DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT 2 CEDAW Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 4 CN-TTCN Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 6 GEM Số đo sự trao quyền theo giới Gender Emp
Trang 1–––––––––––––––––––
MAI THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi, các số liệu và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ luận văn nào trước đây
Kết quả nghiên cứu của tôi đều do sự hướng dẫn của giảng viên, các thông tin trong luận văn đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Mai Thị Phương Thảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học Khoá 21 (2014-2015), ngành Phát triển nông thôn tôi đã xây dựng đề cương và đi nghiên cứu, thực tập tại địa phương với nội dung:
"Nghiên cứu vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang", đến nay đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp cho khoá học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi suốt quá trình học tập tại trường Cảm ơn các thầy, cô trong Phòng Đào tạo, thầy cô Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập Đặc biệt, cảm ơn
sự giúp đỡ quý báu của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Dương Văn Sơn khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện, chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình đi thực tế và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Hàm Yên, UBND các xã Yên Phú, Nhân Mục và Thị trấn Tân Yên, các thôn trong các xã trên đã tạo mọi điều kiện cho chúng tôi trong suốt quá trình thực tế tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang để đạt kết quả tốt Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia đã tận tình giúp đỡ, tham gia ý kiến trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, anh em, bạn bè và các học viên trong lớp Cao học K21b ngành Phát triển nông thôn đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Đặc biệt xin cám ơn
sự cộng tác có hiệu quả của 3 sinh viên lớp 43 KN thuộc Khoa Kinh tế và PTNT đã cùng tham gia tích cực trong thu thập số liệu tại các xã nghiên cứu
Mặc dù rất tâm huyết với đề tài và đã có rất nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy,
cô giáo, sự góp ý, bổ sung của các bạn bè, đồng nghiệp./
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Mai Thị Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 4
3 Ý nghĩa của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.1 Giới tính và giới 5
1.1.2 Phát triển kinh tế hộ gia đình 11
1.1.3.Giới trong gia đình 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Thực trạng và vai trò của giới ở một số quốc gia trên thế giới 14
1.2.2 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam 20
1.2.3 Chủ trương chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 23
1.2.4 Thực trạng và vai trò của giới trong kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 26
1.2.5 Giới trong tiếp cận một số vấn đề ở gia đình nông thôn 34
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 39
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 39
Trang 52.1.2 Phạm vi nghiên cứu 39
2.2 Nội dung nghiên cứu 39
2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 40
2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 40
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 44
3.1.1 Huyện Hàm Yên 44
3.1.2 Thông tin tại 03 xã nghiên cứu 46
3.2 Vai trò giới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình 50
3.2.1 Thông tin chung của các hộ nghiên cứu trên địa bàn huyện Hàm Yên 50
3.3 Vai trò giới trong hoạt động xã hội, tiếp cận thông tin và áp dụng khoa học kỹ thuật mới 69
3.3.1 Vai trò giới trong hoạt động xã hội 69
3.3.2 Vai trò giới trong tiếp cận thông tin 72
3.3.3 Vai trò của giới trong áp dụng khoa học kỹ thuật 75
3.4 Khó khăn trở ngại và giải pháp nâng cao vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ 78
3.4.1 Yếu tố chủ quan 79
3.4.2 Yếu tố khách quan 80
3.5 Giải pháp nâng cao vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ 83
3.5.1 Nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề giới 83
3.5.2 Nâng cao trình độ cho giới 83
3.5.3 Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của giới trong phát triển kinh tế hộ 85
3.5.4 Hỗ trợ vốn trong phát triển kinh tế hộ 86
3.5.5 Tăng cường sự tham gia của giới trong hoạt động cộng đồng 87
3.5.6 Làm tốt công tác KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe của giới 88
Trang 6KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 9190
1 Kết luận 9190
2 Đề nghị 9190
2.1 Đối với cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương 9392
2.2 Đối với người dân 9493
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9594
PHIẾU ĐIỀU TRA 9897
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
2 CEDAW Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
4 CN-TTCN Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
6 GEM Số đo sự trao quyền theo giới (Gender Empowerment Measure)
12 KT & PTNT Kinh tế và phát triển nông thôn
13 LĐ&TBXH Lao động và thương binh xã hội
15 SE Sai số chuẩn của số trung bình - Standard Error
20 UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (United
Nations Development Program)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số hộ điều tra tại các xã nghiên cứu 41
Bảng 3.1: Hộ điều tra tại các thôn trong 3 xã nghiên cứu 51
Bảng 3.2 Tuổi, lao động và nhân khẩu 51
Bảng 3.3: Hộ điều tra phân theo giới tính người trả lời 53
Bảng 3.4: Hộ điều tra phân theo kinh tế hộ và xã 55
Bảng 3.5: Hộ điều tra phân theo cấp học của chủ hộ 56
Bảng 3.6: Người lập kế hoạch sản xuất theo dân tộc 58
Bảng 3.7: Người quyết định đầu tư trong gia đình phân theo dân tộc 59
Bảng 3.8: Người quản lý sản xuất của hộ phân theo dân tộc 60
Bảng 3.9: Người lập kế hoạch sản xuất của gia đình theo nhóm hộ 61
Bảng 3.10: Người giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế hộ 62
Bảng 3.11: Người giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế theo dân tộc 63
Bảng 3.12: Người trực tiếp cày bừa làm đất để sản xuất theo dân tộc 64
Bảng 3.13: Người trực tiếp cấy lúa, trồng màu theo dân tộc 66
Bảng 3.14: Người trực tiếp các hoạt động chăn nuôi theo dân tộc 67
Bảng 3.15: Phân công tham gia liên hoan ăn uống theo dân tộc 71
Bảng 3.16: Người tiếp nhận thông tin về thị trường theo dân tộc 72
Bảng 3.17: Người tiếp nhận thông tin về kỹ thuật sản xuất theo dân tộc 73
Bảng 3.18: Người tiếp nhận thông tin về giống mới theo dân tộc 74
Bảng 3.19: Người đưa ra quyết định áp dụng khoa học kỹ thuật mới theo dân tộc 75
Bảng 3.20: Quyết định áp dụng khoa học kỹ thuật mới theo phân loại kinh tế hộ 77
Bảng 3.21: Khó khăn trở ngại về giới trong phát triển kinh tế hộ theo dân tộc 81
Bảng 3.22: Khó khăn trở ngại về giới trong phát triển kinh tế hộ theo phân loại kinh tế hộ 82
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Giới tính người trả lời 52
Biểu đồ 3.2: Hộ điều tra phân theo xã và dân tộc 54
Biểu đồ 3.3:Tuổi, lao động và nhân khẩu của hộ 54
Biểu đồ 3.4 : Hộ điều tra phân theo nghề nghiệp và xã 57
Biểu đồ 3.5: Phân công tham gia họp thôn bản theo dân tộc 70
Biểu đồ 3.6: Số hộ áp dụng khoa học kỹ thuật mới theo xã 76
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng, trong xã hội loài người, phụ
nữ là cái nôi nối tiếp cho sự sống muôn đời, là người thầy đầu tiên của con người, là một trong những động lực chính để phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Lịch sử nhân loại đã trải qua biết bao thăng trầm thịnh suy song hình ảnh người phụ nữ ở bất cứ nơi đâu, quốc gia, dân tộc nào cũng luôn luôn là biểu tượng cao đẹp của con người Vì thế, vấn đề phụ nữ không phải là vấn đề riêng biệt của từng quốc gia, không bị hạn hẹp trong phạm vi giới tính như quan niệm trước đây mà trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại, toàn cầu
Với truyền thống yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm, lao động cần cù, thông minh và sáng tạo trong xây dựng, phụ nữ Việt Nam mãi xứng đáng với tám chữ vàng ” Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực xã hội, cụ thể trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ còn có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ Và đặc biệt, không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, sáng tạo nền văn hóa nhân loại, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và ngày càng thể hiện rõ vị trí, vai trò của mình trong xã hội Cùng với những thay đổi tích cực của đất nước do công cuộc đổi mới mang lại, chúng ta cần nhận thức sâu sắc những vấn đề còn tồn tại, những mặt trái của cơ chế thị trường tác động ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nói chung và với phụ nữ nói riêng [15]
Trang 11Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới của đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, công tác, lao động, sản xuất, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong xã hội phong kiến hay xã hội hiện đại thì thiên chức làm
mẹ của người phụ nữ vẫn không hề thay đổi, người phụ nữ với chức năng làm mẹ
đã mang nặng đẻ đau khi sinh hạ cho đời một đứa trẻ, họ nuôi con bằng dòng sữa của mình, duy trì nòi giống đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển Người phụ nữ cũng là người thầy đầu tiên truyền thụ văn hóa cho người con, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình Tất cả những thách thức đó trước tiên đè nặng lên đôi vai người phụ nữ và cũng là một trong nguyên nhân gây cản trở sự phát triển của phụ nữ [15]
Kể từ khi ra đời đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam không có mục đích nào khác là lãnh đạo nhân dân giành độc lập tự do cho Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nam nữ bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển của phụ nữ Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh - quốc phòng địa phương, làm thay đổi tích cực diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam
Hướng tới thế kỷ XXI, phụ nữ Việt Nam cần được trang bị nhiều kiến thức
để nâng cao sự hiểu biết và nhận thức, trong đó quan trọng nhất là nhận thức "Sự
tiến bộ của phụ nữ gắn liền với sự phát triển của đất nước” Có như vậy, chị em
mới ý thức được vai trò, địa vị và trách nhiệm của bản thân Nhận thức và ý thức
sẽ là ngọn đèn dẫn đường cho mọi suy nghĩ và hành động của người phụ nữ
Trang 12Huyện Hàm Yên nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang trong đó phụ nữ chiếm 53,54% dân số Lực lượng phụ nữ đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển, tăng trưởng kinh tế- xã hội của huyện Hàm Yên Nhất là trong giai đoạn hiện nay với phong trào ”Phụ nữ Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới” vai trò của phụ nữ càng được khẳng định rõ nét hơn
Tuy nhiên, sự đóng của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan
hệ xã hội và trong đời sống gia đình Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, người
phụ nữ " Nặng gánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm
vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có như mọi người, sức khỏe hạn chế, Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực hy sinh, nhưng quyền lợi về mọi mặt của họ chưa được quan tâm đúng mức
Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp Hội phụ nữ và chúng ta: Vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ hiện nay ra sao? Giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ thuộc các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi
mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu
vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang"
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nhằm khẳng định vai trò của phụ nữ đồng bào dân tộc trong phát triển kinh
tế nông hộ và góp phần đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân
về bình đẳng giới tại địa bàn nghiên cứu nhằm tạo cơ hội cho phụnữ và nam giới phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu vai trò giới trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của
hộ gia đình Đánh giá vai trò và khả năng của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ và các nhu cầu giới;
- Nghiên cứu vai trò giới trong hoạt động xã hội, trong tiếp cận thông tin và áp dụng khoa học kỹ thuật mới;
- Xác định khó khăn trở ngại và đề xuất giải pháp phát huy vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ
3 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hệ thống lại các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời giúp tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận thực tiễn và thiết thực, giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ về thực trạng hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở huyện Hàm Yên Từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần giúp cho chính quyền địa phương có định hướng và những giải pháp thực thi những chính sách này đạt hiệu quả cao hơn nhằm nâng cao vai trò giới trong hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần thực hiện hiệu quả đề án phát triển kinh tế xã hội
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Giới tính và giới
1.1.1.1 Khái niệm giới tính và giới
Giới tính: Giới thường bị nhầm lẫn với giới tính Tuy nhiên, tổ chức y
tế thế giới (WHO) đã sử dụng các định nghĩa sau: Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học và sinh lí học giúp phân biệt được đàn ông và phụ nữ
Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ ra rằng: giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ Về mặt sinh học nam và nữ không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản; phụ nữ có thể có kinh nguyệt còn đàn ông thìkhông Đàn ông có tinh hoàn còn phụ nữ thì không có [17]
Như vậy, giới tính chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Ví dụ, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc
về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ; Nam giới có chức năng tạo ra sinh tinh trùng Về mặt sinh học, nữ giới khác với nam giới
Giới: Có rất nhiều khái niệm khác nhau về giới, dưới đây là khái niệm
của một số tác giả:
Trang 15Giới chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên được coi là chuẩn mực của nam giới và nữ giới Giới chỉ các quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực được công nhận rộng rãi liên quan đến phụ nữ và đàn ông Chúng bao gồm cả những quan niệm về những đặc điểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng như các mong đợi được chấp nhận rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử như thế nào trong nhiều tình huống khác nhau Những quan niệm và mong đợi này được truyền tải hằng ngày trong gia đình, giữa bạn bè, theo ý kiến các nhà lãnh đạo, theo các thể chế tôn giáo và văn hóa, trường học, nơi làm việc, quảng cáo và các phương tiện truyền thông
Giới: Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, năm 2002 sự khác biệt về xã hội
và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính
Đối với Việt Nam, Khoa học về Giới xuất hiện vào cuối những năm 1980 với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giới và các vấn đề của phụ nữ Thuật ngữ “Giới” bắt nguồn từ môn nhân khẩu học, nó đề cập đến phân công lao động, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ
Yếu tố “Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt
sự khác nhau trong quan hệ nam nữ, do vậy nó luôn biến đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể
Giới phản ánh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội Những
sự khác biệt này là do quá trình học tập mà thành, đa dạng và có thể thay đổi được Chúng thay đổi theo thời gian, từ nơi này sang nơi khác, từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định
Như vậy, giới được xác định trong mối quan hệ giữa nam và nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động
Trang 16Giới và giới tính là hai yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau Giới tính là tiền đề sinh học của giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để tổ chức và triển khai sự phân công lao động hợp lý
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm về giới:
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
* Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tùy theo nó
là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ
Trang 171.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
Nhu cầu giới: Là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động
hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình
Lợi ích giới: Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự
chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng
Bình đẳng giới: Theo Nông Quốc Bình nam giới và nữ giới được coi
trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng [1]
Khái niệm Bình đẳng giới: Là môi trường trong đó có cả nam giới và
nữ giới được hưởng vị trí ngang nhau họ có cơ hội để bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả đó [16]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và có cơ hội phát huy năng lực cuả mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [17]
Bình đẳng giới là môi trường trong đó cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi
từ các kết quả đó [16]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [17]
Điều quan trọng nhất, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng Tuy nhiên, việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam Vì
Trang 18vậy, bình đẳng giới cần được hiểu là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và
nữ có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng giới một cách hợp lý
1.1.1.4 Vai trò của giới
Vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam
và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể nào đó Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội
Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau: Vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng
- Vai trò sản xuất: được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống tái tạo sức lao động
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
Cả nam và nữ giới đều có những đóng góp nhất định thông qua các vai trò trên Tuy nhiên, ở nhiều nơi việc thể hiện vai trò giữa hai giới còn có sự khác biệt
rõ rệt Hầu hết phụ nữ phải đảm nhiệm vai trò tái sản xuất, đồng thời cũng phải tham gia khá nhiều vào vai trò sản xuất Gánh nặng gia đình khiến họ ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động cộng đồng Do vậy nam giới có nhiều cơ hội đảm nhận các hoạt động cộng đồng và ít khi tham gia vào vai trò tái sản xuất
1.1.1.5 Định kiến giới
Theo từ điển tiếng việt định kiến chính là những ý nghĩ riêng đã có sẵn khó có thể thay đổi được
Trang 19Theo Khoản 4, Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006 thì định kiến giới
là nhận thức, thái độ và sự đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [17]
Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ Nhận thức là những suy nghĩ, những quan niệm về việc nam giới, phụ nữ được hoặc nên, không được hoặc không
nên làm cái gì đó (ví dụ: nội trợ không phải là việc của đàn ông)
Các định kiến giới thường là không đúng, không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng người và thường giới hạn những gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện
- Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
- Mức độ tham gia, thụ hưởng các nguồn lực và thành quả phát triển
1.1.1.7 Trách nhiệm giới
Là việc nhận thức được các vấn đề giới, khác biệt giới và nguyên nhân của những khác biệt Từ đó, đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục bất bình đẳng trên cơ sở giới
1.1.1.8 Số liệu có tách biệt giới
Là những thông tin thống kê định lượng phản ánh sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ, trẻ em trai và trẻ em gái trong một vấn đề hoặc lĩnh vực
cụ thể (ở cấp độ cá nhân và được tách biệt theo giới tính)
Ví dụ: Số liệu về tuổi thọ trung bình, tỷ lệ nhập học, số người hút thuốc
lá được phân tách theo nam và nữ
Trang 20Số liệu tách biệt theo giới tính cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa phụ
nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai trong một hoàn cảnh cụ thể, nhưng không cho biết tại sao lại có sự khác biệt đó
1.1.2 Phát triển kinh tế hộ gia đình
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
* Phát triển: Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về “phát triển”:
- “Phát triển là làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp” (Từ điển tiếng Việt)
- “Phát triển mang tính so sánh, mang tính thời gian Phát triển là sự thay đổi theo hướng khác biệt đi theo hướng tốt hơn, hài lòng và ổn định hơn”
Như vậy, phát triển là tạo ra sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chất lượng hơn
* Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội
1.1.2.2 Khái niệm nông thôn, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
* Khái niệm nông thôn,
Nông thôn là phần lãnh thổ của một nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp
* Khái niệm, đặc điểm hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
Có rất nhiều các khái niệm khác nhau của các nhà khoa học về “ hộ ”:
- Hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công (Từ điển tiếng Việt)
- Hộ là những người cùng sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ (Liên Hợp Quốc)
- Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác (Thảo luận quốc tế lần thứ 4
về Quản lý nông trại tại Hà Lan, 1980)
Trang 21- Hộ là một nhóm cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ (Giáo sư T.G.Mc.Gee, 1989)
Từ điểm đồng nhất trong các quan điểm trên, có thể thấy:
Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy nhiên cũng có thể thành viên của hộ không cùng huyết thống như con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong
hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế
cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước…
Hộ nông dân:
Theo Ellis – 1988 cho rằng: “ Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế,
xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”
Từ các khái niệm trên ta thấy đặc điểm của hộ nông dân như sau:
- Là đơn vị kinh tế cơ sở;
- Vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng
Kinh tế hộ nông dân:
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất
Trang 22Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động của hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:
- Đất đai: Nghiên cứu của hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai
- Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hóa, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương
- Tiền vốn: Chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mục đích sản xuất chủ yếu trong hộ nông dân là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới mang bán ra thị trường
1.1.3.Giới trong gia đình
Gia đình là một hình thức tổ chức cơ bản, gắn kết với nhau bởi quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng và giáo dục Trong gia đình luôn tồn tại giới và giới tính, hai phương diện về thể chất và xã hội
Hộ có tư cách là một tế bào kinh tế - xã hội, trong đó sự quản lý nguồn lực và ra quyết định là chủ hộ hay chủ gia đình Chủ gia đình thường là người lớn tuổi và là nam giới
Gia đình đóng vai trò cơ bản trong hình thành các mối quan hệ giới và chủ hộ đưa ra hầu hết các quyết định cơ bản trong phạm vi của hộ như có con, nuôi dạy, đi làm, nghỉ ngơi, đầu tư cho tương lai
Sự phân công lao động rõ ràng được dựa vào giới Đàn ông tham gia chủ yếu vào việc ra quyết định và tiến hành các hoạt động sản xuất ở bên ngoài trong khi người phụ nữ chịu trách nhiệm sinh con và làm công việc nhà
Có thể nhận thấy nam giới có khả năng tập trung cao độ vào một vai trò sản
Trang 23xuất cụ thể nào đó, trong khi phụ nữ có thể thực hiện tất cả các vai trò một cách đồng thời
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng và vai trò của giới ở một số quốc gia trên thế giới
Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Theo nghiên cứu sâu của Văn phòng Tổng Thư ký Liên hợp quốc thì hiện nay bạo lực đối với phụ nữ là nghiêm trọng và phổ biến trên khắp thế giới Các nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ được tiến hành ở ít nhất 71 nước cho thấy một tỉ lệ đáng kể phụ nữ bị bạo lực về thân thể, tình dục hoặc tâm lý Hình thức bạo lực về thân thể phổ biến nhất mà phụ nữ trên toàn cầu gặp phải
là bị người bạn tình đánh đập Trung bình ít nhất cứ 3 phụ nữ thì có 1 người là đối tượng của hành vi bạo lực của người bạn tình trong suốt cuộc đời của họ Cùng với hình thức trên là hình thức bạo lực tình dục Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới tại 11 nước cho thấy tỉ lệ phụ nữ là đối tượng của bạo lực tình dục bởi bạn tình có từ 6% đến 59% ở Nhật Bản, Séc-bi-a, Mông-tê-nê-grô và Ê-ti-ô-pi-a Bạo lực về tâm lý hay tình cảm do người bạn tình gây ra cũng là hình thức phổ biến Tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực về tâm lý dao động từ 10%
ở Ai cập đến 51% ở Chi Lê Một nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc ở Pháp
về bạo lực đối với phụ nữ cho thấy 35% phụ nữ đã trải qua những áp lực về tâm lý do bạn tình gây ra trong vòng 12 tháng Nam Á vốn tự hào là nơi có nhiều nhà lãnh đạo nữ và quê hương của phong tục thờ cúng các nữ thần, của
sự tôn kính người mẹ Tuy nhiên, còn rất nhiều phụ nữ tại khu vực này đang chịu mối đe dọa bạo lực Một cuộc khảo sát của TrustLaw, một dịch vụ tin tức pháp lý của Quỹ Thomson Reuter thực hiện, cho biết năm quốc gia nguy hiểm nhất đối với phụ nữ thì có tới ba quốc gia thuộc khu vực Nam Á, gồm: Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan và Ấn Độ Trong đó, Áp-ga-ni-xtan là nước đứng đầu danh sách, nơi có đến 87% số phụ nữ không biết chữ, 70% - 80% số các em gái bị ép kết hôn và họ luôn phải chịu đựng nạn bạo lực gia đình, không được
Trang 24hưởng quyền chăm sóc sức khỏe, Pa-ki-xtan đứng thứ ba do có nhiều tập quán văn hóa và tôn giáo gây hại cho phụ nữ Hằng năm, có hơn 1.000 phụ nữ Pa-ki-xtan bị giết do hủ tục ở nước này và 90% số phụ nữ ở đây luôn phải đối mặt nạn bạo hành gia đình Ấn Độ đứng thứ tư trong danh sách các nước đáng
sợ nhất đối với phụ nữ vì tỷ lệ kết hôn sớm, nạn buôn người, phá thai tăng cao, Theo kết quả điều tra, khoảng hơn 44% số phụ nữ Ấn Độ kết hôn trước
18 tuổi, 100 triệu người chủ yếu là phụ nữ và trẻ em gái là nạn nhân của nạn buôn người vào năm 2009 và hơn 50 triệu bào thai nữ không được sinh ra do phá thai hoặc bị ép phá thai ở thế kỷ trước Cục điều tra Trung ương Ấn Độ cho biết, trong năm 2009 có khoảng 90% số vụ buôn người diễn ra ở quốc 10 gia này Ấn Độ có ba triệu gái mại dâm, trong đó trẻ em chiếm tới 40% Phụ
nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó: Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với - 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25 -
29, 50 - 54 Đáng chú ý là gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 - 64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ -
20 - 29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30 - 39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở Trung Quốc phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 - 64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới Tuổi thọ trung bình cao, với nam 77 tuổi, với nữ 82,3 tuổi Có được thành tựu ấy,
Trang 25người ta cho rằng do Na Uy có nền kinh tế rất phát triển (GDP bình quân trên đầu người 60 ngàn USD) nhưng chưa hẳn vậy Thực tế cho thấy có những nền kinh tế trên thế giới rất phát triển, quá trình phát triển nhưng 2 chỉ số trên không cao Vậy nên một hệ thống luật pháp đồng bộ hướng tới mục tiêu bảo
vệ quyền và lợi cho người phụ nữ có thể là nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên chỉ số bình đẳng giới kia Ngoài ra còn lý do khác Đó là Chính phủ
Na Uy rất quan tâm đến vấn đề Bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn
đề trọng tâm phát triển của đất nước họ Quả đúng như vậy Là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930, Na Uy cũng tự hào có Luật Bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển [29]
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép, trừ khi nhằm bảo vệ những quyền đặc biệt như bảo vệ phụ nữ trong thời kỳ mang thai, sinh nở, cho con bú Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: Khi quảng cáo tuyển dụng, người sử dụng lao động không được hạn chế tuyển một giới, cũng không được gây ấn tượng rằng họ mong muốn hay thích tuyển một giới nào đó Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao động cũng không được phân biệt nam nữ Lao động nam và nữ trong cùng một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như nhau hoặc công việc có giá trị như nhau
Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mà không phân biệt tuổi tác
Đặc biệt Luật Bình đẳng giới có 1 mục quy định: “Khi thành lập và bổ
nhiệm, bầu cử các thành viên của một cơ quan nhà nước, uỷ ban, hội đồng, ban… có từ 4 thành viên trở lên thì mỗi giới phải có đại diện với tỷ lệ ít nhất
Trang 26là 40% Đối với uỷ ban có từ 2 - 3 thành viên thì phải có đại diện cả hai giới trong các uỷ ban này”
Bộ Gia đình và Bình đẳng giới ở Na Uy là cơ quan được Chính phủ giao cho chức năng giám sát việc thực hiện điều khoản trên Nếu cơ quan, đơn vị nào không đạt tỷ lệ đã quy định thì Bộ này đề nghị Chính phủ không cho phép thành lập Do vậy, đến nay cơ quan các cấp ở Na Uy đã đạt được tỷ lệ trung bình 43% nữ Bên cạnh đó, một Cơ quan thanh tra về bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử trực thuộc Bộ Gia đình và Bình đẳng giới cũng ra đời giúp Chính phủ nhận đơn khiếu nại hoặc phát hiện những vấn đề bất bình đẳng giới trình lên trên để cùng giải quyết [29]
Cùng với Luật Bình đẳng giới, Na Uy có hệ thống các luật chuyên ngành và các luật liên quan khác với các điều khoản thống nhất, đồng bộ cùng hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền cho phụ nữ Theo những bộ luật đó, ở Na
Uy, nam và nữ cùng nghỉ hưu ở tuổi 67 Nếu đến 67 tuổi, ai còn muốn làm việc tiếp đều được chấp nhận Chính phủ khuyến khích đi làm từ 16 tuổi, nghỉ hưu ở tuổi 74 và làm việc càng lâu càng tốt Tuy nhiên, phụ nữ vẫn có quyền nghỉ sớm từ tuổi 60 nếu họ muốn Nhưng qua nghe trao đổi, hiện nay nước này có khoảng 100 ngàn phụ nữ mong muốn được làm việc lâu hơn nữa Có
lẽ vì thế mà đội ngũ công chức, chuyên gia đang làm việc nhà nước hầu hết là người nhiều tuổi, rất hiếm thấy cán bộ trẻ kể cả tiếp viên hàng không ngoài sân bay [29]
Chế độ nghỉ thai sản và chăm sóc con cái cũng được Luật đề ra rất tốt Khi mang thai, nếu người phụ nữ đã đi làm ít nhất là 6 tháng trong vòng 10 tháng thai nghén sẽ được nghỉ chế độ và hưởng lương đầy đủ với số tiền không quá 6 lần số tiền bảo hiểm quốc gia cơ bản Khi sinh nở, người mẹ được nghỉ 52 tuần hưởng 80% hoặc nghỉ 42 tuần hưởng 100% lương Trong thời gian này, mẹ phải nghỉ 3 tuần trước khi sinh, bố phải nghỉ bốn tuần theo chế độ người cha Ngoài ra, bố và mẹ được nghỉ từ 10 đến 20 ngày/năm chăm
Trang 27con ốm (kể cả với con nuôi) Quỹ thời gian này người bố và mẹ có thể toàn quyền tuỳ ý sử dụng trong thời gian 2 năm, không nhất thiết phải nghỉ liên tục Còn như nếu người phụ nữ không đi làm và không được hưởng chế độ nghỉ đẻ thì được hưởng 32.138 NOK khi sinh con (tương đương 80.500.000 đồng Việt Nam) Từ năm 1992, những ông bố bà mẹ không đi làm mà phải nuôi con dưới 7 tuổi đều được hưởng ba khoản trợ cấp một năm của Chính phủ Từ năm 1998 -1999, Na Uy còn có chương trình trợ cấp tiền nhà trẻ cho trẻ em từ 1 - 2 tuổi Nếu gia đình không gửi con vào nhà trẻ hoặc các gia đình gửi con dưới 30 giờ/tuần được trợ cấp 3.000 NOK/tháng (tương đương 7.500.000 đồng Việt Nam) [29]
Tuy nhiên dù Luật đề ra rất tốt nhưng vẫn chưa khuyến khích được phụ
nữ và nam giới Ví như tỷ lệ sinh con mới đạt 1,8 đến 2 con trong khi Na Uy cần tăng từ 1,9 đến 2,5 con trong một gia đình mới đảm bảo cân bằng xã hội hoặc chỉ có 70% các ông bố thực hiện nghỉ chế độ khi vợ sinh con, trong đó 13% không nghỉ hết chế độ (4 tuần)
Nhìn tổng thể về mặt vĩ mô thì dải đất Bắc Âu này có nhiều thành tựu rất đáng tự hào Ví dụ như: là nước phát huy tiềm lực kinh tế cao, tỷ lệ công
ăn việc làm đạt mức kỷ lục, đời sống văn hoá rất phát triển, là quốc gia đi đầu trong các vấn đề môi trường toàn cầu, là một trong những nước viện trợ lớn nhất theo tỷ trọng của tổng thu nhập nội địa (GDI), cũng là nước có đóng góp lớn nhất cho Quỹ phát triển phụ nữ Liên Hợp Quốc Về lĩnh vực bình đẳng giới, phụ nữ Na Uy tham gia chính trị tích cực hơn nhiều so với phụ nữ ở các nước khác, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 39,4%, nữ tham gia Chính phủ đạt 47%, có 9 nữ Bộ trưởng trong số 19 Bộ, Na Uy có Bộ Gia đình và bình đẳng giới, đồng thời có Cơ quan thanh tra về bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử…Hiện nay Na Uy đã xây dựng kế hoạch hành động chống buôn bán phụ
nữ ở cấp quốc gia Tuy nhiên, Na Uy không phải chỉ toàn những điều tuyệt vời như vừa kể Người ăn xin vẫn rải rác vỉa hè thủ đô trong đó có cả phụ nữ
Trang 28Luật Bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường quyền lực của phụ
nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì không áp dụng trong gia đình Trong lĩnh vực công việc nhà không được trả lương phụ nữ vẫn làm việc nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương lãnh đạo nam vẫn trên 70%; nạn bạo lực vẫn xảy ra; mại dâm được phép hoạt động nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục,… Tất cả những hạn chế ấy đang là thử thách đối với đất nước này [29]
Viện nghiên cứu phát triển của đại học Sussex ở Anh đã đi đầu trong việc nghiên cứu hình thành khái niệm về giới Một trong những nhà nghiên cứu là Ann Whitehead đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm giới trong các cuộc hội thảo vào năm 1978 với chủ đề “Sự lệ thuộc kéo dài của phụ nữ trong quá trình phát triển” cơ sở nhận định rằng:
- Không có một nghiên cứu nào về phụ nữ phát triển mà không phải là vấn đề của cả nam giới và phụ nữ, nghĩa là phải đặt nó trong mối quan hệ giữa nam và phụ nữ
- Những mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ là do xã hội tạo nên chứ không phải do đặc điểm sinh học
- Các quan hệ giới này thường được đặt thể hiện thông qua sự thống trị của nam giới và sự phụ thuộc của phụ nữ
Như vậy trên thế giới đã có nhiều quốc gia tiến hành nghiên cứu về phụ
nữ nói chung vị trí, vai trò của họ trong gia đình nói riêng Các công trình nghiên cứu này thường do các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu phi chính phủ của các quốc gia đó và quốc tế nghiên cứu Thêm vào đó là các công trình nghiên cứu như: “Các thế kỷ tuổi thơ” của Aries (Anh), “quan hệ hôn nhân trong gia đình” của Edholm, “Gia đình và hôn nhân của Anh” của Feletcher, “Bạo lực chống phụ nữ” của Dobash,
Trang 291.2.2 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam
Rất nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế đều có một nhận xét chung: Việt Nam đã có rất nhiều hành động nhằm giảm bớt sự kỳ thị và bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Những hành động này thậm chí đã được thể chế hóa thành chính sách nhà nước, thành văn bản luật như Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình Cũng không có nhiều nước trên thế giới mà các hành động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể của từng tỉnh thành, từng địa phương,… như ở Việt Nam
Báo cáo Phát triển con người của UNDP (2006) cho thấy, mức độ bình đẳng giới tại Việt Nam xếp thứ 11 trên thế giới Chỉ số này thậm chí cao hơn nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới là Anh một bậc Theo báo cáo Khoảng cách giới tính toàn cầu năm 2007 mà Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, xét trong khu vực ASEAN và Đông Á, Việt Nam đứng ở ngôi vị thứ hai về mức độ bình đẳng giới Bà Trần Thị Mai Hương, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cho biết:
“Báo cáo mới nhất về thực hiện chương trình Mục tiêu thiên niên kỷ của Chính phủ nêu rõ Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới Địa vị của phụ nữ đã được nâng cao trong các mặt của đời sống xã hội, bình đẳng giới đã được tăng cường trong lĩnh vực lao động và việc làm, giáo dục
và đào tạo cũng như trong bộ máy chính quyền các cấp Chính vì vậy mà Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia Đông Á có tốc độ khắc phục cách biệt giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây Năm 2007 xếp hạng thứ 91/157 về chỉ số phát triển giới (GDI) và 52/93 về số đo trao quyền giới (GEM)” (http://www.quangnam.gov.vn)
Bà Lê Thị Quý, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phụ nữ đánh giá:
“Công lao của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, kỳ vọng mà xã hội trao cho họ là rất lớn Vì vậy, vấn đề phụ nữ vẫn là một trong những vấn đề hấp
Trang 30dẫn, nhạy cảm và được đề cập nhiều nhất trong xã hội hiện đại Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm hơn 51% dân số và 49,5% lực lượng lao động Để có được những thành công như ngày hôm nay, sự đóng góp của phụ nữ Việt Nam đã được đánh giá là xấp xỉ với nam giới, thậm chí có những lĩnh vực cao hơn như lao động trong gia đình, sinh đẻ và chăm sóc, dạy dỗ con cái”
Thực trạng phụ nữ Việt Nam là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50% nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội Không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó 55% là lao động nữ
Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
Trang 31* Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Nhìn chung, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp THCS Ít
có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học
từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ
đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ,… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự
Trang 321.2.3 Chủ trương chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình
đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nhân dân, cho đất nước thấy rõ và luôn đánh giá cao vai trò của phụ nữ thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng
Cảm nhận sâu sắc nỗi khổ nhục của phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh càng nhận thức rõ phụ nữ chính là lực lượng to lớn, rất cần được giác ngộ, thu hút tham gia vào các phong trào cách mạng Trong tác phẩm
Đường cách mệnh, người viết: “Cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta Đàn bà con
trẻ cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều”, “Cách mệnh Nga thành công mau
như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào” Người bày
tỏ sự tâm đắc sâu sắc với nhận định đúng đắn của Các Mác và Lê Nin Với cách
nhìn toàn diện, Người nhấn mạnh: Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, “Nói đến phụ
nữ là nói đến một nửa xã hội”, “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” Hồ Chí Minh luôn tự hào và đánh giá rất cao vai trò của phụ nữ Việt Nam
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Người luôn nhấn mạnh tầm quan
trọng của lực lượng phụ nữ, Người chỉ rõ: “Phụ nữ ta là một lực lượng lớn trong
công cuộc xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội” [11]
Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội
“Nhất định phải sản xuất cho thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có
nhiều sức lao động Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phóng phụ nữ”
Do đó, Người đề ra nhiệm vụ cho Đảng phải chăm lo giải phóng phụ nữ Người chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng không chỉ giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân nghèo, các sản nghiệp lớn cho công nhân, các quyền dân chủ, tự do cho nhân dân mà còn nhằm thực hiện nam nữ bình quyền [11]
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi mới ra đời năm 1930 đã đề ra một trong
10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam là “Nam nữ bình quyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nhân dân, đất
Trang 33nước và luôn đánh giá cao vai trò của phụ nữ trên thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng Cảm nhận sâu sắc nỗi khổ nhục của phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh càng nhận rõ phụ nữ chính là lực lượng to lớn, rất cần được giác ngộ, thu hút tham gia vào phong trào Cách mạng
Người bày tỏ sự tâm đắc sâu sắc với nhận thức đúng đắn của Các Mác và Lênin- những nhà lý luận Mácxít, lãnh tụ của giai cấp vô sản - về vai trò to
lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng Người chỉ rõ:“Ông Các Mác nói
rằng:“Ai đã viết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ
nữ giúp vào thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng của đàn bà, con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra sao” Ông Lênin nói“Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước” Hồ Chí Minh chỉ rõ:“Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào” Người khẳng định“An Nam cách mệnh cũng phải có
nữ giới tham gia mới thành công” [11]
Với cách nhìn toàn diện, Người nhấn mạnh: Phụ nữ là một nửa nhân
loại, Người chỉ rõ:“Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” Hồ
Chí Minh luôn tự hào và đánh giá vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Người luôn nhấn mạnh tầm quan trọng
của lực lượng phụ nữ, Người chỉ rõ:“Phụ nữ ta là một lực lượng lớn trong
công cuộc xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội” Người đã tặng phụ
nữ Việt Nam 8 chữ vàng:“Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” [11]
Sự đóng góp của phụ nữ Việt Nam được Hồ Chí Minh khái quát một
cách hình tượng“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già,
ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai
trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước [11]
Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn “Đảng
và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp
đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi việc lãnh đạo”
Trang 34Trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ và công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới
- Hiến pháp năm 1946, điều 9 quy định rõ:“Đàn bà ngang quyền với
đàn ông về mọi phương diện” Nguyên tắc này cũng đã được thể hiện trong
các Hiến pháp năm 1959, Điều 14 “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình”; Hiến pháp năm 1992, Điều 63 nhấn mạnh rõ hơn “Công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và gia đình Nghiêm cấm mọi thành viên phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”;
3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007
Ngày 21/12/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011– 2020, mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị,
Trang 35kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước; giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới [25]
Như vậy có thể nói, các văn bản pháp luật và chính sách của Nhà nước Việt Nam trên mọi lĩnh vực đã hoàn toàn tuân thủ và thể hiện rõ nguyên tắc bình đẳng nam, nữ không có bất cứ sự phân biệt nào Vì vậy, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới đạt những thành tích quan trọng nhất định trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới
Việt Nam tham gia một số công ước như công ước về quyền trẻ em (CRC), công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), hay các mục tiêu thiên niên kỷ,…
1.2.4 Thực trạng và vai trò của giới trong kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam
Có thể khẳng định rằng cái thời ”Trọng nam khinh nữ” đã qua lâu rồi
Thực chất đã có sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ chưa? Có ý kiến cho rằng, ảnh hưởng của đạo Khổng đã hằn sâu vào quan niệm, cách suy nghĩ của người Việt Nam nên khó có thể thay thế được Vậy thực trạng của vấn đề này trong những năm gần đây ra sao? Nhất là sự tác động của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đặt ra những thách thức vấn đề gì về giới cũng như việc xử lí vấn đề này sẽ tác động gì đến chiến lược phát triển phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XXI? Để có thể đề xuất chính sách nhằm tăng cường sự tiến
bộ của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam cần quan tâm đến một số vấn đề:
* Phụ nữ - việc làm và địa vị kinh doanh:
Hiện nay phụ nữ tham gia vào các hoạt động nông nghiệp với tỉ lệ khá lớn Số liệu thống kê cho thấy 68% lực lượng lao động nữ tham gia các công việc trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, phụ nữ chiếm 54% lực lượng lao động nông nghiệp và chiếm 92% những nghề mới trong nông nghiệp được tạo ra
Trang 36mỗi năm Những năm gần đây, nam giới có xu hướng chuyển dịch từ việc làm nông nghiệp sang phi nông nghiệp
Đổi mới kinh tế đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động
có năng suất cao và tăng thu nhập Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam còn có nhiều hạn chế về trình độ, về tiếp cận tín dụng và đất đai, về đào tạo nghề và khả năng cạnh tranh Gánh nặng gia đình đã cản trở phụ nữ nước ta trong quá trình sản xuất để nâng cao đời sống và trong nhiều hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội khác
Thị trường lao động đang là vấn đề bức xúc ở Việt Nam Tỉ lệ người lao động ở Việt Nam là những nông dân tự tạo việc làm khá cao Có 58% nam giới và 65% phụ nữ là những người nông dân tự tạo việc làm, chỉ có 20% lao động nam giới và 10% lao động nữ hoạt động trong khu vực chính thức Đối với lao động trong khu vực chính thức, việc phụ nữ nghỉ hưu ở tuổi 55 là điều còn đang được bàn luận
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam:
Như đã đề cập trên đây, hiện nay phụ nữ nông thôn chiếm lực lượng đông trong xã hội, là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhưng họ là nhóm người yếu thế, thiệt thòi và bị hạn chế bởi trình độ nhận thức
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong
đó lao động nữ chiếm 55%
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90 khiến
Trang 37cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng hóa, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
* Vai trò và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế -
xã hội:
Thời kỳ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ kinh tế quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là giai đoạn đất nước có những chuyển biến quan trọng trên tất cả các bình diện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và có dấu hiệu ổn định Điều này là tiền đề cho những cải thiện thêm nhiều mặt về đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đem lại lợi ích cho hầu hết các tầng lớp dân cư ở thành thị cũng như nông thôn, ở miền xuôi cũng như miền ngược
Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 đạt được tỷ lệ như sau: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 24,4%; tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 25,17%, cấp quận, huyện, thị xã là 24,62% và cấp xã, phường, thị trấn 21,71%
Trong cơ quan dân cử, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam được đánh giá khá cao so với khu vực và thế giới (tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25%) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ
Trang 3822,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 16,6% lên 20,1% Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 33,1% dẫn đầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ trong Quốc hội; tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69%
Trong các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, hiện nay nhiều khóa liền đều có nữ phó chủ tịch nước, nữ bộ trưởng 1/22 chiếm 4,55%, nữ thứ trưởng 4/99 chiếm 4,03% Đối với các cấp địa phương, ở cấp tỉnh 1/63 tỉnh, thành có
nữ chủ tịch ủy ban nhân dân (chiếm 1,59%), 31/36 tỉnh, thành có nữ phó chủ tịch; ở cấp huyện: nữ chủ tịch UBND là 3,62%, phó chủ tịch UBND là 8,84%
Đối với tỉnh Tuyên Quang, phụ nữ tỉnh Tuyên Quang chiếm 49,92% dân số toàn tỉnh, luôn là nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong mọi thời kỳ Xác định được vai trò của phụ nữ Tuyên Quang trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, do vậy công tác cán bộ nữ luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Các cấp ủy Đảng đã nhận thức được vị trí, vai trò của phụ nữ, cán bộ nữ và xác định công tác cán bộ nữ là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nên đã cụ thể hóa và quán triệt chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ nữ Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tỉnh nhiệm kỳ 2010-
2015 đạt 29,09%; tỷ lệ nữ là giám đốc, phó giám đốc, trưởng, phó ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh đạt 22,43% (cấp trưởng, cấp phó 15,38%), Ban Thường vụ cấp ủy tỉnh 13,33%, cấp ủy huyện tương đương 11,39% Nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII (nhiệm kỳ 2011-2016) tỉnh Tuyên Quang chiếm 3,33%, nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh chiếm 46,55%, cấp huyện 33,98% Cán
bộ nữ giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở các sở, ban, ngành cấp tỉnh 19,35%
Thực tế chứng minh, phụ nữ luôn là một lực lượng quan trọng đã và đang nỗ lực, khắc phụ khó khăn, phấn đấu vươn lên, phát huy vai trò, vị trí của mình góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, làm chuyển biến tình hình
Trang 39kinh tế - xã hội của đất nước Tham gia vào mọi lĩnh vực là điều kiện tốt nhất
để giải phóng mình vươn lên thực hiện bình đẳng giới
Nghĩa vụ công dân và chức năng làm vợ, thiên chức làm mẹ của phụ nữ
được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn
định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt
trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ
nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng
sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội
nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực,
thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu
dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu
hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
- Trong sinh hoạt cộng động: Phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động
cộng đồng xóm, thôn, bản
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và
những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân
loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia
sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có
những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
Trang 40Phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, hoạt động chính trị
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm tới những đóng góp của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý Nhà nước Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày
27/4/2007 của Bộ Chính trị Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước xác định mục tiêu chung, “ Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được
nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực” Quyền của phụ
nữ được tham gia vào các lực lượng lao động, các vị trí lãnh đạo và ra quyết định được khuyến khích trong các nghị quyết và chính sách, được áp dụng ở mọi cấp, mọi khu vực lãnh thổ [14]
Ngày 16/5/1994 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Chỉ thị số 37-CT/TW nêu rõ “Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là điều quan trọng để thật sự có quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ,…” [2]
Thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chiến lược của Chính phủ, công tác cán bộ nữ đã thu được kết quả bước đầu Theo đánh giá tình hình
về giới: Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động kinh tế; Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII nhiệm kỳ 2011 -
2016 là 33,1% dẫn đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ trong Quốc hội Trong các phong trào thi đua yêu nước, xuất hiện nhiều tài năng, nhiều điển hình tiên tiến trong thời kỳ phát triển mới: có 19 nữ anh hùng, 225
nữ chiến sỹ thi đua toàn quốc trong thời kỳ đổi mới
Phụ nữ ngày càng bình đẳng hơn trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tự ứng cử và giới