Vì vậy, bất kỳ một can thiệp nào đối với nhóm cộng đồng đông đảo này, đều được coi là những tác động làm thay đổi toàn bộ sự phát triển của toàn huyện.Người phụ nữ dân tộc trước đây khéo
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
LÒ NGỌC ÁNH
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MIỀN NÚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ YÊN,
TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2LÒ NGỌC ÁNH
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MIỀN NÚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ YÊN,
TỈNH SƠN LA
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 62.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Văn
Sơn
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị
nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lò Ngọc Ánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La tôi
đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Tập thể thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; cán bộ PhòngNông nghiệp, Trạm Khuyến nông, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Phòng Thống Kê; Cán bộ và cộng đồng người Thái xã Tường Phù, người Mường xã Tường Thượng,người Mông xã Suối Bau, người Dao xã Kim Bon đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn
Sơn - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đãchia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Lò Ngọc Ánh
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới và giới tính 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về giới 4
1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới 5
1.1.3 Vai trò của giới 6
1.1.4 Bình đẳng và bất bình đẳng giới 6
1.1.5 Quan điểm về giới 7
1.1.6 Phân tích giới trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn 7
1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông hộ 8
1.2.1 Một số khái niệm 8
1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 9
1.2.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 11
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông hộ 11
1.3 Vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.3.1 Vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới 13
1.3.2 Phụ nữ nông thôn và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông hộ 15
1.4 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 19
1.4.1 Về vấn đề sức khoẻ 19
Trang 7iv
1.4.3 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết
định 21
1.5 Vài nét về cộng đồng các dân tộc miền núi tại vùng nghiên cứu 24
1.5.1 Dân tộc Thái 24
1.5.2 Dân tộc Mường 25
1.5.3 Dân tộc Mông 26
1.5.4 Dân tộc Dao 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La 28
2.2.2 Sự đóng góp của phụ nữ huyện Phù Yên trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 28
2.2.3 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn nghiên cứu 29
2.2.4 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn nghiên cứu 29
2.2.5 Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò, nâng cao vị thế của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế hộ huyện Phù Yên 29
2.3 Tiếp cận nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đáng giá và xử lý số liệu 32
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
Trang 83.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội 38
3.1.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ 42
3.1.4 Đánh giá chung 45
3 2 Sự đóng góp của phụ nữ huyện Phù Yên trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 47
3.2.1 Nữ trong các nhóm tuổi 47
3.2.2 Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội đoàn thể 48
3.2.3 Trình độ của phụ nữ trong độ tuổi lao động 50
3.2.4 Phụ nữ trong cơ cấu các ngành nghề của huyện 53
3.2.5 Phụ nữ tham gia công tác xây dựng đảng, chính quyền 54
3 3 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn nghiên cứu 56
3.3.1 3.3.2 3.3.3 3.3.4 3.3.5 3.3.6 3.3.7 3.3.8 3.3.9 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất 56
Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 58 Vai trò phụ nữ trong gia đình 69 Vai trò trong tham gia công tác xã hội 71 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận thông tin 74 Vai trò trong kiểm soát các nguồn lực của hộ 75 Vai trò trong việc nâng cao trình độ 78 Vai trò trong công tác chăm sóc sức khỏe gia đình 83 Các chính sách của nhà nước và địa phương tác động đến phụ nữ 85
3.4 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn nghiên cứu 86
3.4.1 Thuận lợi 86
3.4.2 Khó khăn 87
3.5 Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò, nâng cao vị thế của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế hộ huyện Phù Yên 90
Trang 93.5.1 Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ 90
Trang 103.5.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi
trong phát triển kinh tế nông hộ 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Kiến nghị 97
2.1 Đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương 97
2.2 Đối với người phụ nữ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 11: Công nhân viên chức
DS & KHHGD: Dân số và kế hoạch hóa gia đình ĐVT
: Nông dân : Trung học cơ sở : Trung học phổ thông : Thanh niên
: Ủy ban nhân dân
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra 31
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của huyện gia đoạn 2012-2014 39
Bảng 3.2 Một số cây trồng chính của huyện từ 2012 - 2014 40
Bảng 3.3 Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2013 - 2015 47
Bảng 3.4 Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2015 48
Bảng 3.5 Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kì 2011 - 2016 51
Bảng 3.6 Tỷ lệ nữ chủ hộ và tham gia quản lý hộ ở vùng nghiên cứu
57 Bảng 3.7 Hoạt động sản xuất tạo thu nhập của các hộ nghiên cứu (120 hộ) 60 Bảng 3.8 Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ nghiên cứu 62 Bảng 3.9 Phân công lao động trong hoạt động lâm nghiệp (31 hộ) 66 Bảng 3.10 Phân công lao động trong hoạt động thủy sản (26 hộ) 67 Bảng 3.11 Phân công lao động trong hoạt động buôn bán (25 hộ) 68 Bảng 3.12 Phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất của gia đình 70
Bảng 3.13 Phụ nữ tham gia cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tại vùng nghiên cứu năm 2015 71
Bảng 3.14 Phụ nữ tham gia hoạt động cộng đồng tại điểm nghiên cứu
73 Bảng 3.15 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ tại vùng nghiên cứu
74 Bảng 3.16 Tình hình quản lý tài chính tại vùng nghiên cứu
76 Bảng 3.17 Người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 77 Bảng 3.18 Trình độ văn hóa của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu 79
Trang 13ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Phù Yên năm 2014 39
Hình 3.2 Trình độ văn hóa của lao động nữ huyện Phù Yên năm 2014 52
Hình 3.3 Cơ cấu ngành nghề của phụ nữ huyện Phù Yên năm 2014 53
Hình 3.4 Phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng, HĐND các cấp huyện Phù Yên 54
Hình 3.5 Cơ cấu hoạt động sản xuất tạo thu nhập của các hộ nghiên cứu 58 Hình 3.6 Phân công lao động trong hoạt động tiểu thủ công nghiệp (30 hộ) 69 Hình 3.7 Phụ nữ không tham gia công tác xã hội (24 người) 72 Hình 3.8 Trình độ văn hóa của người phụ nữ trong vùng nghiên cứu 80
Hình 3.9 Mức độ tiếp nhận các thông tin của phụ nữ dân tộc trong vùng nghiên cứu 82
Hình 3.10 Chăm sóc sức khỏe gia đình trong vùng nghiên cứu 83
Hình 3.11 Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình 84
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu xã hội làm phong phú cuộc sống con người, phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất
ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại
Phù Yên là một huyện nằm ở phía đông của tỉnh Sơn La có 12 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 4 cộng đồng dân tộc chủ yếu, chiếm đa số là: Thái,
Mường, H'Mông và Dao Đây được coi là nhóm cộng đồng đã và đang có những đóng góp to lớn nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của toàn huyện Vì vậy, bất kỳ một can thiệp nào đối với nhóm cộng đồng đông đảo này, đều được coi là những tác động làm thay đổi toàn bộ sự phát triển của toàn huyện.Người phụ nữ dân tộc trước đây khéo léo đảm đang nhưng cam chịu và hầu như không có quyền quyết định trong gia đình, sống phụ thuộc và nghe theo chồng, thì nay họ đã có những nhận thức và thay đổi nhất định Người phụ nữ dân tộc khôngchỉ đóng góp trong phát triển kinh tế hộ gia đình mà còn giúp sức trong công cuộc xây dựng phát triển thay đổi diện mạo địa phương Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí vai trò của họ trong nền kinh tế, trong quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình,
đặc biệt đối với khu vực là dân tộc miền núi Người phụ nữ phải "nặng gánh hai
vai" vừa phải làm tốt công việc xã hội vừa phải đảm nhiệm vai trò làm vợ làm mẹ trong khi có rất nhiều khó khăn cản trở và đè nặng về phong tục tập quán, quan niệm phong kiến cổ hủ, về trình độ cũng như sức khỏe còn hạn chế Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực hi sinh, nhưng quyền lợi về mọi mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức
Trang 15và giải pháp nhằm phát huy năng lực giúp họ nâng cao vai trò trong phát triển kinh
tế hộ, nâng cao vị thế trong cộng đồng và xã hội là vấn đề cấp bách và nằm trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và nhận thấy những tiềm năng của phụ nữ cần được khai thác, những khó khăn của phụ nữ cần được tháo gỡ, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát
triển kinh
tế nông hộ trên địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La"
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh
tế nông hộ Xác định yếu tố ảnh hưởng tới sự đóng góp của phụ nữ, từ đó đề xuất giải pháp giúp phụ nữ nâng cao vai trò, vị thế trong gia đình và ngoài xã hội
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong các hoạt
động sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp, các hoạt động quản lý hộ và phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Phù Yên
- Phân tích thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của
phụ
nữ dân tộc miền núi trong quản lý hộ và phát triển kinh tế hộ tại huyện Phù Yên
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò, nâng cao vị thế của phụ
nữ dân tộc trong phát triển kinh tế nông hộ nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Phù Yên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Đề tài là thông tin cơ sở về sự đóng góp của phụ nữ dân tộc miền núi trong
phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Trang 16- Quá trình thực hiện đề tài giúp học viên có điều kiện tiếp cận với thực
tế,
giúp học viên củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn
- Biết cách thực hiện một đề tài khoa học, rèn luyện các kỹ năng thu thập
xử lý số liệu, viết báo cáo và hoàn thành một luận văn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu "Vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế
nông hộ tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La" nhằm góp phần hiểu rõ thực trạng, vị trí,
vai trò của người phụ nữ dân tộc trong quá trình biến đổi xã hội Cũng từ đó đề tài đưa ra những chính sách phù hợp nhằm nâng cao vai trò và vị trí của người phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội nông hộ tại địa phương
Trang 17CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới và giới tính
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về giới
* Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam
giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và
có thể thay đổi được
Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò của nam và
nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian [7] Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể [7]
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi
Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể Giới là sản phẩm của
xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
* Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ Giới
tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thayđổi được [21]
* Quan hệ giới: Là các mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới, đặc
biệt là cách thức phân chia quyền lực giữa nam và nữ [16]
* Vai trò giới: Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong nuốn phụ nữ
và nam giới thực hiện [16]
* Nh ạy cảm giới: Là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu cầu, vai trò
và trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới [16]
Trang 18* Trách nhiệm giới: Là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt
giới và nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục mọi bất bình đẳng trên cơ sở giới [16]
* Phân công lao động trên cơ sở giới: Là sự phân công việc và trách nhiệm
khác nhau giữa phụ nữ và nam giới [16]
1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội [14]
Trang 191.1.3 Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: Là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện
để
làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học
- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt động
nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ, vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: Tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể
Tuy phụ nữ và nam giới cùng thực hiện ba vai trò xong lại được phân công lao động khác nhau Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp Phân công lao động theo giới truyềnthống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào quá trình phát triển của đất nước và xâydựng hạnh phúc gia đình Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống
1.1.4 Bình đẳng và bất bình đẳng giới
Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm
giống
và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới [16]
Bất bình đẳng giới: Là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều
Trang 211.1.5 Quan điểm về giới
Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ Quanđiểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ và nam giới [13]
Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ nữ Nhà kinh
tế người Đan Mạch là Ester Boserup với cuốn "Vai trò của người phụ nữ trong phát
triển kinh tế" (1970) được coi là người đầu tiên đặt lại vấn đề về cách nhìn nhận
vai trò của người phụ nữ Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù [13]
1.1.6 Phân tích giới trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn
Phân tích giới là quá trình thu thập và phân tích thông tin về điều kiện, địa vị kinh tế xã hội của nam và nữ bằng cách xem xét những hoạt động mà mỗi giới làmđảm bảo những lợi ích của các nguồn lực phát triển được sử dụng một cách có hiệu quả và tác động một cách bình đẳng đối với cả nam và nữ Xem xét sự khác biệt giữa họ và nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt đó để tìm ra các biện pháp tránh những tác động tiêu cực đối với phụ nữ hay mối quan hệ giới có thể xảy ra
Trang 22hội ở nước ta hiện nay Họ đã và đang tham gia tích cực vào các hoạt động sản xuất và
Trang 23đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở nông thôn Tuy nhiên, họ cũng gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình lao động sản xuất, từ chính bảnthân họ (trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ) hay những khó khăn hạn chế khách quan (như việc tiếp cận với các nguồn vốn, việc làm, các dịch vụ xã hội) Vấn đề đặt ra là cần đánh giá đúng thực trạng của lực lượng lao động nữ ở nôngthôn hiện nay, đồng thời tìm hiểu những khó khăn và hạn chế của họ, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượnglao động này và qua đó thúc đẩy sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuyên môn hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá [6]
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của phụ nữ nông thôn trong sản xuất và công việc nội trợ Phụ nữ đã thực hiện nhiều hoạt động sản xuất và đã đóng góp đáng kể đến thu nhập gia đình Họ tham gia khôngchỉ vào công việc sản xuất mà còn cả làm các công việc nội trợ Vì vậy, vai trò nhân đôi của họ rất nặng nhọc, tuy nhiên trình độ văn hóa của họ khá thấp, nhiều người đã không được hướng dẫn kỹ thuật Phụ nữ nông thôn thường bị hạn chế hơn nam giới trong tiếp cận đất đai, vốn hay các nguồn lực khác Điều này ảnh hưởng đến việc đảm bảo và duy trì cuộc sống hàng ngày của họ, làm họ phải lệ thuộc nhiều hơn vào nam giới Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận đến các nguồn lực và quyền lực ảnh hưởng đến tính tự chủ của phụ nữ trong việc ra quyếtđịnh cho sự phát triển của bản thân cũng như gia đình [6]
1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông hộ
Trang 24* P h á t t r i ể n k i n h t ế : L à s ự t ă n g t r ư ởn g k i n h t ế g ắ n l i ề n v ớ i s ự h o à n t
h i ệ n
c ơ c ấ u , t h ể c h ế k i n h t ế , n â n g c a o c h ấ t l ư ợn g c u ộ c s ốn g v à b ả o đ ả m c ô n g b
ằ n g x ã h ộ i [ 10]
* Phát triển xã hội: Là sự biến đổi xã hội về mặt chất lượng bao gồm tăng
trưởng kinh tế, đẩy mạnh giáo dục, y tế về số lượng cũng như chất lượng và các chỉ số về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ và có sự biến đổi theo hướng tiến bộ hơn, đẹp hơn, tốt hơn [10]
* Hộ: Là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng
sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung [8]
* H ộ n ô n g d ân : L à nh ữ n g h ộ c h ủ y ế u h o ạ t đ ộ n g n ô n g n g h i ệ p , t h e o n g
h ĩ a r ộ n g h ơ n b a o gồ m c ả n g h ề r ừ n g , n g h ề c á v à h o ạ t đ ộ n g p h i n ô n g n g h i ệ
p ở n ô n g t h ô n [8]
* Kinh tế hộ nông dân: Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi
là của chung để tiến hành sản xuất Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là
tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [8]
1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại Qua các chặng đường lịch
sử loài người, vai trò người phụ nữ trong gia đình có những biến đổi rõ rệt [11]
Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người thầy đầu tiên của con người; Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đìnhcần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạtđộng xã hội, duy trì ảnh hưởng của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý
Trang 25nhà nước, tham gia xóa đói giảm nghèo, xây dựng gia đình no ấm hạnh phúc, tham
Trang 26gia chống tệ nạn xã hội, tham gia hoạt động đối ngoại Ngày càng có nhiều ngườitrở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động Những lĩnh vực trước đây chỉ giành cho nam giới, phụ nữ cũng làm rất tốt
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của
đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Chỉ cần điểm qua một vài con số: Hiện có tới 24,4%đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XIII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là 25,7%, cấp huyện là 24,6% và cấp cơ sở là 27,7% Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tínhtới gần 30% Phụ nữ
chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế Nếu tính tổng số giờ làm việc của
nữ
giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới [11]
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thếgiới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [2] Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc khó khăn, địa vị trong xã hội thấp Trong số hơn1,3 tỷ
người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâudài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan
Trang 27trọng
hơn trong các lĩnh vực của xã hội
Trang 281.2.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sảnxuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân
lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông hộ nông thôn thể hiện như sau:
Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực
phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kếtquả làm việc của phụ nữ Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọilĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùnglúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế
n ôn g h ộ
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam
Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc gì,thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta
Trang 29khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế
Trang 30* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận
và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn
Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành chonghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức
xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [14] Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn
840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ
em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái
Theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ ở Việt Nam không qua đào tạo làrất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63 % công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới
là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này
ở
nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [14] Điều đó cho thấy trình độ họcvấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới
Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường,khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Trang 31này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ
nữ
trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
* Khả năng tiếp nhận thông tin
Trang 32Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để họgiao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báochí và các hình thức truyền tải thông tin khác
gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan
đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
1.3 Vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số, đông hơn nam giới Vậy mà, đây lại là nhóm thường chịu những thiệt thòi về mặt lao động, xã hội Rõràng, càng ngày phụ nữ càng trở nên bình đẳng và tỏ ra chẳng chịu thua kém nam giới trong bất kỳ lĩnh vực nào Ở các quốc gia càng văn minh và giàu có, sự đóng góp của phụ nữ càng cao, và tỷ lệ lao động nữ phân bổ càng nhiều Tuy nhiên, phụ
nữ ở nhiều nơi vẫn đang phải chịu những áp lực về xã hội, không có nhiều cơ hội
để lao động, cống hiến, và tự giải phóng bản thân
Tại châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi
Trang 3314
nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại côngviệc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu nhập của nam giới [1]
* Phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động
Thống kê cho thấy, phụ nữ ở khu vực Trung Đông và các nước Hồi giáo
có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp nhất, dưới 35% Điều này không
quá
khó hiểu, khi mà bất bình đẳng giới tính vẫn là một hiện tượng nhức nhối Khi màphụ nữ phải đeo mạng che mặt, và khó khăn lắm mới dành được quyền bầu cử, một quyền lợi tưởng như là đương nhiên ở các quốc gia khác [9]
Ở một bình diện khác, khi Nhật Bản và Hàn Quốc, 2 quốc gia phát triển, tỷ lệ lao động nữ vẫn ở mức thấp Đây là một vấn đề văn hóa chứ
không còn đơn thuần là chính trị và kinh tế Mặc dù bình đẳng với nam giới xét trên những quy định pháp lý, phụ nữ các quốc gia này vẫn chịu những áp lực nhất định của Nho giáo, cản trở nỗ lực của bản thân họ trong việc khẳng định bản thân [9]
Các quốc gia có tỷ lệ lao động nữ cao, chưa hẳn đã là phát triển Trên
thực tế, thống kê của Ngân hàng thế giới dựa trên số lượng phụ nữ trên 15 tuổi Tuy nhiên, ở các quốc gia phát triển và văn minh, phụ nữ ở độ tuổi từ 15 - 25 lại thường đang dành thời gian để học hành thay vì tham gia lực lượng lao động
Tại Việt Nam nói riêng, các nước Đông Nam Á nói chung, mặc dù bất bình đẳng ít nhiều còn tồn tại, ảnh hưởng của văn hóa xã hội cũng như tác động lâu dài của Nho giáo - cũng như Hàn Quốc, tỷ lệ lao động nữ lại ở mức độ khá cao, từ
65 - 75%
Lý giải điều này, có thể hình dung về cơ hội học tập, đến trường của phụ
nữ là chưa thực sự tốt Chúng ta có thể thấy rất nhiều lao động nữ không được học hành đầy đủ, và nhanh chóng gia nhập lực lượng lao động, nhưng ở trình độ thấp, vẫn còn bất bình đẳng so với nam giới Cơ hội học hành, đào tạo, rõ ràng được trao cho nam giới nhiều hơn Phụ nữ tham gia lực lượng lao động, đôi khi không phải vì sự bình đẳng, mà do gánh nặng kinh tế không thể đặt lên vai một mình người đàn ông trong gia đình
Trang 34* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp
Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữnày không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệtrồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thâncủa mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương
pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ [14]
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến
Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước
hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội
ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, tiến bộ và lạc hậu
1.3.2 Phụ nữ nông thôn và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông hộ
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam
Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảnggần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây
là do một số
nguyên nhân chính sau:
Trang 35đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác
xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả
là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
* Vai trò và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế- xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ
nữ
luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1946,Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2002) một lần nữa khẳng
định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội
và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội" Trên tinh thần đó, các
tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động sáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng
Phụ nữ trong hệ thống dân cử: Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm của
phụ nữ trong xã hội và trong quản lý Nhà nước Chỉ thị 37- CT/TƯ ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng cao tỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế là một
yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" Nước ta được
đánh giá là có số đại biểu nữ cao trong Quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ
Trang 37lệ phụ nữ trong các cấp uỷ tăng lên không đáng kể So với các cấp, số lượng phụ
nữ tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng chiếm tỷ lệ thấp nhất: Khoá VII có
12 đồng chí, khoá VIII tăng lên là 18 đồng chí nhưng đến khoá IX lại còn 12 đồng chí Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI có 18 ủy viên nữ trong tổng số 200
ủy
viên - chiếm 9% Năm 2012, tỷ lệ nữ Đảng viên trên cả nước đạt 32%, tăng đáng
kể
so với năm 2005 chỉ có 20% Đảng viên nữ Phụ nữ tham gia các cấp uỷ địa phương
có từ 10- 11%, trong đó uỷ viên ban thường vụ trở lên đạt từ 3% đến 8% Phần lớn
các chị em trong ban thường vụ cấp uỷ thường được phân công làm công tác kiểm tra và dân vận
Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền: Trong những năm gần đây, tỷ lệ
lãnh đạo nữ ở cấp Trung ương thấp Năm 2008, tỷ lệ phó chủ tịch nước là 25%,
bộ trưởng 4,55%, tương đương bộ trưởng là 11,43%, thứ trưởng 2,75%, tương đương
thứ trưởng là 9,21%, vụ trưởng và tương đương là 20,74% Tỷ lệ nữ là chủ tịch uỷban nhân dân cấp tỉnh/thành nhiệm kỳ 1999- 2004 chỉ có 1,64%, đến nhiệm kỳ 2004-2009 tăng lên là 3,12%, nhưng ở cấp huyện lại có xu hướng giảm, từ 5,27% ở
cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% [14]
Trong các doanh nghiệp: Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động
theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cương vị chủ chốt
Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải, xây dựng, khai khoáng chiếm 20% Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27% phụ nữ điều hành Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữ Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ gánh vác công việc nội trợ Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo cho gia đình đủ cơm ăn, con cái được học hành và khoẻ mạnh Người phụ nữ còn là
Trang 38đẹp là do công lao to lớn của người phụ nữ
* Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ
nữ
Trang 3918
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ
nữ
Bác nhấn mạnh: "Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa
loài người" Người cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trước hết phải giải phóng họ
ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của họ trong xã hội Thế nên,
Người đã yêu cầu các ngành, các địa phương phải tạo điều kiện cho phụ nữ thamgia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng của người, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lược đối với vấn
đề phụ nữ như: Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về "Đổi
mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới"; Chỉ thị số 37-
CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII "Về một số vấn
đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của
phụ nữ Việt Nam đến năm 2000; "Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
đến
năm 2010"; Nghị định số 19/2003/NĐ-CP ngày 07/3/2003 của Chính phủ qui định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho hội phụ nữ tham gia quản lý nhà nước về các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của
phụ nữ và trẻ em Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có nêu: "Thiết thực chăm lo bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ¼" Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt Chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai
đoạn 2001- 2010 với mục tiêu là: "Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh
thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản
và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội"
Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) cũng
đã khẳng định: Đối với phụ nữ thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để
Trang 40ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm