Xuất phát từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trần Huê Viên và P
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ KHÁNH CHI
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP Ở GÀ CP707 NUÔI THỊT TẠI DOANH NGHIỆP HIỀN-CHUNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đặng Xuân Bình
Bộ môn
Thái Nguyên - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 4 năm học tập, rèn luyện tại trường và thực tập tốt nghiệp
tại cơ sở, nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và quý thầy cô trường Đại học Nông lâm - Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích, những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt quá trình học tập của em, giúp em tự tin vững bước đi trên con đường phía trước khi không còn ngồi trên ghế nhà trường
Em xin cảm ơn các thầy, cô giáo khoa chăn nuôi thú y đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình và tạo những điều kiện thuận lợi nhất trong suốt khóa học cũng như trong thời gian em thực hiện đề tài tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn tới doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm Hiền - Chung thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện chuyên đề tại cơ sở
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Xuân Bình người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến, giúp đỡ và dành cho
em rất nhiều sự động viên trong suốt quá trình thực hiện bài khóa luận
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô và gia đình luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Ngô Khánh Chi
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong suốt quá trình học tập của mỗi sinh viên, đồng thời đó cũng là phần cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian để mỗi sinh viên chúng
em củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học đồng thời giúp cho chúng em làm quen với thực tế sản xuất, rèn luyện, nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức, tiến hành nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết xã hội, để khi ra trường
sẽ trở thành những cán bộ kĩ thuật vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực công tác Vì vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học
Xuất phát từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi
- Thú y, thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trần Huê Viên và PGS.TS Đặng Xuân Bình, cùng với sự tiếp nhận của doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm
Hiền - Chung, chúng em đã thực hiện đề tài: "Tình hình bệnh đường hô hấp ở gà CP707 nuôi thịt tại doanh nghiệp Hiền - Chung và biện pháp phòng trị"
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian nghiên cứu còn ít cùng với trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, nên khoá luận của em không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp phê bình của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Ngô Khánh Chi
Trang 4IB : Infectious Bronchitis (Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm)
ILT : Laringotrachetis infectiosa avium, Infectious
laringotracheitis (Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm)
Trang 5PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại gà Hiền-Chung (thuộc doanh nghiệp Hiền Chung) nằm ở phía Nam xã Tân Cương thuộc thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm xã 2km Toàn bộ trung tâm có tổng diện tích 10.000m2, trong đó diện tích cây lâm nghiệp và cây ăn quả 6.000m2, còn lại là diện tích trại chăn nuôi
Tân Cương nằm ở phía tây thành phố Thái Nguyên cách trung tâm thành phố khoảng 12km
- Phía tây giáp với với huyện Đại Từ
- Phía nam giáp với với huyện Phổ Yên
- Phía bắc giáp với với huyện Đại Từ
- Phía đông giáp với thành phố Thái Nguyên
Vị trí địa lý như vậy giúp xã rất thuận tiện trong việc trao đổi phát triển kinh tế mà cụ thể là việc xuất nhập của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thương mại dịch vụ trở nên dễ dàng
1.1.1.2 Địa hình đất đai
Xã Tân Cương - thành phố Thái Nguyên là vùng trung du miền núi nhưng xã lại có địa hình tương đối bằng phẳng, ít đồi núi, rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, trồng trọt góp phần nâng cao đời sống của công nhân viên trong trại
Toàn bộ trại có diện tích 10.000m2 trong đó:
- Đất trồng cây: 6.000m2
- Đất xây dựng: 4.000m2
1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh miền núi có khí hậu rất thích hợp cho phát triển ngành nông nghiệp
Trại gà Hiền-Chung nằm trong xã Tân Cương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa nóng, mưa nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng
Trang 69: nhiệt độ trung bình (210C - 290C), ẩm độ (81 - 86%) Mùa lạnh, mưa ít
từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau: nhiệt độ trung bình (13,50C - 24,80C) Tháng 7 là tháng nóng nhất (28,50C), tháng 1 lạnh nhất (13,50C) Tổng số giờ nắng trong năm là 1628 giờ, năng lượng bức xạ đạt 115 Kcal/cm2 Bên cạnh đó lượng mưa phân phối không đều, mùa mưa phân bổ từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa trong mùa đạt 91,6% lượng mưa cả năm Hàng năm tháng 7, tháng 8 có nước lũ xuất hiện trong vùng Lượng mưa trung bình năm đạt 1643 mm Tháng 7 mưa lớn nhất (419,3 mm), số ngày mưa trung bình trong tháng là 17,3 ngày, tháng 12 và tháng 1 mưa ít nhất, lượng mưa chỉ có 24,1 - 25,3 mm, số ngày mưa trung bình từ 6,8 - 10,5 ngày
Với điều kiện khí hậu như vậy, nhìn chung có thuận lợi cho phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên vẫn có những giai đoạn khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, lũ lụt trong vùng, mùa
hè có ngày nhiệt độ rất cao (38 - 390C), mùa đông có ngày nhiệt độ cũng rất thấp (60C) nên ảnh hưởng xấu đến chăn nuôi cũng như trồng trọt
1.1.1.4 Giao thông thủy lợi
Xã Tân Cương nằm ở phía Tây thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 12km, đường vào xã đã được dải nhựa hoàn toàn Đường thôn xóm đều đã được bê tông hóa Với hệ thống giao thông như vậy rất thuận lợi cho việc trao đổi vận chuyển hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm…
1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.1.2.1 Hệ thống tổ chức quản lý cơ sở
Trại có đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề, đã có nhiều kinh nghiệm trong nghề Đặc biệt, trại có đội ngũ kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế
và ban lãnh đạo năng động, nhiệt tình, có năng lực
Toàn trại gồm 8 người:
+ Một chủ trại có kinh nghiệm lâu năm trong chăn nuôi
+ Một thủ quỹ kiêm giám sát công việc trong trại
+ Một kỹ thuật chuyên về thuốc thú y
+ Một bảo vệ trại kiêm giám sát kiểm tra điện nước
+ Hai trại trưởng và hai công nhân
1.1.2.2 Tình hình dân cư, văn hóa - xã hội
Trại gà Hiền - Chung đóng trên địa bàn xã Tân Cương, đây là một xã
Trang 7sản xuất nông nghiệp thuộc thành phố Thái Nguyên, cho nên dân cư xung quanh trại là nông dân, sống định cư bằng nghề nông nghiệp Ngành tiểu thủ công nghiệp cũng khá phát triển
Nhìn chung tình hình dân trí xung quanh trại khá cao, người dân đoàn kết đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trại
1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển kinh tế
* Hệ thống chuồng trại:
