạn gen còn lại mà người ta đặt tên kiểu gen cho loại virus đó
- Phân loại theo nhóm kháng nguyên (clade): do sự biến đổi di truyền liên tục nên protein HA của virus cúm H5N1 dòng Châu Á có tính kháng nguyên thay đổi
Thí dụ: làm phản ứng HI (ức chế ngưng kết hồng cầu) giữa virus chủng A/Goose/Guangdong/1/96 với kháng thể kháng chính nó, ta có hiệu giá kháng thể HI là 8 log2 chẳng hạn Lấy một virus khác (H5N1 dòng Châu Á) làm phản ứng với kháng thể này, hiệu giá kháng thể là 7 log2 người ta vẫn cho virus đó là cùng nhóm kháng nguyên Tuy nhiên, nếu hiệu giá kháng thể lệch 2log trở lên thì virus sẽ thuộc nhóm kháng nguyên khác
1.4.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà
Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, trong nước phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều kiện 40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu ta bảo quản nước phôi đó ở - 700C hoặc cho đông khô (Lê Văn Năm, 2004) [27]
Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà (CEF) và tế bào thận chó MDCK (Madin- Darby Canine Kidney cell) với điều kiện môi trường nuôi cấy tế bào không chứa trypsin (Lê Văn Năm, 2004) [27]
1.4.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm
Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau Cũng như các động vật khác, miễn dịch chống virus cúm của gia cầm có 2 loại là miễn dịch đặc hiệu và không
đặc hiệu
Trang 33* Miễn dịch không đặc hiệu:
Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:
- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ
cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào hóa học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu
+ Bổ thể: Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất
định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác
giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) (Nguyễn Như Thanh, 1997) [29]
+ Interferol (IFN): Do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (anti virus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được
- Hàng rào tế bào gồm:
+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm
60 - 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và
vi khuẩn ngoài tế bào
+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL - 1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus, lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm
Trang 34+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào
đã bị nhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm
tăng khả năng thực bào của đại thực bào
* Miễn dịch đặc hiệu:
Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể
đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể
hoặc có thể là tế bào, đó là các limphô T mẫn cảm Vì vậy người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào
- Miễn dịch đặc hiệu dịch thể: Do tế bào limphô B đảm nhiệm, nó tiết
ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA IgG của gia cầm lớn hơn của động vật có vú nên thường được gọi là IgY
Các limphô bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi Fabricius, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các limphô B, sau đó di tản đến các cơ quan limphô ngoại biên, chúng khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch bạch huyết
Mỗi và mọi tế bào B đều có một kháng thể khác nhau trên bề mặt của
nó Khi tế bào B đã có thể sản sinh IgM trên bề mặt thì nó cũng có thể có khả năng sản sinh một kháng thể khác lớp khác, nhưng dù là lớp nào thì tất cả kháng thể do tế bào đó sản sinh ra đều có khả năng nhận biết cùng loại kháng nguyên ấy mà thôi Tức là vùng Fab của phân tử kháng thể không thay đổi mà chỉ có vùng Fc là khác nhau tùy vào lớp kháng thể
Trong hạch lâm ba các limphô B có thể gặp một kháng nguyên và được nhận biết bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Sau khi đã nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines do tế bào T tiết ra, chúng
được biệt hóa thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể
Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu tiên được gọi là
Trang 35đáp ứng tiên phát (sơ cấp) Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể
trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp
Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào, lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus, 2 lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với Recepter của
tế bào tương ứng, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào
Lớp IgA có trong niêm mạc, nó diệt virus ngay trong hàng rào niêm mạc, không cho virus xâm nhập vào trong Khi virus sinh ra kháng thể thì kháng thể có tính đặc hiệu cao giúp ta định typ virus gây bệnh bằng các phản
ứng huyết thanh học
Một số limphô B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành limphô B nhớ, hiệu quả làm cho đáp ứng miễn dịch lần 2 đối với kháng nguyên nhanh hơn, mạnh hơn lần 1 và lớp kháng thể thường là IgG
- Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào: Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào limphô T đảm nhiệm Các limphô bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng
được huấn luyện, biệt hóa thành tiền limphô T, rồi thành limphô T chưa chín,
rồi thành limphô T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan limphô ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các limphô T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành nguyên bào limphô T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào
Các tế bào limphô T thực hiện 2 chức năng quan trọng:
- Chức năng hỗ trợ: Do các limphô T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH)
+ Giúp đỡ các tế bào limphô B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể
Trang 36+ Giúp các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây độc Tế bào TC được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích
+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn
+ Sản xuất ra các cytokines có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu
+ Sản xuất các cytokines có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực bào + Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các
tế bào trình diện kháng nguyên
Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên
được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các
phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách: TH1 tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL - 2 và interferol γ, TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL - 4, IL-5
- Chức năng thực hiện: Do các limphô T mang dấu ấn CD8 đảm
nhiệm có 2 loại:
+ Limphô T gây độc (TC): Chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus,
tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh peptit của kháng nguyên tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I
+ Limphô T ức chế (TS): Chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglobulin của tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể
Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự chăm sóc nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất kháng nguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:
Bản chất kháng nguyên: Kháng nguyên có bản chất là protein và có
Trang 37tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt
Đường xâm nhập của kháng nguyên: Thường đường xâm nhập tốt nhất
là dưới da và trong bắp thịt
Liều lượng kháng nguyên: Lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch
Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: Tiêm nhắc lại vaccine có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn
Chất bổ trợ: Chất bổ trợ cho vào khi chế vaccine với mục đích giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục,
đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và
duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật, saponin
1.5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM
1.5.1 Phân bố dịch
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm, động vật có vú Sự phân bố và lưu hành của virus cúm khó xác định chính xác và chịu ảnh hưởng bởi cả loài vật nuôi, hoang dã, tập quán chăn nuôi gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh, phương pháp nghiên cứu (Cục Thú y, 2004) [6]
1.5.2 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim hoang dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm typ A Ngoài ra virus cúm typ
A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như: lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do phân typ H1N1 và H3N2 Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có
Trang 38sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên, năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm typ A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh
Kết quả điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non
bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân typ virus cúm A diễn ra ở chim hoang dã Những virus này không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên ở đường ruột những chim này khiến cho các loài này
mang virus là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm
(Alexander, 2000) [45]
Đã có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu
trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Dường như virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hóa do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao,
hồ (Bùi Quang Anh và cs, 2004 [1]; Cục Thú y, 2004 [6])
Đối với các ký chủ khác, mỗi virus cúm cụ thể có thời gian lưu giữ
trong cơ thể khác nhau và có khả năng gây bệnh khác nhau, không theo một quy luật nào cả Với virus cúm gia cầm có 3 loại ký chủ:
- Ký chủ lưu giữ (Reservoir host): Là loại ký chủ chỉ cho phép virus nhân lên với lượng thấp và virus gây ra bệnh rất nhẹ Ví dụ như vịt và một số thủy cầm vẫn được coi là ký chủ lưu giữ H5N1 Nhờ đó virus có khả năng tồn tại
Trang 39- Ký chủ hứng chịu (Spillover host): Là loại ký chủ cho phép virus nhân lên với lượng lớn và bệnh mà nó gây ra cũng rất nặng, thường là bệnh toàn thân và thường gây tử vong (ví dụ gà, gà tây và chim cút đối với H5N1)
- Ký chủ lệch (Aberrant host): Là loại ký chủ mà virus chỉ nhân lên với
số lượng nhỏ nhưng bệnh do chúng gây ra lại rất nghiêm trọng và thường gây
tử vong Ví dụ: người, hổ, chó mèo hiện đang là ký chủ lệch của virus H5N1 (Nguyễn Tiến Dũng, 2008) [14]
1.5.4 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp và
đường tiêu hóa Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức
- Lây trực tiếp: Do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức
ăn, nước uống bị nhiễm virus
- Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh
Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi Bệnh chủ yếu truyền ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển
được (Lê Văn Năm, 2004) [27] Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên
thường thấy là: Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại
hoặc các trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà; từ gia cầm nhập khẩu; từ chim di trú đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào quần thể đàn gia cầm nuôi
Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các đàn gia cầm nằm trên đường di trú của các loài thủy cầm, các đàn gia cầm nuôi nhốt trong các trang trại, vịt
Trang 40được nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trang trại
Các ổ dịch cúm thường có nguy cơ xuất hiện cao ở các mùa có hoạt
động của thủy cầm di trú Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có sự tiếp xúc với
thủy cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên
Từ người và các động vật có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm
gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông qua con người (Bùi Quang Anh và cs, 2004) [1]; (Cục Thú y, 2004) [6]
1.5.5 Sức đề kháng của virus cúm
Virus không bền vững với nhiệt độ, ở 56 - 600C chỉ vài phút virus mất
độc lực Tuy nhiên virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà
(ít nhất 3 tháng) 30 - 35 ngày ở nhiệt độ 40C, 7 ngày ở nhiệt độ 200C Trong thức
ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là
nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004) [27]
Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở nhiệt độ 220C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00C (Webster.R.G và cs, 1992) [70]
Theo Đỗ Ngọc Thúy, (2008) [43], ở nhiệt độ mùa đông, lớp vỏ của vi rut trở nên cứng thành một dạng gel có khả năng co dãn như cao su có thể bảo
vệ virus Tuy nhiên ở nhiệt độ ấm hơn thì lớp gel bảo hộ này bị tan chảy ra thành pha lỏng Nhưng pha lỏng này là không đủ độ cứng để bảo vệ virus chống lại các yếu tố khác Như vậy, thường về mùa hè sức đề kháng của virus kém nên tỷ lệ gia cầm mắc bệnh vào mùa hè và mùa thu thường ít hơn vào mùa đông và mùa xuân Dịch cúm gia cầm thường hay xảy ra vào tháng 3, tháng 4 và tháng 10, tháng 11
Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, β - propiolacton Sau khi tẩy
vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+, axit loãng, natrihypochlorit và