1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại trường PTCB nguyễn đình chiểu (TT)

53 494 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phụchồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự tồn tại của trẻ khuyết tật là một thực tế khách quan, xã hội càng phát triển thì sựquan tâm của xã hội đến trẻ khuyết tật càng được nâng cao Ở Việt Nam, việc đảm bảoquyền cho trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng rất được chú trọng Điều này thể

hiện trong các văn bản pháp quy mà Việt Nam đã kí và cam kết thực hiện như Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước về Giáo dục cho mọi người Hơn nữa, trong Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học, Luật chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật giáo dục, Pháp lệnh về Người tàn tật và Luật Người khuyết tật 2010 đã đề cập đến vấn đề trẻ khuyết tật có quyền

như mọi trẻ em khác

Trong Nghị quyết TW Đảng khoá VI và Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010

đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục trẻ khuyết tật Theo đó, Bộ Giáo dục vàđào tạo đã áp dụng các mô hình trẻ khuyết tật khác nhau và đã thu được những kết quảnhất định Đồng thời, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã có các chính sách dành chotrẻ khuyết tật và gia đình có trẻ khuyết tật Tất cả những điều này đã chứng minh sự quantâm ngày càng lớn của Đảng và Nhà nước đối với những người khuyết tật nói chung và trẻkhuyết tật nói riêng

Theo Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2008, ước tính cókhoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật Do đó, Việt Nam được xếp vào một trong những nước

có số lượng trẻ khuyết tật hàng cao trên thế giới Trong một nghiên cứu của Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội hợp tác với UNICEF vào năm 1998 – 1999 trong những trẻ từ 0đến 17 tuổi cho thấy có khoảng 1 triệu trẻ khuyết tật trên cả nước, chiếm khoảng 1,4%tổng dân số và khoảng 3,1% tổng số trẻ em Trung bình, cứ mỗi 5,7 hộ gia đình thì cókhoảng một gia đình có trẻ khuyết tật Khuyết tật vận động là phổ biến nhất (22,4%) sau đó

là khuyết tật ngôn ngữ (21,4%), những vấn đề về hành vi (16,2%), khiếm thị (14,6 %),khiếm thính (9,7%) và thiểu năng trí tuệ (3,6%)

Người khuyết tật thường phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khó chịu do sự ứcchế hoạt động hay do di chứng của khuyết tật gây nên Việc vận dụng những phương pháptác động đặc biệt nhằm giúp trẻ giảm bớt những cơn đau, sự khó chịu, sự ức chế trong cơthể giúp trẻ có cảm giác thoải mái và dễ chịu hơn là hết sức cần thiết Từ đó, dần dần phụchồi một số chức năng cho trẻ trong việc di chuyển, tự phục vụ Góp phần vào việc kéo dàithời gian sống cho người khuyết tật

Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có thống kê cụ thể về số lượng trẻ khuyết tật tại ĐàNẵng Mặc dù vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật cũng được quan tâm nhiều; cónhiều chương trình, dự án về trẻ khuyết tật của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ đầu

tư Tuy nhiên, các dự án này chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ về mặt vật chất, giáo dụccho trẻ và gia đình có trẻ khuyết tật Còn lĩnh vực điều trị và phục hồi chức năng chưađược chú ý nhiều Một trong số ít những chương trình được thực hiện về lĩnh vực này làchương trình tập huấn “Phương pháp vận động lâm sàng dành cho trẻ khuyết tật” do Nhómchuyên gia Nhật Bản phối hợp với Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trường ĐH Sưphạm – Đại học Đà Nẵng thực hiện Phương pháp này đang mở ra một hướng mới đầy

Trang 2

triển vọng trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại các cơ sở có trẻ khuyết tật ởthành phố Đà Nẵng nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thực trạng vận dụng

phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phụchồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảotrợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng để đề ra một số biệnpháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trịliệu Dosaho, góp phần vào việc phát triển phương pháp này theo hướng lâu dài tại ĐàNẵng nói riêng và Việt Nam nói chung

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

Hầu hết các cán bộ giáo viên đều nhận thức được vai trò của phương pháp trị liệuDosaho và vận dụng phương pháp này sau khi được tập huấn Việc vận dụng phương pháptrị liệu Dosaho để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bước đầu đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, do các cán bộ giáo viên chưa nắm vững kiến thức, kĩ năng của phương phápnày và thời gian thực hành còn hạn chế nên hiệu quả vận dụng của phương pháp trị liệuDosaho đạt được chưa cao, số lượng học sinh được trị liệu còn hạn chế

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm cơ bản, lý luận vềtrẻ khuyết tật, về lý thuyết Dosaho và cơ sở vận dụng của phương pháp này, các bài tậpDosaho

5.2 Khảo sát việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năngcho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhânchất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, đề xuất một số biệnpháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trịliệu Dosaho theo hướng lâu dài tại thành phố Đà Nẵng

6 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chỉ nghiên cứu việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phụchồi chức năng cho trẻ khuyết tật vận động, trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ tự kỷ tại

Trang 3

Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ

em bất hạnh thành phố Đà Nẵng

7 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương phápnghiên cứu sau:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ của

đề tài Đồng thời, tiến hành dịch một số tài liệu về phương pháp Dosaho để nghiên cứu cơsở lý thuyết và cơ sở vận dụng của phương pháp

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy của cán bộ giáo viên, nghiên cứu hồ sơ trẻđược lập vào tháng 9/2010

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để đánh giátình trạng hiện tại của trẻ Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu với hồ sơ trước đây

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu về liệu pháp tâm lý và phục hồi chức năng được khởi đầubằng một phát hiện trong lĩnh vực nghiên cứu về hiện tượng ngủ ở người bị bệnh bại nãovào năm 1965 Vào thời điểm đó, người ta cho rằng người bị bệnh bại não không thể vậnđộng được cơ thể bởi vì một phần các tế bào não của người bệnh đã bị chết Tuy nhiên,một công trình nghiên cứu về hiện tượng ngủ đã phát hiện thấy một thanh niên bị liệt não

có thể chuyển động cánh tay nhờ luyện tập kĩ thuật thôi miên Giáo sư Naruse đã chú ý đếncông trình nghiên cứu này và ngay lập tức thông báo kết quả nghiên cứu khó tin đó đến cácđồng nghiệp của ông Nhờ có các công trình nghiên cứu lâu dài của giáo sư Naruse và cácđồng nghiệp của ông, khoa học đã khẳng định rằng một số người bị bệnh bại não có thểvận động cánh tay và cơ thể nhờ sử dụng biện pháp thôi miên Điều đó có nghĩa là người ta

có thể vận động cơ thể và các chi bằng chính nỗ lực của mình dù các tế bào não đã bị tổnthương hoặc một bộ phận các tế bào não đã chết Kết luận này hoàn toàn ngược với các kếtluận trước đó Chắc chắn phải xảy ra một quá trình tâm lý trong các vận động thể chất của

cơ thể con người, và các quá trình tâm lý vượt ra ngoài quan điểm thông thường về y học

Trong nhiều công trình nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng, giáo sư Naruse và cácđồng nghiệp của ông đã cố gắng mô tả “hệ thống vận động của con người” – tiếng Nhậtgọi là “Dosaho” và đã thành công trong việc phát triển một chương trình phục hồi chứcnăng không sử dụng thôi miên dành cho những bệnh nhân bị bại não và bị tắc nghẽn độngmạch não Chương trình này có tên gọi là “phương pháp luyện tập Dosaho” Hiệu quả rõrệt của phương pháp tập luyện Dosaho đã được chứng minh trong nhiều trường hợp Hơnnữa, phương pháp trị liệu Dosaho không chỉ phát huy tác dụng trong các chương trình phụchồi chức năng thể chất mà còn trong các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần và tâm

lý trị liệu Trong thực tế, đã xảy ra không ít trường hợp một số trẻ em đã được chẩn đoánsẽ nằm liệt suốt đời do những tổn thương về thể chất và tâm lý, nhưng sau đó các em lại cóthể đứng thẳng, đi lại thoải mái và thậm chí theo học các lớp bình thường Cũng trong cáctrường hợp sử dụng liệu pháp tâm lý, đã có báo cáo khoa học khẳng định một trường hợpbệnh nhân sử dụng bài tập Dosaho nhanh chóng cải thiện triệu chứng trầm cảm Hiện nay,các chương trình chăm sóc sức khỏe dựa trên phương pháp tâm lý sử dụng hệ thống các tácđộng vận động Dosaho làm công cụ được gọi là chương trình phục hồi chức năng dựa vàoliệu pháp tâm lý, và trong hơn 20 năm qua, phương pháp tập luyện vận động Dosaho đượcxem là chương trình phục hồi chức năng dựa vào liệu pháp tâm lý hiệu quả nhất ở NhậtBản

Các chuyên gia tâm lý, các bác sĩ điều trị, các nhà nghiên cứu khoa học quan tâmđến mối quan hệ không thể tách rời giữa thể chất và tinh thần đã ứng dụng phương phápDosaho tại các trại huấn luyện, trong các chương trình điều trị bệnh, trong các chươngtrình hoạt động học tập và chăm sóc sức khỏe Hiện nay, cơ sở lý thuyết của phương pháptập luyện Dosaho đã được khẳng định, và các nhà khoa học đã phát hiện các phương pháp

mới như: Phương pháp Dosaho thể thao cho các vận động viên thể thao chuyên nghiệp được sử dụng như là một phương pháp rèn luyện tinh thần, Phương pháp Dosaho trong

Trang 5

giáo dục được ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục chuyên biệt Tại Nhật Bản, số người bị

mắc các chứng bệnh về tâm thần đang ngày càng tăng Vì vậy, việc sử dụng “Phương phápchăm sóc sức khỏe Dosaho” hay “ Liệu pháp Dosaho” như là một phương pháp duy trì sựcân bằng của tình trạng sức khỏe thể chất – tâm thần cho người bình thường đang trở thànhkhuynh hướng lớn trong lĩnh vực tâm lí học lâm sàng ở Nhật Bản Liệu pháp Dosaho đượcnghiên cứu nhiều nhất bởi các nhà tâm lí học trị liệu, các bác sĩ ở các trường đại học và cácbệnh viện thần kinh, và hiện đang phát triển rất nhanh chóng ở Nhật Bản Các bệnh nhânđược điều trị bằng liệu pháp Dosaho có thể nhận thấy sự cải thiện nhanh chóng tình trạng:cứng vai, bệnh đau lưng, các cơn đau hông, đau đầu gối, đau đầu và các triệu chứng nhẹcủa bệnh trầm cảm Những phát triển mới của phương pháp tập luyện Dosaho được ứngdụng nhiều nhất trong các điều trị được gọi chung là “Phương pháp trị liệu Dosaho”.Phương pháp trị liệu Dosaho phát triển hơn phương pháp tập luyện Dosaho ban đầu ở sựphong phú của kĩ thuật và ứng dụng Trong khi phương pháp tập luyện Dosaho ban đầuđược bắt nguồn từ phát hiện trong nghiên cứu hiện tượng ngủ, và chỉ dành cho những bệnhnhận bị bại bão và bệnh tắc nghẽn mạch máu não, thì phương pháp trị liệu Dosaho đượcdựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu về phương pháp tập luyện Dosaho, nó được dànhcho tất cả mọi người trong việc chăm sóc sức khỏe hằng ngày, và được ứng dụng trongnhiều lĩnh vực như giáo dục, điều trị bệnh, thể dục thể thao

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ khuyết tật cao Có nhiều yếu tố tácđộng tới tình hình khuyết tật ở nước ta, nhưng chủ yếu vẫn là ảnh hưởng bởi thương tật,chất độc da cam sau chiến tranh; hậu quả của các vấn đề sức khoẻ công cộng trong giaiđoạn phát triển như tai nạn thương tích, các bệnh không truyền nhiễm, sức khỏe tâmthần v.v

Khuyết tật nếu không được phục hồi chức năng và có các can thiệp y tế, kinh tế, xã hội kịpthời sẽ tác động tới tình trạng sức khoẻ của cơ thể, các chức năng sinh hoạt cần thiết trongđời sống hàng ngày, gây hạn chế khả năng tham gia các hoạt động xã hội của cá nhânngười khuyết tật, kéo theo các tác động tới gia đình và xã hội Chính vì vậy, phục hồi chứcnăng rất được chú trọng, thể hiện rõ trong Luật Người khuyết tật, có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 01 năm 2011

Tại Đà Nẵng, công tác phục hồi chức năng cũng rất được chú trọng Hầu hết cácbệnh viện đều có phòng phục hồi chức năng và được trang bị cơ sở vật chất tương đối hiệnđại Tuy nhiên, ở các trường và cơ sở dạy trẻ khuyết tật thì vấn đề này chưa được chú trọng

và đầu tư nhiều

1.2 Một số vấn đề chung về trẻ khuyết tật

Trang 6

Khái niệm này cũng tương đương với khái niệm khuyết tật của WHO khuyến cáosử dụng theo phân loại ICF, tương đương với khái niệm khuyết tật được đề cập trong dựthảo Công ước Quốc tế về Quyền người khuyết tật và không mâu thuẫn với tinh thần củaPháp lệnh về Người tàn tật của Việt Nam.

1.2.1.2 Phân loại

Căn cứ vào tình hình khuyết tật cụ thể của Việt Nam và kế thừa những phân loại cũ

và phân loại chức năng theo ICF, loại khuyết tật được chia thành các nhóm như sau:

1 Khuyết tật (giảm chức năng) vận động

2 Khuyết tật (giảm chức năng) về nghe, hoặc nghe và nói kết hợp

3 Khuyết tật (giảm chức năng) nhìn

4 Giảm cảm giác (bao gồm giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra, giảm vị

giác, khứu giác,… do các nguyên nhân khác nhau)

5 Rối loạn chức năng nhận thức: các dạng chậm phát triển trí tuệ, Down

6 Rối loạn chức năng tâm thần – hành vi: tự kỷ, các dạng bệnh tâm thần, rối loạnhành vi…

7 Các khuyết tật (giảm chức năng) khác thuộc hệ thống tuần hoàn, hô hấp, bài tiết,tiết niệu, sinh dục, sinh sản do các bệnh mạn tính gây ra

Đa khuyết tật: là người khuyết tật mắc hai khuyết tật trở lên như giảm chức năng

nghe, kèm theo giảm chức năng nhìn

1.2.2 Trẻ khuyết tật vận động

1.2.2.1 Khái niệm

Một trẻ khó khăn về tật vận dộng là trẻ yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc do đau làm trẻkhông cử động được Đối với trẻ lớn không thể cầm một vật, không thể cúi xuống nhặt mộtvật lên, không thể đi bộ 10 mét

1.2.2.2 Nguyên nhân gây khuyết tật vận động

- Do bệnh: bại liệt, bại não, viêm khớp, viêm cơ, bệnh xương

- Do chân thương: tai nạn, sang chấn khi sinh đẻ

- Do bẩm sinh

1.2.2.3 Các loại khuyết tật vận động

- Bại, liệt 1 tay

- Bại, liệt 2 tay

- Bại, liệt 2 chân

- Bại, liệt nửa người

- Bại, liệt tứ chi

- Thiếu, thừa ngón tay

- Ngắn chi, cụt chi

- Bệnh cơ, xương, khớp

- Bàn chân khoèo

Trang 7

1.2.3 Trẻ chậm phát triển trí tuệ (CPTTT)

1.2.3.1 Khái niệm

Theo bảng phân loại của Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mỹ, trẻ CPTTT liênquan đến những hạn chế cơ bản về các chức năng hiện tại với những đặc điểm sau:

- Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình

- Hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng như: Giao tiếp/ liên cá nhân, tự phục

vụ, sống tại gia đình, xã hội, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng, tự định hướng, kỹ nănghọc đường chức năng, giải trí, lao động, sức khỏe, và an toàn,…

- Hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi

Theo Grossman, nhà bác học Mỹ: “CPTTT là tình trạng chức năng trí tuệ tổng

quát thấp hơn mức bình thường dẫn đến hành vi thích ứng kém và xảy ra trong giai đoạn phát triển Theo ông, trẻ CPTTT có đủ hai yếu tố: chức năng trí tuệ thấp và hành vi thích ứng kém.”

1.2.3.2 Nguyên nhân gây khuyết tật CPTTT

* Trước khi sinh

- Di truyền: Bố, mẹ hoặc một trong hai người CPTTT thì có thể sẽ di truyền cho các thế

hệ tiếp sau

- Do sự đột biến nhiễm sắc thể làm cho cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến một số hiệntượng như: Bệnh Tớc-nơ(nữ), Clai-phen-tơ(nam), Đao(ba nhiễm sắc thể ở cặp thứ 21),…

- Người mẹ bị mắc một số bệnh trong thời gian mang thai như: cúm, sởi Rubela,…

- Thai nhi suy dinh dưỡng, thiếu i-ốt, …

- Yếu tố môi trường độc hại: Thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/ mẹ bị nhiễm phóng xạ,các chất gây nghiện ( do hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy),…

- Sự mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ

* Trong khi sinh

Những rủi ro trong quá trình sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt,…có can thiệp y tếnhưng không đảm bảo dẫn đến những tổn thương não bộ

* Sau khi sinh

- Trẻ bị mắc các bệnh về não như: Viêm não, viêm màng não để lại di chứng, chấnthương sọ não do tai nạn…

- Do biến chứng từ các bệnh sởi, đậu mùa…

- Dùng thuốc không theo chỉ định,…

- Suy dinh dưỡng, thiếu Iốt…

- Tai nạn trong sinh hoạt, học tập…

- Trẻ sống cách ly cuộc sống xã hội trong thời gian dài,…

1.2.3.3 Đặc điểm vận động của trẻ CPTTT

CPTTT thường kéo theo những khó khăn về vận động cho trẻ Một trẻ khó khăn vềvận động là trẻ bị yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc do đau làm trẻ không cử động được Đối với

Trang 8

trẻ lớn không thể cầm một vật, không thể cúi xuống nhặt vật lên, không thể đi bộ được 10mét

1.2.4 Trẻ tự kỷ

1.2.4.1 Khái niệm

Năm 1934, Kanner đã đưa ra định nghĩa trẻ tự kỷ là những trẻ không tạo lập mốiquan hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ với mọi người xung quanh, cóbiểu hiện chậm nói, chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉ đôi khi có vẽ kỳ dị, cùng các hoạtđộng vui chơi đơn giản, mang tính lặp đi lặp lại

Năm 1969, Rutter đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của tự kỷ:

- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội

- Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời đến lời nói lập dị

- Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc cho đến khuônmẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép

- Khởi phát sớm trước 30 tháng

Định nghĩa theo DSM-IV-TR: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan toả(PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm hội chứng được đặc trưng bởisuy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vực phát triển: tương tác xã hội, giao tiếp và

sự hiện diện của những hành vi và các ham thích rập khuôn

Như vậy có nhiều khái niệm về trẻ tự kỷ Tuy nhiên các khái niệm này không đối lậpnhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh về trẻ tự kỷ

Theo chúng tôi, học sinh mắc rối loạn tự kỷ là những học sinh có những rối loạn phát triểnlan tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp

đi lặp lại, rối loạn cảm giác Có 5 phân nhóm chẩn đoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình,hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối loạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa –không điển hình

1.2.4.2 Nguyên nhân gây khuyết tật tự kỷ

* Tổn thương não hoặc não bộ kém phát triển do:

Đẻ non tháng dưới 37 tuần

Cân nặng khi sinh thấp dưới 2.500g

Ngạt hoặc thiếu ô xy não khi sinh

Chấn thương xọ não do can thiệp sản khoa

Vàng da sơ sinh

Chảy máu não- màng não sơ sinh

Nhiễm khuẩn thần kinh như viêm não, viêm màng não

Thiếu ô xy não do suy hô hấp nặng

Chấn thương sọ não

Nhiễm độc thủy ngân

Trang 9

* Yếu tố di truyền:

Bất thường về nhiễm sắc thể

Bệnh di truyền theo gen hoặc nhóm gen

* Yếu tố môi trường:

Môi trường trẻ đang sống kích thích lên sự phát triển của trẻ trong 24 tháng đầu: chotrẻ xem vô tuyến truyền hình, quảng cáo, âm nhạc, các đồ chơi khác nhau hay do sự quantâm dạy dỗ của cha mẹ và gia đình

Một số hóa chất, kim loại nặng có thể gây tổn thương não

1.2.4.3 Đặc điểm vận động của trẻ tự kỷ

Trẻ tự kỷ thường có những vận động, hoạt động mang tính lặp lại và rập khuôn Do

đó, trẻ tự kỷ thường có dáng đi và tư thế khác trẻ bình thường Đặc biệt, động kinh là điềuthường xuyên xảy ra ở trẻ tự kỷ Nhưng mức độ khác nhau ở mỗi trẻ

1.3 Một số vấn đề chung về phục hồi chức năng

1.3.1 Khái niệm

Phục hồi chức năng (PHCN) bao gồm các biện pháp y học, kinh tế - xã hội, giáodục và các kỹ thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động của giảm chức năng và tàn tật, đảmbảo cho người tàn tật hội nhập và tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia cáchoạt động xã hội

Như vậy PHCN không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là trách nhiệm củatoàn xã hội, ngành y tế chỉ đảm nhiệm một mảng hẹp đó là phục hồi chức năng bằng cácbiện pháp y học

1.3.2 Mục đích phục hồi chức năng

Hoàn lại một cách tối đa về thể chất, tinh thần và nghề nghiệp

Ngăn ngừa các thương tật thứ phát

Tăng cường khả năng còn lại của người tàn tật để làm giảm gánh nặng cho gia đình

và xã hội

Góp phần đưa người tàn tật hoà nhập xã hội và làm thay đổi thái độ của cộng đồng

và xã hội đối với người tàn tật

1.3.3 Các phương pháp trị liệu trong phục hồi chức năng

1.3.3.1 Phương pháp tâm vận động: là một phương pháp giáo dục dựa vào sự quan sát và

sử dụng các giác quan một cách hợp lý để kích thích các khả năng của trẻ em Thông qua

sự vận động trong các trò chơi, các em dần dần hoàn thiện những kỹ năng còn yếu củamình

1.3.3.2 Phương pháp vật lý trị liệu: là phương pháp phòng hoặc/và chữa bệnh bằng cách

sử dụng các tác nhân vật lí tự nhiên hay nhân tạo như: nước, không khí, nhiệt độ, khíhậu, độ cao, điện, tia X, tia cực tím, tia hồng ngoại, siêu âm, các chất đồng vị phóng

xạ, xoa bóp, thể dục - thể thao, đi bộ, dưỡng sinh

Trang 10

1.3.3.3 Phương pháp mát – xa: Theo gốc Hy Lạp, từ massage có nghĩa là xoa bóp, với

quan niệm rằng cơ thể con người có một dòng chảy năng lượng còn gọi là "khí" Sự lưuchuyển tốt của khí giúp cơ thể duy trì được sức khỏe và sinh lực còn khi dòng khí này bịngưng trệ là lúc cơ thể yếu đuối và nảy sinh nhiều bệnh tật Massage chính là cách vận khí,chuyển khí để dòng chảy này lưu thông tốt nhất trong cơ thể con người, khơi thông lạinguồn năng lượng tiềm năng này trong cơ thể

1.3.3.4 Phương pháp thôi miên: là phương có thể làm thay đổi hoặc kiểm soát trạng thái

tinh thần của một người đến mức người đó phải làm theo các chỉ thị của người thôi miên

1.3.4 Các hình thức phục hồi chức năng

1.3.4.1 PHCN tại viện: Là hình thức PHCN nội trú hoặc ngoại trú tại các khoa PHCN

trong các bệnh viện đa khoa, tại các trung tâm hay viện PHCN

- Ưu điểm:

+ PHCN sớm

+ Có điều kiện kỹ thuật cao về trang bị máy móc và cán bộ

+ Tiến hành công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Nhược điểm:

+ Số lượng thu dung ít

+ Trở ngại về vấn đề đi lại của người tàn tật

+ Thời gian tiến hành PHCN ngắn

1.3.4.2 PHCN ngoại viện: Là hình thức mà cán bộ PHCN đến điều trị tận nhà cho người

tàn tật

- Ưu điểm:

+ Hạn chế đi lại cho người tàn tật

+ Có thể triển khai một số kỹ thuật cao

- Nhược điểm:

+ Tổ chức khó khăn, số người được PHCN cũng hạn chế

+ Giá thành cao, cần có sự tài trợ lớn

1.3.4.3 PHCN dựa vào cộng đồng: Là hình thức PHCN ngay tại cộng đồng và dựa vào

cộng đồng (gồm chính quyền địa phương, y tế cộng đồng, hàng xóm, gia đình và bản thânngười tàn tật) là chính, cán bộ PHCN chỉ đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn

và kỹ thuật

- Ưu điểm:

+ Số người được PHCN cao

+ Người tàn tật được PHCN tại chỗ

+ Các phương tiện dụng cụ giản đơn để làm tại chỗ và phù hợp với từng người

+ Có ý nghĩa kinh tế cao gắn liền với chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phù hợpvới các nước nghèo và đang phát triển

Trang 11

- Nhược điểm:

+ Không triển khai được kỹ thuật cao

+ Khó khăn về khâu tổ chức, quản lý nên thường khó duy trì lâu dài

1.4 Phương pháp Dosaho

1.4.1 Cơ sở lý thuyết Dosaho

Cũng giống như một số triết lý y học châu Á, lý thuyết Dosaho cho rằng thể chất vàtinh thần của con người có mối quan hệ không thể tách rời Điều đó có nghĩa là một sựthay đổi tinh thần có thể dẫn đến những thay đổi về thể chất và nguợc lại Thuật ngữ

“Dosaho” trong tiếng Nhật có nghĩa là “sự vận động” và sự vận động thường chỉ phần vậnđộng về mặt thể chất của cơ thể Nhưng điều đáng chú ý là thuật ngữ “Dosaho” không chỉhàm nghĩa sự căng thẳng hoặc sự vận động về mặt thể chất của cơ thể mà còn chỉ nhữnghiện tượng tâm lý đuợc tạo ra bởi nỗ lực của con nguời (đôi khi xảy ra một cách vô thức)nhằm thích nghi với cuộc sống thường ngày Nói một cách chính xác, Dosaho được địnhnghĩa như là một quá trình tổng thể bao gồm ý địng của một người, nỗ lực nhằm hiện thựchóa vận động của cơ thể, và kết quả có thể nhìn thấy đuợc của vận động thể chất của cơthể

Nguời ta cho rằng, tất cả mọi nguời đều có những phuơng thức vận động Dosaho để tiếpnhận cuộc sống từ khi mối đuợc sinh ra, nhưng những phuơng thức vận động đó khôngphải lúc nào cũng phù hợp với họ Loại lỗi vận động Dosaho này sớm muộn sẽ gây ranhững căng thẳng có hại cho các bộ phận của cơ thể như gây đau mình, tê cứng, thậm chígây ra những tình trạng bất lợi cho cơ thể như trạng thái trầm cảm Trong các chuơng trìnhsử dụng phuơng pháp trị liệu Dosaho, các nhà vận động đã phát hiện thấy các phuơngthức vận động Dosaho của một số nguời không phù hợp với sự thích ứng của nguời đó đốivới đời sống hàng ngày Phần lớn các lỗi Dosaho đuợc gây ra do nguời bệnh không đạtnhững vận động thể chất phù hợp hơn Vì vậy các nhà trị liệu Dosaho sử dụng cách tácđộng vào các nỗ lực Dosaho của nguời bệnh, huớng dẫn họ thay đổi phuơng thức vậnđộng sai để chuyển sang những cách vận động phù hợp và thoải mái hơn khi hợp tác vớicác chuyên gia trị liệu để thực hiện các bài tập Dosaho

1.4.2 Cơ sở vận dụng Dosaho

Từ cơ sở lý thuyết trên cộng với những thành quả mà phương pháp trị liệu Dosaho

đã đạt được, chúng ta có thể thấy được lợi ích của phương pháp này

Với trẻ khuyết tật thì ngoài những khuyết tật chính, đi kèm theo đó còn có một sốkhuyết tật khác Hơn nữa, do những khuyết tật mà trẻ không có điều kiện để phát huynhững khả năng còn lại, phục hồi những chức năng đã mất Do đó, trẻ dễ phát sinh nhiềuhành vi bất thường hoặc cũng có thể bị tê cứng nhiều bộ phận

Một nguyên tắc đặc biệt ở Phương pháp trị liệu Dosaho là người được chữa trị phảitập trung và tự mình thực hiện những thao tác theo yêu cầu của người trị liệu Có nghĩa làngười điều trị đã tác động vào bệnh nhân bằng tâm lý trước để người bệnh thực hiện sau

Và đây chính là nguyên tắc cơ bản cho mọi bài tập Dosaho

Trang 12

Trong nhiều năm qua, với những thành công đạt được của Phương pháp trị liệuDosaho, các trung tâm, trại huấn luyện Dosaho đã được mở ra ở nhiều nơi trên khắp nướcNhật Hơn thế, phương pháp này cũng đã được người Nhật phổ biến ra một số nước (nhưTrung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Iran, Campuchia) và các nước này cũng đã cử các đoànsang Nhật để được đào tạo và học hỏi kinh nghiệm.

Vì vậy, có thể nói phương pháp trị liệu Dosaho là một hướng mới trong việc phụchồi chức năng cho trẻ khuyết tật

1.4.3 Thống kê một số bài tập Dosaho

1.4.3.1 Yêu cầu chung về kĩ thuật

Cho đến nay, có khoảng 40 – 50 kĩ thuật Dosaho được phát hiện, và chuyên gia trịliệu chọn 4 – 5 kĩ thuật cho nguời bệnh của mình, gọi là bài tập Dosaho Để điều chỉnhnhững phương thức vận động Dosaho không phù hợp trong quá trình điều trị Bài tậpDosaho đuợc chia làm 2 loại: Bài tập căng thẳng và bài tập thư giãn Chuyên gia trị liệuphải yêu cầu nguời tập thực hiện một số tư thế trong bài tập Chuyên gia trị liệu cần nghiêncứu mỗi bài tập và những đặc điểm cũng như những ứng dụng của nó

- Bài tập Dosaho: Bài tập tạo sự căng thẳng

Bài tập tạo sự thư giãn

- Vận dụng tư thế cho nguời tập: Tư thế ngồi (ngồi trên ghế/ bắt chéo chân/ ngồi đưachân về phía trước), tư thế nằm ( nằm ngửa/ nằm sấp/ nằm nghiêng), tư thế đứng (đứng/quỳ)

1.4.3.2 Tiến trình chung của một bài tập Dosaho

Bước 1: Đánh giá ban đầu: chuyên gia trị liệu kiểm tra những vấn đề mà nguời bệnh đang

gặp phải, và đánh giá những phuơng thức vận động Dosaho đuợc xem là không phù hợpvới người ấy

Buớc 2: Thỏa thuận đồng ý: chuyên gia trị liệu thông báo với người bệnh về phuơng pháp

vận động Dosaho (chú ý vấn đề giới tính khi phải động chạm vào cơ thể người bệnh, đặcbiệt là khi người bệnh có giới tính khác với chuyên gia trị liệu)

Buớc 3: Xác định bài tập Dosaho: chuyên gia điều trị đề ra một phác đồ trị liệu, chọ bài

tập Dosaho trong tất cả các kĩ thuật sử dụng cho nguời bệnh

Bước 4: Kiểm tra truớc khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình trạng cơ thể

trước khi bắt đầu liệu pháp để nhằm mục đích sau này đánh giá hiệu quả của việc điều trị

Bước 5: Điều trị bằng liệu pháp Dosaho: chuyên gia trị liệu giới thiệu và huớng dẫn người

bệnh về các bài tập Dosaho, khuyến khích và phản hồi về những nỗ lực của người bệnh

Bước 6: Kiểm tra sau khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình trạng cơ thể

của họ và so sánh với kết quả kiểm tra trước khi điều trị Dựa trên các câu trả lời, chuyêngia trị liệu điều chỉnh các bài tập Dosaho cho đợt điều trị sau

1.4.3.3 Giới thiệu một số bài tập Dosaho đơn giản

Có tất cả 64 phương pháp trị liệu Dosaho, mỗi một phương pháp lại có nhiều bàitập thực hành khác nhau, nhưng tất cả các phương pháp này đều tác động vào 13 vị trí trên

4 vùng sau: vùng mặt, vùng thân, vùng chi trên, vùng chi dưới

Trang 13

* Thực hành xác định 13 vị trí

Hình 1: Sơ đồ xác định vị trí trên cơ thể

1 Cổ; 2 Bả vai; 3 Ngực; 4 Lưng; 5 Lưng cột sống; 6 Mông; 7 Đầu gối; 8 Gót chân; 9 Ngón chân; 10 Vai; 11 Khuỷu tay; 12 Cổ tay; 13 Ngón tay 0 Vị trí mặt (a Trán;

b Khóe mắt; c Xung quanh vùng mắt; d Xung quanh vùng miệng(vị trí khóe miệng); e Má; f Đầu lưỡi(bộ phận gốc lưỡi); g Da đầu)

Trang 14

* Các bài tập tại các vị trí

- Vị trí số 1

- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền trước ngực

- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần)

- Nghiêng mặt sang trái

- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần)

- Làm nhiều lần theo yêu cầu của NĐT

- Nghiêng đầu sang phải rồi thực hiện lại

tương tự theo yêu cầu của NĐT

- Quay đầu lại vị trí ban đầu rồi gồng – nới

- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT

- Giữ 2 bên bắp tay

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vịtrí đặt tay

- Đặt tay ở nốt cổ (trên)

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vịtrí đặt tay

- Yêu cầu NĐĐT nghiêng đầu sang phải rồiđặt tay ở nốt cổ (dưới)

- Đặt hai tay giữ bắp tay và yêu cầu gồng –nới

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi

- Hỏi: cảm giác thế nào?`

- Vị trí số 2, 3

- Ngồi hai tay để trên đùi

- Gồng và nới lỏng theo yêu cầu của NĐT

- Thực hiện tương tự nhiều lần

- Tay trái cầm vai, tay phải đặt sau lưng rồiyêu cầu NĐĐT thực hiện

- Khi NĐĐT nới lỏng thì ép mạnh tay vềphía trước

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi

- Hỏi: cảm giác thế nào?

- Vị trí số 4,5

- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền trước ngực

- Nới lỏng – gồng lên

- Làm nhiều lần theo yêu cầu của NĐT

- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT

- Đặt 2 tay áp vào lưng

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vịtrí đặt tay (có đôi lúc ngắt quãng)

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi

- Hỏi: cảm giác thế nào?

- Vị trí số 6

Người được điều trị nằm ngửa, thả lỏng người Người điều trị ngồi bên phải của NĐĐT:

Lần 1: Luồn chân trái sang phía dưới vị trí thắt lưng của NĐĐT Để cho NĐĐTnằm thả lỏng như vậy trong 2 phút Đồng thời NĐT kiểm tra những vị trí bị cứng củaNĐĐT Sau 2 phút thì rút chân ra Hỏi NĐ ĐT có cảm giác thế nào?

Lần 2: Cho NĐ ĐT nằm thả lỏng sau khoảng 3 phút thì thực hiện một lần nữa Hỏi

NĐ ĐT có cảm giác thế nào?

- Vị trí số 7

Trang 15

Nằm duỗi thẳng

NĐT

- Ngồi bên trái NĐĐT

- Chân và tay NĐĐT cố định tay và chân NĐĐT bằng cách dùng tay phải đặt vào vai NĐĐT, chân trái NĐT đặt lên chân NĐĐT Sau đó đưa tay vào đầu gối NĐĐT, giúp NĐĐT hạ chân xuống từ từ.

- Hỏi cảm thấy như thế nào ?

- Ngồi phía bên trái NĐĐT NĐT tay trái áp dưới lòng bàn chân ấn tới, 2 ngón tay phải ân vào chỗ cứng ( trong khi làm, khuỷu tay phải NĐT tỳ vào gối phải co lên

L2: Đổi ngược bên

* Lưu ý: NĐĐT có cảm giác ấm, nóng thì có hiệu quả Thực hiện động tác từ 3 - 5 lần

- Vị trí số 11, 12

Bài tập 2: Đứng thẳng, thả lỏng người, hai vai cân bằng

B1: Đưa bàn tay phải lên từ từ , giữ trong 25 giây (hỏi người thực hiện có cảm giácthế nào) Đưa xuống từ từ và giữ 15 giây

B2: Quan sát (thấy tây phải có vẻ dài hơn) Hỏi người thực hiện có cảm giác thếnào

Thực hiện tương tự với tay trái Mỗi lần tập, đưa tay trái 2 lần, đưa tay phải 2 lần

Nguyên tắc: làm cho căng cơ rồi thả lỏng thư giãn Thực hiện trước lúc làm những việc

căng thẳng như: trước giờ thi, kiểm tra, phỏng vấn

- Vùng mặt

Trang 16

Nằm duỗi thẳng, chân tay thả lỏng, nhắm mắt thư giãn

NĐT

- Ngồi khoanh chân phía trên phần đầu NĐĐT

- Mắt nhìn thẳng vào phần mặt NĐĐT

- Dùng tay cảm nhận vùng căng thẳng trên mặt NĐĐT

- Đặt 2 tay vào vùng giữa trán, dùng các đầu ngón tay kéo về 2 phía thái dương rồi dừng lại, ấn nhẹ và thả lỏng

- Dùng 2 ngón trỏ và giữa kéo nhẹ khóe mắt xếch lên phía trên rồi từ từ thả lỏng về khóe mắt

- Bàn tay trái giữ trán nằm ngang, tay phải dùng 3 ngón giữa kéo nhẹ hốc mắt xuống dưới rồi thả lỏng, làm tương tự với mắt còn lại ( bên nào thì tay đó kéo )

- Dùng ngón trỏ và giữa kéo khóe miệng thành dạng mặt cười, dừng lại, rồi từ từ thả lỏng

- Dùng lòng bàn tay áp nhẹ, kéo ngang 2 bên má ( bàn tay dọc theo chiều má ), dừng lại rồi thả lỏng

Lưu ý: Khi làm mỗi 1 bộ phận trên khuôn mặt NĐĐT, NĐT nói “ Kéo căng, thả lỏng “

khi làm động tác

Tiểu kết chương 1

Qua nghiên cứu lí luận về trẻ khuyết tật, chúng tôi nhận thấy trẻ khuyết tật còn gặpnhiều khó khăn trong vận động Việc phục hồi chức năng cũng đã được thực hiện bằngnhiều hình thức và phương pháp khác nhau

Qua nghiên cứu tìm hiểu hiểu về phục hồi chức năng, chúng tôi nhận thấy có nhiềuphương pháp khác nhau đã được vận dụng để phục hồi chức năng cho người khuyết tật nóichung và trẻ khuyết tật nói riêng Ở Việt Nam, các chương trình phục hồi chức năng đãđược quan tâm và thực hiện rộng khắp

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp Dosaho, chúng tôi nhận thấy phươngpháp này đã được các nhà khoa học nghiên cứu khá lâu Hiện nay, phương pháp này đangmang lại một sự chuyển biến lớn trong việc phục hồi chức năng cho người khuyết tật trênthế giới

Tiến hành nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và cơ sở vận dụng phương pháp Dosaho,chúng tôi đã hiểu sâu hơn về phương pháp này Đồng thời, nắm rõ hơn quy trình vận dụngphương pháp và hiểu hơn các bài tập Dosaho đơn giản

Trang 17

Chương 2: Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ

nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng

2.1 Khái quát về quá trình khảo sát

Thành phố Đà Nẵng có nhiều cơ sở nuôi dạy trẻ khuyết tật trải rộng khắp 8 quận,huyện Tuy nhiên, mới chỉ có cán bộ giáo viên của 2 cơ sở được tham gia chương trình tậphuấn Dosaho tại Đà Nẵng đó là Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợnạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng Vì vậy, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho vào trị liệu và phục hồichức năng cho trẻ khuyết tật của các cán bộ giáo viên thuộc 2 cơ sở này

2.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát

* Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – tp.Đà Nẵng

Trường Mù Nguyễn Đình Chiểu (nay đổi thành trường Phổ thông Chuyên biệtNguyễn Đình Chiểu) được thành lập theo quyết định số 3474/QĐ ngày 11/8/1992 củaUBND Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), trực thuộc trường Cao Đẳng Sư pham Đà Nẵng(nay là trường Đại Học sư phạm) Ngày 9/12/1992 trường chính thức đi vào hoạt động vớiviệc khai giảng lớp học đầu tiên Đến ngày 31/01/1993, UBND thành phố Đà Nẵng cóquyết định số 223/QĐUB chuyển trường Mù Nguyễn Đình Chiểu trực thuộc sở Giáo dục

và Đào tạo TP Đà Nẵng Với mục tiêu:

- Đào tạo văn hoá từ Mầm non đến phỏ thông trung học

- Phục hồi chức năng, dạy nghề phù hợp để các em khuyết tật sớm hoà nhập cộng đồng xãhội

- Thực hiện chức năng hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật tại cộng đồng: cụ thể là chức nănggiáo dục hoà nhập, can thiệp sớm, nhìn kém, tư vấn, tập huấn hỗ trợ chuyên môn cho phụhuynh, giáo viên hoà nhập ở các trường Mầm non, Tiểu học đến PT Trung học có học sinhkhuyết tật học hoà nhập

Trong những năm qua, nhà trương đã đạt được nhiều thành tích, cụ thể là: được công nhận

11 năm liên tục đạt danh hiệu “Tiên tiến xuất sắc cấp thành phố” nhận bằng khen UBNDthành phố tặng, 3 bằng khen của Bộ Giáo dục Đào tạo, 2 bằng khen của Công Đoàn GiáoDục Việt Nam, năm 1997và 2001 được nhận bằng khen Thủ Tướng Chính phủ, năm 2007được nhận cờ của LĐLĐ thành phố Đà Nẵng Đặc biệt năm học 2006- 2007 được nhậnHuân Chương Lao Động Hạng III

* Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh tp Đà Nẵng

Nhằm chia sẻ nỗi đau thương mất mát của những nạn nhân chất độc da cam, Hộinạn nhân chất độc da cam thành phố Đà Nẵng đã thành lập Trung tâm bảo trợ nạn nhânchất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng với 02 Cơ sở tại Quận Liên Chiểu

và Hải Châu, nhận nuôi dưỡng và chăm sóc cho gần 80 cháu là nạn nhân chất độc da cam

và trẻ em bất hạnh

Trung tâm hoạt động rất hiệu quả gắn được trách nhiệm giữa gia đình với cộngđồng, xã hội, là nơi để các tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước trực tiếp đến giao lưu,thăm hỏi, động viên Các cháu đến Trung tâm được chăm sóc, nuôi dưỡng, luyện tập phục

Trang 18

hồi chức năng, vui chơi, ca hát, học nghề để phát triển về thể chất, tinh thần; gia đình cáccháu cũng giảm bớt gánh nặng, gửi con vào Trung tâm để hằng ngày có điều kiện đi laođộng kiếm sống Các cháu tiến bộ rất nhiều, giảm stress, tự tin hơn, một số cháu đã có thể

tự kết cườm,làm hoa và may, giúp các cháu hoà nhập dần với cộng đồng, vươn lên trongcuộc sống

2.1.2 Đối tượng khảo sát

- Các cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợnạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng đã tham gia chương trìnhtập huấn Dosaho tại Đà Nẵng

- Các trẻ khuyết tật đã được phục hồi chức năng bằng phương pháp trị liệu Dosaho

2.1.3 Nội dung khảo sát

- Nhận thức của cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâmbảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng về phương pháptrị liệu để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

- Nhận thức của cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâmbảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng về phương pháptrị liệu Dosaho

- Thống kê số lượng giáo viên được tham gia chương trình tập huấn Dosaho tạiTp.Đà Nẵng

- Những hiểu biết của giáo viên về phương pháp trị liệu Dosaho và các bài tập vậndụng

- Kĩ năng sử dụng phương pháp trị liệu Dosaho của cán bộ giáo viên

- Các bài tập Dosaho đã được vận dụng vào phục hồi chức năng cho trẻ

- Những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi vận dụng phương pháp trị liệu Dosahotrong phục hồi chức năng cho trẻ

- Những tiến bộ của trẻ khi vận dụng các bài tập Dosaho

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy, hồ sơ trẻ được lập vào tháng 9/2010

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để đánh giátình trạng hiện tại của trẻ Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu với hồ sơ trước đây

Trang 19

2.2 Kết quả khảo sát

2.2.1 Khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên về phương pháp Dosaho

2.2.1.1 Kết quả khảo sát tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – tp.Đà Nẵng

* Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho

Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho là 9, trong tổng số 52 cán bộ giáo viên của trường

Biểu đồ 1: So sánh số lượng CBGV được tập huấn với CBGV chưa được tập huấn

Bảng 1: Cán bộ, giáo viên đã được tập huấn trong các đợt

Nguyên nhân có sự thay đổi số lượng trên là do điều kiện khách quan của giáo viên

và quy định giới hạn số lượng của các đợt sau Đáng chú ý là đã có 4 giáo viên tham giađầy đủ 4 đợt tập huấn và 1 giáo viên tham gia 3 đợt tập huấn

Do đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc áp dụng phương pháp trị liệu Dosahocủa các giáo viên này

Trang 20

* Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu vềphương pháp trị liệu để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.

Bảng 2: Vai trò của trị liệu trong PHCN ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

Mức độ Vai trò của trị liệu trong phục hồi chức năng

Bảng 3: Ý kiến của giáo viên về vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong trị liệu trong

PHCNMức độ

Vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi

Biểu đồ 2: So sánh vai trò của trị liệu trong PHCN với vai trò của phương pháp Dosaho

Từ biểu đồ, chúng ta có thể thấy rõ, cán bộ giáo viên trường PTCB Nguyễn ĐìnhChiểu đều đánh giá cao vai trò của trị liệu & phục hồi chức năng của phương pháp Dosaho.Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ, điều này có nghĩa là phương pháp trị liệu Dosaho

là quan trọng, nhưng không phải là tiên quyết

Trang 21

Bảng 4: Quan điểm của giáo viên về phương pháp Dosaho

Bảng 5: Ý kiến của giáo viên về điểm nổi bật của phương pháp Dosaho

* Về các bài tập đã biết và quy trình thực hiện

Bảng 6: Các bài tập giáo viên đã biết

0 bài tập 1 bài tập 2 bài tập 3 bài tập

Trang 22

6

8 7 2

Chưa nắm vững các bài tập

Số bài tập ít Kĩ năng chưa vững Trẻ không hợp tác Khó khăn khác

Các giáo viên đều cho rằng, tùy khuyết tật của từng trẻ mà thực hiện theo nhữngquy trình riêng

* Những khó khăn thường gặp phải khi vận dụng phương pháp Dosaho

Bảng 7: Những khó khăn giáo viên thường gặp

Hầu hết các cán bộ giáo viên đều gặp phải những khó khăn nêu trên Ngoài ra, còn

có một khó khăn khác được đưa ra là chưa xác định được chính xác các vị trí

Biểu đồ 3: Thể hiện những khó khăn thường gặp

* Nguyện vọng

Kết quả khảo sát cho thấy 100% cán bộ giáo viên đều muốn được tiếp tục tham giahọc Nhưng cũng có những đòi hỏi cụ thể:

- Phải đào tạo bài bản, dài hạn

- Phải được thực hành nhiều hơn

- Đào tạo ở Nhật Bản

2.2.1.2 Kết quả khảo sát tại Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng

* Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho

Trung tâm chỉ tham gia đợt 4 của chương trình tập huấn với số lượng cán bộ giáo viên là 5 người

* Nhận thức của cán bộ giáo viên về phương pháp trị liệu trong phục hồi chức năng cho trẻkhuyết tật

Bảng 8: Ý kiến của giáo viên về vai trò của trị liệu trong PHCN

Trang 23

Bảng 9: Ý kiến của giáo viên về vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong PHCNMức độ

Vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi

Bảng 10: Quan điểm của giáo viên về phương pháp Dosaho

Bảng 11: Ý kiến của giáo viên về điểm nổi bật của phương pháp Dosaho

Trang 24

Hầu hết các cán bộ giáo viên đều gặp phải những khó khăn về kiến thức và kĩ năngsử dụng phương pháp Dosaho Do đó, hầu hết cán bộ giáo viên không vận dụng phươngpháp Dosaho thường xuyên.

* Nguyện vọng

Kết quả khảo sát cho thấy 100% cán bộ giáo viên đều muốn được tiếp tục tham giahọc Nhưng cũng có những đòi hỏi cụ thể: phải đào tạo bài bản, dài hạn; phải được thựchành nhiều hơn, được cung cấp tài liệu liên quan

2.2.2 Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng tại các cơ sở

2.2.2.1 Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chứcnăng tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

* Các lớp học

Thời gian các giáo viên tập luyện Dosaho cho trẻ trong được thể hiện trong bảng 12

và số liệu thống kê:

Bảng 12: Bảng thống kê thời gian thực hiện của giáo viên

Số lượng trẻ được luyện tập phương pháp trị liệu Dosaho còn ít , thể trong thống

kê sau: trong 9 cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho, mức độ áp dụng Dosahocho học sinh cụ thể như sau:

- Có 4 giáo viên chỉ mới áp dụng cho 1 – 2 học sinh

- Có 1 giáo viên đã áp dụng cho 3 – 4 học sinh

- Có 3 giáo viên đã áp dụng cho 5 – 6 học sinh

- Có 1 giáo viên đã áp dụng cho trên 6 học sinh

Như vậy, thời gian và số lượng trẻ được tập luyện Dosaho trong thời gian học chínhkhóa không nhiều Tuy nhiên, 100% giáo viên đều tập luyện Dosaho cho trẻ ngoài giờ Kếtquả quan sát cho thấy học sinh rất hứng thú khi được tập luyện Dosaho

Trang 25

Hình 2: Hình ảnh tập luyện Dosaho tại lớp học

* Phòng y tế

Phòng y tế của Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu được trang bị nhiều thiết bị hỗtrợ trẻ trong việc luyện tập vận động Việc tập luyện cho trẻ diễn ra hằng ngày và đangmang lại hiệu quả rõ rệt

Sau khi được tham gia tập huấn phương pháp Dosaho, cán bộ y tế đã vận dụngphương pháp này đan xen với các phương pháp khác Cách làm này đang mang lại hiệuquả rõ cao, trẻ rất hứng thú với các bài tập kết hợp này

Trang 26

Hình 3: Hình ảnh tập luyện Dosaho tại phòng y tế

Ngoài ra, cán bộ y tế cũng thừa nhận 3 dạng biểu hiện sau của trẻ:

- Nếu chỉ tập luyện phương pháp vật lý trị liệu cho trẻ thì trẻ cảm thấy mệt, nhưngvẫn hứng thú

- Nếu chỉ tập luyện phương pháp trị liệu Dosaho cho trẻ thì trẻ cảm thấy ít hứng thú

Ngày đăng: 03/06/2016, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trần Văn Bích (2006), Giáo dục hòa nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ bậc tiểu học, Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ bậc tiểu học
Tác giả: Trần Văn Bích
Năm: 2006
[3] PGT.TS. Cao Minh Châu, TS. Vũ Thị Bích Hạnh, BS. Nguyễn Thị Minh Thủy (2004), Một số dạng tật thường gặp ở trẻ em – Cách phát hiện và phát hiện trẻ , Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dạng tật thường gặp ở trẻ em – Cách phát hiện và phát hiện trẻ
Tác giả: PGT.TS. Cao Minh Châu, TS. Vũ Thị Bích Hạnh, BS. Nguyễn Thị Minh Thủy
Năm: 2004
[4] Nguyễn Xuân Hải (2009), Giáo dục học trẻ khuyết tật, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học trẻ khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Xuân Hải
Năm: 2009
[5] PGS.TS. Vũ Thị Bích Hạnh, Tự kỷ - Phát hiện và can thiệp sớm, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự kỷ - Phát hiện và can thiệp sớm
[7] TS. Nguyễn Thị Xuyên (2008), Hướng dẫn quản lý và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Hà Nội.Các trang web hỗ trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Xuyên
Năm: 2008
[2] PGT.TS.Cao Minh Châu, ThS.Nguyễn Thanh Huyền, BSCKII. Đỗ Thúy Lan, ThS Khác
[6] Lê Khanh (2004), Trẻ tự kỷ – Những thiên thần bất hạnh, Nhà xuất bản Phụ Nữ, Tp.Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w