Khu sản xuất của trại được đặt trên một khu đất cao ráo, dễ thoát nước và tách với khu hành chính, hộ gia đình Chuồng trại được xây dựng theo hướng Đông Nam, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Xung quanh trại có tường rào bao bọc, cổng ra vào trại và các nơi sản xuất có hố sát trùng riêng
Khu vực dành cho chăn nuôi rộng 4000m2 và được bố trí gồm 3 trại có quy mô 23.000 gà trong đó:
+ Trại 1 quy mô 8.000
+ Trại 2 quy mô 8.000
+ Trại 3 quy mô 7.000
Hệ thống chuồng trại ở đây được xây dựng theo thiết kế chuồng nuôi công nghiệp xây dựng theo kiểu chuồng 2 tầng 2 mái và nghiệm thu bởi công ty liên kết với trại là công ty Charoen Pokphand của Thái Lan (gọi tắt
là CP) Hệ thống chuồng khép kín có hệ thống quạt 12 làm mát và thoát mùi, hệ thống dàn mát thiết kế ở đầu chuồng, hệ thống sưởi ấm cho gà bằng gas và điện, hệ thống kho và vật tư ở bên sườn đầu chuồng, hệ thống sàn bê tông có đệm lót, hệ thống cống rãnh thoát nước hai bên để thoát nước thải,
hệ thống cung cấp nước uống tự động Hệ thống che chắn kín đáo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hệ thống máng ăn công nghiệp, có tường rào bao quanh nhằm ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu chăn nuôi
Hệ thống nước sạch được lấy từ giếng, bơm vào bể rồi được xử lý, sau đó đưa vào các ô chuồng, đảm bảo cung cấp nước tự động cho đàn gà
Hệ thống điện được cung cấp từ trạm biến áp 110 KV của trại Ngoài
ra trại còn chủ động về máy phát điện phòng những ngày mất điện
* Các công trình phụ trợ
Trang 8Ngay cạnh khu vực sản xuất có một phòng kỹ thuật, hai kho cám và hai phòng trực của cán bộ công nhân viên,hai nhà kho để máy phát điện, một nhà sát trùng,một nhà để trấu,một nhà để vôi sát trùng,một kho than Trong đó phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ như: xilanh, tủ lạnh, panh, kìm, cân, bình phun thuốc sát trùng và các loại thuốc thú y
Bên cạnh đó, khu nhà ở cho công nhân và nhà bếp được xây cách xa chuồng nuôi, đảm bảo vệ sinh an toàn dịch bệnh
Trại có 3 giếng, 2 bể nước và 7 máy bơm nước phục vụ cho việc cung cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Chăn nuôi gà là nhiệm vụ chính của trại cho nên trồng trọt chỉ là lĩnh vực phụ Tổng diện tích trồng trọt của trại là 6000m2 Phần lớn diện tích đất trồng trọt của trại là trồng cây ăn quả như vải, nhãn và táo ngoài ra còn trồng một số cây cảnh như cây xanh, cây si Một phần nhỏ diện tích đất trồng trọt được trồng rau xanh làm thực phẩm cho bữa ăn của công nhân
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Từ năm 2004 trại bắt đầu đi vào hoạt động với quy mô 16.000 gà, năm với hệ thống chuồng trại hiện đại và khá hoàn chỉnh Trại chỉ sản xuất
gà thịt thương phẩm trong hệ thống của công ty CP Công ty CP bao tiêu toàn bộ gà được sản xuất tại trại Sau nhiều năm hoạt động trại thu được kết quả rất lớn cung cấp là cung cấp thịt thương phẩm cho các tỉnh:Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình, Vĩnh Phúc và một số tỉnh lân cận, đồng thời cung cấp gà xuất khẩu.Trung bình mỗi lứa trại sản xuất khoảng 50000 kg/lứa nuôi
1.1.4 Những thuận lợi, khó khăn
1.1.4.1 Thuận lợi
Được sự quan tâm tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ đúng đắn của các ngành các cấp có liên quan: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông tỉnh, Công ty vật tư nông nghiệp, Chi cục thú
y và Sở khoa học công nghệ môi trường đã tạo điều kiện cho sự phát triển của Trại
Trang 9Quản lý trại có năng lực, nhiệt tình năng động, có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, công nhân nhiệt tình, có kinh nghiệm lâu năm trong nghề Toàn
bộ các bộ công nhân viên trong trại là một tập thể đoàn kết, có ý thức trách nhiệm cao và lòng yêu nghề
Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp rất phù hợp với xu thế chăn nuôi hiện đại
1.1.4.2 Khó khăn
Do trại được thuê lại từ trại chăn nuôi gà đẻ nên chuồng trại, trang thiết bị chưa đồng bộ và không thuận lợi cho chăn nuôi gà thịt Mặt khác vấn đề môi trường của trại không thực sự đảm bảo, đặc biệt là vấn đề nước sạch cho chăn nuôi
Trong chăn nuôi gà thịt phải đảm bảo vấn đề vệ sinh môi trường và cung cấp đầy đủ nước sạch Do đó trại phải trang bị hệ thống xử lý nước Điều này đã gây không ít khó khăn cho sự phát triển chăn nuôi của trại
Dịch bệnh diễn biến rất phức tạp, làm cho chi phí phòng bệnh và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến giá thành và sự phát triển của gà
Giá thức ăn liên tục tăng trong khi giá gà tăng chưa tương ứng làm cho chi phí sản xuất/1 kg tăng khối lượng gà tăng cao
Điều kiện khí hậu thời tiết diễn biến rất phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bênh gặp rất nhiều khó khăn, chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi của trại
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
1.2.1.1 Công tác phục vụ sản xuất
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà tại trại
- Công tác vệ sinh, phòng bệnh, tiêu độc khử trùng chuồng trại
- Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà
- Công tác nghiên cứu khoa học Thực hiện chuyên đề nghiên cứu
khoa học: “Tình hình bệnh đường hô hấp ở gà CP707 nuôi thịt tại doanh nghiệp Hiền - Chung và biện pháp phòng trị”
1.2.2 Phương pháp tiến hành
Qua điều tra nắm vững tình hình thực tế của trại, trên cơ sở đó đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhằm rèn luyện nâng cao trình độ
Trang 10chuyên môn, ý thức tổ chức, tác phong nghề nghiệp, trong thời gian thực tập tốt nghiệp em đã thực hiện công tác phục vụ sản xuất cụ thể như sau:
Tham gia vệ sinh phòng trừ dịch bệnh bằng phương pháp tiêm vaccine phòng bệnh cho đàn gà tại trại, vệ sinh sát trùng khu vực chăn nuôi
Khiêm tốn và học hỏi kinh nghiệm những người đi trước
Phổ biến và vận động áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi, các phương pháp phòng và điều trị bệnh tiên tiến đúng kỹ thuật đối với một số bệnh ở gà, nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao hiểu biết, tiếp cận và nắm vững khoa học
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
Trong quá trình thực tập được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, các bạn cùng thực tập và các kỹ thuật viên trong trại, kết hợp với sự cố gắng của bản thân em đã lĩnh hội được nhiều kinh nghiêm quý báu trong thực tiễn sản xuất và đã đạt được một số kết quả sau:
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
* Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà
- Chuồng trại: Chuồng nuôi sau mỗi lứa gà phải được dọn dẹp sạch
sẽ tẩy rửa để đảm bảo loại bỏ hết mầm bệnh, để trống chuồng 15-20 ngày,
sử lý theo đúng quy trình vệ sinh phòng dịch, nền chuồng được tiêu độc bằng xút 20% với liều lượng 1 lít/m2 trước khi nuôi gà 2 ngày phun sát trùng (benkocid)
Sau khi phun 5 giờ mở cửa cho thông thoáng bay hết mùi, rồi mới cho gà vào
- Máng ăn, Máng uống: máng ăn, máng uống rửa sạch bằng dung dich Benkocid, đường nước trước khi nuôi gà 1 ngày cần kiểm tra lại và thay nước mới sau đó khử trùng để đảm bảo vệ sinh
- Thiết bị sưởi: Gà con sau khi nở chưa co khả năng điều tiết thân nhiệt do đó cần đặc biệt chú ý đến nhiệt độ chuồng nuôi Với số lượng 1000/lô cần dùng 1 lò than, đèn gas hoặc đèn hồng ngoại để sưởi ấm
- Quây gà: sử dụng loại phên thép có khung sắt cao 46cm, dài 22,5m quây gà sử dụng trong toàn bộ thời gian nuôi gà được thêm vào các ô nuôi
gà để giãn rộng theo tuổi của gà
Trang 11- Độn chuồng: dùng trấu có độ dày 5-10cm trước khi nuôi gà cần phun dung dịch bao gồm thuốc diệt bọ,muỗi và thuốc sát trùng
* Công tác chọn giống
Để đảm bảo gà nuôi có sức sống và sinh trưởng tốt, đem lại hiệu quả kinh tế thì khâu chọn giống có ý nghĩa lớn Gà con được chọn phải đảm bảo các tiêu chí Hoạt động sống động, biểu hiện bình thường Chân thẳng đứng, ngón thẳng Hai mắt sáng, mỏ thẳng và khép kín Lông khô và bóng mượt Màu sắc đặc trưng bình thường của giống Khối lượng kích thước bình thường theo yêu cầu của từng giống, dòng Bụng thon, gọn, mềm, rốn khô, khép kín hoàn toàn, lỗ huyệt bình thường
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tùy theo giai đoạn phát triển, khả năng sản xuất cho sản phẩm của từng giống mà áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp
Giai đoạn úm gà con: trước khi đưa gà vào nuôi 1 ngày chúng em tiến hành rải đệm (trấu) với độ dày 5 - 10 cm và sử dụng thuốc diệt kiến để diệt kiến có ở trên trấu, các dụng cụ như: Máng ăn, máng uống, bóng điện, chụp sưởi được chuẩn bị đầy đủ số lượng và đảm bảo kích cỡ cho từng giai đoạn phát triển của gà Sử dụng quây nhốt gà bằng cót ép có chiều cao 46
cm, chiều dài đủ để quây gà trong thời gian 3 tuần
Trước khi đưa gà về nuôi kiểm tra lại: cót ép, bóng điện, chụp sưởi, máng ăn máng uống, thuốc thú y, trước khi đưa gà vào quây 1 - 2 h thì bật đèn sưởi Khi nhận gà từ nơi bán mang đến chúng em tiến hành chọn gà thật nhanh sau đó đem thả gà vào quây và cho gà uống nước sạch có pha điện giải Gluco+K+C với liều 4 g/lít nước, 4 - 6 h sau mới cho gà ăn bằng khay, buổi chiều tối sử dụng Ampicol để phòng bệnh Bạch lỵ và Thương hàn với liều 4 g/ 1lít nước Trong giai đoạn đầu sử dụng khay ăn khoảng
50 - 100 gà/ khay Sau đó dần được thay thế bằng máng tròn Khi thả gà vào quây, nhiệt độ trong quây tối ưu là 33 - 35oC thả dưới chụp sưởi ấm Quây gà được quây với diện tích tăng dần theo từng giai đoạn phát triển của gà (Mật độ nuôi gà như sau: 1 - 4 tuần tuổi 24 - 30 con/m2, 5 - 7 tuần tuổi 10 - 12 con/m2, > 7 tuần tuổi 7 - 9 con/m2 Dưới đây là bảng tiêu chuẩn về nhiệt độ trong chăn nuôi gà theo Nguyễn Duy Hoan (1998) [3]:
Trang 12Bảng 1.1: Tiêu chuẩn về nhiệt độ trong chăn nuôi gà
Tuổi Nhiệt độ chuồng nuôi Nhiệt độ trong quây nhốt gà
úm chúng em sử dụng thức ăn hỗn hợp của công ty Japfa để cho cả gà ăn
Chế độ chiếu sáng, thông khí, thành phần không khí và ẩm độ: theo Nguyễn Duy Hoan (1998) [3], chế độ chiếu sáng cho gà thịt Broiler: 3 ngày đầu 24/24h, cường độ chiếu sáng là 20 lux (4w/m2
) Từ ngày thứ tư đến xuất bán, chiếu sáng 23/24 h, cường độ chiếu sáng giảm dần tới 5lux (1w/m2) Ẩm độ tương đối 60 - 80 % Thông khí là 3,6 - 6 m3khí/kg khối lượng sống/h Khi nhiệt độ bên ngoài xuống thấp thì tốc độ gió trong chuồng nuôi 0,2 m/s
Chế độ nước uống: nước uống cho gà nhất thiết phải kiểm tra phân tích mẫu nước trước khi sử dụng (kiểm tra vi khuẩn và tạp chất trong nước) đặc biệt là nguồn nước hở Nếu không có điều kiện phân tích thì nước phải đảm bảo không màu, không mùi vị lạ, không có cặn lắng Máng cho uống
Trang 13được sử dụng 3 loại là máng tròn 1,21, 3,51 và 7,51
Điều chỉnh máng uống: 0 - 14 ngày tuổi đặt máng trên trấu, mực nước trong máng là 2/3 chiều cao, > 14 ngày tuổi chiều cao máng ngang lưng gà Mực nước máng trong máng là 1/3 chiều cao Thông thường lượng nước uống gấp 2 lần lượng thức ăn đưa vào, khi nhiệt độ thấp hơn thì lượng nước thấp hơn và ngược lại
1.2.3.2 Công tác thú y
* Công tác phòng bệnh cho đàn gà
- Vệ sinh chuồng trại
Trong quá trình chăn nuôi giữ gìn vệ sinh là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo môi trường sạch sẽ, tránh sự sâm nhập và tiêu diệt mầm bệnh tồn tại trong cơ sở chăn nuôi Thường xuyên quét dọn vệ sinh khu vực chăn nuôi, khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng quanh chuồng trại, tẩy uế máng ăn, máng uống Trước khi vào chuồng di ủng, thay quần áo lao động đã giặt sạch, đeo khẩu trang
- Phòng bệnh bằng vaccine
Tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm là chủ động bảo đảm an toàn dịch bệnh Trước khi sử dụng vaccine không pha thuốc kháng sinh vào nước uống trong vòng từ 8 - 12h, pha vaccine phải đúng theo tỷ lệ quy định Chúng em sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà theo lịch phòng bệnh như sau:
Bảng 1.2: Lịch dùng vaccine cho đàn gà toàn trại
7 IB 4 - 91 Viêm phế quản truyền nhiễm 1 giọt/con Nhỏ mắt, mũi
7 H5N1 Cúm gia cầm 0,5ml/con Tiêm dưới da cổ
12 Cevar IBDL+IB
H120
Gumbro, Viêm phế quản truyền nhiễm 1 giọt/con Nhỏ mắt, mũi
21 ND Clone 30 Newcastle 1 giọt/con Nhỏ mắt
21 IB H120 Viêm phế quản truyền nhiễm Cho uống 1 lần/ngày
Trang 141.2.3.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà nuôi tại trại
Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà tại trại, chúng em thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà Trong thời gian thực tập ở trại chúng em gặp một số bệnh xảy ra trên đàn gà như sau
* Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính CRD (Mycoplasmosis)
Đây là một trong những bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất trên đàn gà nuôi theo phương thức nuôi tập chung cao độ
- Triệu chứng
Đàn gà xao xác, rũ rượi, ăn uống giảm, giảm tăng trọng Đặc biệt gà khó thở, tiếng thở khò khè, chảy nước mũi, phân có màu xanh hoặc hơi trắng
- Nguyên nhân
Tác nhân chính là Mycoplasma gallisepticum
+ Điều trị: MG 200: 1 g/10 kg TT/ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày Tiamulin: 1 g/4 lít nước, dùng liên tục 3 - 5 ngày
Max- Doxy 1 gr/2 lít nước, dùng liên tục 3 - 5 ngày
* Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)
- Triệu chứng:
Biểu hiện đầu tiên và điển hình nhất là gà ỉa ra phân lẫn máu có thể là máu đen hay là máu tươi Mào gà tím tái, chân lạnh hay nằm, gà gầy nhanh, ăn uống giảm Nếu gà ỉa ra máu tươi đặc biệt là nhiều máu tươi gà sẽ suy giảm rất nhanh, nếu không điều trị kịp thời gà sẽ chết sau
* Bệnh bạch lỵ (Pullororis)
- Triệu chứng:
Gà bỏ ăn, ủ rũ, lông xù ít vận động, mắt lim dim, nửa nhắm nửa
Trang 15mở, cánh xõa, uống nhiều nước, phân loãng màu trắng bột, hậu môn dính bết phân
* Bệnh cầu trùng ghép với bệnh do E.coli
- Triệu chứng:
Đối với gà con: lúc đầu gà lười đi lại, đi táo sau chuyển sang tả chảy toàn nước Phân gà lúc đầu loãng vàng, phân sống Sau chuyển sang màu
nâu lẫn máu, khi ghép với E.coli thì gà ỉa ra máu tươi hoàn toàn, hậu môn
dính máu Gà ủ rũ, tụm đống lại với nhau trong góc chuồng, cánh xã, gà xơ xác, ăn kém nhưng uống nước nhiều, mắt nhắm nghiền Sau 1 - 2 ngày một
số gà ỉa ra máu đen hoặc phân màu đen
Đối với gà lớn: tả chảy, phân loãng hoặc phân sống, phân sáp
- Bệnh tích:
Viêm xuất huyết hoại tử ruột ở những vùng khác nhau Ruột phình to
do chướng hơi thấy rõ nhiều điểm trắng đỏ (điểm đỏ là đám xuất huyết) Manh tràng chứa máu tươi hoặc máu đen Gan cũng có nhiều điểm xuất huyết li ti Trên bề mặt gan, tim, thận đôi khi thấy lớp màng giả trắng bao phủ
- Điều trị:
Dùng thuốc trị cầu trùng: Do lúc đầu chúng em dùng Enrovet để phòng nên khi bệnh bùng phát lại nên chúng em dùng Amprol 12% solution với liều 4ml/1lít nước Dùng liên tục 3 ngày, nghỉ 2 ngày sau đó lại điều trị tiếp
Dùng thuốc trị E.coli với liều 4 g/1 lít nước Dùng liên tục 5 ngày
Dùng thuốc cầm máu, trợ lực: Điện giải Gluco + K + C với liều 4 g/
1 lít nước Dùng liên tục 5 ngày
Trang 16* Bệnh cảm nóng (over heating)
+ Nguyên nhân: Do chuồng nuôi lợp bằng tôn nên khi trời nắng, nhiệt độ hấp thu xuống dưới làm cho nhiệt độ trong chuồng nuôi tăng cao vượt quá khả năng chịu đựng của cơ thể làm gà chết
+ Triệu chứng: Gà thường há mồm, thở dồn, hai cánh mở rộng, gà uống nhiều nước, uể oải, yếu dần và chết đột tử, gà đẻ hay bị nhiều
+ Bệnh tích: xuất huyết một số cơ quan nội tạng, mỡ bụng chảy nước
+ Phòng và điều trị khi thấy nhiệt độ môi trường quá nóng >34 0
C ta phải:
Làm giảm nhiệt độ trong chuồng nuôi bằng cách dùng quạt thông gió, giàn phun ẩm, phun nước lên mái, cho uống điện giải
1.2.3.4 Công tác khác
Ngoài công việc theo dõi, chăm sóc đàn gà, trong thời gian thực tập
em còn tham gia các công việc khác như:
- Thay thế hệ thống bạt đen che nắng hai bên thành theo chiều dọc chuồng nuôi thay thế cho bạt cũ đã bị hỏng do thời tiết và gió giật
bị cũ rách
- Thay trấu cho gà khi bị ướt, đảo trấu hàng ngày
- Quét dọn trang trại khơi thông cống rãnh quanh trang trại
- Tiêm vaccine cho gà
- Tham gia bắt, cân và xuất gà
- Vệ sinh, dọn dẹp chuồng trại khi hết lứa gà để nuôi lứa gà mới
1.2.3.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Sau 5 tháng thực tập tốt nghiệp tại Trại gà doanh nghiệp Hiền - Chung xóm Soi Vàng, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên chúng em đã tham gia và hoàn thành được một số công tác phục vụ sản xuất đề ra Công tác này thể hiện ở bảng 1.3
Trang 17Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Đơn
vị
Số lượng
Kết quả
An toàn Tỷ lệ (%)
1 Chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc gà thịt Broiler Con 7000 6775 96,8
1.3 Kết luận và đề nghị
1.3.1 Bài học kinh nghiệm
Qua thời gian thực tập được sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, trang trại và chính quyền địa phương tạo điều kiện đã giúp em bước đầu tiếp xúc với thực tiễn Qua đó em đã vận dụng được những kiến thức đã học ở trường để củng cố thêm kiến thức và rèn luyện chuyên môn của mình
Qua đợt thực tập em đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và
bổ ích như:
+ Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, thực hiện đầy đủ quy
Trang 18trình chăn nuôi gà thịt
+ Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị + Biết dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc diều trị bệnh + Nâng cao tay nghề do trực tiếp tham gia chăn nuôi
Qua thời gian thực tập trên em cảm thấy mình trưởng thành hơn nhiều về nghề nghiệp và cuộc sống, đồng thời nhận ra nhiều những hạn chế khiếm khuyết của bản thân để có thể khắc phục trong công tác sau này
- Một số trang thiết bị như máng ăn treo, đường nước uống tự động,
hệ thống lưới, bạt che bên ngoài chuồng, kho chứa dụng cụ, kho cám qua thời gian dài sử dụng đã có biểu hiện cũ hỏng
- Thiết kế kiểu cũ của chuồng đôi khi gây bất tiện trong quá trình nuôi
Qua đây em rất mong Trại có các biện pháp sửa chữa thay thế nhằm làm tốt hơn nữa công tác chăm sóc nuôi dưỡng và cuối cùng là đem lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 19PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: "Tình hình bệnh đường hô hấp ở gà CP707 nuôi thịt tại doanh nghiệp Hiền - Chung và biện pháp phòng trị"
2.1 Đặt vấn đề
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển của nền kinh tế
xã hội, nhu cầu của con người ngày một nâng cao, điều đó đòi hỏi nhu cầu về nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn phải an toàn về vệ sinh thực phẩm Chính vì vậy chúng ta phải đa dạng hoá nguồn con giống có chất lượng thịt, trứng và khả năng sinh trưởng tốt để đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đó nên chăn nuôi gia cầm trở thành một trong những mũi nhọn phát triển nông nghiệp
ở nước ta
Theo niên giám của Cục thống kê Thái Nguyên thì năm 2005, toàn tỉnh có 180 xã, phường, thị trấn, 2.370 thôn xóm, khoảng 231.392 hộ và trên 80% số hộ có chăn nôi gia cầm Tổng đàn gia cầm là 4.669.374 con, có khoảng 86 trang trại chăn nuôi gia cầm tập trung với quy mô từ 500 con gia cầm trở lên, trong đó có 20 trang trại nuôi với quy mô từ 6.000 - 8.000 con, còn lại là chăn nuôi nhỏ lẻ Đến năm 2007 tổng đàn gia cầm của tỉnh có số
gà là 5.070.595 con và con số đó vẫn đang tăng Sở dĩ có điều này là do chăn nuôi gia cầm có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về thịt và trứng Đây là loại thực phẩm rất thơm ngon và giàu dinh dưỡng hợp thị hiếu của nhiều người Ngoài ra, ngành còn cung cấp các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến và ngành trồng trọt Chính vì lẽ đó mà trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng Với những lý do đó sản phẩm gia cầm luôn có vị trí trên thị trường tiêu thụ, dã góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người chăn nuôi
Để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh nhập một số giống cao sản, cải tiến công nghệ chăn
Trang 20nuôi thì công tác thú y có vai trò quan trọng và cần thiết
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm thì dịch bệnh cũng xảy ra rất nhiều (đặc biệt là ở các trại chăn nuôi theo phương thức tập trung công nghiệp) đã gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng đến sản lượng cũng như chất lượng ngành chăn nuôi, trong đó
có bệnh đường hô hấp ở gà Trong điều kiện nóng ẩm mưa nhiều và thời tiết thay đổi đột ngột về vệ sinh thú y chưa tốt gà thường mắc một số bệnh
về đường hô hấp như bệnh: Viêm phế quản truyền nhiễm, viêm đường hô hấp mãn tính, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, cúm gia cầm, Newcastle
và các bệnh cầu trùng, E.coli, phó thương hàn Nhận thức được tầm quan
trọng đó, đồng thời xuất phát từ thực tiễn sản xuất, chúng em tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tình hình bệnh đường hô hấp ở gà CP707 nuôi thịt tại doanh nghiệp Hiền - Chung và biện pháp phòng trị” để có thể xác
định được đặc điểm dịch tễ của bệnh đường hô hấp gây ra tại đàn gà thịt tại trang trại cũng như một số trang trại khác, xác định được triệu chứng lâm sàng cũng như bệnh tích đại thể ở gà bênh, từ đó phân loại ra các nguyên nhân gây nên bệnh và đưa ra phác đồ điều trị cũng như các biện pháp
phòng bệnh đường hô hấp tốt nhất cho đàn gà
2.1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh đường hô hấp của gà tại
doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm Hiền - Chung xóm Soi Vàng, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của gà mắc bệnh
- Lựa chọn phác đồ điều trị và quy trình phòng bệnh có hiệu quả
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 212.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Đặc điểm về sinh lý hô hấp ở gà
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [3] cho biết: Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại, có bộ xương xốp nhẹ và toàn thân phủ lông vũ, chi trước biến thành cánh để bay, con cái đẻ trứng và ấp trứng
Hệ hô hấp của gia cầm gồm: Lỗ mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 lá phổi
và 9 túi khí
- Hai lỗ mũi nằm gần gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ, ở gà phía ngoài hai lỗ mũi có “van mũi hóa sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước
- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày thứ 7 Xoang mũi ngắn chia làm hai phần: Phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở mỏ trên Xoang mũi là nơi thu nhận và lọc khí rồi chuyển qua khí quản, ở gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh
- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng trội và nhiều vòng hóa xương Số vào khí quản ở gà là 110-120 và hầu hết là sụn còn
ở thủy cầm hầu hết đã hóa xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhày, màng sơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài
- Khí quản chia làm 2 phế quản ở xoang ngực phía sau sương ngực Mỗi phế quản dài 6-7cm và có đường kính 5-6mm Thành phế quản được cấu tạo bằng màng nhầy, có nhiều tuyến nhỏ và tạo nên dịch nhày, màng
xơ đàn hồi, ở đó có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoai
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi và có màu dạng phế quản Phổi của gia cầm đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ
Trang 22kéo dài, ít đàn hồi Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của 2 thận Trọng lượng của phổi chiếm khoảng 1/80 thể trọng gia cầm và phụ thuộc vào tuổi và loài, và ở gà khoảng 9g Chức năng chính của phổi là trao đổi khí
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự
mở rộng và tiếp dài của khí quản Cơ thể gia cầm gồm 9 túi khí chính trong
đó có 4 đôi xếp đối xứng và 1 túi xếp đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng và túi khí xương đòn, đôi túi khí trước ngực, đôi túi khí sau ngực, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ
Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không gian xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực không khí bên ngoài, do đó không khí từ ngoài
đi vào trong phổi Lúc hít vào không khí qua phổi vào các nhánh nhó và vào cá túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn 2 lần nên lương oxygen cung cấp vẫn đảm bảo
Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra sau 1 giơ tính trên kg thể trọng của
gà theo Nguyễn Duy Hoan (1998) [3] như sau:
Bảng 2.1: Nhu cầu O 2 và CO 2 thải ra của gà theo ngày tuổi
Loại gà Nhu cầu O 2 (lít) CO 2 thải ra(lít)
Gà con 1 - 20 ngày tuổi 2 - 2,4 1,4 - 1,6
Gà giò 21 - 50 ngày tuổi 1 - 1,8 0,7 - 1,2
Một phần nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo oxi - hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin tạo thành oxi - hemoglobin gọi là dung lượng oxi của máu Dung lượng O2 của máu ở gà dao động trong khoảng 12 - 21cm3
Hoạt động trao đổi khí của gia cầm: Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và thở ra với sự hoạt động của phổi và hệ thống 9
Trang 23túi khí chính
+ Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% + Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy) quá trình trao đổi chất tăng lên 60 - 70 %
Đặc điểm cần chú ý là lồng ngực của gia cầm rất phát triển, xương ức tương đối lớn, không có cơ hoành Phổi của gia cầm thiếu khả năng đàn hồi, nó cố định và dựa vào xương sườn Vận động của xương sườn làm xương ngực giãn ra hút khí vào và khi xoang ngực co lại thì gây động tác thở ra
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [13] cho biết: Tần số hô hấp dao động trong khoảng lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, trạng thái sức khỏe, sinh lý gia cầm Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Ban đêm tần số
hô hấp giảm chậm xuống 30 - 40 % Nếu nhiệt độ tăng tới 37o C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút Bình thường ở gà trưởng thành là 25- 45 lần/phút, gà từ 4 - 20 ngày tuổi khoảng 30 - 40 lần/phút
Hoạt lượng của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: Khí lưu thông, khí hít vào thêm Hoạt lượng của phổi và túi khí nói trên khả năng hô hấp lớn nhất của gia cầm
Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn Hoạt lượng phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169cm3
2.2.1.2 Những hiểu biết về một số bệnh xảy ra ở đường hô hấp của gia cầm
Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD):
* Đặc điểm dịch tễ
Bệnh hô hấp trên gia cầm có thể xảy ra bất kì thời điểm nào trong năm phổ biến nhất là giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [7], bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trong thiên nhiên: Gà, gà Tây, gà Sao dễ mắc bệnh Các loài
Trang 24* Phương thức truyền lây
Bệnh CRD lây theo 3 con đường:
- Qua đường hô hấp: Những gà bị bệnh mang trùng đều là nguồn bài xuất mầm bệnh Khi chúng hắt hơi, căn bệnh, căn bệnh vào không khí, gà khỏe hít vào sẽ mắc bệnh
- Qua trứng: Căn bệnh có thể truyền qua trứng các nghiên cứu cho thấy, căn bệnh xâm nhập vào trứng từ ống dẫn trứng trong quá trình vỏ trứng được hình thành Gà con nở ra từ trứng này sẽ phát bệnh và làm cho bệnh lây lan
- Qua đường sinh dục: Gà trống bị bệnh có thể truyền bệnh cho gà mái Ngoài ra bệnh, có thể lây truyền qua đường tiêu hóa nhưng không đáng kể (do căn bệnh có sức đề kháng yếu ở ngoại cảnh)
* Nguyên nhân
Gà có sức đề kháng giảm sút do mọi nguyên nhân (chăm sóc nuôi dưỡng kém, bị bệnh kí sinh trùng, bị bệnh truyền nhiễm khác) đều làm cho bệnh CRD nổ ra
Bệnh xảy ra không phụ thuộc vào mùa vụ Gà bị bệnh nhiều hơn vào những thời tiết thay đổi đột ngột trong năm: từ nóng chuyển sang lạnh, có đợt gió mùa hoặc mùa xuân ấm và ẩm ướt
Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính nếu chỉ có một mình loại
Mycoplasma gây nên bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế phát thì nặng hơn hoặc
bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh hay môi trường ẩm ướt dơ bẩn…, thì bệnh sẽ nặng hơn
Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính là bệnh truyền nhiễm lây lan mãn
tính ở gia cầm, do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây ra Bệnh
thường là một bệnh kế phát và chỉ phát thành triệu chứng khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút do các bệnh virus như viêm phế quản truyền nhiễm, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, đậu gà, Newcastle thể nhẹ hoặc các bệnh do vi khuẩn, ký sinh trùng
Ngoài ra các yếu tố phụ như: chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi không đúng, đủ theo tiêu chuẩn, mật độ nuôi quá dày, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, thức ăn chưa đủ chất và lượng từ đó làm giảm sức đề kháng của
gà và làm cho gà dễ mắc bệnh hơn
Trang 25* Triệu chứng
Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [9], triệu chứng gà mắc bệnh CRD là: trong tự nhiên, thời kỳ ủ bệnh có khác nhau đáng kể (3 - 38 tuần), trong những đàn bị nhiễm bệnh qua trứng, những biểu hiện lâm sàng có thể phát triển và biểu hiện từ giai đoạn 3 - 6 tuần tuổi còn những trường hợp khác thì phát triển ở giai đoạn chuẩn bị sinh sản Trong trường hợp đàn gà bị nhiễm bệnh từ trứng bệnh nhưng được xử lý bằng kháng sinh và được nuôi trong điều kiện tốt thì biểu hiện lâm sàng không thể hiện cho đến khi đàn
gà bị kết hợp với những mầm bệnh khác hoặc các yếu tố stress xuất hiện
Gà con và gà giò bị bệnh thường viêm kết mạc, chảy nước mắt, ít dịch thanh mạc ở lỗ mũi và mí mắt Nhiều con mí mắt sưng tấy và dính vào nhau Thở khò khè có tiếng ran khí quản dễ phát hiện vào buổi đêm yên tĩnh Đêm đến, đi qua chuồng gà con, gà giò, gà đẻ bị bệnh nghe rõ tiếng ran khí quản gà xù lông, thở khó bỏ ăn Bệnh kéo dài làm gà gầy nhanh
và chết
Gà thịt bị bệnh thở khò khè do nhiều dịch đầy họng ở ống hô hấp trên Gà khó thở, há mồm ra thở, vảy mỏ, chảy nước mắt, nước mũi Bệnh tiến triển chậm, lúc đầu nước mũi loãng sau đặc dần và đọng ở xoang mặt làm cho mặt gà sưng lên Gà gầy nhanh rồi chết
Tỷ lệ ốm của gà bị CRD có thể từ 20 - 25% phụ thuộc vào điều kiện
vệ sinh phòng bệnh, nuôi dường chăm sóc, tuổi gà Tỷ lệ chết của gà con từ rất ít đến 30%, của gà thịt thì chết không cao, nhưng thiệt hại lớn là giảm khả năng sinh trưởng
Lê Văn Năm (2003) [12] cho biết, CRD thường ghép với một số bệnh Từ đó triệu chứng cũng thể hiện rất phức tạp
- Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm:
Đối với gà nhỏ: Thường bắt đầu từ những triệu chứng của gà mắc CRD như gà hay lắc đầu, vảy mỏ hoặc cạo mỏ xuống sàn, chảy nước mắt, nước mũi, lúc đầu loãng và trong suốt sau đặc tạo thành rỉ mắt Khi ghép với bệnh viêm phế quản truyền nhiễm thì gà thở khò khè lạo xạo, miệng bán mở, gà ngẩng cao cổ há mồm thở một cách khó khăn Khi bắt gà lên nghe tiếng lạo xạo khò khè râm ran ở đoạn khí quản, phế quản và phổi Xung quanh mí mắt bị sưng, thậm chí sưng phù rất to Sau đó bệnh tiến
Trang 26triển rất nhanh, lan ra toàn đàn, có một số trường hợp tỷ lệ chết chỉ khoảng 2-5%, nhưng nhiều trường hợp gà chết tới 20 - 30%, thậm chí 40% Nhưng sau vài tuần bệnh tự nhiên khỏi
Đối với gà lớn: Nhiều trường hợp một đến hai tuần gà khỏi bệnh nhưng cũng có đàn chết tới 40% Gà một tháng tuổi chết từ 2 - 5 % nhưng
gà còi cọc chậm lớn sau gà có dấu hiệu phục hồi nếu được chữa trị sớm Tuy nhiên gây thiệt hại về kinh tế rất lớn
Đối với gà con và gà giò:
+ Lúc đầu lác đác có một số con chảy nước mũi, nước mắt liên tục kèm theo hay lắc đầu, vảy mỏ, gà há mỏ ra thở khò khè
+ Bỗng dưng bệnh lây lan rất nhanh ra toàn đàn, nhiều con mắt sưng húp, đầu bị sưng lệch, nhiều con sưng rất to Khi bệnh chuyển sang mãn tính ta thấy nhiều gà bị thối mắt (mắt bị viêm, casein hóa và trở nên mù)
+ Nước mắt, nước miếng sau 2-3 ngày trở nên đặc như mủ có mùi
- CRD bị bội nhiễm với E.coli
+ Các triệu chứng của CRD luôn nổi bật, nước mũi, nước mắt chảy,
mí mắt bị viêm và bị sưng, đầu bị sưng lệch, mào tái nhợt, gà thường hay tìm chỗ ấm để đứng hoặc nằm thở, hay vẩy đầu, cạo mỏ xuống nền chuồng, tiếng thở khò khe cào mỏ khoèn khoẹt râm ran nghe rõ từ xa trước khi bước vào chuồng
Khi bị nhiễm với E.coli gà sốt nên uống nhiều nước, ỉa chảy phân
loãng vàng trắng hoặc xanh vàng trắng Gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 - 40%
Trang 27- CRD ghép với bạch lỵ ở gà con: Bệnh thường xảy trong tuần đầu hoặc sau 3 tuần đầu với các triệu chứng
+ Gà lớn không đều (con to, con nhỏ, con béo, con gầy)
+ Các biểu hiện của bệnh CRD rất rõ gà thở bằng miệng, sưng và viêm mí mắt, nước mũi, nước mắt chảy đẫm, gà bị ngạt nên thở dồn dập, hai cánh sã xuống để thở cho dễ, uống nhiều nước
+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc trắng xanh, một số gà đi ngoài khó do phân bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, một số con có hiện tượng viêm khớp
Ở giai đoạn sau của bệnh, trong lòng khí quản chứa thanh dịch, trong phổi có những vùng cứng và đôi khi hình thành nốt u, thành các túi khí viêm dày, bám nhiều chất nhầy, đục như sợi bông đã vữa hóa bám vào thành túi khí, bên trong túi khí hoặc tích tụ trong xoang bụng
Trong các trường hợp nặng, thanh mạc bao bọc phổi, gan, ruột cũng bị tổn thương, thậm chí tổn thương vào tận bên trong cơ quan, bề mặt thanh mạc phủ một lớp bao giả dầy, rất khó bóc
Theo Trần Thị Hạnh và cs (2004) [5] cho biết: Trong giai đoạn cấp tính mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong (phần tiếp giáp với phủ tạng)
Trong giai đoạn mãn tính: Màng túi khí dầy và đục trắng phồng như
chất bã đậu nhão Nếu có kế phát các bệnh khác như E.coli thì trên bề mặt
gan, màng ngoài bao tim và màng bao xung quanh phúc mạc đều thấy tăng sinh trắng đục hoặc viêm dính vào tim, gan, ruột
Trong những phôi gà bị chết do lấy trứng ấp từ những con giống bị
Trang 28nhiễm CRD Phôi thường chết trước khi nở ở túi khí của phôi có những chất dịch nhầy như bã đậu trắng
* Chẩn đoán
Đối với gà mắc bệnh CRD: Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [15] cho biết: trong trường hợp cần thiết có thể chẩn đoán vi khuẩn học, nuôi cấy,
phân lập căn bệnh, cần lưu ý rằng Mycoplasmasis thường là một bệnh kế
phát nên việc phân lập được căn bệnh chưa phải là đã đạt được kết quả cuối cùng Hơn nữa việc phân lập không phải lúc nào cũng thành công vì hầu
hết các bệnh phẩm trong bệnh hô hấp mãn tính thường thấy M galliarum,
một căn bệnh không đặc hiệu, vì thế song song với chẩn đoán vi khuẩn học, kiểm tra huyết thanh học sẽ giúp ta đạt được kết quả tin cậy hơn Ngoài ra,
dù đã tìm sự hiện diện của Mycoplasma, việc chẩn đoán vẫn tiếp tục để tìm ra
căn bệnh chính
- Chẩn đoán vi khuẩn học: Kiểm tra trên kính hiển vi, nuôi cấy phân lập, tiêm động vật thí nghiệm
+ Kiểm tra trên kính hiển vi: Phiết kính, làm tiêu bản từ bệnh phẩm lấy
từ hốc mắt, xoang mũi, niêm mạc khí quản và bệnh tích ở phổi, thành các túi
hơi, nhuộm Giemsa Có thể thấy vi khuẩn Mycoplasma avium là các cầu
khuẩn hay cầu trực khuẩn nhỏ li ti, kích thước 0,25 X 0,5µ, bắt màu Gram âm
+ Nuôi cấy phân lập: Lấy bệnh phẩm cấy vào các môi trường và môi trường đặc biệt Edua PPLO Sau khi cấy theo dõi mỗi ngày 1 lần trong 6
ngày Nếu thấy canh trùng đục vấn lên lên là có Mycoplasma gallinarum
hoặc các vi khuẩn khác Nếu canh trùng vẫn trong không đóng cặn ở đáy
ống nghiệm, chỉ đổi màu sắc từ đỏ sang vàng là có M gallisepticum
Muốn phân lập vi khuẩn được thuần khiết phải cấy tiếp vài lần từ
môi trường nước thịt sang môi trường thạch, vi khuẩn M gallirarum mọc nhanh, còn M gallisepticum mọc chậm
Trên môi trường thạch, vi khuẩn M gallinarum cũng mọc nhanh trong vòng 24 giờ mắt thường nhìn thấy được; vi khuẩn M gallisepticum
mọc chậm hơn phải đến 48 giờ, hình thành khuẩn lạc sâu, cứng, thành hạt tròn nhỏ, óng ánh qua ánh sáng mặt trời
Tiếp tục làm các phản ứng sinh hóa
+ Tiêm trên động vật thí nghiệm: Lấy bệnh phẩm tiêm thẳng vào
Trang 29lòng đỏ phôi gà ấp được 6 - 7 ngày, nếu có vi khuẩn Mycoplasma avium thì
chô tiêm nhợt nhạt xẹp xuống hoặc ứ máu phồng lên, khớp xương chân phôi gà sưng, bên trong cỏ mủ, chân gà co rút lại- Phôi gà có thể chết sau 4-8 ngày
Vịt con mới nở trong trứng đã nhiễm Mycoplasma avium thì thấy
sưng dưới da, vỏ túi hơi đen xạm, gan sưng to, một số vịt con bị mù mắt Tốt nhất là tiêm vào túi lòng đỏ, để phân biệt với virus viêm thanh khí quản và virus đậu tiêm vào màng nhung niệu, virus Newcastle tiêm vào túi niệu mô
Tiếp tục tiêm truyền vào khí quản vịt con, qua 4 tuần thấy vịt con
cảm nhiễm Mycoplasma iners làm chết lẻ tẻ phôi gà Khuẩn lạc giống khuẩn lạc của M gallinarum Không lên men các loại đường (hydratcarbon) thông thường và không làm ngưng kết hồng cầu gà, trái với M gallinarum,
M iners không làm tan hồng cầu ngựa trong môi trường đặc về mặt huyết
thanh học, M gallinarum và M gallisepticum
- Chẩn đoán huyết thanh học: Phản ứng ngưng kết hồng cầu trên phiến kính, phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà, phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch
Người ta thường dùng phản ứng huyết thanh học để phát hiện gà mắc bệnh để loại trừ sự truyền lan qua trứng Có thể làm phản ứng ngưng kết hồng cầu gà
Chuẩn bị:
- Kháng nguyên: Được chế bằng canh trùng nước thịt nuôi cấy vi khuẩn M
gallisepticum trong 48 - 72 giờ đem li tâm lấy cặn
- Dung dịch hồng cầu gà 1%: Lấy máu ở tim gà đựng vào bình có bi thủy tinh và citrat natri, rửa hồng cầu bằng cách ly tâm ba lần với nước cất, rồi pha thành dung dịch 1 %, chỉnh độ pH = 7,2
- Kháng thể: Lấy máu tim hoặc máu ở tĩnh mạch cánh của gà nghi mắc bệnh, để lắng hồng cầu và chắt lấy huyết thanh
Tiến hành phản ứng:
+ Phản ứng ngưng kết hồng cầu trên phiến kính: Vi khuẩn M
gallisepticum có đặc tính ngưng kết hồng cầu gà nên sau khi phân lập được
căn bệnh có thế kiêm tra tính chất này Kháng nguyên là canh trùng phân lập
Trang 3048 - 72 giờ, hồng cầu gà 0,5 - 1% Phản ứng dương tính khi kháng nguyên ở
độ pha loãng từ 1/8 trở lên có ngưng kết Nếu có ngưng kết hồng cầu gà thì
nhận định trong mẫu chẩn đoán có vi khuẩn M gallisepticum Nếu không có ngưng kết hồng cầu gà thì nhận định trong mẫu chẩn đoán có vi khuẩn M
gallinarum
Có thể làm phản ứng ngưng kết trực tiếp hồng cầu: Kháng nguyên là
M gallisepticum đã nhuộm màu Nhỏ một giọt kháng nguyên lên phiến kính
Hút một giọt máu từ tĩnh mạch cánh gà đem nhuộm đều với kháng nguyên Sau 3-5 phút nếu phản ứng âm tính khi màu huyễn dịch không thay đổi so với ban đầu
Có thế làm phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm với huyết thanh gà nghi mắc bệnh hay lòng đỏ trứng Kháng thể có trong máu từ
2 - 6 tuần sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên và biến mất từ 2 -12
tuần sau khi gà khỏi bệnh
+ Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà: Kháng thể thường xuất hiện chậm từ 15 - 40 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng, bệnh tiến triển từ
3 tuần đến 2 tháng và kháng thể mất đi từ 12 - 79 ngày sau khi khỏi bệnh, cho nên có thể tìm ngưng kết tố, làm phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà
Phản ứng cản trở ngưng kết hồng cầu thực hiện bằng kháng nguyên
M gallisepticum có sẵn trong phòng thí nghiệm, kháng thể là huyết thanh
gà nghi mắc bệnh Sau khi trộn đều kháng nguyên và kháng thể trong ống nghiệm, để yên ở nhiệt độ phòng từ 15 - 20 phút, rồi cho hồng cầu 1% vào hỗn dịch trên
Phản ứng dương tính: Khi thấy hồng cầu không ngưng kết, tụ lại thành cục tròn đỏ dưới đáy ống nghiệm
+ Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch: Với kháng nguyên là
những chủng Mycoplasma có sẵn trong phòng thí nghiệm có thể xác định
được thành phần kháng nguyên của căn bệnh qua phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch với kháng thể của huyết thanh gà nghi mắc bệnh
- Phân biệt với các bệnh có triệu chứng đường hô hấp giống với CRD như: Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm, bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh cúm
Trang 31Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [7] đã đánh giá: cần phân biệt bệnh CRD với một số bệnh khác:
- Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: Thường chỉ xảy ra ở những đàn
gà con dưới 6 tuần tuổi Bệnh tích viêm phế quản, lòng phế quản chứa đầy dịch viêm
* Phòng và điều trị
- Phòng bệnh CRD :
+ Vệ sinh thú y: Dùng thuốc kháng sinh liều cao cho đàn gà mẹ, trước khi thu trứng ấp không cho mầm bệnh ký sinh trên trứng Có thể dùng kháng sinh xử lý trứng trước khi đưa vào ấp Dùng dung dịch kháng sinh để rửa trứng
Vệ sinh thú y tốt, những đàn gà mắc bệnh cần được cách ly xử lý triệt để + Phòng bệnh bằng vaccine:
Vaccine nobi-vac MG (hãng Intervet - Hà Lan): Tiêm dưới da cho gà con liều 0,5 ml/com vào giai đoạn 15 - 18 ngày tuổi
Vaccine mycovac-L (hãng Intervet - Hà Lan): Dùng dưới dạng phun sương hoặc nhỏ mũi cho gà từ 6 tuần tuổi
Dùng thuốc cho uống hoặc trộn vào thức ăn để phòng nhiễm cho gà,
có thể dùng một trong các loại thuốc sau:
Crd-stop-vina: Pha 1 g/lít nước/ngày, vào các giai đoạn 1 - 3; 9 - 12;
- Tetracyclin 500 - 600 g/tấn thức ăn dùng 7-8 ngày liên tục
- Tylosintartrate: Dùng liều 20 - 25 mg/kg TT Pha trộn 5g Streptomycin + 2g Penicilin dùng cho 50kg thể trọng gà Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp từ 2 - 3 lần, mỗi lần không cách nhau quá 72 giờ
- Furazolidon 305 - 400 g/tấn thức ăn khi có cả tạp nhiễm E.coli
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis-IB)
* Đặc điểm dịch tễ
- Bệnh xảy ra quanh năm
- Gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng chủ yếu ở gà con
Trang 32- Tỷ lệ chết cao ở gà con dưới 1 tháng tuổi, giảm đẻ mạnh ở gà mái đẻ
* Phương thức truyền lây
- Bệnh lây nhiễm qua hô hấp do con vật hít phải không khí trong chuồng nuôi đã nhiễm mầm bệnh
- Lây qua thức ăn nước uống do những con bệnh thải mầm bệnh vào thức ăn nước uống từ dịch nước miếng và thanh dịch ở mũi
- Lây qua những dụng cụ chăn nuôi và người chăn nuôi đã nhiễm mầm bệnh
- Bình thường virus không truyền qua trứng nhưng một số báo cáo gần đây ở một số nước cho biết virus có khả năng truyền lây qua trứng
* Nguyên nhân
Bệnh gây ra do virus thuộc nhóm Coronavirus có một số Serotype thuộc nhóm này có chung kháng nguyên Vì vậy nếu cón vật bị nhiễm 1 Serotype cũng có thể thu được miễn dịch chống lại sự nhiễm của các Serotype khác Tất cả các Serotype này đều không gây bệnh tích trong
tế bào
* Triệu chứng
Ở những gà bố mẹ đã bị nhiễm bệnh hoặc đã được tiêm phòng vaccine IB thì gà con nhận được miễn dịch từ mẹ truyền qua, chống được bệnh ở 2 tuần tuổi Do vậy từ tuần tuổi thứ 3 trở đi mới thấy phát bệnh với các triệu chứng điển hình
- Ở gà con: Ho, hắt hơi, có âm rale, chảy nước mắt nước mũi, gà yếu,
ăn ít, thường chụm lại thành từng bầy quanh đèn sưởi, gà bị tiêu chảy Tỷ
lệ mắc bệnh có thể lên đến 100% và tỷ lệ chết là khoảng 30% nhất là những đàn không có kháng thể mẹ truyền
- Ở gà đẻ trứng: Ho, hắt hơi, chảy nước mắt nước mũi, sản lượng trứng giảm tới khoảng 50% kéo dài trong 6-8 tuần, trứng méo mó, vỏ mỏng hay nhăn gợn sóng Lòng trắng trứng mất tính nhớt, long đỏ trôi nổi tự do
- Gà giò (từ 3-6 tuần tuổi): Viêm thận, suy yếu, tiêu chảy có nhiều nước
- Bệnh nếu ghép với Mycoplasma sẽ nặng và kéo dài Nếu virus xâm nhập vào thận làm cho thận viêm, urê huyết, phân trắng, mào xanh tím, uống nước nhiều, sau đó lại nhả từ miệng ra nền chuồng rất nhiều, làm ướt
Trang 33nền chuồng Chất urat (trắng) chiếm hầu hết trong phân Thường sau 6-7 ngày gà kiệt sức và chết Tỷ lệ tới 15%
- Một số đàn có thể nhiễm kế phát cả thương hàn E.coli nên phân tiêu chảy trắng xanh và loãng
- Gà đẻ tỷ lệ trứng giảm 10-30% trong 3-4 tuần Vỏ trứng mềm và nhăn nheo (do ống dẫn trứng bị virus tác động kéo dài gây viêm)
* Bệnh tích
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [7] cho biết, bệnh tích gà mắc bệnh viêm phế quản truyền nhiễm bệnh tích chủ yếu ở đường hô hấp: gà con bệnh tích thường ở mũi và khí quản, gà lớn bệnh tích tập trung ở phế quản, phổi
Bệnh tích thường thấy là: Niêm mạc mũi, khí quản sung huyết, phù, trên bề mặt phủ một lớp niêm dịch nhớt lẫn bọt Niêm mạc phế quản và lòng phế nang sung huyết, chứa dịch viêm lẫn sợi tơ huyết Một sá gà dịch viêm nhiều làm tắc lòng khí quản và phế quản Có thể thấy từng đám ở phổi và thành thành các túi khí
Ở gà đẻ bị bệnh có thể thấy buồng trứng bị teo, ống dẫn trứng ngắn, trứng non bị vỡ
* Chẩn đoán
- Căn cứ trên triệu chứng lâm sàng và bệnh tích cùng với dịch tễ học
để xác định bệnh
- Kiểm tra độ urê huyết
- Lấy huyễn dịch từ phế quản, phổi và thận cấy vào xoang niệu mô của phôi gà 8-9 ngày tuổi sau 2-3 ngày thấy phôi teo lại và thấy chất urê trong thận của phôi, sau 3-4 ngày phôi chết Phương pháp chẩn đoán này có nhược điểm đối với những đàn gà có tiêm vaccine IB, virus sẽ gây bệnh tích phôi giống chủng độc tự nhiên
- Phản ứng trung hòa: Phương pháp này để đo hàm lượng kháng thể của gà sau khi bị nhiễm bệnh Mức độ cao của hiệu giá chuẩn độ cho biết bệnh đang lưu hành
- Phản ứng kháng thể huỳnh quang: phương pháp này chuẩn đoán nhanh nhưng không phân biệt các Serotype gây bệnh khác nhau
Trang 34- Phản ứng kết tủa khuyếch tán trên thạch: Phương pháp này cũng chuẩn đoán nhanh phân biệt được đàn gà đang có bệnh hay không có bệnh Phản ứng này không phân biệt được các Serotype gây bệnh mà chỉ cho biết những con mới nhiễm bệnh
- Dùng kính hiển vi điện tử để xác minh virus sau khi phân lập được virus
- Dùng kháng sinh điều trị phân biệt bệnh do CRD hay IB (dùng Tiamulin tiêm hoặc uống liên tục 3-5 ngày Nếu bệnh giảm là do CRD còn không giảm là do IB)
Không nhốt chung gà các lứa tuổi khác nhau trong cùng một chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vaccine: Định kỳ tiêm phòng vaccine cho những đàn gà ở các cơ sở chăn nuôi thường xảy ra dịch Có 2 loại vaccine:
+ Vaccine virus sống nhược độc: Có thể dùng theo phương pháp khí dung, cho uống, nhỏ mắt hay nhỏ mũi
Quy trình dùng vaccine: Lúc gà 1 ngày tuổi dùng vaccine phun sương (lần 1), lúc 7 - 10 ngày tuổi tiêm dưới da, nhỏ mắt, mũi hoặc cho uống (lần 2), lúc 14 ngày tuổi dưới da (lần 3)
Sử dụng vaccine nhược độc phải theo sự hướng dẫn của nơi sản xuất, đồng thời không được để đàn gà mới được dùng vaccine tiếp xúc với gà bị bệnh, vì nếu những đàn gà này bị nhiễm virus thì sẽ làm tăng khả năng phát bệnh ngay sau khi nhiễm
+ Vaccine vô hoạt OVC - 4 (do công ty imesrieux của pháp sản xuất) Đây là vaccine có chất nhũ dầu phòng tổng hợp 4 bệnh: Viêm phế quản truyền nhiễm, Newcastle, bệnh đường giảm đẻ và bệnh đường sưng đầu Liều tiêm: 0,3 ml/gà Tiêm trước khi đẻ 2 - 4 tuần
Trang 35Dùng kháng sinh có phổ rộng để điều trị các vi khuẩn kế phát ở đường
hô hấp như Mycoplasma, E.coli, Pasteurella, Staphylococcus v.v Những
kháng sinh có tác dụng chống vi khuẩn tôt như Tiamulin, Spiramycin, Tylosin, Lincomycin, Erythromycin, Chlotetracyclin pha vào nước uống hoặc tiêm liên tục 3-5 ngày Thuốc có tác dụng ngăn cản nhiễm bệnh trùng kế phát
- Trong trường hợp urê huyết: Ta phải tăng nhiệt độ sưởi ấm trong chuồng nuôi Đồng thời giảm lượng protein động vật (bột cá) trong thức ăn, đưa các chất điện giải (dung dịch axit amin, đường và chất khoáng tổng hợp) hòa vào nước cho gà uống liên tục 5-7 ngày, mục đích để giảm urê huyết, làm tăng khả năng phục hồi cơ thể
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (Laringotrachetis
infectiosa avium, Infectious laringotracheitis- ILT)
* Đặc điểm dịch tễ
Bệnh có ở hầu hết trong các nước có nuôi gà công nghiệp Bệnh có
xu hướng giảm nếu công tác vệ sinh chăn nuôi và phòng bệnh theo một quy trình khép kín
Tất cả các loại gà đều nhiễm bệnh và có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi từ nhỏ đến lớn
Thời gian một ổ dịch từ khi bắt đầu có triệu chứng hô hấp, đến khi kết thúc khỏi bệnh kéo dài khoảng 2 tuần lễ Tỷ lệ chết từ 10-50%
* Phương thức truyền lây
- Truyền qua đường hô hấp (do hít thở), qua niêm mạc mắt vào xoang mắt rồi xuống đường hô hấp
- Truyền qua các dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm màn bệnh
- Truyền lây do nhập đàn mới đã bị nhiễm bệnh hoặc đàn cũ đã mang trùng lây qua
- Không truyền qua trứng
* Nguyên nhân
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm do một Herpes virus gây ra,
loại virus này dễ bị phân hủy ở nhiệt độ nóng, đun nóng 33°c thì 15 phút thì mất hoạt tính, ở 75°c chỉ 30 giây, viras bị diệt bằng crezyl 3%, phenol 5%, xút 1% diệt virus trong 30 giây Trong khí quản gà chết virus sống được 22
- 24 giờ ở môi trường 37°c và sống đến 60 ngày ở nhiệt độ 4 - 10°c Virus
Trang 36không sống được trong xác gà thối rữa
Bệnh nhiễm lây lan nhanh vào đường hô hấp do không khí, nhiễm từ thanh dịch, chất thải của gà bệnh, xe cộ dụng cụ, vật trung gian truyền bệnh như chuột (Lê Hồng Mận, 2006) [11]
* Triệu chứng
- Thời gian ủ bệnh 4 - 1 2 ngày, gà bệnh cấp tính bị viêm kết mạc mắt (mắt đỏ), rất khó thở, nhịp thở ngắn nhất là lúc hít vào gà tìm không khí để thở cấp bách bằng cách rướn cổ dài ra đằng trước, há mỏ rộng để thở, có tiếng khò khè, hắt hơi, ho
- Khi gà lắc đầu, vảy mỏ làm văng ra với những đám thanh dịch nhầy lẫn máu, gà suy kiệt, mào tím, nằm phủ phục trên nền, đầu tỳ lên nền và chết rất nhanh do ngạt thở thiệt hại đến 60% đàn, gà còn sống có thể bị mù
- Nếu ghép 3 bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (do virus), viêm phế quản truyền nhiễm (do virus) và bệnh cúm (do virus + vi khuẩn
Haemophylus) thì bệnh kéo dài trầm trọng và không chữa trị được (Trần
Bệnh tích chỉ giới hạn trong khí quản, loại trừ khi bệnh có kết hợp
với các vi khuẩn khác (Mycoplasma, E.coli, Pasteurella )
- Ở giai đoạn mới bị bệnh từ 1- 3 ngày: Trên niêm mạc khí quản thấy viêm và xuất huyết đỏ Trong ống khí quản mổ ra thấy dịch nhầy lẫn máu
- Sau 4 - 7 ngày bệnh tích trên niêm mạc khí quản và thanh quản có lớp màn biểu mô bong ra giống như chất bã đậu trắng đóng thành cục dài làm nghẹt đường hô hấp
- Túi khí có thể bị viêm nếu như bệnh kéo dài và có ghép
Mycoplasma hay E.coli
Trang 37- Nếu nhiễm phải chủng virus có độc lực yếu thì khí quản xung huyết, màng kết mạc mắt, xoang mắt sưng do xung huyết mũi cũng sưng
* Chẩn đoán
- Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm khó chẩn đoán và rất dễ nhầm với bệnh CRD Gà bị viêm thanh khí quản truyền nhiễm có bệnh tích: niêm mạc miệng và hầu, họng có những tấm màng giả màu vàng xám
to nhỏ không đều và dễ bóc, bóc ra thấy niêm mạc màu hồng nhạt
- Phân lập và giám định virus bằng cách:
+ Lấy dịch viêm ở khí quản tiêm vào màng nhưng niệu ủa phôi gà 9-11 ngày tuổi sau 3-4 ngày nếu có virus ILT thì bệnh tích sẽ gây ra những vùng lõm ở trung tâm màng nhung niệu, còn ở rìa xung quanh có màu mờ, đục
+ Kiểm tra tổ chức học tế bào biểu mô niêm mạc khí quản trong giai đoạn đầu của bệnh thấy trong hạch nhân của biểu mô có nhiều hạt Bệnh tích tế bào này cũng thấy trên màng nhung niệu của phôi sau khi tiêm chất dịch này của bệnh
+ Nuôi cấy dịch viêm trên môi trường tế bào thận của gà Sau đó kiểm tra cũng thấy có nhiều hạt ở trong hạch nhân
+ Dùng kính hiển vi điện tử để xác định virus
+ Những phản ứng trung hòa, kháng thể huỳnh quang và phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch không được dùng chẩn đoán
+ Phương pháp đưa vaccine vào lỗ huyệt: Vaccine đã được pha đem xát vào mép trên của lỗ huyệt (hậu môn) Sau 3-4 ngày, nơi xát trên có màu
đỏ sậm Điều đó cho thấy vaccine đưa vào có kết quả tốt Phương pháp này
có thể dùng thẳng vào ổ dịch để phòng chống cho những đàn gà cảm thụ
Vì virus từ lỗ huyết không lây lan tới đường hô hấp, nên không làm tăng độc lực mặc dù gà đó đã bị nhiễm bệnh