Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau: Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả - Nợ phải trả: là thể hiện bằng tiền của những nghĩa vụ mà
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mở ra những cơ hội và thách thức lớn cho doanh nghiệp Các doanh nghiệp muốn tồn tại phải có những chiến lược kinh doanh phù hợp, ứng xử một cách linh hoạt Xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi và quy luật “đào thải” của nền kinh tế thị trường, các nhà quản trị phải biết tối đa hóa lợi nhuận và sử dụng chi phí hợp lý sao cho đạt được hiệu quả cao nhất Việc theo dõi sự biến động vốn cũng là một trong những công việc cần thiết cho việc phân tích để đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh hiệu quả Quản lý vốn trong doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Nó giúp cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tình hình tài chính của doanh nghiệp luôn ổn định và lành mạnh Do vậy, nhiệm
vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính tín dụng và chấp hành luật pháp
Đó cũng đang là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp hiện nay
Công ty Trí Đức Phú Thọ là một công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và thương mại Mục tiêu hàng đầu của công ty là nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận, đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước Song việc nâng cao hiệu quả kinh doanh lại luôn gắn liền với tăng cường quản trị đồng vốn Bởi vậy, vấn đề tăng cường quản trị vốn kinh doanh đang được đặt lên hàng đầu
Với vai trò đặc biệt quan trọng của vốn kinh doanh cũng như qua thời gian thực tập tại Công ty Trí Đức Phú Thọ, em đã đi sâu nghiên cứu tình hình
tổ chức, quản lý và sử dụng vốn của công ty và đã hoàn thành luận văn tốt
nghiệp với đề tài “Giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công
Trang 2ty Trí Đức Phú Thọ” với hy vọng qua đó tích lũy được thêm kinh nghiệm
thực tế cho bản thân và mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đóng góp giúp cho công việc hoàn thiện công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn tại công ty
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Trí Đức Phú Thọ, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường quản trị vốn
3 Phạm vi nghiên cứu
Công ty Trí Đức Phú Thọ Thời gian nghiên cứu trong 2 năm 2012 và
2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình viết luận văn bao gồm: Phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp so sánh, phương pháp
đồ thị…
5 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương1: Lý luận chung về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Trí Đức Phú
Thọ
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh
của Công ty Trí Đức Phú Thọ
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này, doanh nghiệp phải ứng
ra một lượng vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh Lượng vốn đó được gọi là vốn kinh doanh (VKD) của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
VKD là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp và là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VKD đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức đúng đắn các đặc trưng của vốn Sau đây là những đặc trưng chủ yếu của VKD:
Một là, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định
Vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị…
Hai là, vốn phải được vận động để sinh lời
Trang 4Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của một vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền tệ, với giá trị tại thời điểm kết thúc lớn hơn giá trị tại điểm khởi đầu, tức là kinh doanh có lãi Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không được để vốn bị ứ đọng
Ba là, vốn có giá trị về mặt thời gian
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học công nghệ không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau lại khác nhau Vì vậy, huy động vốn và sử dụng vốn kịp thời là điều hết sức quan trọng
Bốn là, vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng trong hoạt động kinh doanh
Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để
mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh
Năm là, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn
là biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình Đặc trưng này giúp doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó đề xuất các biện pháp phát huy hiệu quả tổng hợp VKD
Sáu là, vốn phải gắn với chủ sở hữu
Vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức nên không thể có đồng vốn vô chủ Vốn phải được gắn với chủ sở hữu thì mới được chi
Trang 5tiêu hợp lí và có hiệu quả Tuỳ từng hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời người sử dụng vốn
Bảy là, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt
Giống như các loại hàng hoá khác, “hàng hoá vốn” cũng được mua bán trên thị trường Tuy nhiên, người ta chỉ mua được quyền sử dụng vốn mà không mua được quyền sở hữu Người mua (người vay vốn) phải trả cho người bán (người cho vay) một tỷ lệ lãi suất nhất định - đó chính là giá của quyền sử dụng vốn Đặc trưng này giúp cho doanh nghiệp có được quyết định đúng đắn trong việc huy động vốn để có được hiệu quả cao nhất với chi phí huy động vốn thấp nhất
1.1.3 Phân loại vốn kinh doanh
1.1.3.1 Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn
Có thể chia VKD thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động
a Vốn cố định
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của VKD Việc làm tăng vốn cố định có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp Do giữ vị trí then chốt và có đặc điểm vận động tuân theo quy luật riêng nên việc quản lý VCĐ được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Vậy Vốn cố định là gì ?
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về TSCĐ
Quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô TSCĐ Song ngược lại, những đặc điểm kinh tế kĩ thuật của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại chi phối đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ Vậy có thể khái quát
Trang 6những đặc điểm chu chuyển chủ yếu của VCĐ trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển
- VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ
về mặt giá trị, tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao TSCĐ
Những đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải kết hợp giữa quản lý theo giá trị và quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp
b Vốn lưu động
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, bên cạnh các TSCĐ, doanh nghiệp cần phải có các TSLĐ Để hình thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Như vậy, “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.”
