Việc khai thác và sử dụng đất 2 vụ trong vụ Xuân và vụ Mùa hiện nay ở Thành phố Yên Bái đang được thúc đẩy theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THU HÀ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG THUỘC LOÀI PHỤ JAPONICA TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THU HÀ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG THUỘC LOÀI PHỤ JAPONICA TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NGỌC NGOẠN
TS ĐẶNG QUÝ NHÂN
Thái Nguyên, 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc tham khảo
Tác giả
Phạm Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Thành ủy, UBND thành phố Yên Bái, Ủy ban nhân dân xã Tân Thịnh, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Yên Bái
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
GS.TS Trần Ngọc Ngoạn - phó Hiệu trưởng, TS Đặng Quý Nhân Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên là những người Thầy đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, và các thầy cô giáo đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Thành ủy, UBND thành phố Yên Bái, Ủy ban nhân dân xã Tân Thịnh, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Yên Bái, cùng bạn bè đồng nghiệp và người thân đã quan tâm giúp đỡ và động viên tối trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả
Phạm Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Đặt vấn đề 8
2 Mục tiêu của đề tài 10
2.1 Mục tiêu tổng quát:……… 3
2.2 Mục tiêu cụ thể: 11
3 Ý nghĩa của đề tài 11
Chương 1 12
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 12
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 14
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 14
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 19
1.2.3 Tình hình nghiên cứu giống lúa thuộc loài phụ Japonica trên thế giới 26
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam 28
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước 28
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước 32
1.3.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng ở Việt Nam 35
1.3.4 Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam 38
1.3.5 Tình hình nhập nội và sản xuất giống lúa thuộc loài phụ Japonica 39
Chương 2 43
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Đối tượng, nội dung và địa điểm nghiên cứu 43
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 43
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 43
2.1.3.Thời gian, địa điểm tiến hành nghiên cứu 44
2.2 Bố trí thí nghiệm 44
2.3 Các chỉ tiêu cần theo dõi:……… 38
2.3.1 Chỉ tiêu chất lượng mạ……… 38
2.3.2 Chỉ tiêu về khả năng đẻ nhánh 46
2.3.3 Chiều cao cây cuối cùng 46
2.3.4 Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại 46
2.3.5 Tính chịu lạnh ở giai đoạn mạ 49
2.3.6 Tính chống đổ 49
2.3.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 49
2.3.8 Đánh giá phẩm chất, chất lượng các giống lúa 50
2.3.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế 51
Trang 62.4 Phương pháp sử lý số liệu 51
Chương 3 52
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 52
3.2 Kết quả thí nghiệm so sánh ở vụ Mùa 2010 và vụ Xuân 2011 54
3.2.1 Sinh trưởng và phát triển của mạ 54
3.2.2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các giống lúa thí nghiệm 56
3.2.3 Chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm 58
3.2.4 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 60
3.2.5 Khả năng chống chịu sâu bệnh chính hại lúa 62
3.2.6 Tính chống đổ 64
3.2.7 Các yếu tố cấu thành năng suất lúa 64
3.2.7.1 Chiều dài bông 65
3.2.7.2 Số bông/m2 66
3.2.7.3 Số hạt/bông 67
3.2.7.4 Số hạt chắc/bông 68
3.2.7.5 Khối lượng 1000 hạt 68
3.2.7.6 Năng suất lý thuyết 69
3.2.7.7 Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 70
3.3 Phẩm chất và chất lượng các giống lúa 71
3.3.1 Chất lượng xay xát 73
3.3.2 Chất lượng thương trường 73
3.3.3 Chất lượng chế biến (chất lượng cơm) 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1.Kết luận 75
2 Đề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới từ năm 1995 -2009 16
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2009 19
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn từ năm 1961 đến năm 2009 31
Bảng 3.1:Tình hình sử dụng đất đai của Thành phố Yên Bái 52
Biểu đồ 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của thành phố Yên Bái 52
Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa giai đoạn 2005-2010 53
Biểu đồ 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa giai đoạn 2005-2010 53
Bảng 3.3 Sinh trưởng và phát triển của mạ vụ Mùa 2010 và vụ Xuân 2011 55
Bảng 3.4 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các giống lúa 57
Bảng 3.5 Chiều cao cây cuối cùng của các giống lúa thí nghiệm 59
Bảng 3.6 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2010 60
Bảng 3.7 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2011 61
Bảng 3.8 Tình hình sâu bệnh hại các giống lúa thí nghiệm 63
Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành và năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2010 65
Bảng 3.10: Các yếu tố cấu thành và năng suất của các giống lúa thí nghiệm 66
vụ Xuân 2011 66
Biểu đồ 3.3: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu 71
Bảng 3.11 Chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thí nghiệm 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của loài người Từ buổi ban đầu của nền văn minh, cây lúa là cây được trồng gắn liền với quá trình phát triển của loài người và đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam ta nói riêng và
có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta
Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu ăn ngon của người dân ngày càng tăng vì cây lúa đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân trong và ngoài nước
Diện tích trồng lúa trên thế giới không ngừng tăng, hiện có khoảng 154 triệu ha Tổng sản lượng lúa gạo đạt trên 615 triệu tấn, cung cấp cho cả thế giới [FAO STAT 2005]
Tại Việt Nam từ khi giành được độc lập (1945) đến nay, diện tích trồng lúa gạo không ngừng được mở rộng, năng suất ngày càng tăng, nhân dân ta có truyền thống cần cù trong lao động, thông minh sáng tạo trong thực hiện lao
động sản xuất, biết tận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
không ngừng nâng cao năng suất của lúa gạo Từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước (1986) chúng ta vẫn nằm trong các nước thiếu lương thực trầm trọng, song với đường lối đổi mới của Đảng ngành nông nghiệp đã có bước khởi sắc, chúng ta từ một nước nhập khẩu lương thực
đã trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 thế giới (sau Thái Lan)
Thành phố Yên Bái là đô thị loại 2, là trung tâm chính trị, kinh tế của tỉnh Yên Bái Thành phố Yên Bái có dân số 94.915 người, đời sống vật chất không ngừng nâng cao, nhu cầu lương thực ngày càng tăng theo xu hướng sử dụng gạo có chất lượng trong bữa ăn hàng ngày của người dân đô thị Nhưng hiện tại mới có vài nơi gieo trồng lúa có chất lượng cao với quy mô nhỏ hẹp với tổng diện tích ước khoảng 80 ha, số lượng này chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ từ 5-10%, còn lại toàn bộ lượng thiếu hụt phải nhập từ các tỉnh lân
Trang 9cận khác Trong khi đó đất đai Yên Bái màu mỡ, lao động dư thừa, khí hậu ôn hoà phù hợp cho mở rộng, phát triển diện tích lúa có triển vọng về năng suất
và chất lượng
Sở dĩ chúng ta chưa khai thác lợi thế về tiềm năng và thị trường tiêu thụ bởi những năm qua chúng ta chưa có đề tài nghiên cứu và ứng dụng đưa các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản suất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích Người dân chủ yếu trồng lúa bằng những giống lúa thuần, theo tính chất tự phát, thiếu bộ giống tốt, thiếu kỹ thuật, thiếu định hướng từ các cơ quan quản lý và các nhà chuyên môn, do đó diện tích lúa chất lượng tại thành phố Yên Bái còn ít, năng suất thấp vì vậy hiệu quả kinh tế đem lại không cao
Cơ cấu giống lúa nhất là giống chất lượng có giá thành cao, có hiệu quả kinh tế tại địa bàn Thành phố còn đơn điệu, chưa có nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, ổn định và có thể sản xuất bền vững, đảm bảo đáp ứng được mục tiêu chung của xã hội
Thành phố Yên Bái có diện tích đất tự nhiên 10.815 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 2.833 ha, đất 2 vụ lúa có 728 ha Hàng năm diện tích
đất 2 vụ ở Thành phố Yên Bái thường được trồng 2 vụ lúa nước vào vụ Xuân
và vụ Mùa
Việc khai thác và sử dụng đất 2 vụ trong vụ Xuân và vụ Mùa hiện nay
ở Thành phố Yên Bái đang được thúc đẩy theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản
xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của Thành phố, giải quyết vấn đề lương thực nhất là gạo có chất lượng cho người dân tại địa phương và các vùng lân cận, tận dụng nguồn lao động nông nhàn sẵn có, ngoài ra khai thác đất 2 vụ gieo trồng bằng các giống lúa triển vọng cũng góp phần làm thay đổi tập quán, phương thức sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của một bộ phận nông dân nông thôn, đó là những mặt tích cực mà việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất là chuyển dịch cơ cấu giống lúa trong nông nghiệp đem lại cho nông dân
Trang 10Tuy nhiên do bước đầu triển khai thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhất là giống lúa có triển vọng còn gặp phải khó khăn đó là thay đổi tập quán lâu đời của người dân khi họ chỉ biết sản xuất ra các sản phẩm tự cung,
tự cấp, họ ít quan tâm đến sản xuất hàng hoá Vì vậy người dân còn đang lúng túng chưa tìm ra được giống lúa có triển vọng về năng suất và chất lượng, có giá trị kinh tế vào sản xuất
Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân trên đơn vị diện tích, thực hiện thành công chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong vụ Xuân và vụ Mùa tiến tới khai thác các cây trồng vụ
đông Xây dựng thành công mô hình những cánh đồng đạt và vượt 50 triệu đồng trên 1 ha theo phong trào thi đua mà ngành nông nghiệp phát động
Để thực hiện chủ trương của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành phố
Yên Bái về thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng
mở rộng diện tích gieo cây lúa có triển vọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, góp phần cung cấp lương thực lúa gạo chất lượng phục
vụ cho tiêu dùng tại chỗ, theo hướng đó Thành phố Yên Bái cũng cần có vùng chuyên canh gieo cấy lúa triển vọng về năng suất khá và chất lượng tốt, có hiệu quả kinh tế, để thoả mãn cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và cung cấp cho 1
số tỉnh bạn, Hà Nội và có thể tham gia vào chương trình xuất khẩu chung của toàn ngành Tuy nhiên muốn làm được điều đó, trước hết cần phải có nghiên cứu thử nghiệm ban đầu để làm mô hình khuyến cáo mở rộng
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi thực hiện đề tài:"Nghiên cứu khả
năng thích ứng của một số giống lúa thuộc loài phụ Japonica tại Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái"
2 Mục tiêu của đề tài
Trang 11- Đa dạng hoá thêm các giống lúa chất lượng tại địa phương
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của nông dân
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng cần có những giống cây trồng tốt phù hợp với điều kiện canh tác Vì vậy một trong những biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm tận dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, là
bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với một vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp Trong việc xác định giống cây trồng hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao,
đất đai là một trong những căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, cho nên
cần phải nắm vững mối quan hệ giữa một nhóm cây trồng với đặc điểm đất
đai thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao
Giống là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất.Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào Ngày nay, quan niệm
“nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đã không còn phù hợp nữa
Nếu xếp giống vào hệ thống các khâu kỹ thuật canh tác thì giống tốt phải
được xếp vào vị trí trung tâm Trong những năm gần đây, sản lượng lương
thực ở một số nước tăng lên khá nhanh, chủ yếu nhờ áp dụng trên quy mô lớn các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp thích hợp mà chủ yếu là cải tiến giống Vì giống lúa là một trong những điều kiện quyết định đến năng suất
và phẩm chất của sản phẩm thu hoạch
Theo Thanh Tri-1987 [20] giống lúa là một trong những biện pháp
quan trọng trong việc tăng năng suất sản lượng lương thực, trong thực tiễn sản xuất ở nhiều địa phương nếu có cơ cấu giống phù hợp với điều kiện tự nhiên
và sử dụng loại giống có độ thuần cao, phẩm chất giống tốt thì có thể nâng cao được năng suất lúa lên từ 15-20% trở lên
Các giống lúa khác nhau có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng ở mỗi vùng khác nhau Để xác định được giống tốt cho một vùng
Trang 13sản xuất nào đó cần phải tiến hành khảo nghiệm, gieo cấy thử nghiệm qua một vài vụ sản xuất để đánh giá khả năng thích ứng của giống đó Do đó việc xác định tính thích nghi của giống nào đó trước khi đưa ra sản xuất trên diện tích rộng phải tiến hành bố trí gieo trồng tại nhiều vùng có đặc điểm sinh thái khác nhau nhằm đánh giá khả năng thích ứng, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng chống chịu sâu, bệnh, mức độ chịu đất chua mặn, khả năng cho năng suất, hiệu quả kinh tế của giống đó so với các giống đang gieo trồng đại trà hiện có tại một khu vực hoặc một địa phương nào đó
Ở đề tài này với mục tiêu đánh giá khả năng thích ứng của một số
giống lúa có triển vọng thuộc loài phụ Japonica với mục đích chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị, thay thế những cây trồng hiện có chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, cải tiến để đưa giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất phù hợp với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái
Cần phải tạo ra các giống lúa triển vọng, tạo ra sản phẩm hàng hoá, sử dụng hợp lý phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới có triển vọng song vẫn đảm bảo có năng suất khá, sử dụng nước tưới và các biện pháp kỹ thuật không khác nhiều so với tập quán canh tác của địa phương
Đối với lúa trong sản xuất hiện nay khi đưa giống mới vào sản xuất
người ta thường quan tâm đến thị hiếu người tiêu dùng và việc tiêu thụ sản phẩm đó ra sao
Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ưu, nhược điểm song
sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian, thời gian nhất định và được người nông dân chấp nhận và mở rộng
Cơ cấu các giống lúa đang được gieo trồng được chọn dựa trên lợi ích cho đa số người dân, cơ cấu các giống lúa triển vọng phải được bố trí hợp lý,
có độ an toàn, xác suất gặp rủi ro thấp nhất, phù hợp với tập quán canh tác của
địa phương, đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong vùng
Trang 141.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới
Trải qua các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong những năm qua cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá Chỉ thị 100 của ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta (Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp - nông thôn) [Website: Faostat.fao.org]
Ngày nay trong cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc thâm canh tăng vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong đó vấn đề tiến bộ về giống được đặc biệt quan tâm Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, Nhà nước luôn khuyến khích và mong muốn sản phẩm của nông dân phải trở thành hàng hoá và người nông dân phải có thu nhập ổn định Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhất là cơ cấu giống lúa cần khuyến khích sự phát triển theo hướng nằm trong khuôn khổ của sự kết hợp của 4 nhà: Nhà nước, nhà Doanh nghiệp, nhà Khoa học và nhà nông Sản phẩm làm ra phục vụ cho thị trường hay nói cách khác sản xuất ra sản phẩm theo tiếng gọi của thị trường,
đảm bảo thu nhập cho người nông dân
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Dân số thế giới không ngừng tăng cao Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về lương thực, sản xuất lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể, nhưng phân bố không đều do các trở ngại về tiếp cận lương thực, thu nhập quốc gia và thu nhập của hộ gia đình không đủ để mua lương thực, sự bất ổn giữa cung cầu, thiệt hại do thiên tai mang lại là những nhân tố khiến cho vấn đề lương thực trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết Tuy tổng sản lượng lúa không ngừng được gia tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng dân
Trang 15số tăng nhanh hơn, nhất là ở các nước đang phát triển, nên lương thực vẫn là vấn đề cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt cũng như lâu dài
Cây lúa là một loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một quá trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng nên cây lúa có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được trồng ở nhiều nơi trên thế giới
Cây lúa trên thế giới được trồng ở 5 vùng đất chính là: Vùng chủ động tưới tiêu, vùng đất thấp chịu nước trời, vùng đất cao, vùng ngập nước, vùng
đất ngập do thủy triều Có khoảng 80 triệu ha hoặc 55% diện tích đất trồng
lúa của thế giới được tưới tiêu chủ động trong suốt vụ gieo trồng Người ta
ước tính khoảng 75% sản lượng lúa của thế giới thu từ các vùng được tưới
tiêu này Diện tích lúa của thế giới vào khoảng 150 triệu ha hàng năm (chiếm 11% đất gieo trồng của thế giới) [19] Trên thế giới có khoảng trên 100 nước
đang trồng lúa thì đa số nằm ở Châu Á Cây lúa gắn bó mật thiết với các quốc
gia thuộc Đông Nam Á và Nam Á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản Trong
số 25 nước sản xuất lúa chính của thế giới có 17 nước nằm trong vùng này và
8 nước nằm ngoài vùng (Jay Maclean, 1985) Trên 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc 8 nước mà những nước này đều tập trung ở Châu Á (gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Banladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nhật Bản) [4]
Từ năm 1995 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới
có tăng nhưng với mức độ chậm, thậm chí sản lượng năm 2003 thấp hơn năm
1999 Bởi vì giai đoạn này trình độ sản xuất lúa của nhiều nước trên thế giới
đã phát triển tương đối cao, một số nước năng suất đã vượt trần, diện tích khai
hoang đã hết, tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tăng, đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Chúng ta thấy được điều này qua bảng 1.1
Cây lúa còn được trồng ở nhiều nước khác trên thế giới Riêng khối châu
Âu có 10 nước trồng lúa, với sản lượng của tất cả các vùng là 3,2 triệu tấn (1992), chiếm 0,6% sản lượng lúa thế giới, ở Châu Phi người ta cũng đã tự túc
Trang 16được 2/3 nhu cầu lương thực bằng lúa gạo, với năng suất chỉ bằng 40% năng
suất bình quân của thế giới, số còn lại phải nhập khẩu [12]
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ngày một tăng nhưng tốc độ tăng diện tích chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng sản lượng, như vậy sản lượng tăng là do tăng năng suất là chủ yếu Trong những năm gần đây, do việc sử dụng các giống lúa mới cộng với việc áp dụng các biện pháp canh tác và bố trí cơ cấu các trà lúa hợp lý, làm cho sản lượng lúa tăng một cách đáng kể ở hầu hết các quốc gia trồng lúa
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới từ năm 1995 -2009
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAO STAT 2010
Tuy vậy, trong tương lai, sản lượng lúa của thế giới sẽ phải tăng ở mức 1,6%/năm giai đoạn 2000-2025 mới đáp ứng nhu cầu dân số ngày càng tăng
Trang 17của thế giới Đối với những nước đứng đầu về sản xuất lúa của Châu Á thì tỷ
lệ tăng này đòi hỏi ở mức 2,0%/năm Đây là nhiệm vụ không dễ của các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học trong thời gian tới
Sản lượng lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây tăng đáng kể: Năm 1970, sản lượng lúa chỉ là 308,8 triệu tấn Năm 2001, diện tích lúa của thế giới là
151,966 triệu ha, năng suất 39,3 tạ/ha, sản lượng đạt 597,226 triệu tấn Đến
năm 2002 đạt 577,507 triệu tấn Năm 2003 đạt 581,911 triệu tấn, năm 2004
đạt 607,128 triệu tấn và đến năm 2005 đạt 614,044 triệu tấn Năm 2006 đạt 644,100 triệu tấn Năm 2007 tăng lên 651,7 triệu tấn Sản lượng đạt 685,013
triệu tấn năm 2008 Năm 2009 tiếp tục tăng lên 685,240 triệu tấn.[14]
Ở Trung Quốc, trong các loại cây lương thực (gồm lúa, tiểu mạch, ngô, đậu và khoai) thì cây lúa nước là loại cây lương thực chủ yếu, sản lượng
chiếm khoảng 40% tổng sản lượng lương thực trong cả nước Diện tích trồng lúa nước chủ yếu ở các vùng lưu vực sông Trường Giang, vùng Hoa Nam và vùng cao nguyên Vân Quý Năm 2003, Trung Quốc đã tích cực điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và nông thôn mang tính chiến lược Diện tích lúa mạch hè thu đạt 100 triệu mẫu, tăng 15 triệu mẫu so với năm 2002, diện tích giống lúa ngắn ngày chất lượng cao tăng 70% Tuy nhiên, dự đoán trong năm 2004 lượng gạo trong nước của Trung Quốc vẫn không đủ cầu Từ tháng 9 năm
2003 tới tháng 6 năm 2004, giá gạo bán liên tục tăng ở đất nước này Để giảm
áp lực về thiếu lương thực, Trung Quốc đang có chính sách khuyến khích thúc đẩy nông dân tích cực sản xuất mở rộng diện tích trồng lúa, gia tăng sản lượng và quan tâm đến vấn đề chất lượng lúa gạo Quốc vụ viện Trung Quốc
đã quyết định giao cho Tài chính Trung Ương hỗ trợ cung cấp giống lúa ngắn
ngày chất lượng cao cho 7 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, Hắc Long Giang, Cát Lâm và Liêu Ninh với trị giá 450 triệu NDT (đồng nhân dân tệ) nhằm giúp nông dân có giống tốt để sản xuất Trung Quốc đang có dự kiến
mở rộng phạm vi và qui mô thí điểm hỗ trợ lai tạo giống tốt và khởi động chương trình lương thực chất lượng cao
Trang 18Năm 2009 diện tích trồng lúa ở Trung Quốc là 29,88 triệu ha, năng suất đạt 65,82 tạ/ha còn sản lượng đạt 196,68 triệu tấn[14]
Ở Thái Lan, lúa là cây lương thực quan trọng nhất Lúa được trồng rải
rác ở các vùng và phân bố như sau: Gần 1/2 diện tích đất lúa ở vùng Đông Bắc, khoảng 1/5 ở miền Trung, 1/5 ở miền Bắc và vùng núi phía Nam chỉ có 6% Tổng diện tích đất lúa vào khoảng 10 triệu ha, trong đó 1/4 được tưới tiêu Sản lượng lúa bị hạn chế, dao động xung quanh 20 triệu tấn/năm kể từ
1985, đến năm 2009 sản lượng đạt 31,46 triệu tấn [14]
Indonesia là nước có diện tích trồng lúa khá lớn trong tốp 10 nước đứng
đầu thế giới 70% đất trồng lúa được tưới tiêu với 2 vụ lúa/ năm Việc sử dụng
các giống lúa cải tiến có năng suất cao ở đây được tăng cường đáng kể Trên 85% diện tích lúa được trồng bằng các giống lúa mới Tuy nhiên, đất trồng lúa ở đây đang bị lấn dần do xây dựng nhà cửa và phát triển khu công nghiệp Trước kia, Indonesia là một nước thiếu lương thực, vào cuối những năm 1980 nước này đã xuất khẩu được lượng nhỏ sau đó lại trở lại tình trạng nhập khẩu
gạo Tổng diện tích đất lúa vào khoảng 12 triệu ha, năm 2001 năng suất đạt
43,8 tạ/ha, đến năm 2009 năng suất đạt 49,98 tạ/ha và sản lượng 64,39 triệu tấn diện tích đã tăng lên 12,88 triệu ha [14]
Myanmar có 52% diện tích đất lúa là vùng đất thấp chịu nước trời, 18%
đất thấp có tưới tiêu Lúa ngập nước được trồng khoảng 24% và đất cao chỉ
chiếm 6% Năm 2008 diện tích đất lúa 8,2 triệu ha, sản lượng 30,5 triệu tấn Năm 2009 diện tích đất lúa giảm xuống 8,0 triệu ha nhưng sản lượng lại tăng 32,68 triệu tấn Hiện nay Myanmar đang tăng cường sản xuất lúa với các loại giống cải tiến có năng suất cao Các nhà khoa học ở đây đã tích cực thu nhập nguồn vật liệu từ INGER và nguồn gen lúa cổ truyền địa phương để lai tạo, chọn lọc ra các giống lúa tốt Myanmar hiện đang đạt năng suất lúa ở mức 40,85 tấn/ha
Philippines tăng cường sử dụng các giống lúa mới Diện tích trồng các giống mới tăng lên 87% vào năm 1991 Năng suất lúa bình quân đạt 3,0
Trang 19tấn/ha năm 2000 và đến năm 2008 tăng lên 3,7 tấn/ha Sản lượng lúa tăng từ 12,4 triệu tấn năm 2000 lên 16,8 triệu tấn năm 2008 Năng suất giảm xuống 3,55 tấn/ha và đồng thời sản lượng giảm xuống 16,2 triệu tấn vào năm 2009[14]
Ấn Độ, năm 2002 - 2003 sản lượng gạo là 72,7 triệu tấn, giảm 20,42
triệu tấn, tương đương 21,94% so với năm 2001 - 2002 Một trong những lý
do của sự giảm sụt sản lượng là do thời tiết xấu ở nhiều vùng như hạn, lụt, sâu bệnh Tuy nhiên đến năm 2003 - 2004, Ấn Độ được mùa và sản lượng gạo của Ấn Độ đã đạt 87,94 triệu tấn, tăng 15,28 triệu tấn so với năm 2002 - 2003
Đến năm 2008 sản lượng lúa của Ấn Độ đạt 148,26 triệu tấn Nhưng đến 2009
thì sản lượng lúa của Ấn Độ chỉ đạt 133,7 triệu tấn[14]
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2009
Tên nước Diện tích
( triệu ha )
Năng suất ( tạ / ha )
Sản lượng ( triệu tấn)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung, và nguồn gen cây lúa nói riêng Ngay từ những năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm vụ chính là thu
Trang 20nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại Trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế,
đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống trên thế giới đồng thời cung cấp
nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng [11]
Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế với tên tiếng Anh là International Rice Research Institute (IRRI) ở Los Banos, Philippines đã bắt đầu chương trình thu thập, bảo tồn và đánh giá các giống cổ truyền và các cây lúa dại từ năm 1962 Từ khi thành lập IRRI đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây
đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới trong bộ sưu tập
có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó các giống lúa trồng ở châu Á (O sativa)
chiếm đến 95% [32] Khoảng 90.000 giống lúa trồng trên khắp thế giới đã
được tồn trữ ở IRRI và cùng một số lượng giống lúa này được IRRI gửi bảo
quản ở Phòng Khảo nghiệm tồn trữ hạt giống quốc gia Mỹ (US National Seed Storage Laboratory) tại Fort Collins thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ, Colorado - Mỹ
và ở Viện Quốc gia Tài nguyên Nông sinh (National Institute of Agrobiological Resources) ở Nhật Bản Nhưng sự bảo quản tại các phòng lạnh hiện nay có thể làm ngăn trở sự tiến hóa của các giống lúa này với môi trường Vì vậy, bảo quản các giống lúa ngoài ruộng rất cần thiết nhưng tốn kém
Trong hơn 40 năm tồn tại và phát triển IRRI đã lai tạo, chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt phổ biến khắp thế giới, tiêu biểu như các giống
IR, Jasmin IR8 mở đầu cho cuộc cách mạng xanh ở các nước Nam Á và
Đông Nam Á Tiếp theo là sự ra đời của các giống lúa, mà sự ra đời của
các giống này đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, phẩm chất lúa như: IR5, IR6, IR20, IR22, IR26, IR36, Những năm 80 (thế kỷ XX) giống IR8
được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể
Trang 21Cuộc “cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 (thế kỷ XX) đã có ảnh
hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã
được tạo ra để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo Các nhà nghiên cứu
của viện lúa Quốc tế đã nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và Jasmin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Trên cơ sở một số giống lúa chất lượng cao Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lượng Vitamin và Protein cao, có mùi thơm, cơm dẻo ) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng [27]
IRRI đã có quan hệ chính thức với Việt Nam từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây lúa Trong quá trình hợp tác, Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc
điểm sinh học tốt, chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất
thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt vv [31]
Các nhà khoa học Ấn Độ và Nhật Bản là những người đầu tiên đề xuất mở rộng sản xuất lúa lai thương phẩm [29] Tại viện nghiên cứu lúa quốc tế - IRRI các nhà khoa học đã xây dựng chương trình nghiên cứu về lúa lai làm
cơ sở cho phát triển sản xuất lúa lai thương phẩm Song tất cả họ đều chưa thành công vì chưa tìm ra phương pháp thích hợp để sản xuất hạt lai [30] Nhưng việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa không chỉ dừng lại ở đó, sự miệt mài của các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên thế giới Các giống lúa IR5, IR6, IR8, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt
về năng suất Các viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn lọc
Trang 22ra nhiều những giống lúa tốt phục vụ sản xuất
Hiện nay người ta ứng dụng ưu thế lai trong sản xuất lúa Trong lịch
sử phát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm
1996, Trung Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 d ò n g "
và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước [35] Cụ thể như sau: năm
1973 Shiming Song phát hiện ra được dòng bất dục mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn (PGMS) từ giống Nongken 58 Nhiều kết quả nghiên cứu khác về lúa lai hai dòng cũng đã được công bố Năm 1991 các nhà khoa học Nhật Bản đã áp dụng phương pháp gây đột biến nhân tạo để tạo ra dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ [29] Chương trình phát triển lúa lai giữa các loài phụ indica và japonica được bắt đầu từ năm 1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng, mở ra tiềm năng về năng suất cao cho các giống lúa lai hai dòng [34] Những tổ hợp giữa các loài phụ như: Chen 232/26 Zhazao; 3037/02428 và 6154S/vaylava đưa ra ở Trung Quốc nhưng không được sử dụng trong sản xuất đại trà, vì cây F1 quá to, bông quá lớn, số dảnh ít, dạng lá rộng Bởi thế, Yang Z và CS (1997) [37] đã đề xuất một lý thuyết chọn giống năng suất siêu cao thông qua việc kết hợp hình dạng lý tưởng và ưu thế lai thích hợp Nhờ ưu thế hơn hẳn về năng suất nên diện tích lúa lai của Trung Quốc không ngừng được mở rộng Năm 1992 diện tích gieo trồng lúa lai của Trung Quốc là 15.000 ha với năng suất 9 - 10 tấn/ha, năng suất cao nhất
đạt 17 tấn/ha [3] Năm 1997 đã có 640.000 ha, năng suất trung bình cao
hơn lúa lai 3 giống từ 5 - 15% [37] Đến năm 2001 diện tích lúa lai 2 dòng
đạt 2,5 triệu ha Một số tổ hợp lai hai giống điển hình có năng suất đạt hơn
10,5 tấn/ha ở điểm trình diễn và năng suất trung bình trên diện rộng là 9,1 tấn/ha Đã có những tổ hợp lúa lai 2 dòng đều mới đạt 12 - 14 tấn/ha trong ô
Trang 23thí nghiệm [36] Hầu hết các tổ hợp lai hai dòng đều cho năng suất cao và phẩm chất tốt hơn so với tổ hợp lai ba dòng [3] Gần đây hướng nghiên cứu phát triển lúa lai một giống là muc tiêu cuối cùng và rất quan trọng của công tác chọn tạo lúa lai của Trung Quốc Ý tưởng của Yuan L.P là cố định ưu thế lai và sản xuất lúa lai thuần đã trở thành đề tài lớn, quan trọng trong các chương trình quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ cao
Như vậy xu thế phát triển tất yếu của lúa lai theo Yuan Long Ping
đã khởi xướng là phát triển từ hệ thống ba dòng đến hệ thống hai dòng và
sau đó là hệ lai một dòng hay cố định ưu thế lai ở F1 thành lúa lai thuần
Sự phát triển thành công của công nghệ sản xuất lúa lai ở Trung Quốc đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay có
17 nước trên thế giới nghiên cứu và sản xuất lúa lai đã đưa tổng diện tích lúa lai của thế giới lên tới khoảng 10% tổng diện tích trồng lúa và chiếm 20% tổng sản lượng lúa gạo toàn thế giới, song phát triển mạnh nhất vẫn là Việt Nam và Ấn Độ Lúa lai đã thực sự mở ra hướng phát triển mới để nâng cao năng suất, sản lượng lúa cho xã hội loài người
Ấn Độ là một nước đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” và thành công
lớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất Trong công tác nghiên cứu giống lúa, Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Ngoài ra tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các
cơ sở quan trọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệt đới (ICRISAT) Nhờ vậy Ấn Độ là nước có nhiều giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong
đó giống lúa Basmati có giá trị trên thị trường tới 850 Đô la Mỹ/tấn, trong
khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460
Đô la Mỹ /tấn [9]
Mặt khác, Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã
Trang 24đạt được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai tốt được sử dụng
ở Ấn Độ như; IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161,
ORI 136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 Một trong những giống lúa chất lượng cao do các nhà khoa học chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam công nhận năm 2007 [9]
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu thế giới Với những
ưu đãi của thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu,
mặc dù năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục
vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài
và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho chúng ta thấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của Việt Nam Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới của Thái Lan là: Khaodomali, Jasmin (Hương nhài)
Đối với Nhật Bản, công tác giống lúa cũng được đặc biệt chú trọng
về giống chất lượng cao vì người Nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, các Viện và các Trạm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Sags, là những nơi diện tích trồng lúa lớn Trong công tác nghiên cứu giống lúa ở các Viện, các nhà khoa học Nhật Bản đã tập trung lai tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo
Trang 25ngon và năng suất cao như giống: Miyazaki1 và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13%, hàm lượng Lysin cũng rất cao [Nguyễn Hữu Hồng (1993) [8] Ngoài ra, thành công trong công tác giống lúa của Nhật Bản còn được đánh dấu bởi giống Tongil đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lúa
Các nước Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan chủ yếu nghiên cứu
và sử dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực này Các giống lúa nổi tiếng của khu vực này là Tongil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang chan gi, Đee- Geo-Wô-Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee-Geo-Wô-Gen
là một vật liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [26]
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng Các giống này không phải là biến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta-carotene và anthocyanins - một chất chống ôxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học Như trên ta thấy, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người các nhà chọn giống không những chọn tạo ra được những giống lúa có năng suất cao mà còn chọn tạo ra những giống có chất lượng cao, hàm lượng dinh dưỡng lớn Đây cũng là một giải pháp để giảm áp lực cho y học Vì vậy, một số viện nghiên cứu quốc tế đang tập trung vào giống lúa
mới “gạo vàng 2” để chống lại nguy cơ bệnh mù do thiếu vitamin A đang tăng lên trên thế giới So với giống "gạo vàng" phát triển vào năm 2000,
“gạo vàng 2” này có hàm lượng beta-carotene cao gấp 23 lần
Theo ông Jagadish Mittur - giám đốc Trung tâm nghiên cứu Monsanto ở Bangalore (Ấn Độ), bộ gen của giống lúa mới được ghép thêm gen của cây thủy tiên hoa vàng hoặc cây ngô Giống lúa đang được nghiên
Trang 26cứu và phát triển ở sáu nước châu Á, trong đó có Việt Nam Vì giống lúa mới là sản phẩm của công nghệ biến đổi gen, các nhà khoa học đang nghiên cứu để xác định độ an toàn thực phẩm và an toàn môi trường của giống lúa này, trước khi đưa vào gieo trồng đại trà mang tính thương mại trong vòng 3-4 năm tới [23]
Ngoài châu Á, thì ở Mỹ, năm 1926, J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Có 2 người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent và Craiglules Trong thời gian gần đây các nhà khoa học Mỹ không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo và
đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà còn
nghiên cứu tỷ lệ protein trong gạo, phù hợp với thị trường hiện nay
Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh
1.2.3 Tình hình nghiên cứu giống lúa thuộc loài phụ Japonica trên thế giới
Lúa trồng Oryza sativa (2n = 24) được phân làm các loài phụ là O.S Indica, O.S Japonica và O.S Javanica Ngoài ra, còn có các nhóm giống lúa trung gian giữa các loài phụ trên (Glaszmann, 1987) Các giống lúa Japonica
được sản xuất chủ yếu ở vùng lạnh và cận nhiệt đới Một số nhà khoa học trên
thế giới, dựa trên phân tích gen, cho rằng các giống lúa Japonica có nguồn gốc từ các vùng núi Việt - Trung.[24]
Trên thế giới người ta biết đến 2 loại gạo chất lượng cao chính: gạo hạt dài chất lượng cao thuộc loài phụ Indica, được sản xuất ở các nước nhiệt đới
và loại hạt tròn thuộc loài phụ Japonica được sản xuất chủ yếu ở vùng lạnh Khác với lúa Indica, hạt gạo của lúa Japonica tròn, cơm dẻo do có hàm lượng amylose thấp hơn và có chứa amylopectin Một số giống lúa Japonica, cơm có màu hơi vàng do có hàm lượng protein trong hạt khá cao [24]
Trang 27Lúa Japonica thấp cây đến trung bình, chống đổ tốt, chịu thâm canh, chịu lạnh khoẻ, có khả năng chống chịu nhiều loại sâu bệnh, thời gian sinh trưởng
từ ngắn đến trung bình Ưu điểm quan trọng của lúa Japonica là khả năng chịu
thích hợp với vùng trồng có khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới và vùng cao nhiệt
đới Các nước trồng lúa Japonica chủ yếu tập trung ở châu Á như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc trải dài tới Trung Cận Đông: Ai Cập, Maroc, Thổ Nhĩ
Kỳ Do sự đa dạng và tính thích ứng tốt của giống nên các châu lục khác cũng trồng lúa Japonica như châu Âu, bắc Mỹ, châu Úc, các nước Trung Á thuộc Liên Xô (cũ) Lúa Japonica có năng suất trung bình cao hơn lúa Indica từ 0,5 – 1 tấn/ha.Tại những trạm thực nghiệm năng suất có thể tới 13 tấn/ha Úc và Ai Cập là nơi sản xuất lúa Japonica có năng suất bình quân 9-9,5 tấn/ha (Dat Van Tran 1998).[24]
Theo thống kê của FAO từ năm 1982-1994 diện tích trồng lúa Japonica trên thế giới thay đổi không nhiều, nhưng sản lượng lúa tăng 16,6% chủ yếu nhờ vào tăng năng suất trung bình từ 5 - 5,8 tấn/ha Tổng sản lượng lúa Japonica của thế giới khoảng 100 triệu tấn trên diện tích 17,29 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% tổng diện tích trồng lúa thế giới [28] Nhưng tình hình sản suất lúa Japonica trên thế giới hiện nay có những thay đổi, diện tích trồng lúa Japonica đã lên tới 20% Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa Japonica với tổng diện tích khoảng 7,3 triệu ha, tiếp đó là Nhật bản 2,1 triệu ha, Triều Tiên và Hàn Quốc khoảng 2,5 triệu ha, Nepal 1,45 triệu ha Nước Mỹ hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu tấn lúa Japonica trên 1,3 triệu
ha (Source: FAO 2005) Bang California là bang sản xuất chính với 90% lúa Japonica, với năng suất bình quân 9 tấn/ha, trong đó xuất khẩu khoảng 30% (Mechel S Paggi and Fumiko Yamazaki 2001)[24]
Ba thị trường nhập khẩu lúa Japonica lớn nhất châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan của Mỹ, Australia, Trung Quốc và Thái Lan Riêng Nhật Bản mỗi năm nhập khẩu gần 1 triệu tấn gạo Japonica Thổ Nhĩ Kỳ là thị
Trang 28trường lớn thứ nhì, nhập khẩu từ Ai Cập, Mỹ và Australia [28] Ngoài ra còn khoảng 42 quốc gia khác nhập khẩu gạo Japonica [24]
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nền văn minh lúa nước trải qua
4000 năm, sản xuất lúa gạo gắn liền với sự phát triển nông nghiệp Nước ta nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai phù hợp nên có thể trồng nhiều vụ lúa trong năm với nhiều giống lúa khác nhau
Từ thủa đầu dựng nước cây lúa đã được gắn liền với nền văn minh lúa nước trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Cùng thời gian đó năng suất và sản lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về giống lúa và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh một cánh hợp lý, đồng bộ Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,8 lần, giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Có được như vậy là nhờ các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là việc chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá (Khoán 10), lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích người dân đầu tư, thâm canh sản xuất lúa Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục từ 9,0 triệu tấn năm 1961 lên 38,89 triệu tấn năm 2009 (Bảng 1.3) Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần
2 triệu tấn gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho 86 triệu dân, ngoài ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn ra thị trường thế giới Những năm gần đây, nước ta luôn đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu (đạt 5,25 triệu tấn năm 2005)
và sẽ ổn định xuất khẩu khoảng 4 - 5 triệu tấn trong những năm tiếp theo
Đây là thành công lớn trong công tác chỉ đạo và phát triển sản xuất lúa của
Việt Nam
Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp,
Trang 29nông dân và nông thôn Trong thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong những năm qua cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá Cụ thể, Đại hội VI của Đảng (1986) đã đánh giá: những bước đi đầu tiên trong cải tiến cơ chế quản lý đã cho thấy sự xuất hiện sớm hơn của tư duy mới, cách làm mới trong lĩnh vực kinh tế, trong đó có Chỉ thị 100 (tháng 10-1981) của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, về thay đổi cách chỉ đạo, tổ chức sản xuất, quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đã đem lại niềm phấn khởi và khí thế mới ở nông thôn, giải phóng sức sản xuất cho hàng triệu nông dân
Trên cơ sở thắng lợi của cơ chế Khoán 100 (khoán đến nhóm và người lao động), ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về Đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, trong đó xác định rõ vai trò của kinh tế hộ, coi hộ gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế
tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất
Tác dụng của cơ chế Khoán 10 cùng với những thành tựu về thuỷ lợi, cải tạo giống, thâm canh tăng năng suất ở đồng bằng Bắc Bộ và mở rộng diện tích đất canh tác ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa nền nông nghiệp Việt Nam sang trang sử mới Từ chỗ thiếu ăn triền miên, đến năm
1988 vẫn còn phải nhập khẩu hơn 450.000 tấn gạo, nhưng từ năm 1989, Việt Nam vừa bảo đảm nhu cầu lương thực trong nước, có dự trữ, vừa xuất khẩu gạo mỗi năm từ 1 đến 1,5 triệu tấn và tiến dần lên tới 4 đến 4,5 triệu tấn như hiện nay
Trên cơ sở nhìn lại hơn 20 năm đổi mới của đất nước và phân tích thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến nay, Hội
Trang 30nghị Trung ương 7 vừa qua đã tập trung trí tuệ, thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, dân chủ và nhất trí thông qua Nghị quyết "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" Và ngày 05/8/2008, Ban chấp hành Trung ương đã chính thức ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Hiện nay lúa vẫn là cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta, cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực trong nước
Trong những năm gần đây diện tích cấy lúa không tăng nhưng do năng suất cây lúa được cải thiện đáng kể mà sản lượng lúa không ngừng tăng lên từ 24,9 triệu tấn thóc năm 1995 đến năm 2009 đã đạt 38,89 triệu tấn
Sau một chặng đường dài không ngừng đổi mới phát triển nông nghiệp sản xuất lúa gạo ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể như:
Xây dựng và phát triển các cánh đồng lúa nước khắp nơi trên nền tảng cải tạo đất đai, thuỷ lợi, tăng diện tích tưới tiêu Có thể nói nơi nào có đất phẳng, có nguồn nước thì nơi đó có thể phát triển thành cánh đồng lúa nước
dù ở đồng bằng hay trung du miền núi
Nhập nội và lai tạo giống mới có khả năng thích nghi và chống chịu Trên cơ sở đó điều chỉnh thời vụ chính và tăng vụ, tăng diện tích lúa đông xuân, hè thu, giảm diện tích lúa nổi, lúa nương rẫy, phát triển nhiều trà lúa đối với vụ đông xuân ở miền Bắc để hạn chế bệnh do thời tiết Tạo được mùa vụ thay đổi cơ cấu cây trồng trong đó cây lúa làm trung tâm
Ứng dụng hệ thống kỹ thuật canh tác tiến bộ trong việc bón phân, bảo
Trang 31Bảng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn từ
năm 1961 đến năm 2009
(triệu/ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 32năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng Những năm gần đây hiệp hội xuất khẩu gạo giữa các nước trên thế giới và khu vực cũng tạo điều kiện cho mỗi nước Thách thức với Việt Nam là thành viên của WTO nên thị trường nông sản nói chung, thị trường Việt Nam nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của nhà nước
đối với sản xuất và xuất khẩu gạo dần hạn chế và tiến tới bãi bỏ Gạo Thái
Lan, Mỹ, Trung Quốc,…và các nước khác có chất lượng cao giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể (94% hàng hóa Mỹ nhập vào Việt Nam hướng thuế suất 15% trong đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể) Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu
Những giải pháp cơ bản để thúc đẩy xuất khẩu gạo là: Nghiên cứu khảo nghiệm và đưa các giống lúa mới phù hợp với thị hiếu của thị trường và tích cực phát triển các giống lúa chất lượng đã được khẳng định như gạo Chợ
Đào ở Long An, Tám Xoan ở Bắc Bộ, … để tiến tới xây dựng vùng chuyên
canh lúa cao cấp với sản lượng 1 triệu tấn/năm tại đồng bằng sông Cửu Long, xây dựng thương hiệu độc quyền cho các sản phẩm cao cấp đó Đồng thời áp dụng tổng hợp các biện pháp như quy trình canh tác, bảo quản sau thu hoạch tiên tiến, nâng cao kỹ thuật và năng lực xay xát, tăng cường khả năng bốc xếp tại các cảng xuất khẩu để tạo ra một thương hiệu Việt về lúa gạo có sức cạnh tranh mạnh trên thế giới
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho sự phát triển của cây lúa Có nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn được phù sa bồi đắp thường xuyên, các vùng đồng bằng châu thổ đều
được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây lúa luôn gắn liền với đời sống hằng ngày của dân tộc ta Vì vậy có thể nói rằng Việt Nam
Trang 33là cái nôi của nền văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng
đối với đời sống của người dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của người dân trong nước mà nó còn góp phần quan trọng vào thị trường xuất khẩu lúa gạo của thế giới
Trước năm 1954, người dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo đã
đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúa địa phương, tuy năng suất không cao nhưng chất lượng tốt, thích ứng với đất đai và điều kiện khí hậu của Việt Nam đồng thời có khả năng chống chịu tốt
với sâu bệnh Nhiều giống lúa được lưu truyền trong sản xuất từ đời này sang
đời khác như giống: Chiêm Tép, Chiêm Sài Đường, Chiêm Cút, các giống
gieo cấy vụ mùa như: lúa Di, lúa Tám Xoan, lúa Dự
Từ sau ngày hoà bình lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào công cuộc xây dựng và tái thiết lập đất nước Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng tới việc phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng với mục đích nhanh chóng đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh trở thành một đất nước có nền công nghiệp phát triển Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau kinh tế của đất nước ta vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng Đất nước vẫn không thể chuyển mình và nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trước thực trạng đó
Đảng và nhà nước ta đã có những nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn về đường
lối chính sách và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Đảng và nhà nước ta quan tâm đó là tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp
Các nhà nông học đã nhập nội, thử nghiệm sản xuất nhiều giống lúa ngắn ngày của Trung Quốc, làm tiền đề cho sự ra đời của vụ lúa Xuân gieo cấy bằng các giống Chân Trâu Lùn, Trà Trung Tử
Khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975), chúng ta đã tập trung nhiều vào nghiên cứu cây lúa, trong đó công tác chọn tạo và lai tạo các giống đặc biệt được chú trọng Nhờ các thành tựu trong nghiên cứu và áp dụng tiến bộ
Trang 34khoa học kỹ thuật, năng suất lúa của Việt Nam không ngừng tăng Chúng ta cũng đã nhập nội một số giống từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và của một số nước khác làm phong phú bộ giống lúa của Việt Nam
Nhận rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, cho nên từ đại hội Đảng lần thứ VI và các kỳ đại hội tiếp theo, ngành nông nghiệp đã được Đảng, nhà nước quan tâm thúc đẩy
đúng mức Trong một thời gian không lâu đất nước đang từ một quốc gia
nhập khẩu lương thực, người nông dân làm ra sản phẩm lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác song quanh năm vẫn chịu cảnh thiểu đói lương thực, nay đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 trên thế giới, song một vấn đề đặt ra đó là số lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá bán không cao do chất lượng gạo của Việt Nam còn kém so với các nước khác như Thái Lan chẳng hạn Vì thế chiến lược sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong những năm tới và các thập niên tiếp là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hằng năm ở mức gần 40 triệu tấn/năm như hiện nay, đồng thời đưa vừa gieo cấy khoảng 1 triệu ha lúa chất lượng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước
và đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
Với điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho người trồng lúa, Việt Nam
được coi như cái nôi của nền văn minh lúa nước Phát huy những lợi thế đó
trong những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng từ nghị quyết
đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay nền nông nghiệp nước ta được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, coi nền nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và đã được đầu tư đúng mức nên năng suất và sản lượng lúa gạo Việt
Nam không ngừng được nâng cao
Để có được một ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệ
nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa học nông nghiệp có giá trị, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng cho tới nay, sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có
Trang 35một cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn
đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Một số giống lúa chất lượng cao như giống Tám Thơm, lúa Dự, Nàng Thơm, Nếp Cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, các giống Nếp Nương, Tẻ Nương đã được đưa vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Chúng ta đã nhập và thuần hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá, Khaodomaly Tiền Giang [20]
1.3.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, lúa thơm có nhiều nét đặc sắc thu hút sự chú ý của nhiều
nhà nghiên cứu trên thế giới Bên cạnh lúa thơm cổ truyền, một vài giống lúa thuần thông qua lai tạo có mùi thơm cùng được sự phát triển trong sản xuất Các nhà chọn giống nước ta đã khai thác nguồn bố mẹ trong ngân hàng gen Việt Nam thông qua nội dung: chọn giống thuần, đột biến gen, lai đơn, nuôi cấy mô khai thác đột biến tế bào somma v.v [19]
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn
ra 5 giống lúa thuần có năng suất và chất lượng cao gồm: HT1, Chiêm Hương, BT13, N40, T10 cấy ở Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn Trong vụ xuân 2008, mặc dù thời tiết rét đậm rét hại đầu vụ đã xoá sổ hầu hết diện tích mạ, lúa lai đã cấy nhưng 5 giống lúa trên tỷ lệ sống vẫn đạt 85 - 95% Các giống trên phát triển tốt, sinh trưởng khỏe, năng suất cao, thích ứng rộng Hai giống lúa N40, T10 có tiềm năng năng suất từ 61 - 72 tạ/ha Giống lúa T10 đã được nông dân Thái Bình cấy 2500 ha trong vụ xuân 2008 [2]
Viện cây Lương thực và cây Thực phẩm là Viện nghiên cứu các giống lúa hàng đầu ở Việt Nam được thành lập từ rất sớm Viện này đã
được các nhà khoa học danh tiếng như: Giáo sư Nông học Lương Đình Của,
Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng… lãnh đạo và chỉ đạo công tác nghiên cứu, chọn
Trang 36tạo các giống lúa Hàng trăm giống lúa xuân, lúa mùa, lúa chịu hạn, chịu úng, lúa nếp, lúa có hàm lượng Protein cao, lúa chịu mặn đã được chọn tạo
và bồi dục ở Viện này, trong đó có các giống lúa chất lượng cao như: giống P4 và P6 là những giống lúa được lai tạo theo hướng chất lượng Protein cao Giống P4 có thời gian sinh trưởng trung bình, trồng được 2 vụ/năm, năng suất khá đạt 45 đến 55 tạ/ha cao nhất có thể đạt 72 tạ/ha Giống P4 có hàm lượng protein cao tới 11%, hàm lượng amiloza 16-20%, hạt gạo dài, tỉ
lệ gạo sát đạt 70%, tỷ lệ gạo nguyên đạt 65% Giống lúa P6 ngắn ngày hơn giống lúa P4 thuộc loại hình thâm canh, hàm lượng protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45-55 tạ/ha, cao nhất đạt 60 tạ/ha Đây là giống lúa có chất lượng gạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu [6][7] Giống lúa nếp K12 do Viện cây lương thực và thực phẩm lai tạo ra có khả năng chống chịu với bệnh đạo
ôn, có thể đạt năng suất từ 33,5- 58 tạ/ha chất lượng gạo khá [18]
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam là một viện nghiên cứu nông nghiệp hàng đầu ở Việt nam và đã có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo các giống lúa, nhất là các giống lúa chất lượng cao và lúa lai Trước
đây Viện đã nhập và chọn lọc thành công các giống lúa có chất lượng tốt như:
IR64, IR66, NN9A là những giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa Nếp 314 do viện lai tạo ra cũng được trồng phổ biến Hiện tại các giống lúa lai HYT84 do Viện lai tạo (được công nhận năm 2004), đã được ứng dụng ở nhiều nơi và có kết quả rất khả quan (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2005) [1] Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam từ khi thành lập cho đến nay đã nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của: Sinh học phân tử, nuôi cấy tế bào, đặc biệt trong lĩnh vực chọn tạo giống lúa đã chọn tạo ra nhiều giống mới: DT10, DT13, DT122, DH1, Tám Thơm, A20, V18, DT12 đây là những giống lúa
đạt chất lượng tốt cho năng suất cao [5]
Viện Bảo vệ thực vật cũng đã chọn tạo được nhiều giống lúa có chất lượng tốt năng suất cao như: CR203, C70, C71
Trang 37Trong khuân khổ chương trình lương thực thực phẩm cấp nhà nước,
Lê Doãn Diên và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu chất lượng tập đoàn lúa gạo ở Việt Nam Nghiên cứu đã đánh giá tương đối toàn diện chất lượng của các tập đoàn giống lúa Việt Nam theo 4 nhóm chất lượng là: Chất lượng thương phẩm, chất lượng nấu nướng, chất lượng ăn uống và chất lượng dinh dưỡng Kết quả cho thấy:
Các giống lúa đặc sản và giống lúa cổ truyền của nước ta đều có kích thước hạt nhỏ hơn so với các giống lúa nhập nội và các giống lúa mới
Các giống lúa đặc sản ở miền Bắc nói chung đều có hạt nhỏ hơn giống lúa trồng ở miền Nam Lúa đặc sản có tỷ lệ hạt bạc bụng ít hơn so với các giống khác
Phần lớn các giống lúa mới trồng ở miền Nam đều có kích thước hạt dài, hình dạng thon dài, có độ trắng trong cao do đó có nhiều giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Các giống lúa đa số có hàm lượng amyloza ở dạng trung bình (45,3%) và cao (54,2%) so với tổng số giống nghiên cứu Các giống lúa có hàm lượng amyloze cao đều cho cơm cứng và khi để nguội thường bị rời, cứng cơm
Về độ thơm của cơm: các giống lúa đặc sản cổ truyền ở miền Bắc có độ thơm cao hơn so với các giống lúa đặc sản miền Nam Thơm nhất trong các giống lúa đặc sản ở miền Bắc là giống lúa Tám thơm và thơm nhất trong các giống lúa đặc sản ở miền Nam là giống Nàng hương Chợ Đào
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và các chuyên gia Trung Quốc đã thử nghiệm thành công giống lúa lai thơm LVC2 phục vụ cho cánh đồng 50 triệu đồng/ha tại tỉnh Nam Định Đây là giống lúa cấy được cả 2
vụ xuân và mùa, năng suất trung bình vụ xuân đạt 75-85 tạ/ha, vụ mùa đạt
65-75 tạ/ha), thâm canh có thể đạt cao 120 tạ/ha, chất lượng gạo rất tốt, hạt gạo trong, cơm dẻo, có mùi thơm
Lào Cai cũng tiến hành khảo nghiệm bộ giống lúa năng suất và chất lượng cao trong toàn tỉnh Gồm các giống: LT2, DT 36, DT 37,
Trang 38Khang Dân đột biến, VĐ 7, AC 5, Nếp PD 2, Giống lúa đặc sản Đài Loan,
Như vậy có thể nói rằng trong lĩnh vực sản xuất lúa ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu và ứng dụng các giống lúa chất lượng cao trong sản xuất (nhất
là các giống lúa thơm) đang là xu hướng chủ yếu Bước đầu ở một số nơi có sự tham gia của 4 "nhà": Nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, tư thương) Trong thời gian tới sự hợp tác chặt chẽ và hỗ trợ nhau giữa các "nhà" là cần thiết để có thể phát triển bền vững sản xuất lúa chất lượng cao, góp phần tăng hiệu quả sản xuất lúa và tăng thu nhập cho hộ gia định nông dân
1.3.4 Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam
Sản xuất lúa đã đi vào ổn định và phát triển theo hướng thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng và tỷ xuất hàng hóa, điều này thể hiện rõ trong
10 năm qua năng suất và sản lượng tăng liên tục (diện tích tăng 2,3%, năng suất tăng bình quân 2,38%/năm, sản lượng tăng bình quân 4,8%/năm Viện
khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (1999-2001) [10] Nhiều tiến bộ
khoa học kỹ thuật được ứng dụng, nhất là tiến bộ về giống lúa có năng suất và chất lượng cao như OM80-81, IR58, IR64, IR65, Thơm số 1, Bắc thơm số 7, Tám thơm và các giống lúa lai Trung Quốc Từ đó đã thay đổi sâu sắc trong
Trang 39chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, hạn chế và né tránh được nhiều thiệt hại do thời tiết gây ra
Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu, riêng Đồng Bằng Sông cửu Long sản lượng lúa tăng bình quân 7%/năm, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn từ 5,5- 6,2 triệu tấn thóc Đồng bằng Sông Hồng sản lượng lúa tăng bình quân 4%/năm, có khối lượng hàng hóa khoảng 1 triệu tấn thóc
Thị trường xuất khẩu gạo ngày càng được mở rộng, từ 50 nước năm 1993 đến nay gạo Việt Nam đã xuất sang trên 80 nước ở khắp các châu lục trong đó Châu Á vẫn là thị trường lớn nhất chiếm 43,24% Đặc biệt trong những năm gần đây thị trường khu vực ở Châu Á tiêu thụ gạo Việt Nam với khối lượng lớn chiếm 62%, khu vực thứ 2 là Châu Phi chiếm 26,2% khối lượng gạo xuất khẩu Những nước nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam là Indonesia, Philippin, Trung Quốc, Pêru, chất lượng xuất khẩu gạo Việt Nam cũng được nâng lên Nếu năm 1989 hầu hết lượng gạo của ta xuất khẩu còn đạt chất lượng thấp thì
1992 lượng gạo chất lượng cao đã đạt 40,3%, năm 1997 - 44,0%, lượng gạo xuất khẩu chất lượng cao đạt cao nhất vào năm 1994 - 70% [16]
Cùng với việc tăng chất lượng, giá bán gạo của nước ta cũng tăng theo (Tính giá bán theo USD/1 tấn gạo ở các năm là: 1990 - 176,3; 1994 - 217,2; 1995 - 266,0; 1996 - 285,0; 1997 còn 244,5.) Tổng thu ngoại tệ từ xuất khẩu gạo năm cao nhất đạt hơn 1 tỷ USD Riêng gạo đạt phẩm cấp cao chiếm 20% với giá bán khi cao nhất 320 USD/tấn so với giá bán bình quân 244,5 USD/tấn Năm 2004 lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được gần 100.000 tấn gạo thơm với giá tăng 30-40 USD/tấn so với gạo thường Tuy vậy, vẫn thua khá nhiều so với Thái Lan, gạo xuất khẩu có phẩm cấp cao của họ chiếm tới 60% với giá bán 680 - 700 USD/tấn
1.3.5 Tình hình nhập nội và sản xuất giống lúa thuộc loài phụ Japonica
Hiện nay, Việt Nam đã nhập nội nhiều giống lúa thuộc loài phụ Japonica và đã lai với các giống lúa thuộc loài Indica đạt kết quả tốt Cố Giáo
sư Lương Đình Của là người đầu tiên đã lai tạo giống Ba Thắc (lúa Indica -
Trang 40Nam Bộ) với giống lúa Buncô (lúa Japonica - Nhật Bản) tạo ra giống Nông Nghiệp I (NN1), ngắn ngày, phù hợp với vụ hè thu ở Trung Bộ
Bộ môn Di truyền - Giống Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội cũng
đã lai lúa A5 (từ NN8) với giống Rumani 45 để tạo ra giống NN75-3 (VN10)
hiện nay vẫn được sử dụng trong vụ chiêm xuân ở miền bắc do có khả năng chịu rét
An Giang là tỉnh đầu tiên của Việt nam đưa các giống lúa Nhật vào sản xuất trên địa bàn tỉnh Năm 2000, diện tích lúa Nhật trên địa bàn tỉnh An Giang là 300 ha đến nay phát triển 900 ha và dự kiến trong vụ sản xuất đông xuân 2008-2009 sẽ nâng lên 2000 ha Vụ đông xuân 2007-2008, hợp tác xã Vĩnh Thắng - Thoại Sơn - An Giang đã ký hợp đồng với Công ty Liên doanh Angimex - Kitoku (Nhật Bản) sản xuất 4 loại giống lúa thuần chủng Nhật như: Hananamai, Kinu, Akitakomachi, Koshihikari Các loại giống này có thời gian sinh trưởng từ 80-85 ngày, năng suất bình quân từ 5,3-7 tấn/ha Mấy năm gần đây, thị trường lúa gạo trong nước thường gặp các giống lúa Japonica có nguồn gốc Nhật Bản với giá bán cao gấp 2-3 lần giá gạo Indica Nhu cầu đối với lúa gạo chất lượng cao của người tiêu dùng trong nước và người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam ngày càng lớn là cơ hội để mở rộng sản xuất và thương mại một số giống lúa mới chất lượng cao - lúa hạt tròn Japonica [24]
Theo GS Nguyễn Văn Luật, vào thập niên 90, Viện Lúa ĐBSCL đã có hợp tác với Viện JIRCAS của Nhật Bản nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúa Japonica do các nhà khoa học Nhật mang sang Viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp cũng đã hợp tác với Nhật trồng thử ở Thái Bình và một số địa phương khác Đồng thời công ty của Nhật cũng hợp tác với tỉnh An Giang trồng thử nghiệm các giống lúa hạt tròn Japonica, năng suất đạt 8 – 8,5 tấn/ha (Vụ lúa đông xuân 2008-2009, anh Nguyễn Nhật Hoai, nông dân ở ấp Tây Bình, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cho biết: Với 5 ha trồng lúa giống của Nhật, sau khi trừ chi phí còn lãi trên 170 triệu đồng ) Tuy vậy,