Phương pháp xin ý kiến chuyên gia Xin ý kiến chuyên gia về tính phù hợp và hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho giáo viên tiểu học.. Chí
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Đà Nẵng, tháng 06 năm 2011
Sinh viên
Phạm Thị Ánh Tuyết
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 3chúng tôi thực hiện những khảo sát trong đề tàiạm Thị Ánh Tuy
3 Bảng 3.1 Quy trình hỗ trợ GV DHHN lập kế hoạch giáo
dục cá nhân cho TTK của phòng hỗ trợ hòa nhập
56
4 Bảng 3.2 Xin ý kiến chuyên gia 57
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Theo thống kê của dịch tễ học, tự kỷ là một rối loạn tâm lí sớm ở trẻ em, chiếm khoảng 4 – 5/ 10000 trẻ, trong đó có ½ trẻ có bệnh cảnh tự kỷ điển hình và ¾ trẻ có giới tính nam Từ năm 2000 trở lại đây, trẻ tự kỷ xuất hiện ngày càng đông, năm sau cao gấp 2, 3 lần năm trước Ở Việt Nam, hội chứng tự kỷ mới được chẩn đoán gần 10 năm trước nhưng đến nay, số lượng người tự kỷ đã có khoảng hơn 200.000 người
Ngày nay, hiện tượng tự kỷ đang là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội Đây là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển xâm nhập ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển của trẻ nhưng nhiều nhất là về kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội Đây là một tình trạng khiếm khuyết phức tạp về khả năng phát triển của não bộ tiến triển trong ba năm đầu của trẻ, có thể xảy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào mà không phụ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ của cha mẹ (Theo tuyên ngôn trong hội nghị về sức khoẻ tại Alma Ata 1978)
Mặc dù cho đến nay, rối loạn tự kỷ đã không còn xa lạ với nhiều người, nhưng nhận thức của mọi người về dạng rối loạn này chưa rõ ràng Chính vì vậy, khi đến trường học, trẻ tự kỷ nghịch ngợm, phá phách thái quá sẽ bị liệt vào dạng “học sinh
cá biệt”, thường xuyên bị phê bình và phạt lỗi Còn trẻ chậm nói, ít giao lưu với bạn
bè sẽ bị cho là chậm phát triển trí tuệ và ngôn ngữ, nhiều khi bị cô lập, tẩy chay trong lớp học, điều này khiến cho bệnh của trẻ sẽ ngày càng trầm trọng hơn TTK cũng có quyền được học tập như mọi trẻ em khác Ngoài những khó khăn và hạn chế mà TTK gặp phải, trẻ cũng có những điểm mạnh, có những nghiên cứu đã phát hiện rằng, 10% trẻ tự kỷ có biệt tài nào đó Một số trẻ có tài năng phi thường về nhạc, họa, điêu khắc, tính toán dù không hề được học hay luyện tập Một số trẻ có những khả năng đặc biệt, ví dụ tự biết đọc (đọc trơn, không đánh vần), xếp hình giỏi, tính nhẩm siêu nhanh, v.v…
Hiện nay, tuy chưa có thống kê nào về số lượng TTK được đi học tại các mô hình trường lớp Nhưng hầu hết TTK ít được nhận vào học tại các trường hòa nhập Hoặc một số TTK phải bỏ học giữa chừng vì gặp rất nhiều khó khăn trong việc
Trang 6theo học các chương trình ở lớp Nhưng nếu được giáo dục trong môi trường hòa nhập, TTK có thể tiến bộ hơn, các tiềm năng của trẻ được khơi dậy và phát triển tốt hơn Khi tới trường hòa nhập, TTK gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, TTK cần sự cảm thông, giúp đỡ của giáo viên – người gần gũi nhất với trẻ ở trường Đặc biệt, trong giai đoạn đầu đến trường, nếu trẻ có sự hỗ trợ của một giáo viên chuyên ngành giáo dục hoà nhập hoặc giáo viên có hiểu biết về hội chứng tự kỷ, trẻ sẽ nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu để tiếp tục học tập Đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy có vai trò quyết định hiệu quả của giáo dục hoà nhập Nhưng theo thống kê của Vụ Giáo dục Tiểu học – Bộ GD&ĐT cho đến nay, mới có khoảng hơn 6000 giáo viên tiểu học được bồi dưỡng chuyên môn dạy học hòa nhập trẻ khuyết tật theo các chương trình dự án (chiếm chưa đầy 2%)
Thành phố Đà Nẵng là một trong những thành phố quan tâm nhiều tới công tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục hòa nhập Tuy nhiên, vấn đề quan tâm tới công tác này vẫn còn thiên lệch, chủ yếu chú trọng vào khu vực trung tâm thành phố Quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng là là một quận nằm ở vùng ven Đây là địa bàn chịu nhiều ảnh hưởng của chất độc màu da cam do chiến tranh, thiên tai bão lụt, ô nhiễm môi trường do gần khu công nghiệp… nên tỉ lệ học sinh khuyết tật cũng thuộc loại cao của thành phố Đà Nẵng Địa bàn có 13 trường tiểu học trong đó đã có tới 109 trẻ khuyết tật được học hoà nhập Chất lượng giáo dục hòa nhập, đặc biệt là năng lực của giáo viên còn đang bỏ ngỏ, chưa có một cuộc khảo sát nào cũng như tìm ra biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn quận
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp bồi dưỡng kiến
thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho giáo viên tiểu học quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng về kiến thức, kỹ năng dạy TTK học hòa nhập của giáo viên, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp bồi dưỡng cho giáo viên kiến thức, kỹ năng dạy TTK học hòa nhập
Trang 73 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy hòa nhập TTK cho GV tiểu học
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hòa nhập cho TTK
4 Giả thuyết khoa học
Kiến thức, kỹ năng DHHN TTK của GV sẽ được nâng cao nếu thực hiện đồng
bộ các biện pháp: Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức, kỹ năng DHHN cho GV tiểu học dưới nhiều hình thức; Xây dựng phòng hỗ trợ hòa nhập tại các trường tiểu học
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu một số lý luận về dạy học hòa nhập TTK
+ Nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng về kiến thức, kỹ năng của giáo viên dạy hòa nhập TTK trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
+ Trên cơ sở thực tiễn đưa ra những biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho giáo viên dạy hòa nhập TTK
- Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên khách thể là giáo viên tiểu học trong các trường tiểu học Hồng Quang, trường tiểu học Hải Vân, trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
Thời gian: Từ tháng 01/ 2011 đến tháng 05/2011
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận chung cho vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 8- Mục đích : Đây là phương pháp nhằm tìm hiểu sâu về kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ của giáo viên.
- Nội dung : Trao đổi với giáo viên về hiểu biết về hội chứng tự kỷ, đặc điểm của trẻ tự kỷ trong lớp của họ Nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ mà giáo viên đã áp dụng
- Đối tượng : Giáo viên dạy học hòa nhập TTK
6.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
- Mục đích : Đây là phương pháp nhằm thu thập thông tin về kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ của giáo viên
- Nội dung : Quan sát giờ dạy của giáo viên trong lớp hòa nhập TTK
- Đối tượng : Giáo viên dạy học hòa nhập TTK
6.2.3 Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ
- Mục đích : Điều tra hồ sơ trẻ nhằm tìm hiểu về đặc điểm và những tiến bộ của trẻ Từ đó, xác minh những thông tin thu được sau khi phỏng vấn sâu giáo viên
- Nội dung : Điều tra Kế hoạch GDCN; sổ theo dõi sự tiến bộ hàng tháng của trẻ; các bài kiểm tra trong năm học của trẻ
6.3 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về tính phù hợp và hiệu quả của các biện pháp bồi
dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho giáo viên tiểu học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 3 chương nội dung chính
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ
Chương 2: Thực trạng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ của giáo viên quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho giáo viên tiểu học
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC HÒA NHẬP TRẺ TỰ KỶ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.1.1 Trên thế giới
Những nghiên cứu về TTK: Năm 1943, bác sĩ Leo Kanner (người Mỹ gốc Áo)
đã công bố nghiên cứu của mình về TTK, nghiên cứu này đã làm cho mọi người biết đến sự hiện diện của dạng tật này trong xã hội Sau phát hiện của bác sĩ Konner, sự quan tâm của giới khoa học về hội chứng TK ngày càng gia tăng Đã có nhiều nghiên cứu giải thích về căn nguyên của TK và mô tả chi tiết những hành vi thực sự của những trẻ này Sau đó, nhiều phương pháp trị liệu và giáo dục đã ra đời góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của những TTK Các nghiên cứu như: cách tiếp cận D.I.R (Developmental, Individual-Difference, Relationship-based ) của tiến
sĩ Greenspan và tiến sĩ Wieder, phương pháp ABA, phương pháp Teach, Những phương pháp này chủ yếu được áp dụng đối với môi trường chuyên biệt hoặc chăm sóc, giáo dục tại gia đình Chúng rất khó áp dụng để dạy học tại các lớp hòa nhập.Nghiên cứu về vấn đề đào tạo đội ngũ GV: Dự án GV cho thế kỷ mới ( Teacher for New Era Project – TNE ) là sáng kiến của Tổ chức Carnegic 2002 (Mỹ ) với 4
cơ sở đào tạo GV tham gia Mục tiêu của Dự án là thiết lập những thay đổi cần thiết để thúc đẩy việc đào tạo những GV biết quan tâm, có năng lực và giảng dạy có hiệu quả Ở Mỹ những năm gần đây có nhiều công trình dành cho vấn đề nội dung đào tạo GV: Nghiên cứu của Wilson và đồng nghiệp (2001) thuộc Bang Michigan giải quyết một số vấn đề về nội dung đào tạo GV : Đào tạo về bộ môn, mức độ của người GV tương lai, đào tạo về mặt nghiệp vụ sư phạm,…
1.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về TTK: Ở Việt Nam, hội chứng TK được quan tâm khoảng 15 năm trở lại đây, các khoa tâm thần của một số bệnh viện trên toàn quốc bắt đầu có những báo cáo và nghiên cứu về TTK TTK đã bước đầu được trị liệu bằng phương pháp giáo dục đặc biệt tại các trung tâm chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật ở các trường giáo dục chuyên biệt của các tỉnh và thành phố trên cả nước
Trang 10Một số công trình như: “Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộng đồng tại Bệnh viện Nhi đồng 1” do bác sỹ Phạm Ngọc Thanh, Đơn vị Tâm Lý, bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện, tác giả cho thấy một phần thực trạng của TTK và bước đầu hướng dẫn can thiệp trị liệu TTK cho phụ huynh
Với mục đích nhằm giúp TTK tiến bộ, tác giả Nguyễn Thị Diệu Anh và cộng
sự tại Đơn vị Tâm lý, bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện nghiên cứu: “Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ” Trong nghiên cứu này, tác giả đã cho thấy tính hiệu quả của phương pháp TEACH trong trị liệu TTK
Gần đây, khóa luận tốt nghiệp của Đặng Thị Tâm, sinh viên lớp 06SDB, khoa Tâm lý – giáo dục, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã nghiên cứu đề tài “Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh mắc rối loạn tự kỷ ở các trường tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng” Trong phạm vi đề tài này, tác giả đã khảo sát số lượng TTK đang học tại 3 trường tiểu học: Hải Vân, Hồng Quang và Nguyễn Văn Trỗi, bước đầu phát hiện ra những khó khăn về mặt giao tiếp của học sinh mắc chứng TK Đây chính là cơ sở nền tảng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề giáo dục hòa nhập TTK trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu về đào tạo đội ngũ giáo viên: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện
Dự án “ Phát triển giáo viên tiểu học “ được triển khai từ năm 2002 đến 2006 Dự
án tập trung giải quyết các vấn đề sau : Nghiên cứu xây dựng Chuẩn nghề nghiệp
GV tiểu học; Nghiên cứu xây dựng các giáo trình đào tạo GV tiểu học trình độ CĐSP và các giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học; nghiên cứu chế
độ chính sách đối với GV tiểu học Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “ Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 ” Một trong các nội dung của Đề án là đánh giá thực trạng đội ngũ GV Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (nay là Viện Khoa học giáo dục Việt Nam ) phối hợp với các địa phương thực hiện nhiệm vụ này Kết quả khảo sát đã giúp cho việc đề xuất các biện pháp đổi mới đào tạo, bồi dưỡng GV Tuy nhiên, các biện pháp vẫn chưa mang tính cải cách và cho đến nay vẫn chưa có sự đánh giá kết quả
Trang 11của đề án Chính vì vậy các địa phương cần phải có các đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ GV phổ thông của địa phương mình.
Qua các nghiên cứu, vẫn chưa có một đề tài cũng như phương pháp cụ thể nào
về việc dạy học hòa nhập TTK cho GV tại các trường tiểu học Chưa có những hướng dẫn cụ thể nào về các bước thực hiện dạy học hòa nhập cho GV, theo dõi và đánh giá sự tiến bộ của trẻ Với hầu hết các địa phương, việc DHHN TTK vẫn còn
là một bài toán chưa có lời giải
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Dạy học hòa nhập
Dựa trên khái niệm giáo dục hòa nhập, chúng tôi đưa ra khái niệm dạy học hòa nhập như sau: DHHN là cách thức dạy học trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống DHHN chú ý cải thiện môi trường sao cho đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi HS, kể cả
HS có khó khăn đặc thù
1.2.2 Trẻ tự kỷ
Trong gần một thế kỷ qua, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu và kết luận khác nhau về tự kỷ Những khái niệm cũng như các phân loại của loại rối nhiễu này rất đa dạng và đã trải qua nhiều thay đổi theo thời gian Xin được trích dẫn một
số quan niệm cổ điển và hiện đại của các nhà khoa học về tự kỷ
Quan niệm của Kanner: “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống”.Theo bộ bách khoa của Collie: “Tự kỷ là một rối loạn rất nặng về sự phát triển tâm lý của trẻ em đặc tính chủ yếu là không đáp ứng với người khác và thiếu sự giao tiếp”
Quan niệm của M Mahler và Franes Tustin: “Tự kỷ là biểu hiện cho sự không bình thường xuất phát từ mối quan hệ mẹ con, đó là một cách thức phòng vệ như
Trang 12một cái vỏ bọc gắn với xu hướng bẩm sinh tự bảo vệ khỏi những kinh nghiệm lo hãi ghê sợ từ sự chia cắt với cơ thể mẹ”.
Quan niệm của trường phái nhận thức: “Tự kỷ là những sự thiếu hụt liên quan tới các quá trình tượng trưng hóa, nhất là về trí nhớ và những suy yếu trong sự bộc
lộ hoặc trong sự thấu hiểu tình cảm”
Như vậy có nhiều khái niệm về trẻ tự kỷ Tuy nhiên các khái niệm này không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh về TTK
Theo chúng tôi, học sinh mắc rối loạn tự kỷ là những học sinh có những rối loạn phát triển lan tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác Có 5 phân nhóm chuẩn đoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình, hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối loạn phân
rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa – không điển hình
1.3.1 Đặc điểm phát triển của trẻ tự kỷ
1.3.1.1 Cảm giác, tri giác
TTK hoặc rất nhạy cảm hoặc kém nhạy cảm với mọi thứ xung quanh Trẻ có thể liếm và ngửi người khác như một món đồ ăn Một số trẻ khác thì lại có phản ứng rõ rệt khi bị người khác đụng đến mình và có ai tỏ ý muốn vuốt ve thì chúng lùi
ra xa, có trẻ lại tỏ ra quá nhạy cảm với một số mùi, có trẻ lại rất ghét khi đụng chạm đến quần áo của chính mình
Có những trẻ không cảm thấy nóng hay lạnh và trong mùa nóng vẫn có thể mặc áo len hoặc ăn mặc phong phanh khi trời lạnh Một trong những đặc điểm đáng ngạc nhiên nhất là trẻ tỏ ra không biết đau, có nhiều trẻ bị gãy xương, sưng răng,
Trang 13đau bụng hay bị các vết trầy xướt cũng không hề kêu ca gì, khi chúng tự mình làm đau cũng không tìm đến người lớn để được chăm sóc Ngược lại, cũng có trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi xước một chút xíu là cũng đủ để trẻ la toáng lên, điều này gây trở ngại rất lớn cho những người chăm sóc trẻ.
1.3.1.2 Tư duy, tưởng tượng
Một TTK không sử dụng trí tưởng tượng của mình khi chơi với đồ chơi và thay vì nhận thức những đồ vật trong tình trạng toàn vẹn của chúng, thì trẻ có thể quá chú ý đến một chi tiết nhỏ của một món đồ chơi, một con người hay một đồ vật nào đó Chẳng hạn khi chơi với một bộ phận nhỏ, như cái bánh xe hay bộ phận giảm xóc hơn là dùng nó như một chiếc xe lửa để chơi
Một TTK có thể đeo đuổi những hoạt động thu hút trí tưởng tượng, như đọc sách, song những sinh hoạt này có tính lặp đi lặp lại và rập khuôn Thí dụ: trẻ có thể đọc đi đọc lại chỉ một cuốn sách duy nhất hay cứ xem mãi một cuốn phim
Các trẻ mắc rối loạn tự kỷ hầu như không biết chơi các trò chơi giả vờ và các hoạt động tưởng tượng một cách giống như các trẻ khác Chúng cầm các đồ chơi hay các đồ vật khác lên chỉ là để có cảm giác về sự đụng chạm, hay số khá hơn có thể sử dụng các món đồ chơi công cụ thu nhỏ như bộ làm bếp, hay cho xe lửa chạy trên đường ray, nhưng cũng rất đơn giản ở một số động tác
1.3.1.3 Giao tiếp
Trẻ thường không có khả năng bắt đầu và duy trì hội thoại với những người có ngôn ngữ bình thường Không chơi các trò chơi tự phát hoặc trò chơi bắt chước, đóng vai phù hợp với lứa tuổi phát triển
Trẻ thường thiếu tính tự phát hay tưởng tượng, không bắt chước được người khác, không tự chế biến trò chơi, thích một mình hơn là chơi với trẻ khác, không thích kết bạn, ít tác động như cười hay nhìn thẳng mắt người khác
1.3.1.4 Ngôn ngữ
TTK thường thiếu hụt khả năng ngôn ngữ thể hiện ở: chậm hoặc hoàn toàn thiếu phát triển ngôn ngữ nói Không hiểu những tín hiệu ngôn ngữ phụ như sự diễn
Trang 14tả bằng nét mặt và cử chỉ, là khó khăn của TTK, đó giống như là một khiếm khuyết
“thực sự” và gây ra rất nhiều khó khăn trong việc học ngôn ngữ của trẻ tự kỷ
Những trẻ này thường có ngôn ngữ rập khuôn và lặp lại hoặc đặc trưng một cách kỳ quặc: tính nhại lời là một trong những bất thường hay thấy nhất ở TTK Khoảng 80% tất cả các TTK nói được thường biểu lộ của tật này, trẻ nói được nhiều chừng nào thì đỡ nhiều chừng ấy về mặt lặp lại câu nói, nhưng đến nay người ta vẫn chưa biết được tại sao chứng tự kỷ lại sinh ra tật nhại lời Có 2 mẫu nhại lời cơ bản: nhại lời ngay lập tức và nhại lời trì hoãn
1.3.1.5 Tương tác xã hội
TTK thường có sự thiếu hụt khả năng sử dụng hành vi phi lời nói như giao tiếp
- mắt – mắt, biểu lộ mặt, biểu lộ cơ thể, cử chỉ để thực hiện tương tác xã hội
Thường thì TTK dường như không hiểu hoặc thậm chí không chú ý chút nào
và không ý thức được những cử chỉ mà cha mẹ dùng để chỉnh đốn hành vi của chúng Cử chỉ nét mặt có thể là hình thức giao tiếp vô thức nhất sử dụng với trẻ để giao tiếp một số thứ với “tín hiệu” cảm xúc khẳng định hoặc phủ định ở mức độ cao
Những khó khăn trong việc tiếp nhận của trẻ thường đi kèm với việc không có khả năng sử dụng cử chỉ, ánh mắt hoặc nét mặt để diễn tả suy nghĩ một cách rõ ràng Thiếu khả năng để chỉ trỏ đặc biệt là để diễn tả bằng cử chỉ, thông thường có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng lĩnh hội thông tin từ thế giới xung quanh trẻ
TTK thường không tương tác bằng mắt và không nhận những tín hiệu Không
có khả năng xây dựng các mối quan hệ bạn bè phù hợp với lứa tuổi Thiếu sự chủ động chia sẻ niềm vui, hứng thú, thành công với người khác: Ngoài việc không nhìn theo hoặc không chú ý đến những cử chỉ chỉ tay của người khác, trẻ cũng khó khăn trong việc bắt chước cử chỉ của họ, thay vì đổi hướng nhìn hay nghiêng đầu thì chúng vẫn giữ nguyên ánh mắt vào một điểm cố định, cho cảm tưởng là chúng không ghi nhận hay hiểu ý nghĩa cử chỉ của người khác
Với TTK, mọi thứ đều khó khăn đối với chúng Chúng không thích bất kỳ ai, chúng không muốn nhìn nhận mọi việc qua cách nhìn của người khác và khiếm khuyết về ngôn ngữ là một tính chất căn bản của chứng tự kỷ Gần một nửa số
Trang 15người tự kỷ không có được ngôn ngữ cũng như không thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp một cách thông thường và đơn giản.
1.3.1.6 Hành vi
Một số trẻ có thể quá họat động và một số trẻ lại thụ động Trẻ có thể nổi cơn thịnh nộ mà không có lý do Trẻ không có khả năng tự ý bày trò chơi hoặc quá trì chí vào một vật, ý tưởng, hành động hay một người nào Trẻ thiếu khả năng suy xét
Có thể tỏ gây hấn với người hay chính mình Đặc biệt, trẻ rất khó chấp nhận thay đổi trong lễ thói hằng ngày
1.3.1.7 Thể chất
TTK có sự phát triển thể chất theo đường lối rõ ràng như những trẻ bình thường khác và phù hợp với lứa tuổi Thậm chí giữa trẻ bình thường và TTK, ta không thể phân biệt được sự khác nhau về thể chất giữa hai trẻ này
Trẻ tự kỷ không giống như các trẻ mắc các tật khác như: Chậm phát triển trí tuệ, khiếm thính, khiếm thị có những đặc điểm nổi bật về sự phát triển thể chất khác với trẻ bình thường Do nguyên nhân gây ra các khuyết tật này là do bẩm sinh hay di truyền ảnh hưởng tới não bộ gây nên sự phát triển không bình thường về thể chất của trẻ
Với TTK ngoài sự phát triển không bình thường về ngôn ngữ, hành vi và trí tuệ thì thể chất của các em phát triển hoàn toàn bình thường Đó là những đứa trẻ nhìn bề ngoài không ai nói các em mang trong mình loại tật nào cả, và khi tiếp xúc với các em ta mới phát hiện được sự không bình thường ở các em
1.3.2 Những điểm mạnh và khó khăn của TTK khi học hòa nhập
1.3.2.1 Điểm mạnh
- TTK thường có thể chất hoàn toàn bình thường
Nhìn bề ngoài, TTK không có khuyết tật về thực thể nên trẻ có khả năng tới trường và tham gia các hoạt động cùng với các bạn trong lớp
- Một số TTK nhẹ có khả năng nhận thức trên mức trung bình
Một số trẻ có khả năng phát triển trí tuệ bình thường, có mức độ nhận thức, hiểu biết gần như trẻ bình thường và có thể tham gia vào lớp học phổ thông
Trang 16- TTK có trí nhớ máy móc
Có thể xem đây là điểm mạnh của trẻ, vì khi trẻ đã thích sự vật hay sự kiện gì thì trẻ nhớ rất lâu và chi tiết Nhiều trẻ có thể nhớ ngõ ngách đường đi một cách chính xác khi chỉ đi qua một lần, có những trẻ nhớ lời bài hát và âm nhạc khi trẻ mới nghe qua, những trẻ khác có thể đọc thuộc lòng một quyển truyện đến mức không thiếu cả dấu chấm, dấu phẩy , …
- Một số trẻ có những khả năng đặc biệt
Theo Tiến sĩ Lã Thị Bưởi, trưởng phòng khám TUNA, Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng cho biết khoảng 10% trẻ tự kỷ có những khả năng đặc biệt Theo thống kê của Trung tâm Sao Mai, nhiều trẻ tự kỷ có những dấu hiệu như sớm biết đọc, biết làm toán
- Có sở thích nhất định
Mỗi trẻ tự kỷ đều thích hoặc không thích một thứ gì đó, vì thế khi tới trường,
GV có thể tìm hiểu xem trẻ thích hoặc không thích gì, để điều chỉnh đáp ứng, giáo dục
1.3.2.2 Khó khăn
- Hầu hết TTK trí tuệ dưới trung bình
Trong một nghiên cứu của Sandra (2000) cho là hầu hết TTK có khả năng phát triển trí tuệ dưới mức bình thường, có khoảng 70% trẻ tự kỷ bị chậm phát triển trí tuệ và 30% còn lại là trung bình và trên trung bình Những trẻ có khả năng nhận thức bình thường có thể làm chủ nhiều bài tập ở chương trình học phổ thông Còn hầu hết, trẻ không thể theo học chương trình như trẻ bình thường Vì vậy, khi tới trường học hòa nhập, trẻ rất khó khăn khi học cùng các bạn khác
- Trẻ khó có thể hòa nhập
TTK muốn đóng kín thế giới riêng của mình, không quan tâm đến thế giới xung quanh, không muốn giao tiếp liên lạc với người khác Do đó trẻ tự kỷ rất hạn chế trong việc hiểu biết môi trường xung quanh, các chuẩn mực xã hội nói chung và những quy tắc, kĩ năng ứng xử qua lại giữa con người Về hành vi ứng xử trẻ cũng gặp những trở ngại nhất định: không quan tâm đến những chuẩn mực xã hội hiện
Trang 17hành; trong mọi nơi, mọi lúc, mọi tình huống trẻ thích hành động theo thói quen hơn là ứng phó hành vi phù hợp với hoàn cảnh; luôn có những hành vi kì cục, bất thường Vì vậy, khi học ở trường trẻ không thể chấp hành theo các quy tắc, nội quy được áp dụng cho những học sinh bình thường ở trường.
- Khó khăn trong giao tiếp
TTK có những đặc điểm như khó khăn giao tiếp, không quan tâm đến những người xung quanh, hạn chế trong hiểu và biểu hiện xúc cảm, tình cảm, khiếm khuyết về tinh thần, gây ra những biểu hiện bất thường về xúc cảm - tình cảm; hành
vi, ứng xử xã hội sai lệch; ngôn ngữ và nhận thức không phù hợp với thực tế Do
đó, TTK rất khó hòa nhập với các bạn cùng lớp, dễ bị các bạn xa lánh, tẩy chay
- Chậm phát triển ngôn ngữ
Hầu hết TTK bị chậm nói, chậm phát triển ngôn ngữ, trẻ thường phát ra những
âm thanh vô nghĩa khiến người khác không hiểu được Đây là một khó khăn cho trẻ khi tới trường GV không chỉ dạy cho trẻ học kiến thức và các kỹ năng xã hội mà còn phải dạy cho trẻ “học nói”
- Hành vi lặp đi lặp lại
TTK thường có những hành vi định hình, lặp đi lặp lại một cách bất thường, không muốn thay đổi thói quen hàng ngày Nên khi đến trường, mọi thứ với trẻ cũng phải định hình, có thể trẻ chỉ ngồi một chỗ, hoặc muốn làm một việc trong suốt cả buổi học
- Nhu cầu nghèo nàn
Với thói quen và sở thích nghèo nàn này, TTK không có nhu cầu khám phá thế giới và dẫn đến hạn chế nghiêm trọng trong nhận thức và hiểu biết đồ vật xung quanh Nên khi tới trường, trẻ khó có thể tiếp thu những khái niệm mới, kiến thức xung quanh
- Không hiểu những khái niệm trừu tượng
TTK khó khăn trong hiểu những khái niệm trừu tượng, kỹ năng khái quát rất hạn chế, trẻ không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai như trẻ bình thường; ngay cả khi TTK lớn và có ngôn ngữ thì trẻ cũng khó hiểu những câu nói
Trang 18mang hàm ý ẩn dụ, câu nói bóng gió, chỉ hiểu nghĩa đen, ý nghĩa trực tiếp của câu nói; trẻ không biết nói đùa, và không phân biệt giữa những lời nói dối và nói thật Trẻ không thể lĩnh hội những khái niệm hay những biểu tượng mà giáo viên hướng dẫn.
- Khó khăn trong tiếp thu kiến thức
Như chúng ta đã biết, sự lĩnh hội tri thức của trẻ em chủ yếu xảy ra theo ba con đường là tập nhiễm, bắt chước và giáo dục Trong đó, kiến thức thông qua con đường tập nhiễm và bắt chước lớn gấp nhiều lần thông qua con đường giáo dục Khác với trẻ bình thường, khả năng bắt chước và tập nhiễm của TTK là rất hạn chế;
do đó muốn nâng cao khả năng nhận thức cho TTK sẽ chủ yếu thông qua con đường giáo dục Do đặc điểm nhận thức của TTK không giống như trẻ bình thường, nên hình thức giáo dục đối với TTK sẽ là chương trình can thiệp đặc biệt, chương trình này khác xa so với giáo dục bình thường ở trẻ bình thường Khi tới trường, nhiều GV chưa có kiến thức về giáo dục hòa nhập TTK hoặc không có điều kiện nên không thể áp dụng chương trình can thiệp đặc biệt cho trẻ Vì vậy, việc trẻ tới trường là không đạt được hiệu quả
- Khó khăn trong nhận thức các tình huống xã hội
Hầu như TTK không thích giao tiếp cũng như trải nghiệm các tình huống xã hội, trẻ thích chơi một mình hơn là phải chơi với các bạn khác Chính vì lý do đó
mà trẻ không bao giờ quan tâm đến việc học các chuẩn mực xã hội cũng như những
kỹ năng ứng xử với con người Động cơ thúc đẩy hành động của trẻ tuyệt đối xuất phát từ sở thích bản thân, không liên quan sở thích chung của mọi người, các giá trị cũng như chuẩn mực xã hội khiến người khác phải quan tâm học hỏi thì đối với TTK không có ý nghĩa gì Chính vì lý do đó mà TTK luôn được coi là kỳ cục và lạ lẫm so với các bạn cùng lớp, ngay cả khi TTK có khả năng trí tuệ cao thì sự kỳ lạ trong tính cách cũng không thể che dấu
- Khả năng ý thức sự tự phục vụ kém
Do TTK không quan tâm đến hướng dẫn của cha mẹ và cô giáo đồng thời trẻ thích làm theo ý của mình, vì điều này nên các nhà trị liệu và gia đình gặp khó khăn trong việc dạy trẻ biết sạch sẽ và tự phục vụ bản thân
Trang 19- Dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác
- Dạy học hòa nhập sẽ tạo ra được cho trẻ kiến thức chung, tổng thể, cân đối Muốn thế, phương pháp dạy học phải có hiệu quả và đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của HS
- Muốn dạy học có hiệu quả, kế hoạch bài giảng phải cụ thể, chú trọng phương pháp học hợp tác Phải biết lựa chọn phương pháp và sử dụng đúng lúc: phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháp trùng lập giáo án, phương pháp thay thế, phương pháp cá biệt
Trang 20Nếu cứ sống và học tập mãi với bạn bè khuyết tật, TTK sẽ không bao giờ khám phá ra những khả năng tiềm tàng mà chúng có Vì vậy, việc học tập trong một lớp hòa nhập với trẻ bình thường giúp cho trẻ hiểu đúng về năng lực của mình, từ
đó chúng có thể tìm được cách phát huy những tiềm năng này và tự phát triển Việc hòa nhập TTK giống như một thứ nhớt làm trơn quá trình lĩnh hội những kỹ năng sống của chúng
Một số khuyết tật không chẩn đoán được cũng được khám phá thông qua chương trình hòa nhập trước tuổi học Có một số khuyết tật không nhận biết được một cách rõ ràng cho đến khi trẻ gia nhập trường tiểu học và do vậy rất nhiều thời gian học tập bị đánh mất Giáo viên mầm non có thể quan sát và so sánh nhiều trẻ cùng độ tuổi Điều này làm cho việc phát hiện những vấn đề cho thấy triệu chứng của một khuyết tật nào đó trở nên dễ dàng hơn Nhất là với một dạng tật rất mới và khó phân biệt như tự kỷ
- Dạy học hòa nhập giúp đỡ trẻ bình thường
Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không khuyết tật nữa Chúng học cách vui vẻ tiếp nhận những sự khác biệt đặc biệt của con người Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, thái độ của trẻ đối với TTK có thể trở nên tích cực hơn khi chúng có
cơ hội chơi chung với nhau một cách thường xuyên Chúng học được rằng TTK, cũng như chúng, có thể làm một số việc tốt hơn những việc khác Trong một lớp hòa nhập, chúng có cơ hội làm bạn với nhiều trẻ khác nhau
Chúng ta biết rằng, sự thân ái là viên gạch đầu tiên giúp xây dựng lòng nhân hậu và vị tha cho trẻ Do đó, khi học trong cùng một lớp với TTK, trẻ bình thường
sẽ học được cách nhìn nhận một cách rộng lượng và đối xử nhân hậu với TTK Cũng chính vì vậy, chúng sẽ làm giàu được vốn sống của mình
Đương nhiên, một số trẻ không tỏ ra thân thiện, nhưng đây không phải là vấn
đề chỉ xảy ra với TTK Đó không phải là lý do để né tránh lớp học, lại càng không phải lý do để lẩn tránh cả thế giới còn lại Dù sao đi nữa thì TTK cũng cần được tiếp cận với cuộc sống bình thường, bởi vì một lẽ: “Cuộc sống là một món quà phải được mở bởi chính đôi bàn tay của chúng”
1.4.3 Những nguyên tắc cơ bản của DHHN TTK
Trang 21Dạy học hòa nhập TTK, ngoài việc tuân theo những nguyên tắc chung của giảng dạy phổ thông còn phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- TTK cần có hiểu biết chung về tình trạng hiện tại, về những điều sẽ đến và ảnh hưởng tới chúng Trong khi trẻ chậm phát triển trí tuệ cần sự đơn giản hoá thì TTK lại cần có sự rõ ràng để trẻ có thể hiểu được thế giới xung quanh Phương châm quan trọng nhất trong hướng dẫn TTK là: làm mọi thứ trở nên rõ ràng bằng cách tạo ra cho trẻ một mô hình cần thiết trong cuộc sống của chúng Việc biết được những điều sẽ đến và nhận thức được mô hình cuộc sống quen thuộc này sẽ là cơ sở
an toàn cho rất nhiều TTK Khi nhu cầu dự đoán trước và mô hình này bị phá vỡ, TTK thường rơi vào tình trạng lo lắng cao độ
- Một đặc điểm của TTK là chúng không hiểu và rất kém thích ứng đối với sự thay đổi và những tình huống mới lạ Do vậy, trong giáo dục đặc biệt cho các trẻ này, GV thông thường phải xây dựng một chương trình mang tính cấu trúc hoá cao Tính cấu trúc hoá thể hiện ở các mặt: không gian, thời gian, hoạt động và con người
- Trong dạy học TTK, cần:
+ Dạy học sao cho mỗi trẻ đều phải tìm hiểu cho mình những kiến thức mới tùy theo năng lực và nhu cầu của bản thân Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy hòa nhập, nó đòi hỏi người dạy cần tổ chức cho mọi trẻ đều có điều kiện và có cơ hội để lĩnh hội kiến thức mới
+ Mỗi trẻ, kể cả TTK, đều có những năng lực riêng Trong giảng dạy hòa nhập cần tạo điều kiện để phát triển những năng lực sẵn có, đặc biệt đối với TTK nó
là cơ sở để trẻ có thể học tập
+ Mỗi trẻ đều có năng lực, nhu cầu khác nhau và do đó sau bài học, kết quả học tập cũng có thể khác nhau Cho nên việc đánh giá kết quả sau bài học cũng không thể giống nhau, nó khác nhau ở từng trẻ do điểm xuất phát khác nhau
1.4.4 Mục tiêu của DHHN TTK
DHHN dựa trên quan điểm tích cực, đánh giá đúng TTK và các em được nhìn nhận như mọi trẻ em khác Theo quan điểm này thì mọi trẻ em đều có những năng
Trang 22lực nhất định Chính sự nhìn nhận này mà TTK được coi như là chủ thể chứ không phải đối tượng thụ động của các tác động giáo dục Từ đó, người ta quan tâm tập trung tìm kiếm những cái mà trẻ có thể làm được Các em sẽ làm tốt khi những việc
đó phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em Xuất phát từ mục tiêu giáo dục cho trẻ có nhu cầu đặc biệt, mục tiêu cụ thể của công tác giáo dục TTK lứa tuổi tiểu học là: Giúp trẻ có thể thích ứng với các môi trường khác nhau (gia đình, nhà trường, trung tâm và xã hội), trẻ có thể hòa nhập cộng đồng, trẻ chấp nhận được người khác
và được người khác chấp nhận, phát triển hết khả năng của trẻ, giúp trẻ giải tỏa những cảm xúc ức chế Trên cơ sở đó, giúp trẻ có thể sống độc lập và hòa nhập xã hội
1.4.5.2 Hình thành kỹ năng xã hội
Trang 23Một trong những khiếm khuyết của TTK là không biết tạo lập mối quan hệ
xã hội Trẻ gặp khó khăn trong mối quan hệ ứng xử với mọi người xung quanh Việc hình thành kỹ năng xã hội sẽ giúp trẻ được mọi người chấp nhận và tôn trọng
TTK không nhìn nhận và đón nhận người khác như một chủ thể giống như mình, có khả năng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, cùng bao nhiêu kinh nghiệm và cảm nghiệm trong đời sống thường ngày Trái lại, TTK dùng những người khác như
là một công cụ, một phương tiện được các em dùng để đạt được mục đích Ví dụ, trẻ chỉ cầm tay người khác, dẫn người khác đi lấy nước cho mình thay vì dùng lời nói hay cử chỉ, để diễn tả nhu cầu và nguyện vọng Trong thực tế, với những trẻ có khả năng nói, phát âm và đọc chữ,…ngôn ngữ vẫn không phải là một công cụ để tạo mối quan hệ Vì vậy, cần phải hình thành cho TTK những kỹ năng xã hội
1.4.5.3 Phát triển kỹ năng giao tiếp
Khó khăn trong giao tiếp và sử dụng lời nói là nét đặc trưng của TTK Mối quan hệ xã hội giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ rất nhiều Môi trường xã hội là môi trường quan trọng để trẻ có thể hiểu được ý nghĩa của việc giao tiếp Do thiếu hụt
về mối quan hệ xã hội nên giao tiếp trở thành một vấn đề đối với TTK Sự thiếu hụt này khiến TTK gặp khó khăn trong việc phát triển vốn từ, sử dụng cấu trúc câu và đặc biệt là mẫu câu đã được đặt vào các ngữ cảnh khác nhau Vì việc giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn nên TTK thường cố gắng tìm mọi cách để thể hiện nhu cầu của bản thân mình mà không cần sử dụng lời nói (ví dụ như: khóc, ăn vạ,…) TTK cần phải được dạy để hiểu các thông điệp trong giao tiếp, sự cần thiết phải giao tiếp
Trị liệu hỗ trợ phát triển các kỹ năng giao tiếp cho TTK phải được thiết kế và lên kế hoạch dựa vào sự hiểu biết về mức độ ảnh hưởng của chứng tự kỷ đến khả năng giao tiếp và cách mà đứa TTK có thể học được
1.4.5.4 Giảm thiểu hành vi không mong muốn
TTK có những hành vi tự xâm hại bản thân, như: tự gây hại, thịnh nộ, hành hung người khác, những hành vi lặp lại như xoay tròn, Những hành vi này rất nguy hiểm cho trẻ và đôi khi ảnh hưởng đến những người xung quanh trẻ Mặt khác, trong quá trình giáo dục, trẻ có thể chống đối lại GV hoặc cha mẹ trẻ, trẻ không hợp tác như quấy khóc, la hét Điều này gây bất lợi đến quá trình dạy học
Trang 24Do đó, để việc DHHN TTK có hiệu quả, điều trước hết phải làm để giảm thiểu hành
vi tiêu cực là từng bước hình thành các hành vi tích cực để thay thế dần các hành vi tiêu cực của trẻ
1.4.5.5 Phát triển thể chất
Đối với những TTK khi đến trường TH, mục đích chính không phải là ép trẻ học để lấy kiến thức Mà trong những nội dung dạy học cho trẻ, GV cần phải chú ý quan tâm tới việc giáo dục thể chất cho trẻ Điều này có thể thực hiện được thông qua hoạt động vui chơi Trò chơi vận động là yếu tố vô cùng quan trọng trong chương trình luyện tập cho trẻ tổn thương não Thông qua đó, phát triển vận động tinh, vận động thô Với những trẻ có quá trình phát triển tâm vận động bình thường thì vận động được coi là nền tảng của cuộc sống Một trò chơi vận động được GV đưa ra cùng chơi với các bạn phải đảm bảo thực hiện được những mục đích: Thiết lập mối quan hệ, phát triển nhận thức, điều chỉnh hành vi
1.4.5.6 Dạy các môn học đường chức năng
Mặc dù 75% TTK bị chậm phát triển tâm thần, nhưng không có nghĩa là trẻ không thể học được TTK vẫn có thể học các kỹ năng như đọc, viết, làm toán, nhận biết môi trường xung quanh, phục vụ bản thân, để có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Tuy vậy, một số TTK chỉ có thể học được một phần nào đó của các kỹ năng này hoặc thậm chí hoàn toàn không có khả năng học các kỹ năng đó Có thể với một số trẻ, cái các em cần học là một số kỹ năng nhất định, ví dụ việc đọc chữ qua nhận dạng, các kỹ năng về đọc số, đếm, sử dụng tiền, xem thời gian,…Với một
số khác thì việc học các kỹ năng tự chăm sóc cơ bản lại quan trọng hơn
Dựa trên những thông tin về mức độ chức năng hiện tại của trẻ, GV có thể cùng gia đình thảo luận để quyết định các mục tiêu KHGDCN phù hợp cho trẻ Tuy nhiên, để xác định được cái gì là quan trọng với mỗi trẻ, GV phải thường xuyên nghiên cứu kỹ năng hoạt động hàng ngày của trẻ, dự đoán những nhu cầu trong tương lai của trẻ để lập một thứ tự ưu tiên Việc học các môn học đường chức năng
sẽ giúp trẻ trở nên độc lập và tự chủ hơn khi ở nhà cũng như khi ở trường và ở cả trong cộng đồng xã hội
1.4.6 Phương pháp điều chỉnh trong DHHN TTK
Trang 25Trên cơ sở những đặc điểm khác nhau về khả năng, nhu cầu, sở thích của trẻ, căn cứ vào nội dung của môn học, bài học, có thể áp dụng những phương pháp điều chỉnh DHHN sau:
1.4.6.1 Phương pháp đồng loạt
Những học sinh cần chăm sóc cá biệt có thể tham gia vào các hoạt động học tập thường xuyên của lớp học bằng cách làm việc như mọi học sinh khác Điều chỉnh được tiến hành cho mọi trẻ căn cứ vào mục tiêu và nội dung của bài học Thông thường, khi xây dựng mục tiêu cho một bài dạy giáo viên thường căn cứ vào yêu cầu của bài học Trên cơ sở những mục tiêu cụ thể này, giáo viên thiết kế các hoạt động nhằm hoàn thành mục tiêu đã đặt ra Các thiết kế này thường mang tính chủ quan của giáo viên Do vậy, trong quá trình tiến hành bài dạy, giáo viên sẽ gặp những tình huống như: những gì giáo viên muốn trẻ học, trẻ đã biết trước rồi, do vậy mục tiêu cung cấp kiến thức cần phải điều chỉnh sang mục tiêu nâng cao; hoặc những mục tiêu đưa ra quá cao so với trẻ trong buổi học, nên cần hạ thấp mức độ cho phù hợp Cách điều chỉnh này dựa trên cơ sở các mức độ nhận thức của mô hình Bloom
1.4.6.3 Phương pháp trùng lặp giáo án
Điều chỉnh này dành cho những trẻ có khó khăn chưa hoàn toàn tham gia tất
cả các hoạt động theo mục đích chung của lớp học TTK và trẻ bình thường cùng tham gia những hoạt động chung của bài học nhưng theo mục tiêu riêng trên cơ sở
kế hoạch giáo dục cá nhân Ví dụ như khi dạy về số, với học sinh bình thường cần đếm và thực hiện các phép tính, trẻ có khó khăn chỉ cần nhận biết các loại tiền để mua bán; hay trong giờ tập đọc lớp 3, trong lúc học sinh bình thường tìm hiểu và
Trang 26đọc bài, TTK tìm những từ có chứa một âm nhất định hay trả lời câu hỏi đơn giản
về những nội dung chính của bài
1.4.6.4 Phương pháp thay thế
TTK cùng ngồi chung với trẻ bình thường trong giờ học nhưng học theo hai chương trình khác nhau Ví dụ trong giờ học toán, trẻ bình thường học làm các phép tính cộng trong phạm vi 10, trẻ có khó khăn có thể viết chữ O hoặc tập viết số 1, hay có thể đếm các hình trong tranh… Đây là phương pháp được sử dụng trong lớp học có TTK điển hình mà trẻ không thể theo được chương trình chung
Như vậy, có rất nhiều phương pháp khác nhau để điều chỉnh trong DHHN cho TTK Tuy nhiên, không có phương pháp nào là vạn năng có thể phù hợp cho tất
cả TTK Mặc dù có những điểm giống nhau, nhưng mỗi TTK là một độc đáo, có tính khác biệt Trong giáo dục cho TTK, cần có sự kết hợp của các phương pháp khác nhau tùy thuộc vào mức độ tình cảm, đặc điểm, khả năng, nhu cầu của mỗi trẻ
Và bước đầu quan trọng nhất là phải tìm hiểu trẻ (sở thích, thói quen, hành vi, …) đánh giá được mức độ, khả năng của trẻ rồi sau đó mới áp dụng các phương pháp phù hợp
1.4.7 Phương tiện đặc thù trong DHHN TTK
Phương tiện là thiết bị không thể thiếu trong quá trình giáo dục TTK Ngoài những thiết bị GV dùng để dạy cho HS cả lớp, cần phải có những thiết bị dạy học đặc thù cho TTK Những thiết bị đó có thể chỉ là những vật quen thuộc xung quanh môi trường lớp hoc Nhưng đối với TTK, đó lại là những thứ xa lạ Chúng tôi xin đưa ra một số phương tiện có thể sử dụng trong 4 lĩnh vực sau:
1.4.7.1 Các phương tiện hỗ trợ nghe/nhìn/nhận thức
Hầu hết TTK tiếp nhận thông tin từ môi trường xung quanh qua kênh thị giác
và thính giác Trên cơ sở đó, trẻ sẽ phát triển nhận thức, hiểu được những gì xảy ra xung quanh mình
Với những công cụ hỗ trợ nhìn, GV có thể giúp trẻ hiểu quá khứ, hiện tại và tương lai, có thể cho trẻ thực hiện công việc một cách độc lập, nhắc trẻ điều trẻ làm
Trang 27và nói, giúp trẻ bày tỏ bản thân, cho trẻ nhiều sự lựa chọn, giúp trẻ hiểu cảm xúc của người khác,….
Công cụ hỗ trợ nghe là những vật phát ra âm thanh như đàn, lục lạc, trống,…Với những dụng cụ này, ta có thể giúp trẻ xác định nguồn gốc, vị trí âm thanh,…Đây là cơ sở để ta có thể dạy trẻ phản ứng khi gọi tên
GV có thể giáo dục cho HS hoạt động tương tác với những dụng cụ đó, đây chính là liệu pháp giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh và phát triển trí thông minh và sáng tạo
1.4.7.2 Các phương tiện hỗ trợ hòa nhập cảm giác
Đa số TTK gặp khó khăn trong việc hiểu bản thân cơ thể Vì vậy trẻ thường
có những hành động không bình thường để cảm nhận cơ thể như cào cấu bản thân, xoay tròn,…Hòa nhập cảm giác giúp trẻ cân bằng hệ thống các giác quan, hiểu rõ
cơ thể
Các phương tiện thường dùng để giúp trẻ hòa nhập cảm giác có thể là: bảng trắng đen, gương, thiết bị âm nhạc nhẹ,…
1.4.7.3 Các phương tiện hỗ trợ phát triển thể chất
Phát triển thể chất giúp trẻ hình thành kỹ năng vận động, giáo dục các tố chất thể lực Đối với TTK việc phát triển thể chất là điều hết sức quan trọng Các phương tiện dùng để phát triển thể chất của trẻ là: Xe đạp, xích đu,…
1.4.7.4 Các phương tiện hình thành kỹ năng thích ứng
Phương tiện được sử dụng để hình thành kỹ năng thích ứng là những vật dụng quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày như các vật dụng trong phòng học, phòng vệ sinh, phòng học âm nhạc,
Với những vật dụng này, GV có thể lồng ghép giáo dục cho TTK kỹ năng tự phục vụ, thích nghi với môi trường bên ngoài
1.4.8 Quy trình DHHN TTK
Sau khi nghiên cứu thí điểm và đạt được thành công phù hợp với điều kiện xã hội, văn hóa của nước ra, Bộ Giáo dục và đào tạo đã xác định DHHN là hướng đi chính để giải quyết vấn đề tự kỷ, DHHN TTK thực hiện trong nhà trường cần được
Trang 28tiến hành theo các bước trong bảng 1.1:
Bảng 1.1 Quy trình GDHN TTK
Bước 1: Tìm hiểu năng lực và nhu cầu của trẻ
Mỗi trẻ em bao gồm cả TTK đều có những năng lực, nhu cầu, sở thích và kinh nghiệm cá nhân riêng Trẻ đã có những kiến thức, kỹ năng nhất định được tích lũy trong quá trình phát triển, sinh sống Tìm hiểu năng lực và nhu cầu của trẻ nhằm mục đích phát hiện những điểm mạnh của trẻ, những năng lực vốn có của trẻ về các mặt: nhận thức, những tri thức, kỹ năng trẻ đang có, cách trẻ học, các kỹ năng xã hội, khả năng nghe, khả năng ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp của trẻ Các năng lực của trẻ có thể được phân loại theo các nhóm năng lực do Haward Gardner đề xuất Đây là quá trình xác định “ Vùng phát triển hiện thời” của trẻ Để phát hiện được những đặc điểm trên, có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: quan sát, phỏng vấn, xem xét sản phẩm của trẻ, xem xét hồ sơ cá nhân của trẻ
Bước 2: Xây dựng mục tiêu và lập KHGD cá nhân cho TTK
TTK ở các mức độ khác nhau có những nhu cầu đặc thù về các mặt phát triển
và đặc biệt, trẻ có những cách học rất khác nhau Trên cơ sở tìm hiểu năng lực, nhu cầu của trẻ, cần xây dựng mục tiêu, KHGDCN cho trẻ Nói cách khác, trên cơ sở
“vùng phát triển hiện thời” cần xác định “vùng phát triển gần” và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được vùng phát triển đó Kế hoạch cần cụ thể, chi tiết bao gồm các mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giai đoạn nhất định, các hoạt động cần tiến hành để
3 Thực hiện kế hoạch:
vận dụng các phương pháp giáo dục đặc thù
Trang 29phục vụ mục tiêu, người và địa điểm thực hiện các hoạt động đó Mục tiêu, kế hoạch GDCN này được ghi chép trong “ sổ theo dõi tiến bộ của trẻ”.
Bước 3: Thực hiện kế hoạch: vận dụng các phương pháp giáo dục đặc thù
Để đạt được mục tiêu GDCN đã đề ra cho TTK, việc áp dụng các kỹ năng đặc thù có tầm quan trọng đặc biệt Căn cứ vào năng lực của TTK, GV là người chăm sóc trẻ cần biết và sử dụng phương pháp phù hợp đối với trẻ Điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và các hoạt động học tập là một yêu cầu cần thiết trong DHHN TTK
Bước 4: Đánh giá kết quả giáo dục
Đánh giá kết quả giáo dục nhằm xác định và công nhận sự phát triển, khuyến khích trẻ nỗ lực học tập Trên kết quả đánh giá “vùng phát triển hiện thời” tại giai đoạn phát triển mới được xác định và “vùng phát triển cận kề” cho giai đoạn mới của trẻ được xây dựng Các nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước đã đề xuất các vấn đề này Những quan điểm chính và đánh kết quả giáo dục là: nhìn nhận một cách tổng thể, tiếp cận tổng thể và tiếp cận cá nhân Nội dung đánh giá bao gồm cả hai mặt: Kỹ năng xã hội và tri thức Sử dụng nhiều phương pháp đánh giá
Quy trình DHHN TTK bao gồm 4 bước được tiến hành theo một vòng khép kín trong một năm học Mỗi vòng đánh dấu một sự phát triển mới của trẻ đồng thời cũng là sự khởi đầu của sự phát triển tiếp theo
1.4.9 Những điểm lưu ý khi dạy hoặc hướng dẫn TTK
1.4.9.1 Kết cấu về không gian
TTK thường có khó khăn trong việc hiểu một địa điểm nhất định được sử dụng
để làm gì và loại hành vi nào cần phải có ở địa điểm đó GV nên đặc biệt chú ý đến việc bố trí các góc hoạt động trong lớp học, có thể tạo cho mỗi góc lớp học một chức năng riêng, nhờ vậy môi trường xung quanh sẽ trở nên dễ dự đoán hơn đối với TTK
Trong trường hợp GV thay đổi cách bố trí trong lớp học, GV cần thông báo trước cho TTK về những thay đổi sắp diễn ra
1.4.9.2 Kết cấu về thời gian
Trang 30TTK luôn suy nghĩ dựa trên những gì chúng nhìn thấy, do vậy trẻ đạt kết quả học tập tốt nhất khi GV sử dụng giáo cụ trực quan GV có thể giúp trẻ tự nhận biết, kiểm soát và điều chỉnh thời gian bằng các dụng cụ trực quan Có thể giúp trẻ nhận biết rõ thời điểm diễn ra các hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng thời khóa biểu trực quan treo trên bảng hoặc trên tường Để thực hiện việc này GV có thể dùng các loại phương tiện hỗ trợ giao tiếp khác nhau như: vật thật, mô hình, ảnh, tranh minh họa, tranh biểu tượng,…
Dựa trên tư duy liên tưởng, trẻ có thể hiểu khi nào thì các hoạt động sẽ xảy ra,
vì vậy lập thời gian biểu cho trẻ là rất cần thiết và sẽ tốt hơn cho trẻ nếu GV giúp chúng biết trước khi nào sẽ có những thay đổi trong thời gian biểu, cũng như khi nào thì những thay đổi đó chấm dứt và mọi việc trở lại bình thường
Ngoài ra giáo viên cần chú ý khoảng thời gian chuyển tiếp từ hoạt động này sang hoạt động khác GV có thể giúp trẻ nhận biết thời điểm hoạt động hoàn thành,
ví dụ trò chơi xếp hình được thực hiện xong khi tất cả các miếng hình đã được xếp đúng vào bảng Trẻ phải làm việc cho đến khi đồng hồ chỉ một giờ nhất định Trẻ phải làm việc cho đến khi chuông đồng hồ báo hết giờ
1.4.9.3 Kết cấu về hoạt động
Kết cấu hoạt động có thể được xây dựng bằng cách giải thích lần lượt từng bước thực hiện một nhiệm vụ Cụ thể trẻ sẽ phải làm gì, phải làm nhiệm vụ đó như thế nào, phải thực hiện ở đâu, có những công cụ và dụng cụ gì để thực hiện nhiệm
vụ này, nhiệm vụ này được thực hiện trong bao lâu và phải là gì sau khi thực hiện xong nhiệm vụ đó
Sau khi đã đưa ra cho trẻ những chỉ dẫn cần thiết, GV nên kiểm tra liệu trẻ có hiểu được đúng là mình phải làm gì không Đôi khi cho trẻ ngồi tách xa các trẻ khác
để trẻ không bị các trẻ khác làm mất tập trung chú ý Trong quá trình trẻ thực hiện nhiệm vụ, GV cần phải thường xuyên kiểm tra để có thể giúp trẻ sửa sai nếu cần thiết
Khi trẻ đã hoàn thành nhiệm vụ, phải đưa ra một sự phản hồi tích cực bằng cách khen ngợi trẻ, nói rõ trẻ đã thực hiện tốt nhiệm vụ gì hoặc chỉ ra cho trẻ những lỗi mà trẻ còn mắc phải và cùng trẻ sửa chữa những lỗi đó Với một số trẻ sự khen
Trang 31ngợi bình thường từ người khác là chưa đủ để kích thích trẻ, vì vậy, với những trẻ này, có thể sử dụng hoạt động mà trẻ rất yêu thích hoặc một vật gì đó để làm phần thưởng cho trẻ.
1.4.9.4 Kết cấu về con người
Kết cấu về con người giúp trả lời cầu hỏi “ai?” và “các nội quy hay quy tắc gì?”
Câu hỏi “ai?” có nghĩa là trẻ sẽ phải làm việc với ai Trong trường hợp chỉ có một giáo viên thì câu trả lời đã rõ ràng Nhưng trong trường hợp có hơn một giáo viên thì phải làm rõ cho mỗi trẻ biết ai sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc và làm việc với trẻ
Câu hỏi “các nội quy hay quy tắc gì?” có nghĩa là GV phải thể hiện rõ mình muốn trẻ cư xử như thế nào, những hành vi nào của trẻ là có thể chấp nhận được và những hành vi nào là không thể chấp nhận được GV phải đặc biệt chú ý làm sao để các nội quy và nguyên tắc rõ ràng Phải giúp trẻ hiểu tại sao phải tuân thủ những nội quy hoặc nguyên tắc đó
Để tránh sự ảnh hưởng quá lớn của GV đến TTK khi họ luôn hướng trẻ theo những kết cấu như trên thì các kết cấu cho TTK phải được xem như là một dạng giao tiếp, một công cụ nhằm làm cho thế giới phức tạp xung quanh trở nên rõ ràng hơn đối với trẻ, đồng thời phải cẩn thận để không là trẻ trở nên quá cứng nhắc Dựa trên nhu cầu của từng trẻ mà cho phép trong các kết cấu có sự linh hoạt nhất định
1.5 Người giáo viên trong DHHN TTK
1.5.1 Vai trò của GVCN trong DHHN TTK
- Làm hồ sơ theo dõi tiến bộ của trẻ, bao gồm: Sổ theo dõi, sơ yếu lí lịch, phiếu tìm hiểu khả năng nhu cầu của trẻ, kế hoạch giáo dục ngắn hạn và dài hạn
- Làm sổ liên lạc với gia đình để ghi chép những thông tin về trẻ, phối kết hợp giáo dục với cha mẹ trẻ
- Xây dựng “vòng bạn bè” ngay từ đầu năm học để tạo bầu không khí thân mật, thương yêu giúp đỡ TTK ngay từ khi trẻ mới biết nhau
Trang 32- Giao trách nhiệm cho từng nhóm và yêu cầu nhóm bàn bạc, tìm biện pháp giúp đỡ TTK như: nhóm bạn học ở nhà, nhóm cùng đi học, nhóm học trên lớp, nhóm cùng vui chơi ngoài giờ học,….
- Tìm hiểu trong cộng đồng xung quanh trẻ những người có tấm lòng, có tình thương thật sự với trẻ, thành lập nhóm hỗ trợ cộng đồng với tinh thần tình nguyện
- Thường xuyên báo cáo kết quả giáo dục trẻ với Ban giám hiệu, đặc biệt là Hiệu trưởng để tranh thủ sự giúp đỡ cả ban lãnh đạo nhà trường tạo điều kiện quản
lí lớp học tốt hơn
1.5.2 Nhiệm vụ của giáo viên DHHN TTK trong hoạt động ngoài giờ
- Nắm vững đặc điểm tâm sinh lí, cá tính, khả năng, nhu cầu của TTK Trên cơ
sở đó, bố trí cho trẻ tham gia vào những hoạt động phù hợp, giao cho trẻ những công việc thật cụ thể, chi tiết mà trẻ có thể làm được
- Động viên mọi thành viên trong nhóm chơi phải có tinh thần trách nhiệm, giúp đỡ, lôi cuốn, tạo điều kiện thuận lợi để TTK cũng được tham gia vui chơi
- Tạo môi trường thuận lợi, phong phú và tương đối phù hợp với tình trạng của TTK để các em có thể tham gia hoạt động dễ dàng
Trang 33- Khi tiến hành tổ chức những hoạt động ngoài lớp, GV phải chú ý xây dựng nhóm bạn bè gồm các em có trách nhiệm, theo dõi, quản lí, giúp đỡ TTK nhất là hoạt động tham quan du lịch và lao động ở vườn trường có sử dụng công cụ lao động như: xẻng, cuốc, dao, liềm,…
- GV cũng như tập thể nhóm, lớp phải chú ý động viên kịp thời khi TTK hoàn thành một nhiệm vụ dù công việc đó nhỏ bé, bình thường so với trẻ khác, nhưng đối với TTK đó là một việc làm có nhiều cố gắng và tiến bộ
- Để trẻ tự lựa chọn, tự nguyện tham gia vào các hoạt động mà trẻ ưa thích, hợp khả năng, tránh gò ép, tạo cho trẻ tâm thế thoải mái, nhẹ nhàng
- TTK cần được tổ chức, vui chơi, hoạt động ngoài lớp các nhiều càng tốt nhằm mục đích tạo điều kiện cho trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, ứng xử và rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng xã hội
- Thông qua các hoạt động ngoài lớp còn giúp cho trẻ củng cố phát triển lòng
tự trọng, tự tin, rèn luyện kỹ năng vận động, nghe, nhìn, nói, hiểu ứng xử kịp thời với các tình huống
1.5.3 Yêu cầu đối với GV DHHN TTK
1.5.3.1 Yêu cầu về kiến thức
- Người GV GDHN không chỉ phải có những kiến thức cơ bản về những môn học trong chương trình tiểu học mà còn phải nắm vững những kiến thức về TTK và những kiến thức về dạy học hòa nhập TTK
- Bên cạnh đó, người GV còn phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân học sinh, kể cả học sinh bình thường và học sinh TK, bao gồm: Đặc điểm về thể chất, khả năng nhận thức, hứng thú, tư duy, nhu cầu giao tiếp, tính tình, của từng học sinh
- Nắm vững hoàn cảnh sống của từng học sinh, bao gồm: hoàn cảnh gia đình
và hoàn cảnh xã hội
- Nắm vững đặc điểm của tập thể lớp, như: Tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật, tính tích cực hoạt động tập thể, các nhóm không chính thức trong lớp,
Trang 341.5.3.2 Yêu cầu về kỹ năng
- Người GV DHHN TTK phải có những kỹ năng đặc thù trong lớp học hòa nhập Trong lớp hòa nhập không chỉ có những học sinh bình thường mà còn có học sinh TK Đối với HSTK, GV không thể áp dụng những kỹ năng dạy học bình thường
- Dạy học trong lớp hòa nhập TTK, GV phải có những kỹ năng cơ bản như:
Kỹ năng xác định muc tiêu (mục tiêu chung cho cả lớp và mục tiêu riêng cho TTK),
kỹ năng điều chỉnh nội dung chương trình phù hợp với mức độ và khả năng hiện có của TTK; kỹ năng lập kế hoạch GDCN cho TTK; kỹ năng áp dụng những phương pháp và phương tiện đặc thù trong DHHN TTK; kỹ năng đánh giá kết quả dành cho học sinh bình thường và học sinh TK; kỹ năng phối hợp với phụ huynh học sinh, đặc biệt là phụ huynh của HSTK, vì đây là đối tượng rất cần sự phối hợp của gia đình
1.5.3.3 Yêu cầu về thái độ
- Người GV trong môi trường sư phạm đòi hỏi phải có những phẩm chất như: yêu nghề, yêu thương học sinh, nhiệt tình, kiên trì, có tinh thần học hỏi, Người GV DHHN TTK ngoài những phẩm chất đó, còn phải có sự thương cảm, thấu cảm đối với TTK và gia đình TTK Đặc biệt, xuất phát từ những khó khăn do khuyết tật gây ra của TTK, người GV cần có sự kiên trì, nhẫn nại thật lớn Không những thế, còn phải tỉ mỉ và chu đáo trong “từng bước nhỏ một”
- Có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, gia đình TTK và cộng đồng, cam kết thực hiện quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước về giáo dục hòa nhập
Trang 35thái độ tôn trọng, yêu thương, không kì thị, xa lánh TTK để tạo nên một môi trường thân thiện cho mọi học sinh
1.6 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã nghiên cứu lý luận về những đặc điểm phát triển của TTK, những vấn đề chung về dạy học hòa nhập, vị trí, vai trò và yêu cầu đối với một giáo viên DHHN TTK Từ đó tìm ra những điểm mạnh và hạn chế của TTK khi học hòa nhập Từ đó, có cái nhìn toàn diện, khái quát về người giáo viên
và những điểm cần chú trọng trong DHHN TTK TTK là một dạng trẻ có sự phát triển và những biểu hiện trong sự phát triển gặp khó khăn khi tham gia học tập tại trường học Vì vậy, người GV dạy học hòa nhập phải biết chú ý tới những nét đặc trưng đó để có những phương pháp và điều chỉnh nội dung để dạy trẻ một cách phù hợp nhất Đối với dạng trẻ này, GV phải có kế hoạch GDCN phù hợp với “ vùng phát triển gần” của trẻ
Trang 36CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG DẠY HỌC HÒA NHẬP TRẺ
TỰ KỶ CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG2.1 Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1 Mục đích khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế nhằm tìm hiểu thực trạng về kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập TTK của giáo viên tiểu học quận Liên Chiểu
2.1.2 Nội dung khảo sát
Nội dung khảo sát bao gồm các vấn đề:
Về kiến thức: những hiểu biết của giáo viên về TTK, nhận thức của giáo viên
về mô hình giáo dục cho TTK, đánh giá của giáo viên về khả năng và hạn chế học tập của TTK, nhận thức về phương pháp DHHN TTK của giáo viên
Tìm hiểu các vấn đề về kỹ năng: kỹ năng điều chỉnh nội dung, kỹ năng lập kế hoạch GDCN, kỹ năng xây dựng “vòng tay bạn bè”, kỹ năng phối hợp cùng phụ huynh trẻ, kỹ năng đánh giá kết quả học tập của HSTK
Từ thực trạng kiến thức, kỹ năng đó, rút ra những khó khăn của giáo viên trong DHHN TTK Ngoài ra còn tìm hiểu về một vài kinh nghiệm thực tế của giáo viên trong công tác giáo dục trẻ và nhu cầu, mong muốn của GV được nghiên cứu, học tập về dạy hòa nhập TTK
2.1.3 Phương pháp khảo sát
Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 20 giáo viên tại 3 trường tiểu học thuộc quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng; sử dụng phiếu quan sát trong quá trình dự giờ các một số tiết dạy của một số GV nêu trên; Chúng tôi tiến hành điều tra hồ sơ của 8 em HSTK học tại trường để hỗ trợ cho phương pháp phỏng vấn sâu
- Tiến hành điều tra:
Trang 37+ Phỏng vấn sâu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu GV trên một hệ thống câu hỏi về những hiểu biết về học sinh của mình và về TTK nói chung Phỏng vấn
GV về những mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, kế hoạch, GV đã sử dụng để dạy trong lớp hòa nhập có TTK
+ Quan sát sư phạm: Chúng tôi đã tiến hành dự giờ một số tiết dạy của một số
GV dạy các lớp hòa nhập TTK và đánh giá trên các tiêu chí dành cho một tiết dạy trong lớp hòa nhập Trước khi dự giờ, chúng tôi nghiên cứu trên kế hoạch dạy học của GV để tìm hiểu khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tiễn của GV
+ Điều tra hồ sơ trẻ: Tiến hành điều tra hồ sơ khuyết tật của 8 HSTK tại 3 trường TH được lưu tại trường về thông tin về trẻ, kế hoạch GDCN, sổ theo dõi tiến
bộ từng tuần, tháng, năm của từng trẻ và các bài kiểm tra, khảo sát đầu năm và cuối năm của các em
- Xử lý phương pháp nghiên cứu:
+ Biên bản phỏng vấn giáo viên: Nhận xét, đánh giá, phân loại các câu trả lời của GV, từ đó đưa ra những kết luận sư phạm, những đánh giá cụ thể của từng câu hỏi, của từng nhóm câu hỏi
+ Phiếu quan sát sư phạm: Đánh giá khả năng vận dụng những kiến thức và kỹ năng của GV vào các tiết dạy trên lớp hòa nhập TTK Nhận định những điểm đạt được và những hạn chế trong từng tiết dạy Từ đó rút ra những kết luận
+ Kết quả điều tra hồ sơ trẻ: Xem xét có bao nhiêu trẻ có hồ sơ cá nhân, chất lượng và số lượng của hồ sơ Kiểm tra hồ sơ và tìm kỹ năng của GV thông qua việc lập hồ sơ cá nhân cho HSTK
2.1.4 Đối tượng khảo sát
Giáo viên dạy học hòa nhập TTK: Để tìm hiểu về kiến thức, kỹ năng của GV
dạy học hòa nhập TTK trên điạ bàn quận Liên Chiểu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và lập phiếu quan sát giờ dạy của 7 giáo viên hiện đang chủ nhiệm các lớp có TTK học hòa nhập và 13 giáo viên dạy các môn chuyên (GV Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Tin học, Tiếng Anh) ở 3 trường: tiểu học Hải Vân, tiểu học Hồng Quang, tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
Trang 382.1.5 Mô tả địa bàn khảo sát
Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số 07/CP ngày 23/01/1997 của Chính phủ, trên cơ sở 3 xã Hòa Hiệp, Hòa Khánh, Hòa Minh của huyện Hòa Vang Đây là một mảnh đất hiếu học nhưng lại phải chịu nhiều ảnh hưởng của chất độc màu da cam do chiến tranh, thiên tai bão lụt, ô nhiễm môi trường do gần khu công nghiệp… nên tỉ lệ học sinh khuyết tật cũng thuộc loại cao của thành phố Đà Nẵng Trên địa bàn có 13 trường tiểu học trong đó đã có tới 109 trẻ khuyết tật được học hoà nhập Một số trường hòa nhập được kể đến tiêu biểu như: tiểu học Hải Vân, tiểu học Hồng Quang,…
2.2 Thực trạng về kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ của giáo viên tiểu học quận Liên Chiểu , thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Thực trạng kiến thức dạy học hòa nhậpTTK của GV quận Liên Chiểu, TP
Đà Nẵng
2.2.1.1 Những hiểu biết của giáo viên về trẻ tự kỷ
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 20 GV hiện đang dạy trong lớp hòa nhập có TTK (những trẻ mà chúng tôi đã sàng lọc lại dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Tâm), nhưng tất cả các GV đều không biết HS của mình bị tự kỷ Tất cả GV đều cho rằng trẻ bị chậm phát triển trí tuệ hoặc có vấn đề về trí tuệ Khi hỏi: “Tại sao cô lại nghĩ là học sinh của mình bị chậm phát triển trí tuệ?” Có 19 GV trả lời là do thấy HS đó học kém, không tốt bằng các bạn nên cho rằng trẻ có vấn đề về trí tuệ và có 1 GV thì dựa vào hồ sơ năm trước của trẻ nên nhận định như vậy Khi nghiên cứu hồ sơ của các trẻ, chúng tôi cũng nhận thấy, tất cả những em được xếp vào dạng HSKT của trường đều thuộc dạng tật chậm phát triển trí tuệ Đáng chú ý là đối với trường hợp em Nguyễn Thành Anh Đức ở lớp 1/1, trường tiểu học Hồng Quang Em này không có hồ sơ cá nhân vì ở trường không xếp em vào dạng HSKT Khi hỏi GV vậy “Theo cô TTK là những trẻ như thế nào?”, chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau, xin được nêu ra một số quan điểm về TTK của một số GV tại các trường tiểu học:
Trang 39- Theo cô Hoàng Thị Lan (lớp 1/1 – Hồng Quang, TTK là trẻ ít hoạt bát, trầm Hạn chế của trẻ là giao tiếp ít, trong khuôn viên, sợ lạ, rộng, nhận thức hạn chế.
- Theo cô Hà Thị Thủy (lớp 5/2 – Hồng Quang ) thì TTK là những trẻ ít nói chuyện, thích chơi một mình, không chú ý học tập
- Cô Dương Thị Tuyết ( 4/4 – Nguyễn Văn Trỗi) thì cho rằng TTK là những trẻ thích im lặng, ít tiếp xúc
- Đối với cô Lê Thị Thu Thảo ( 4/2 - Nguyễn Văn Trỗi) TTK là những trẻ khả năng trí tuệ bình thường, không muốn giao tiếp với người ngoài
- Theo cô Trần thị Thanh Thủy (2/3 – Hải Vân) thì TTK là những trẻ thích làm theo ý của mình, học tập khó khăn
- Cô Bùi Thị Thắm (3/3 - Hải Vân) lại cho rằng TTK là những trẻ thích sống một mình, chơi một mình, không quen chơi với những người xung quanh
Nguyên nhân gây ra chứng TK, đây là vấn đề nan giải đối với các nhà khoa học Hiện nay chưa có một nguyên nhân chính xác, cụ thể nào gây ra TK Khi tìm hiểu hiểu biết của GV về nguyên nhân gây ra hội chứng TK, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến khác nhau Đa số các GV đều cho rằng nguyên nhân dẫn đến TK là do
di truyền, do bầu không khí gia đình không thuận lợi, thai phụ lo lắng, tác động bất lợi từ môi trường và những vấn đề về sức khỏe, Một số khác thì cho rằng nguyên nhân gây ra hội chứng TK là do trẻ xem ti vi quá nhiều, do bố mẹ quá nuông chiều, gia đình thiếu quan tâm, chăm sóc,…
Khi chúng tôi đặt câu hỏi “Theo cô khi tới trường học hòa nhập, TTK khó khăn nhất ở vấn đề gì?”, thì tất cả GV đều cho rằng, TTK khó khăn ở việc không thể học cùng các bạn cùng lớp vì trẻ bị chậm phát triển trí tuệ Khi hỏi GV “cô có được những hiểu biết về TTK là do đâu?”, kết quả nhận được là do tham khảo qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, không có GV nào được tập huấn hay đào tạo một cách bài bản
Qua kết quả phỏng vấn có thể thấy, hầu hết các GV đã có những hiểu biết chung về TTK Tuy nhiên, chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm của bản thân và
Trang 40chưa được tìm hiểu sâu về những thông tin chính xác về TTK nên chưa có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về tình trạng này.
2.2.1.2 Đánh giá của giáo viên về khả năng học tập của trẻ tự kỷ
Về khả năng, phần lớn GV cho rằng TTK có những khả năng đặc biệt như có khả năng nhận biết chữ cái rất tốt, ghép các chữ cái rất tốt Một số em có thể đọc được các con số đến hàng vạn nhưng lại không thể hiểu 1 + 1 bằng mấy Một số em trẻ không biết đọc chữ cái nhưng lại sử dụng rất thành thạo điện thoại di động của người thân, các em có thể sử dụng các chức năng mà người lớn có khi còn khó khăn
để điều khiển nó Một số trẻ có khả năng âm nhạc tốt, có những bài hát trẻ chỉ cần nghe một lần trẻ có thể nhịp theo điệu nhạc Một số trẻ tiếp nhận những thông tin bằng cách nhớ máy móc, những trẻ này nhớ rất nhiều thông tin như số và chữ Chúng có thể kể lại những câu chuyện chính xác từng từ, hoặc có khả năng nhớ tổng thể hoàn chỉnh một cách chính xác về ngôn ngữ, như nhớ nguyên câu nói của người khác Một số GV cho rằng TTK không có khả năng gì cả Theo họ, TTK là trẻ yếu kém về tất cả các mặt Bên cạnh đó, có một số giáo viên tỏ ý phân vân về vấn đề này nên chỉ trả lời vòng vo không rõ ràng, như “thực ra chúng không đến nỗi tệ quá, nhưng mà không biết chúng có được khả năng gì?”
TTK nói chung, với các đặc điểm hạn chế về sự phát triển và trẻ bị rối loạn ở các mặt như: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác Vì vậy trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập tại trường Khảo sát
về khó khăn lớn nhất của những trẻ tự kỷ hiện đang học hòa nhập tại các lớp có giáo viên mà chúng tôi điều tra Có10 GV nhận thấy rằng TTK có khó khăn lớn nhất là khó khăn trong học tập, trí nhớ Trẻ thường chậm nhớ, nhanh quên Chỉ có 2 GV cho rằng TTK có khó khăn trong tương tác xã hội Trong đó, cô Hà Thị Thủy, GV trường Hồng Quang nhận thấy học sinh của mình gặp khó khăn trong việc tương tác
xã hội Và cô chú ý tập trung vào việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng xã hội Có 7
GV cho rằng HSTK của họ gặp khó khăn lớn nhất trong giao tiếp Trẻ thường không có nhu cầu giao tiếp, thường tránh giao tiếp với những người khác, trẻ thích chơi một mình, thu mình lại, sợ những thay đổi, những nơi và những người lạ Hầu hết 8 TTK học hòa nhập tại các trường tiểu học này đều là những HS ngoan, trầm