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
- VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện
Trang 7- VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn
bộ sau mỗi chu kì kinh doanh
- VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
1.1.3.2 Căn cứ theo kết quả của hoạt động đầu tư
Theo tiêu thức này thì VKD của doanh nghiệp bao gồm VKD đầu tư vào TSLĐ, TSCĐ và TSTCcủa doanh nghiệp
VKD đầu tư vào TSLĐ là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các tài sản như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các loại TSLĐ khác của doanh nghiệp
VKD đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành cácTSCĐhữu hình
và vô hình như nhà xưởng máy móc thiết bị sản xuất, dung cụ quản lý, các khoản chi phí để mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu của sản ph m độc quyền…
VKD đầu tư vàoTSTClà số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các TSTC như
cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác
1.1.4 Nguồn vốn kinh doanh
VKD của doanh nghiệp được tài trợ từ các nguồn khác nhau Nghiên cứu nguồn hình thành VKD sẽ giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được hình thức huy động vốn thích hợp và hiệu quả Theo các tiêu thức khác nhau có thể chia nguồn vốn trong doanh nghiệp thành các loại khác nhau
1.1.4.1 Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn
Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Trang 8- Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh
nghiệp, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau:
Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả
- Nợ phải trả: là thể hiện bằng tiền của những nghĩa vụ mà doanh nghiệp
có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho nhà nước, cho người lao động trong doanh
nghiệp…
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành
mà doanh nghiệp hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên
cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp
1.1.4.2 Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn
Căn cứ và tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn
định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác định bằng công thức sau:
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc: Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản - Nợ ngắn hạn
Trang 9HÌNH 1.1: PHÂN LOẠI NVKD THEO THỜI GIAN HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG Trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên có thể xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên tuỳ thuộc vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp)
-
Giá trị còn lại của TSCĐ và các TS dài hạn khác
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn Tài sản
cố định
Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên Vốn chủ
sở hữu
Trang 10Có thể xem xét nguồn vốn thường xuyên qua hình sau:
HÌNH 1.2: NGUỒN VỐN THƯỜNG XUYÊN VÀ NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG
THƯỜNG XUYÊN
- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh
1.1.4.3 Phân loại theo phạm vi huy động vốn
Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài
Việc phân loại này chủ yếu để xem xét việc huy động nguồn vốn của một doanh nghiệp đang hoạt động
Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
Vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn thường xuyên của DN
Trang 11- Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư
từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp
Nguồn vốn bên trong bao gồm:
+ Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
+ Khoản khấu hao tài sản cố định
+ Tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ
- Nguồn vốn bên ngoài:
Việc huy động nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh, là vấn đề hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hình thức và phương pháp mới cho phép doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài
Nguồn vốn từ bên ngoài bao gồm:
Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân)
+ Vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác
+ Gọi góp vốn liên doanh liên kết
+ Tín dụng thương mại của nhà cung cấp
1.2.1.1 Khái niệm quản trị vốn kinh doanh
Trang 12Quản trị vốn kinh doanh là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị vốn kinh doanh bao gồm các hoạt động của nhà quản trị liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Nội dung quản trị vốn kinh doanh bao gồm quản trị vốn cố định và quản trị vốn lưu động
Quản trị vốn kinh doanh là một bộ phận, một nội dung quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động quản trị tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.2 Mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
Quản trị vốn kinh doanh trước hết và quan trọng nhất là nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó là lợi nhuận trong kinh doanh và tối
đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
Hoạt động quản trị vốn kinh doanh phải làm cho vốn kinh doanh được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nhất để vốn kinh doanh luôn sinh lời Trong quản trị vốn kinh doanh, các nhà quản trị luôn phải chú ý đến đặc điểm luân chuyển của từng loại vốn để xác định đúng đắn nhu cầu cần thiết phù hợp với quy
mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có biện pháp quản lý,
sử dụng chúng có hiệu quả nhất
1.2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.1 Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng VLĐ cần thiết để đáp ứng
Trang 13yêu cầu mua sắm vật tư dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa doanh nghiệp với khách hàng
Như vậy, Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường
Nhu cầu VLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà cung cấp
Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểm, tính chất ngành nghề kinh doanh; sự biến động của giá cả vật tư, hàng hóa trên thị trường; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng VLĐ của doanh nghiệp; trình độ kỹ thuật- công nghệ sản xuất; các chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản ph m, hàng hóa, dịch vụ… Việc xác định đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng nhu cầu VLĐ và có biện pháp quản trị VLĐ một cách tiết kiệm, có hiệu quả
Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Vốn tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ vốn tồn kho
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản xuất hoặc bán ra sau này
Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải ứng trước một lượng tiền nhất định gọi là vốn tồn kho dự trữ Việc quản lý vốn tồn kho dự trữ là rất quan trọng, không phải vì nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong số VLĐ của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng vật tư hàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, góp phần đ y nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ
Trang 14Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp Tuy nhiên, từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân tố ảnh hưởng khác nhau Đối với tồn kho dự trữ nguyên vật liệu thường chịu ảnh hưởng bởi yếu tố quy mô sản xuất, khả năng cung ứng vật tư của thị trường, giá cả vật tư hàng hóa, khoảng cách vận chuyển từ nơi cung ứng đến doanh nghiệp Đối với các loại sản ph m dở dang, bán thành ph m thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kỹ thuật, công nghệ sản xuất, thời gian chế tạo sản
ph m, trình độ tổ chức sản xuất của doanh nghiệp Riêng đối với mức tồn kho thành ph m, các nhân tố ảnh hưởng thường là số lượng sản ph m tiêu thụ, sự phối hợp nhịp nhàng giữa khâu sản xuất và khâu tiêu thụ, sức mua của thị trường… Nhận thức rõ các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp cho doanh nghiệp có biện pháp quản lý phù hợp nhằm duy trì lượng tồn kho dự trữ hợp lý nhất
Mô hình quản lý hàng tồn kho
Tồn kho dự trữ làm phát sinh chi phí nên cần quản lý chúng sao cho tiết kiệm và hiệu quả
Mô hình quản lý hàng tồn kho dự trữ trên cơ sở tối thiểu hóa tổng chi phí tồn kho dự trữ gọi là mô hình tổng chi phí tối thiểu Nội dung cơ bản của mô hình này là xác định được mức đặt hàng kinh tế (EOQ) để với mức đặt hàng này thì tổng chi phí tồn kho dự trữ là nhỏ nhất:
Theo mô hình EOQ người ta thường giả định số lượng hàng đặt mỗi lần là đều đặn và bằng nhau Khi đó mức đặt hàng kinh tế QE sẽ bằng:
QE = √
Trong đó:
QE: Mức đặt hàng kinh tế
Trang 15c1: Chi phí lưu giữ, bảo quản đơn vị hàng tồn kho
c2: Chi phí một lần thực hiện hợp đồng cung ứng
Qn: Số lượng vật tư hàng hóa cần cung ứng trong năm
Chi phí
Tổng chi phí Chi phí lưu trữ
Chi phí đặt hàng
QE Số lượng đặt hàng
HÌNH 1.3: MÔ HÌNH EOQ
Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là một
bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất và quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là vừa phải đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt Như vậy, khi có tiền mặt nhàn rỗi, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, cho vay hay gửi vào ngân hàng để thu lợi nhuận Ngược lại, khi cần tiền
Trang 16mặt doanh nghiệp có thể rút tiền gửi ngân hàng, bán chứng khoán hoặc đi vay ngắn hạn ngân hàng để có tiền mặt sử dụng
Quản trị vốn bằng tiền trong doanh nghiệp gồm các nội dung chủ yếu:
- Xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ
Các phương pháp xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp: + Căn cứ vào số liệu thống kê nhu cầu chi dùng tiền mặt bình quân một ngày và số ngày dự trữ tiền mặt hợp lý
+ Mô hình chi phí tối thiểu (mô hình Baumol) trong quản trị tồn kho dự trữ
Quyết định tồn trữ tiền mặt mục tiêu của doanh nghiệp được dựa trên cơ sở xem xét sự đánh đổi giữa chi phí của việc giữ quá nhiều tiền mặt với chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền mặt
- Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt:
Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt để tránh bị mất mát, lợi dụng Thực hiện nguyên tắc mọi khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ Phân định trách nhiệm trong quản lý tiền mặt giữa kế toán và thủ quỹ Việc xuất, nhập quỹ tiền mặt hàng ngày phải có chứng từ hợp thức và hợp pháp Phải thực hiện đối chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt với sổ quỹ hàng ngày Theo dõi, quản lý chặt chẽ các khoản tiền tạm ứng, tiền đang trong quá trình thanh toán
- Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm
Doanh nghiệp phải có biện pháp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng có hiệu quả nguồn tiền mặt tạm thời nhàn rỗi (đầu tư tài chính ngắn hạn) Thực hiện dự báo và quản lý có hiệu quả các dòng tiền nhập, xuất ngân
Trang 17quỹ trong từng thời kỳ để chủ động đáp ứng yêu cầu thanh toán nợ của doanh nghiệp khi đáo hạn
Quản trị các khoản phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Trong kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản
nợ phải thu nhưng với quy mô, mức độ khác nhau Nếu các khoản phải thu quá lớn, tức số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng cao, hoặc không kiểm soát nổi sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Quản trị khoản phải thu cũng liên quan đến sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro trong bán chịu hàng hóa, dịch vụ Doanh nghiệp nếu không bán chịu sẽ mất đi cơ hội tiêu thụ sản ph m, mất cơ hội tạo mối quan hệ với đối tác, từ đó mất đi cơ hội thu lợi nhuận Nhưng ngược lại, doanh nghiệp bán chịu hay bán chịu ở mức quá nhiều thì doanh nghiệp có thể phải đối mặt với rủi ro phải thu khó đòi, thậm chí không thể đòi được Vì vậy, nếu khả năng sinh lời từ việc bán chịu lớn hơn rủi ro thì doanh nghiệp có thể mở rộng việc bán chịu và ngược lại
Để quản trị các khoản phải thu doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện các biện pháp sau:
- Xác định chính sách bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng:
Trước hết doanh nghiệp cần xác định đúng đắn các tiêu chu n hay giới hạn tối thiểu về mặt uy tín của khách hàng để doanh nghiệp có thể chấp nhận bán chịu và áp dụng chính sách bán chịu nới lỏng hay thắt chặt Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải xác định đúng đắn các điều khoản bán chịu hàng hóa, dịch
vụ bao gồm việc xác định thời hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấu thanh toán Về nguyên tắc, doanh nghiệp chỉ có thể nới lỏng thời hạn bán chịu khi lợi nhuận
Trang 18tăng thêm nhờ doanh thu tiêu thụ lớn hơn chi phí tăng thêm cho quản trị các khoản phải thu của doanh nghiệp Tương tự, trường hợp áp dụng chính sách bán hàng có chiết khấu thì chi phí tiết kiệm được trong quản lý các khoản phải thu phải lớn hơn lợi nhuận doanh nghiệp dành trả cho khách hàng do giảm giá hàng bán chịu
- Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu:
Để tránh tổn thất do các khoản nợ không có khả năng thu hồi doanh nghiệp cần đánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng khi khoản nợ đến hạn thanh toán Việc đánh giá đó phải thực hiện qua các bước:
+ Thu thập thông tin về khách hàng (ví dụ báo cáo tài chính của doanh nghiệp khách hàng; các kết quả xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng; các thông tin liên quan khác,…)
+ Đánh giá uy tín của khách hàng theo các thông tin thu thập được
+ Lựa chọn quyết định nới lỏng hay thắt chặt bán chịu, thậm chí từ chối bán chịu
- Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ:
+ Sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp: Có bộ phận kế toán theo dõi khách hàng nợ ; kiểm soát chặt chẽ nợ phải thu đối với từng khách hàng; xác định hệ số nợ phải thu trên doanh thu hàng bán tối đa cho phép đối với từng khách hàng mua chịu
+ Xác định trọng tâm quản lý và thu hồi nợ trong từng thời kỳ để có chính sách thu hồi nợ thích hợp: Thực hiện các biện pháp thích hợp để thu hồi
nợ đến hạn, nợ quá hạn như gia hạn nợ, thỏa ước xử lý nợ, bán lại nợ, yêu cầu
sự tham gia của Tòa án kinh tế nếu khách hàng nợ chây ỳ hoặc mất khả năng thanh toán nợ
Trang 19+ Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bán chịu như trích trước dự phòng nợ phải thu khó đòi; trích lập quỹ dự phòng tài chính
1.2.2.2 Quản trị vốn cố định của doanh nghiệp
Quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trong quản lý vốn kinh doanh của các doanh nghiệp Điều đó không chỉ ở chỗ vốn cố định thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyết định tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng vốn cố định thường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro
Quản trị vốn cố định có thể khái quát thành hai nội dung cơ bản là: tạo lập vốn, quản lý sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp
Tạo lập vốn cố định trong doanh nghiệp
Tạo lập được vốn cố định trong doanh nghiệp là một câu hỏi khiến các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp phải đưa ra câu trả lời đúng đắn và c n thận Để thực hiện được điều đó, các nhà quản trị tài chính cần tìm ra nguồn vốn đầu tư cho các tài sản cố định Thông thường các nhà quản trị dựa trên một số căn cứ để dự báo các nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định như sau:
- Quy mô và khả năng sử dụng quỹ đầu tư phát triển để đầu tư mua sắm tài sản cố định hiện tại và các năm tiếp theo
Quy mô của quỹ đầu tư phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp để lại tái đầu tư cũng như chính sách trích lập quỹ của nhà quản trị, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào các chính sách tài chính hiện hành của nhà nước Một doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để trích lập quỹ đầu tư phát triển sẽ khiến cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc mua sắm các tài sản cố định mới trong
Trang 20các năm tiếp theo Tuy nhiên, đồng nghĩa với nó là lợi nhuận dành để chia cho các chủ sở hữu sẽ giảm xuống, rất dễ khiến cho những người chủ sở hữu của doanh nghiệp không hài lòng bởi suy cho cùng lợi ích trước mắt vẫn được rất nhiều người chủ sở hữu lựa chọn Vì vậy, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần có những quyết định sáng suốt để vừa tạo được lợi ích trong doanh nghiệp trong cả ngắn hạn và dài hạn, vừa làm hài lòng các nhà chủ sở hữu
- Khả năng huy động vốn vay nợ dài hạn từ các tổ chức tín dụng hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn
Tài sản dài hạn có đặc trưng là thời gian hoàn vốn khá dài, vì vậy để đảm bảo nguyên tắc cân đối trong tài trợ Để tạo lập vốn cố định, doanh nghiệp phải sử dụng nguồn tài trợ có tính chất dài hạn Ngoài quỹ đầu tư phát triển là nguồn dài hạn tự chủ của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể thực hiện huy động vốn dài hạn từ việc vay nợ như: Vay nợ của các tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, công ty tài chính, …), thuê tài chính, phát hành trái phiếu trên thị trường vốn Việc sử dụng bất kỳ hình thức vay nợ dài hạn nào cũng có
ưu và nhược điểm của nó Tuy nhiên, suy cho cùng để có thể huy động vốn từ các nguồn này, điều tiên quyết là doanh nghiệp phải chứng minh rằng khả năng đảm bảo thanh toán được các khoản nợ khi đến hạn của mình Những nhà tài trợ có thể dựa nhiều yếu tố để quyết định có hay không cho doanh nghiệp vay nợ Các yếu tố đó có thể là: Quy mô sản xuất kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, quy mô vốn chủ sở hữu, tính khả thi của dự án, tài sản bảo đảm,… Chính vì vậy, việc vay nợ dài hạn để tạo lập vốn cố định là không hề
dễ dàng đối với doanh nghiệp, tạo ra một áp lực rất lớn đối với các nhà quản trị trong hoạch định chiến lược về việc cải tạo hệ thống tài sản cố định trong doanh nghiệp Do đó, nhà quản trị phải lên được kế hoạch cụ thể trong việc mua sắm tài sản cố định để tránh trường hợp mua tài sản cố định về mà không
Trang 21phát huy hết hiệu quả trong khi nguồn tài trợ cho nó lại có chi phí sử dụng vốn rất lớn
Quản lý sử dụng vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu
tư dài hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các tài sản cố định hữu hình và vô hình) và các hoạt động kinh doanh thường xuyên sản xuất các sản ph m hàng hoá, dịch vụ) của doanh nghiệp
Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định mà quan trọng hơn là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó Điều đó có nghĩa là trong quá trình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định, không để tài sản cố định bị hư hỏng trước thời hạn quy định
Để bảo toàn và phát triển vốn cố định của doanh nghiệp cần đánh giá đúng các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không bảo toàn được vốn để có biện pháp
xử lý thích hợp Có thể nêu ra một số biện pháp chủ yếu sau đây:
- Phải đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định trong doanh nghiệp:
Thông thường người ta có thể đánh giá giá trị tài sản cố định theo nguyên giá, hoặc giá trị tài sản cố định theo giá trị còn lại hoặc theo giá trị của tài sản tương tự có mặt trên thị trường Tùy thuộc vào khả năng đánh giá cũng như điều kiện của từng doanh nghiệp mà có thể lựa chọn các biện pháp đánh giá khác nhau Tuy nhiên, mục tiêu hướng đến vẫn là nhằm phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn, điều chỉnh kịp thời giá trị của tài sản cố định để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, không để mất vốn cố định
Trang 22- Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định thích hợp:
Trong quản trị vốn cố định nội dung cần quan tâm đầu tiên là khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp Khấu hao TSCĐ xuất phát từ đặc điểm hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà TSCĐ trong quá trình sử dụng luôn bị hao mòn dưới 2 hình thức là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Về mặt kinh tế, hao mòn TSCĐ dù xảy ra dưới hình thức nào cũng là sự tổn thất giá trị TSCĐ của doanh nghiệp Nhằm bù đắp các hao mòn TSCĐ và thu hồi số vốn cố định đã đầu tư ban đầu để tái sản xuất giản đơn hoặc mở rộng TSCĐ, các doanh nghiệp tiến hành khấu hao TSCĐ Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ Về mặt kinh tế, khấu hao TSCĐ được coi là một khoản chi phí sản xuất kinh doanh và được tính vào giá thành sản ph m trong kỳ nhưng nó
là khoản chi phí phân bổ nhằm thu hồi vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ nên không tạo nên dòng tiền mặt chi ra Số tiền khấu hao thu hồi được tích lũy lại hình thành nên quỹ khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ này linh hoạt nhưng phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn Về nguyên tắc, việc khấu hao phải đảm bảo phù hợp với mức độ hao mòn của TSCĐ và thu hồi đầy đủ số vốn cố định đã đầu tư ban đầu vào TSCĐ để đảm bảo tính chính xác của chi phí khấu hao trong giá thành sản
ph m, đánh giá đúng hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần bảo toàn được vốn cố định, đáp ứng yêu cầu thay thế, đổi mới hoặc nâng cấp TSCĐ của doanh nghiệp
Khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp có thể thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng riêng Việc lựa chọn đúng phương pháp khấu hao TSCĐ là nội dung chủ
Trang 23yếu, quan trọng trong quản lý vốn cố định của doanh nghiệp Theo quy định hiện hành ở nước ta có các phương pháp khấu hao sau:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng: Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng phổ biến nhất Theo phương pháp này, mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm được tính bình quân trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ Công thức xác định như sau:
Trong đó:
MKH: Mức khấu hao hàng năm
TKH: Tỷ lệ khấu hao hàng năm
NGKH: Nguyên giá TSCĐ phải khấu hao
T: Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ (năm)
Phương pháp này tính toán đơn giản, không gây biến động lớn về giá thành,cho phép doanh nghiệp dự kiến được thời gian thu hồi đủ vốn đầu tư vào TSCĐ nhưng không phù hợp với các loại TSCĐ hoạt động có tính chất thời vụ và số vốn thu hồi chậm sẽ chịu ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh: Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ phải tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh, đến năm
Trang 24mà mức khấu hao theo tỷ lệ khấu hao nhanh nhỏ hơn mức khấu hao theo đường thẳng (tính bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm đó chia cho số năm sử dụng hữu ích còn lại của TSCĐ) thì điều chỉnh mức khấu hao các năm còn lại bằng mức khấu hao theo đường thẳng Công thức tính toán như sau:
MKHt = GCt x TKHđ
Trong đó:
MKHt: Mức khấu hao theo tỷ lệ khấu hao nhanh năm t
GCt: Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm thứ t
TKHđ: Tỷ lệ khấu hao nhanh của TSCĐ
t: Thứ tự năm sử dụng TSCĐ (t=1→n)
Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định bằng cách lấy tỷ lệ khấu hao bình quân nhân với hệ số điều chỉnh khấu hao nhanh, hệ số điều chỉnh thường được xác định là 1,5 nếu TSCĐ có thời hạn sử dụng từ 4 năm trở xuống; là 2,0 nếu TSCĐ có thời hạn sử dụng từ trên 4 năm đến dưới 6 năm; là 2,5 nếu TSCĐ có thời hạn sử dụng trên 6 năm
Phương pháp này giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư, tạo lá chắn thuế từ khấu hao nhưng làm cho chi phí kinh doanh những năm đầu tăng cao làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính
+ Phương pháp khấu hao theo sản lượng: Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy sản lượng dự kiến sản xuất hàng năm nhân với mức trích khấu hao tính cho một đơn vị sản ph m hoặc khối lượng công việc hoàn thành Công thức tính như sau:
MKHt = QSPt x MKHsp
Trang 25Trong đó:
MKHt: Mức khấu hao TSCĐ ở năm t
QSPt: Số lượng sản ph m sản xuất trong năm t
MKHsp: Mức khấu hao đơn vị sản ph m
Phương pháp này thích hợp với những TSCĐ hoạt động có tính chất thời
vụ trong năm và có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản ph m nhưng đòi hỏi việc thống kê, hạch toán phải tỉ mỉ chi tiết
- Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất:
Hao mòn vô hình chính là nguyên nhân dẫn đến các tài sản cố định trong doanh nghiệp nhanh chóng bị lạc hậu mặc dù có thể doanh nghiệp vừa mua tài sản đó về sử dụng chưa được bao lâu Một khi các trang thiết bị, máy móc
đã bị lạc hậu sẽ dẫn đến năng suất lao động giảm sút, từ đó số lượng và chất lượng sản ph m có thể giảm, giá thành lại cao hơn so với mặt bằng chung, làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị phải nhạy bén, đi tắt đón đầu công nghệ, bắt kịp với thời đại để không dẫn đến tình trạng phải nuối tiếc khi các tài sản cố định còn mới của mình lại phải ngừng sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả
- Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định, các yếu tố thuộc về tự nhiên cũng như các yếu tố thuộc về trình độ kỹ thuật công nghệ, chất lượng nguyên liệu vật liệu,… đã tác động đến mức độ hao mòn hữu hình của tài sản cố định Để cho tài sản cố định có thể phát huy được tối đa công suất thiết kế thì doanh nghiệp phải tạo lập một chế độ bảo dưỡng, bảo trì và sửa chữa thích hợp tránh trường hợp các tài sản cố định bị hư hỏng, hoạt động dưới công suất, từ đó làm giảm đi hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Trang 26- Doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi
ro trong kinh doanh
Để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân khách quan, doanh nghiệp có thể thực hiện một số biện pháp sau: Mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ
dự phòng tài chính, trích trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính
- Doanh nghiệp cũng có thể cho các tổ chức và cá nhân thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình
Mục đích của việc này là để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập song phải theo dõi, thu hồi tài sản cho thuê khi hết hạn Các tài sản cho thuê hoạt động doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định
- Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu
về kỹ thuật
Để thu hồi vốn sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn, doanh nghiệp có quyền thanh lý những tài sản cố định đã lạc hậu mà không thể nhượng bán được hoặc đã hư hỏng không có khả năng phục hồi
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải phân cấp quản lý từng loại tài sản cố định theo nguyên tắc phân công, phân nhiệm Mỗi một loại tài sản cố định đều phải được mở sổ theo dõi, thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các tài sản cố định đó
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 271.2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
Hệ số nợ =
Tổng số nợ Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc tô chức nguồn vốn và cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn b y tài chính của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì phần vốn góp của chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm
Hệ số nợ = 1 – Hệ số vốn chủ sở hữu
Qua việc nghiên cứu hai chỉ tiêu này, có thể thấy đƣợc mức độ độc lập tự chủ tài chính của doanh nghiệp Hệ số vốn chủ sở hữu cao thể hiện sự độc lập của doanh nghiệp về mặt tài chính, không chịu sức ép từ các khoản vay Bên cạnh đó, hệ số nợ cao tuy đem lại rủi ro cao nhƣng lại mang đến những lợi ích nhất định cho doanh nghiệp sử dụng vốn vay, nhƣ việc có thể khuếch đại đƣợc tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, hay giúp doanh nghiệp tạo đƣợc lá chắn thuế Hai chỉ tiêu này giúp các nhà quản lý, nhà đầu tƣ hay các chủ nợ
có thể đánh giá đƣợc tình hình tài chính của doanh nghiêp, từ đó dƣa ra quyết định đầu tƣ riêng
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 281.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động
Để đánh giá trình độ tổ chức và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VLĐ, biểu hiện qua các chỉ tiêu sau:
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hợp lý VLĐ biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Tốc
độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng VLĐ của
doanh nghiệp cao hay thấp
Tốc độ luân chuyển VLĐ được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: Số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển VLĐ
- Số lần luân chuyển VLĐ (hay số vòng quay VLĐ)
Số lần luân chuyển VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để VLĐ thực hiện được một lần luân chuyển, hay độ dài thời gian một vòng quay của VLĐ ở trong
kỳ
Trang 29 Mức độ tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn
x
Kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ
so sánh
-
Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ gốc
Chỉ tiêu này phản ánh để có một đồng doanh thu thuần về bán hàng cần bao nhiêu VLĐ
Tốc độ quay vòng hàng tồn kho
Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động, vì vậy cần giới hạn mức dự trữ của hàng tồn kho ở mức tối ưu, mặt khác phải tăng được vòng quay của chúng.Tốc độ vòng quay hàng tồn kho được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: vòng quay hàng tồn kho và Số ngày vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu hệ số vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng
tồn kho =
Doanh thu theo giá gốc (Trị giá vốn hàng xuất bán) Giá trị hàng tồn kho bình quân
Trang 30Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay của hàng tồn kho thực hiện được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Chỉ tiêu số ngày vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để hàng tồn kho thực hiện được một lần luân chuyển
Tốc độ quay vòng nợ phải thu
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các
khoản phải thu =
Doanh thu bán hàng có thuế
Số dư các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay các khoản phải thu thực hiện được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền
bình quân =
Số dư các khoản phải thu bình quân
x Số ngày trong kỳ Doanh thu bán hàng có thuế
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để các khoản phải thu thực hiện được một lần luân chuyển
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn cố định
Để đánh giá tình hình quản trị VCĐ, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Trang 31 Hệ số huy động vốn cố định
Hệ số huy động
VCĐ trong kỳ =
Số VCĐ đang dùng trong hoạt động kinh doanh
Số VCĐ hiện có của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động VCĐ hiện có vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Số VCĐ trong công thức trên đƣợc tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá phân tích
Trang 32 Hệ số hàm lƣợng vốn cố định
Hàm lƣợng VCĐ =
Số VCĐ bình quân sử dụng trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số VCĐ cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ (hay nói cách khác : Để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong
kỳ cần bao nhiêu VCĐ) Hàm lƣợng VCĐ càng thấp, hiệu suất sử dụng VCĐ càng cao
1.2.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Trang 33 Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (hay
tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản – ROA E )
Tỷ suất sinh lời
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên VKD =
Lợi nhuận sau thuế
Số VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng VKD bình quân sử dụng trong kỳ có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Trang 34Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong
kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu Đây là chỉ tiêu
mà các nhà đầu tư rất quan tâm
Thu nhập 1 cổ phần (EPS)
Hệ số EPS phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần phổ thông) trong
năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế
Hệ số DIV phản ánh mỗi cổ phần thường trong năm nhận được bao nhiêu
ưu đãi (nếu có)
-
Trang 35- Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cho phép các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, Nhà nước vẫn quản lý vĩ mô nên kinh tế và tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Chính sách kinh tế của Nhà nước ổn định sẽ giúp cho việc tiến hành kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thông suốt, có hiệu quả và ngược lại Chính sách kinh tế của Nhà nước có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp Do vậy, để tăng cường quản trị vốn kinh doanh các doanh nghiệp cần xem xét đến các chính sách kinh tế mà Nhà nước đề ra
- Đặc thù ngành kinh doanh
Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét khi quản lý và sử dụng vốn Đặc thù của nghành thường ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn Do đó, việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp với các chỉ tiêu trung bình của ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong quản lý và
sử dụng vốn
- Thị trường và sự cạnh tranh
Nếu doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn trên thị trường, sản ph m có sức tiêu thụ lớn thì Công ty sẽ có doanh thu và lợi nhuận lớn, từ đó tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao và ngược lại Nhận thức được vấn đề này sẽ cho phép doanh nghiệp có biện pháp quản lý VKD hiệu quả nhất
- Lãi suất thị trường
Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến chi phí huy động bằng vốn vay Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi lãi suất thị trường tăng lên, tiền lãi
Trang 36doanh nghiệp phải thanh toán sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm làm tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm xuống
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế
Nền kinh tế có lạm phát sẽ làm cho sức mua đồng tiền giảm sút dẫn đến
sự tăng giá của các loại vật tư hàng hoá Với một lượng tiền không đổi nhưng không mua được khối lượng tài sản tương đương như trước khi có lạm phát, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra một khối lượng tiền tệ nhiều hơn để đầu tư vào tài sản đó, khi đó năng lức của vốn đã bị giảm
- Rủi ro trong kinh doanh
Các rủi ro trong kinh doanh như hoả hoạn, bão lụt…làm tài sản của doanh nghiệp bị tổn thất, giảm dần giá trị dẫn tới mất vốn củ doanh nghiệp Đặc biệt, các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp trong các nghành: xây dựng, nông nghiệp, khai thác mỏ,…
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Khoa học công nghệ là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với doanh nghiệp, nó làm tăng hao mòn vô hình và đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư đổi mới tài sản một cách hợp lý
Những nhân tố chủ quan
Đây là nhân tố chủ yếu quyết định đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động
Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc quản trị VKD Trình độ quản lý tốt, bộ máy gọn nhẹ sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả và ngược lại Trình độ người lao động cũng có tác động không nhỏ đến hiệu quả
Trang 37sử dụng tài sản, năng suất lao động, chất lượng sản ph m… từ đó tác động lớn đến hoạt động tiêu thụ sản ph m và lợi nhuận của doanh nghiệp
- Sự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh
Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án sản xuất tạo ra sản ph m có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn Ngược lại, sẽ là sự thất bại của phương án sản xuất kinh doanh và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn trong doanh nghiệp cần được xác định phù hợp với đặc điểm ngành nghề kinh doanh và những đặc trưng riêng có của doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần xem xét đến sự phù hợp giữa tài sản và các nguồn tài trợ cho tài sản để VKD được sử dụng có hiệu quả nhất
- Chi phí huy động vốn
Doanh nghiệp muốn sử dụng bất cứ nguồn tài trợ nào cũng phải chịu một chi phí huy động vốn nhất định Chi phí huy động vốn sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản trị vốn của doanh nghiệp Để tăng cường quản trị VKD, doanh nghiệp cần xem xét cụ thể từng yếu tố để từ đó đưa ra những biện pháp quản lý thích hợp
1.3.2 Một số biện pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh
Trong môi trường cạnh tranh cuả nển kinh tế thị trường việc bảo toàn và tăng cường quản trị VKD là yêu cầu sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Tổ chức tốt việc quản lý và sử dụng VKD giúp cho doanh nghiệp với số vốn hiện
Trang 38có, có thể tăng được khối lượng sản ph m sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản ph m, góp phần tăng doanh thu và tăng lợi nhuận
Để bảo toàn và tăng cường quản trị VKD, doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh cụ thể để đề ra các biện pháp thích ứng với từng thành phần VKD Tuy nhiên, để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp cần chú ý một số biện pháp chủ yếu sau:
Đánh giá,lựa chọn và thực hiện tốt các dự án đầu tư phát triển doanh nghiệp
Việc đánh giá, lựa chọn và thực hiện dự án đầu tư phát triển doanh nghiệp
là vấn đề rất quan trọng bởi vì các quyết định đầu tư phát triển doanh nghiệp ảnh hưởng lâu dài và có tính quyết định đến hiệu quả sử dụng VKD
Quản lý chặt chẽ, huy động tối đa tài sản hiện có vào hoạt động kinh doanh để góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Cần lập hồ sơ, đánh số và mở sổ theo dõi, quản lý đối với từng tài sản kinh doanh, theo nguyên tắc mỗi TSCĐ phải do các nhân hoặc bộ phận chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng Thường xuyên kiểm tra, giám sát được tình hình sử dụng tài sản để có biện pháp huy động cao độ tài sản hiện có vào hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp được quyền chủ động và có trách nhiệm tiến hành nhượng bán TSCĐ không cần dùng, thanh lý TSCĐ đã hư hỏng, lạc hậu
kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng…để nhanh chóng thu hồi vốn Thực hiện định kỳ kiểm kê tài sản, xác định số lượng và hiện trạng tài sản (TSLĐ và đầu
tư ngắn hạn, TSCĐ và đầu tư dài hạn) Đối chiếu công nợ phải thu, phải trả khi khóa sổ kế toán để lập báo cáo tài chính và có biện pháp xử lý tổn thất tài sản
Trang 39Lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao TSCĐ
Doanh nghiệp cần lựa chọn và biết sử dụng các phương pháp khấu hao thích hợp để xác định mức khấu hao hợp lý làm cơ sở cho việc thu hồi kịp thời, đầy đủ vốn đầu tư ứng trước vào TSCĐ Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tập trung vốn nhanh để đầu tư đổi mới TSCĐ
Chú trọng thực hiện đổi mới TSCĐ một cách kịp thời và thích hợp để tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thực hiện đổi mới TSCĐ kịp thời, hợp lý doanh nghiệp có thể tăng đựơc năng lực sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng, cải tiến, đổi mới mẫu mã sản ph m, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, tiền công, tăng sức cạnh tranh của sản ph m từ đó mở rộng thị phần tiêu thụ, tăng doanh thu và lợi nhuận
Doanh nghiệp được quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển VKD theo quy định của pháp luật
Thực hiện tốt việc sửa chữa lớn TSCĐ kết hợp hiện đại hoá TSCĐ cần tính toán hiệu quả sửa chữa lớn TSCĐ
Thực hiện biện pháp này góp phần duy trì năng lực sản xuất xủa TSCĐ tránh tình trạng hư hỏng
Áp dụng nghiêm minh các biện pháp thưởng, phạt vật chất trong việc bảo quản và sử dụng các tài sản kinh doanh
Để tăng cường ý thức trách nhiệm của người quản lý, sử dụng để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro, bảo toàn VKD
Trang 40Doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp nhƣ mua bảo hiểm tài sản, trích lập quỹ dự phòng tài chính, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoán…