1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn tỉnh lạng sơn

81 249 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định loại thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn: - Về xác định thiệt

Trang 1

DƯƠNG THÚY HỒNG

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GPMB DỰ ÁN HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC

VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN (GIAI ĐOẠN 1)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý Đất đai Khoa : Quản lý Tài nguyên Khóa học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, 2015

Trang 2

DƯƠNG THÚY HỒNG

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GPMB DỰ ÁN HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC

VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN (GIAI ĐOẠN 1)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý Đất đai

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, em nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bài khóa luận này

Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn - là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo

tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Quản lý tài nguyên, đã giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện

đề tài

Em cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán

bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Lạng Sơn; UBND xã Hoàng Đồng; đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình dân số thành phố Lạng Sơn năm 2013 40

Bảng 4.2 Tình hình dân số phân theo các nhóm ngành 41

Bảng 4.3 Bảng hiện trạng sử dụng đất 47

Bảng 4.4 Kết quả bồi thường về đất 53

Bảng 4.5 Bảng hỗ trợ đất công 54

Bảng 4.6 Bảng tín toán bồi thường, hỗ trợ cây cối hoa màu 55

Bảng 4.7 Bảng tính toán bồi thường, hỗ trợ nhà cửa vật liệu, kiến trúc 57

Bảng 4.8 Tổng hợp kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng 60

Bảng 4.9 Ý kiến của người dân về các hoạt động GPMB 61

Bảng 4.10 Kết quả phỏng vấn về việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ 62

Bảng 4.11 Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra cán bộ chuyên môn về công tác bồi thường GPMB 63

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Trình tự thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ ổn định đời sống 17

Trang 5

TT - BTC : Thông tư - Bộ tài chính

BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 5

2.2 Khái quát những quy định liên quan đến giải phóng mặt bằng 6

2.2.1 Các khái niệm liên quan 6

2.2.1.1 Khái niệm bồi thường 6

2.2.1.2 Khái niệm thu hồi đất 9

2.2.1.3 Tái định cư 9

2.2.2 Những quy định liên quan đến giải phóng mặt bằng 10

2.2.2.1 Các trường hợp và hình thức thu hồi 10

2.2.2.2 Thẩm quyền thu hồi thu đất 12

2.2.2.3 Nguyên tắc bồi thường tái định cư cho người có đất bị thu hồi 12

Trang 7

2.2.2.4 Trình tự thực hiện và trách nhiệm của các cấp trong công tác Bồi

thường, hỗ trợ ổn định đời sống 15

2.3 Tình hình giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới và ở

Việt Nam 18

2.3.1 Tình hình giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới 18

2.3.1.1 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Thái Lan 18

2.3.1.2 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc 19

2.3.1.3 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Indonesia 21

2.3.1.4 Chính sách bồi thường ổn định đời sống của một số ngân hàng trên

thế giới 23

2.3.2 Tình hình giải phóng mặt bằng ở Việt Nam 25

2.3.2.1 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Hà Nội 25

2.3.2.2 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Phú Thọ 27

2.3.2.3 Những ưu nhược điểm trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống thời gian qua 28

2.3.3 Tình hình giải phóng mặt bằng ở Tỉnh Lạng Sơn 30

Phần 3: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34

3.3 Nội dung nghiên cứu 34

3.3.1 Tình hình cơ bản của thành phố Lạng Sơn 34

3.3.2 Thực trạng công tác giải phóng mặt bằng tại thành phố Lạng Sơn 34

3.3.3 Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn 34

3.4 Phương pháp nghiên cứu 34

3.4.1 Điều tra thu thập số liệu thứ cấp 34

Trang 8

3.4.2 Điều tra thu thập số liệu sơ cấp 34

3.4.3 Phân tích và xử lý số liệu 35

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Tình hình cơ bản của.thành phố Lạng Sơn 36

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

4.1.1.1 Vị trí địa lý 36

4.1.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai và thổ nhưỡng 37

4.1.1.3 Khí hậu 37

4.1.1.4 Thủy văn 37

4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 38

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 39

4.1.2.1 Tình hình xã hội 39

4.1.2.2 Các ngành kinh tế 41

4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 43

4.1.3 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Lạng Sơn 47

4.1.4 Thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Lạng Sơn 47

4.1.4.1 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công tác giao đất - thu hồi đất; công tác thống kê đất đai 47

4.1.4.2 Công tác giải quyết đơn thư; thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trong việc quản lý sử dụng đất đai 49

4.1.4.3 Công tác tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất 50

4.2 Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Lạng Sơn 52

4.2.1 Thực trạng công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn 52

Trang 9

4.2.1.1 Đánh giá kết quả bồi thường về đất 52

4.2.1.2 Đánh giá bồi thường về cây cối và hoa màu 54

4.2.1.3 Đánh giá bồi thường về tài sản, công trình, vật kiến trúc, nhà ở 56

4.2.1.4 Đánh giá các chính sách hỗ trợ sau khi giải phóng mặt bằng 57

4.2.1.5 Kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng 60

4.2.2 Đánh giá kết quả công tác BT&GPMB của dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải qua ý kiến của người dân 61

4.2.3 Một số hạn chế và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống 64

4.2.3.1 Một số hạn chế trong công tác bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống 64 4.2.3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống 66

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản quốc gia vô cùng quý báu,

là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố dân cư và các hoạt động văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh; là yếu tố nội lực để xây

dựng và phát triển bền vững quốc gia (Luật đất đai 1988, 1993, 1998)

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai như quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; mục đích sử dụng đất; hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất; thu hồi, định giá đất…

Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đang diễn ra hết sức mạnh mẽ tại tất cả các địa phương Để phục vụ cho mục đích này, đòi hỏi phải có một lượng lớn đất đai Công việc này liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng cho người đang sử dụng đất Đây là điều kiện ban đầu nhưng hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng các công trình, dự

án Công tác này sẽ quyết định đến thời gian, tiến độ thi công các công trình, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, các cá nhân, hộ gia đình

Vì vậy, công tác thu hồi đất và lên phương án bồi thường giải phóng mặt bằng

là hết sức phức tạp và nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá bồi thường với người dân vì khung giá bồi thường đất và tài sản liên quan đến đất thường thấp hơn rất nhiều so với giá ngoài thị trường Ngoài ra còn phải giải quyết vấn đề công ăn việc làm, tái định cư và các hậu quả sau khi giải phóng mặt bằng

Trang 11

Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn trong những năm qua

đã tổ chức thực hiện nhiều dự án và công tác bồi thường GPMB đã thu được nhiều kết quả tốt Nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ không ít những khó khăn liên quan đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Do vậy cần nghiên cứu để làm rõ về cơ sở lý luận và tìm ra giải pháp tháo gỡ trong cơ chế tổ chức và thực hiện

Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lí tài nguyên, trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Khắc Thái

Sơn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá công tác GPMB Dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá kết quả công tác bồi thường giải phóng

- Góp phần hoàn thiện chính sách, phương thức bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố

Trang 12

- Góp phần hạn chế, giải tỏa những bức xúc về khiếu kiện của người dân bị thiệt hại do phải giải tỏa mặt bằng, bàn giao đất để triển khai dự án trên địa bàn

- Việc hoàn thành đề tài là cơ sở cho sinh viên củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học, đồng thời là cơ sở để sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế công tác đền bù GPMB

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Thông qua quá trình nghiên cứu giúp sinh viên nắm được những thuận lợi và khó khăn để từ đó đề ra các giải pháp góp phần thúc đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB

- Nhằm giúp sinh viên khi ra trường thực hiện tốt công tác chuyên môn về bồi thường GPMB ổn định đời sống khi nhà nước thu hồi đất

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

- Luật Đất đai năm 2003

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Căn cứ quyết định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống;

- Căn cứ thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 07 năm 2007 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 Quy định về bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Căn cư Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Ngày 25 tháng 5 năm 2007 Quy định bổ sung về việc cấp

Trang 14

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi, đất giao đất, cho thuê đất

2.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài

- Căn cứ Thông báo số 151/TB-UBND ngày 16 tháng 07 năm 2013 Về việc thu hồi đất để thực hiện xây dựng công trình Nhà máy xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn thuộc dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành Phố Lạng Sơn - Giai đoạn 1;

- Quyết định số 27/2013QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2013 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc ban hành quy định về giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;

- Quyết định số 09/2012/QĐ-UBND ngày 20 tháng 4 năm 2012 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc ban hành Quy định về quy chế, chính sách bồi thường hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;

- Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 24 tháng 02 năm 2012 của UBND Tỉnh Lạng Sơn ban hành quy định đơn giá cây trồng, vật nuôi áp dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Quyết định số 03/2013/QĐ-UBND ngày 05 tháng

03 năm 2013 sửa đổi bổ sung một số điều của Quy định đơn giá cây trồng, vật nuôi áp dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ban hành kèm theo Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của UBND tỉnh;

Trang 15

- Căn cứ Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND ngày 26 tháng 08 năm

2011 của UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành đơn giá mới nhà, công trình và vật kiến trúc áp dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;

- Căn cứ Quyết định số 1978/QĐ-UBND ngày 29 tháng 10 năm 2013 của UBND thành phố Lạng Sơn về việc thành lập Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống dự án: Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn - giai đoạn 1;

- Căn cứ Quyết định số 1979/QĐ-UBND ngày 29 tháng 07 năm 2013 của UBND thành phố Lạng Sơn về việc thành lập Tổ chức công tác bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống của dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn - giai đoạn 1

- Căn cứ công văn số 1027/ĐC-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2013 về việc đính chính Quyết định số 1978/QĐ-UBND ngày 29/07/2013 của UBND thành phố Lạng Sơn;

- Căn cứ công văn số 1028/ĐC-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2013 của UBND thành phố Lạng Sơn về việc đính chính Quyết định số 1979/QĐ-UBND ngày 29/07/2013 của UBND thành phố Lạng Sơn;

- Căn cứ Quyết định số 3249/QĐ-UBND ngày 09 tháng 12 năm 2013 của UBND thành phố Lạng Sơn về việc kiện toàn Hội đồng bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống dự án: Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn - giai đoạn 1

2.2 Khái quát những quy định liên quan đến giải phóng mặt bằng

2.2.1 Các khái niệm liên quan

2.2.1.1 Khái niệm bồi thường

Theo Luật Đất đai năm 2003 và 2013 thì bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất

Trang 16

bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Trong các điều khoản quy định cụ thể, Luật cũng quy định những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc thu hồi đất gây ra cũng được xem xét bồi thường (Quốc hội, 2003) Thực tế quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định loại thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn:

- Về xác định thiệt hại: Ngoài thiệt hại về đất, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất thì còn có những thiệt hại khác mà người sử dụng đất cần phải được bồi thường như: Thiệt hại do chi phí đã đầu tư vào việc san lấp mặt bằng, thiệt hại do mất địa thế kinh doanh, các thiệt hại về sức khỏe do việc thực hiện

dự án gây ra như: khói bụi, tiếng ồn, nước thải

- Về xác định đối tượng được bồi thường: Đối tượng bị ảnh hưởng từ việc thu hồi đất không chỉ là tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm cả người đang sử dụng đất thuê, người sử dụng đất lân cận, người có lợi ích liên quan

Khái niệm “đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất” được sử dụng trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 Bắt đầu từ thời điểm thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, cụm từ “bồi thường” đã được sử dụng thay cho cụm từ “đền bù thiệt hại” thể hiện tư tưởng chỉ đạo đổi mới công tác giải phóng mặt bằng, đó là không chỉ trả lại những thiệt hại “hữu hình” có thể kiểm đếm được mà còn phải tính toán bù đắp lại cả những giá trị không thể đo đếm được như là môi trường sống của cả cộng đồng, điều kiện học tập, các dịch vụ, tiện ích sinh hoạt, v.v ; kèm theo đó là một cơ chế giải quyết những bất đồng giữa bên gây ra thiệt hại (Nhà nước) với bên bị thiệt hại (người bị thu hồi đất) hướng tới sự khách quan, công bằng hơn thông qua cơ chế giải quyết khiếu nại, khắc phục tình trạng các

cơ quan nhà nước giành quyền áp đặt mức đền bù thiệt hại, không chú ý đến lợi ích

Trang 17

chính đáng của người dân

Theo Bộ luật Dân sự thì bồi thường là việc đền bù những thiệt hại về vật chất, về tinh thần mà mình gây ra cho người khác, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần; khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường (Quốc hội, 2005)

Như vậy, có thể đưa ra nhận xét là khi chuyển từ thuật ngữ “đền bù thiệt hại” sang thuật ngữ “bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất đã thể hiện

tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng Luật đó là việc bồi thường cần phải đổi mới

để việc tính toán mức độ thiệt hại một cách khách quan, tôn trọng ý kiến của người bị thiệt hại và bồi thường một cách sòng phẳng như khi thực hiện bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự, tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn một khoảng cách khá xa so với tư tưởng chỉ đạo này mà một trong những nguyên nhân của nó nằm ở ngay chính sự khác biệt giữa cơ chế bồi thường theo pháp luật đất đai với bồi thường theo pháp luật dân sự, cụ thể như sau:

- Trong Luật đất đai, việc thương thảo về mức độ thiệt hại và giá trị bồi thường diễn ra một chiều theo hướng áp đặt ý kiến chủ quan của Nhà nước đối với người bị thiệt hại, dễ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong mối quan hệ này, trong khi đó, bồi thường theo pháp luật dân sự, mối quan hệ giữa bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại là quan hệ bình đẳng, dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên

- Trong Luật đất đai, Nhà nước tham gia quan hệ bồi thường với tư cách là bên gây ra thiệt hại, đồng thời Nhà nước lại đóng vai trò là trung

Trang 18

gian hòa giải thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại của tổ chức, cá nhân,

đo đó tính khách quan trong quá trình giải quyết khiếu nại rất dễ bị vi phạm Điều này khác với bồi thường trong pháp luật dân sự, khi đó Nhà nước chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải giữa bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại nên các phán quyết của Nhà nước đưa ra có tính khách quan hơn

2.2.1.2 Khái niệm thu hồi đất

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua các khoản hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định

cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi đã bồi thường sòng phẳng và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là do đầu tư của người sử dụng đất mang lại (Quốc hội, 2003; Chính phủ, 2004, 2007, 2009)

Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một các tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người

bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di

dời đến địa điểm mới (theo khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003)

2.2.1.3 Tái định cư

Tái định cư là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người bị Nhà nước thu hồi đất ở mà họ không còn chỗ ở nào khác Việc thu hồi đất ở thông qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có

Trang 19

tính cưỡng chế và đòi hỏi có sự “hy sinh” của người sử dụng đất, do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất (có đất ở, nhà ở) mà còn phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ (Quốc hội, 2003; Chính phủ, 2004, 2007, 2009)

2.2.2 Những quy định liên quan đến giải phóng mặt bằng

2.2.2.1 Các trường hợp và hình thức thu hồi

Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau:

- Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc giải quyết, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

- Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất

- Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Theo Luật Đất đai (2003) quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất trong công tác bồi thường GPMB

Điều 38: Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất khi thực hiện công tác GPMB Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

- Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế

- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc

từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất

- Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả

- Người sử dụng đất cố ý huỷ hoại đất

- Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền

- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

Trang 20

+ Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm

+ Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm

- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế

- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất

- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước

- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn

- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền

- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép

Từ khi pháp luật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị thì khi Nhà nước thu hồi đất, ngoài việc người sử dụng được bồi thường tài sản trên đất, người sử dụng đất hợp pháp còn được bồi thường giá trị của quyền sử dụng đất Cũng như giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thu hồi đất cũng có hai hình thức thu hồi là thu hồi có bồi thường và thu hồi không có bồi thường Để đảm bảo cho người sử dụng đất đỡ thiệt thòi và công bằng thì pháp luật đất đai cũng quy định các cụ thể những trường hợp người

sử dụng đất không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và những trường hợp khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 21

2.2.2.2 Thẩm quyền thu hồi thu đất

Điều 44: Thẩm quyền thu hồi đất

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,

tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại khoản 1 và

khoản 2 Điều này không được ủy quyền (Luật Đất đai, 2003) [9]

Thực chất của việc GPMB là chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất dưới sự điều tiết của Nhà nước Ngoài ra, Luật Đất đai 2003, tại Điều 5 có quy định: Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc Quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 31 quy định: Việc chuyển mục đích sử dụng đất được căn cứ vào quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong các dự án đầu

tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng Tại Điều 39 quy định: Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

2.2.2.3 Nguyên tắc bồi thường tái định cư cho người có đất bị thu hồi

Điều 42: Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi trong khu vực GPMB

- Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của luật này thì người thu hồi đất

Trang 22

được bồi thường, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,

11 và 12 Điều 38 và các điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều 43 của luật này

- Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ

Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua nhà hoặc thuê nhà thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó

- Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới

- Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi nghĩa vụ giá trị tài chính chưa thực hiện trong giá trị bồi thường, hỗ trợ

- Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị

thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất (Luật Đất đai, 2003) [9].

Trang 23

Điều 43: Những trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường

- Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

+ Thu hồi đất trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6,

7, 8, 9, 10, 11 và điều 12 Điều 38 của Luật này

+ Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao và các công trình công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa

+ Đất nông nghiệp là do cộng đồng dân cư sử dụng

+ Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, nhận quyền chuyển nhượng sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước

+ Đất thuê của Nhà nước

+ Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 50 của Luật này

+ Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

- Khi Nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp sau đây:

+ Tài sản gắn liền với đất được tạo ra tại khu vực đất bị thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được công bố mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép

Trang 24

+ Tài sản gắn liền với đất được tạo ra trước khi có quyết định thu hồi đất mà trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thời điểm xây dựng công trình đó

+ Đất bị thu hồi thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 6, 7 và

10 Điều 38 của Luật này

- Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1 nhưng không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi

- Chính phủ quy định việc xử lý đối với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại khoản

2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 của Luật này

2.2.2.4 Trình tự thực hiện và trách nhiệm của các cấp trong công tác Bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống

1 Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống có trách nhiệm triển khai thực hiện, lập phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống dự án

2 Lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống:

a) Niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất

bị thu hồi để người bị thu hồi đất và những người có liên quan tham gia ý kiến;

b) Thời gian niêm yết và tiếp nhận ý kiến đóng góp ít nhất là hai mươi (20) ngày, kể từ ngày đưa ra niêm yết

3 Hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống:

Hết thời hạn niêm yết và tiếp nhận ý kiến, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, nêu rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý,

số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống; hoàn chỉnh và gửi phương án đã hoàn chỉnh kèm theo bảng tổng hợp ý kiến

Trang 25

đóng góp đến cơ quan Tài nguyên và Môi trường thẩm định;

4 Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống:

a) Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất liên quan từ hai (2) huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên

b) Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ

ổn định đời sống đối với trường hợp còn lại

5 Niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống: Niêm yết phương án trong thời hạn không quá 3 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống đã được phê duyệt

6 Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án được duyệt

7 Bàn giao mặt bằng: Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt

Công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư luôn được cấp uỷ, chính quyền các cấp của thành phố quan tâm chỉ đạo Đối với các dự án thực hiện xong công tác GPMB đã được bàn giao ngay cho chủ đầu tư thực hiện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Bên cạnh đó vẫn còn có nhiều dự án đầu tư xây dựng triển khai chậm không đảm bảo tiến độ

mà nguyên nhân chính là do vướng mắc về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Những thắc mắc kiến nghị của nhân dân đã được UBND tỉnh và UBND thành phố và chủ đầu tư dự án tổ chức đối thoại giải quyết các thắc mắc của các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án nên tới nay công tác bồi thường,

hỗ trợ ổn định đời sống dự án đã có những chuyển biến tích cực Đa số các hộ dân bị ảnh hưởng bởi các dự án đã đồng ý với chủ trương thu hồi đất để thực hiện dự án

Trang 26

Hình 2.1: Trình tự thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ ổn định đời sống

Bàn giao mặt bằng cho chủ

đầu tư thực hiện dự án

Dự án được UBND tỉnh chấp thuận, xét duyệt

UBND cấp huyện ra thông báo thu hồi đất

Thành lâp tổ công tác

Thu thập các tài liệu liên quan, xác định đối tượng bồi thường, hỗ trợ

lượng bồi thường

Thông qua hội dồng BT phương án dự kiến

Trang 27

2.3 Tình hình giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

2.3.1 Tình hình giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới

Đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới đất đai là nguồn lực quan trọng cơ bản của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội Khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các mục đích của quốc gia đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế của hàng triệu người dân Đặc biệt ở những nước đang phát triển người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp thì đó là vấn đề sống còn của

họ Dưới đây là một số kinh nghiệm trong công tác giải phóng mặt bằng của một số nước:

2.3.1.1 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Thái Lan

Mặc dù chưa có chính sách bồi thường ổn định đời sống của mỗi quốc gia nhưng Hiến pháp 1982 quy định việc trưng dụng đất cho xây dựng cơ sở

hạ tầng quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các công trình công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng đất gậy ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc trưng dụng đất cho ngành mình

Năm 1987, Thái Lan ban hành luật trưng dụng về bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào việc xây dựng tiện ích công cộng, quốc phong, phát triển nguồn tài nguyên hoặc lợi ích khác cho đất nước, phát triển

đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai sử dụng vào mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị đền bù các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra những quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thường tái định cư, nguyên tắc cụ thể xác định bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường tái định cư,

Trang 28

trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện ra

tòa (Ban vật giá Chính phủ, 2000) [2]

2.3.1.2 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc

Về pháp luật đất đai có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai ở Việt Nam Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân

và sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao động Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp giấy), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất

Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất được sử dụng cho cơ quan nhà nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc là cho thuê đất

Trong trường hợp Nhà nước có thu hồi đất của người đang sử dụng để

sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất

Về vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:

Về thẩm quyền thu hồi đất:Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính

quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc

vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp

Trang 29

sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước

Về trách nhiệm bồi thường:Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định,

người nào sử dụng đất thì người có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người sử dung đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất

bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha

Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp TĐC, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất

Về nguyên tắc bồi thường:Các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho

người dân bị thu hồi có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với tiền tiết kiệm của

họ có thể mua được một căn hộ mới Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi

Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở Những đối tượng trong diện giải tỏa mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thi trường

Về tổ chức thực hiện và quản lý giải tỏa mặt bằng:Cục quản lý tài

nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải tỏa mặt bằng

Trang 30

Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa

Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà sức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất

để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về TĐC của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông “đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cả WB trong tài liệu hướng dẫn thực

hiện TĐC” (Ban vật giá Chính phủ, 2000) [2]

2.3.1.3 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Indonesia

Từ những năm 60 của thế kỷ XX ở Indonesia đã có luật về thu hồi đất

và các đối tượng có liên quan tới đất,đó là luật số 20 năm 1961 phản ánh thực thi quyền lực thống trị của chính quyền Mà đến những năm đầu của thập niên

70, theo luật cơ bản về đất đai của Chính phủ có thể thu hồi đất phục vụ lợi ích chung nếu bồi thường thoả đáng theo thủ tục do luật này qui định Khả năng tái định cư đối với những người bị mất nhà cửa,thu nhập, phương tiện sống do luật số 20 qui định và từ đó đến nay chính phủ Inđonesia đã ban hành rất nhiều Nghị định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất và chế độ tái định cư cho những người bị mất đất

Di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự hy sinh mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của số đông và lơi ích của cộng đồng Việc xây dựng và lập kế hoạch thực hiện các phương án bồi thường,tái định

cư sao cho các dự án luôn luôn hướng tới sự phát triển về kinh tế, ổn định xã hội và bền vững về môi trường Vì vậy, khi Nhà nước bồi thường ổn định đời sống cần phải có phương châm thực hiện để áp dụng khi nhà nước thu hồi đất:

Trang 31

- Bồi thường tài sản thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập của người dân bị mất đất

- Hỗ trợ di chuyển trong đó có cấp và bố trí nơi ở mới với các dịch vụ

+ Nghiên cứu kỹ phương án của các dự án mang tính khả thi để giảm tới mức tối đa việc di dân bắt buộc khi triển khai dự án

+ Người bị thu hồi đất phải được bồi thường và hỗ trợ để khôi phục cuộc sống kinh tế ở mức cao nhất với thời điểm trước khi có dự án

+ Đất đai, nhà cửa, cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi thường khác tương xứng phải được cấp cho người bị ảnh hưởng, chú trọng đến người dân bản địa, dân tộc thiểu số, nông dân

+ Người bị ảnh hưởng phải thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các bồi thường ổn định đời sống, phải được hỗ trợ ở mức cao nhất trong việc hoà nhập họ với dân cư địa phương, với cách thức tốt nhất là mở rộng lợi ích của dự án đến cả cộng đồng dân cư địa phương

+ Chú ý các đối tượng chính sách, người nghèo nhất, trích một phần hỗ trợ cho những người không và chưa có những quyền lợi hợp pháp về đất đai, tài sản, những gia đình phụ nữ làm chủ Đồng thời, sớm có kế hoạch xác định quyền lợi hợp pháp của họ, cố gắng hạn chế trường hợp coi lý do ngăn trở Bồi thường GPMB ổn định đời sống là việc thiếu quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hợp pháp

Trang 32

+ Để không ngừng cải tiến hỗ trợ của các ngân hàng với các dự án trong lĩnh vực nhạy cảm này, cần chính thức thông qua và thực hiện một số chính sách bồi thường tái định cư bắt buộc Chính sách này không thể thiếu trong việc nêu rõ các mục tiêu, phương pháp, định ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức ngân hàng, mở ra một cách nhìn bao quát rõ ràng

về các vấn đề đó và vận dụng thủ tục chính thức để giải quyết có hệ thống những khía cạnh này trong các hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức

Như chúng ta đã biết, Khi Nhà nước thu hồi đất ổn định đời sống thì những người bị ảnh hưởng, là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, cộng đồng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sự sinh tồn và hệ sinh thái… Kinh nghiệm của WB cho thấy việc tái định cư không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không

Trang 33

tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hóa đời sống dân cư Chính vì vậy mà chính sách tái định cư của

WB đã đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn cơ bản đó là:

- Tái định cư không tự nguyện cần tránh được ở mọi nơi có thể tránh được hoặc giảm đến mức tối thiểu bằng cách đưa ra mọi phương án có thể lựa chọn trong quá trình thiết kế kỹ thuật

- Ở những nơi mà tái định cư không tự nguyện là không thể tránh khỏi, hoạt động tái định cư cần được nhận thức và thực thi như những chương trình phát triển bền vững, cần cung cấp đủ nguồn đầu tư để giúp những người bị dự

án ảnh hưởng tiêu cực được chia sẻ lợi ích của dự án, những người bị ảnh hưởng cần được tham khảo ý kiến đầy đủ và cần được tham gia vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện các chương trình tái định cư

- Những người bị ảnh hưởng cần được trợ giúp nhằm được cải thiện điều kiện sống của mình hoặc ít nhất là khôi phục được mức sống cũ như trước khi có dự án

- Từ tháng 02/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng bản hướng dẫn hoạt động của WB về tái định cư và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này đã có chính sách riêng của Ngân hàng về tái định cư bắt buộc

Theo chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ổn định đời sống của

WB và ADB thì việc thiếu các quyền pháp lý chính thức về đất sẽ không cản trở việc bồi thường cho một nhóm dân bị ảnh hưởng và những người ảnh hưởng còn được mở rộng cả với đối tượng không bị thiệt hại về đất đai và tài sản mà chỉ bị ảnh hưởng nhỏ về mặt tinh thần Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện

Trang 34

Khôi phục thu nhập là một yếu tố quan trọng của tái định cư khi những người bị ảnh hưởng bị mất cơ sở sản xuất, công việc kinh doanh, việc làm hay những thu nhập khác, bất kể là họ có mất nơi ở hay không Các bước cơ bản trong chương trình khôi phục thu nhập của WB và ADB đó là:

- Phân tích các hoạt động kinh tế của tất cả những người bị ảnh hưởng (theo giới, nhóm tuổi, trình độ văn hóa, kỹ năng, thu nhập, số người trong hộ gia đình, nguyện vọng, các phương án) để đánh giá các nhu cầu của họ

- Xác định các chương trình khôi phục thu nhập đa dạng (cho cả cá nhân lẫn các nhóm đặc biệt) thông qua việc tư vấn về lợi ích và sự phân tích khả thi về tài chính và thị trường

- Kiểm tra các chương trình đào tạo và tạo thu nhập với người bị ảnh hưởng được lựa chọn trên cơ sở thử nghiệm

- Nhân rộng việc thử nghiệm

- Đánh giá chương trình và hỗ trợ kỹ thuật bổ sung nếu cần thiết

Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường tái định cư được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều kiện bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường tái định cư phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và

cơ hội cho các hộ bị ảnh hưởng Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao

cho người bị di chuyển hòa nhập được với cộng đồng mới (Bùi Huy Quang, 2009) [4]

2.3.2 Tình hình giải phóng mặt bằng ở Việt Nam

2.3.2.1 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Hà Nội

Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện đang có rất nhiều dự án liên quan đến công tác bồi thường GPMB Theo ban chỉ đạo GPMB thành phố hiện đang có 1.047 dự án liên quan đến thu hồi đất, GPMB với tổng diện tích đất thu hồi là 10.358ha

Trang 35

Trong đó, 7 tháng đầu năm 2012, đơn vị này đã hoàn thành công tác GPMB với 110 dự án (gồm 67 dự án hoàn thành xong toàn bộ và 43 dự án hoàn thành theo phân kỳ đầu tư), với diện tích đất đã GPMB được đạt 749,70

ha đất (70% so với cùng kỳ của năm 2011), chi trả hơn 4965 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ cho 17.367 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và bố trí tái định cư cho 564 hộ

Hiện trên địa bàn các quận, huyện, thị xã, các chủ đầu tư đang tích cực triển khai hơn 60 dự án trọng điểm theo kế hoạch của Bộ GTVT và theo Chương trình số 07-CTr/TU của Thành phố (trong đó có 17 dự án chưa xong

thủ tục GPMB và 17 dự án không phải thực hiện GPMB) 17 dự án trọng

điểm của thành phố đang được khẩn trương hoàn thiện các thủ tục pháp lý để

triển khai công tác GPMB, thực hiện dự án

Một số dự án đã cơ bản hoàn thành và bàn giao mặt bằng từng phần cho chủ đầu tư để đảm bảo tiến độ khởi công, thi công như: Cung Hữu nghị

Việt Trung (Từ Liêm); cầu Nhật Tân và đường dẫn 2 bên đầu cầu (Đông

Anh, Tây Hồ);…

Mặc dù, đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư GPMB các

dự án trên địa bàn thành phố 7 tháng đầu năm 2012 đã đạt được kết quả nhất định, song ông Phó trưởng Ban chỉ đạo GPMB Hà Nội cũng cho biết, hiện ở một số dự án tiến độ xử lý dứt điểm những tồn tại để bàn giao toàn bộ mặt bằng cho chủ đầu tư còn chậm so với yêu cầu chỉ đạo của Chính phủ và

UBND thành phố (như tại các dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai,

đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cải tạo nâng cấp Quốc lộ 32, Quốc lộ 3

mới đoạn Hà Nội - Thái Nguyên…

Trong thời gian tới Ban chỉ đạo GPMB Thành phố sẽ phối hợp, kết hợp chặt chẽ với các quận, huyện chủ đầu tư để giải quyết những vướng mắc trong

Trang 36

việc GPMB, đẩy nhanh thực hiện dự án (nguồn:VnMedia - Hà Nội quyết giải phóng mặt bằng các dự án)

2.3.2.2 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Phú Thọ

“Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bồi thường GPMB đối với phát triển đô thị, công tác bồi thường GPMB luôn luôn được các cấp Uỷ Đảng, chính quyền quan tâm, tập trung công sức chỉ đạo giải quyết Thành phố đã thành lập được ban chuyên trách công tác bồi thường GPMB Năm 2009, thành phố Việt Trì triển khai bồi thường GPMB cho 81 dự án (trong đó có 47

dự án chuyển tiếp) Đến nay đã có 25 dự án cơ bản hoàn thành và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư Một số dự án trọng điểm đang được tập trung tiến hành kiểm kê, bồi thường, giải phóng mặt bằng như: Dự án đường Nguyễn Tất Thành giai đoạn II đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; đường 32C, Quảng trường Hùng Vương Với sự nỗ lực của các cơ quan chức năng của thành phố, đến nay đã kiểm kê được 199 ha của trên 6.300 hộ; trình thẩm định được 178

ha, đã phê duyệt phương án bồi thường gần 102 ha của 3.434 hộ với số tiền trên 108 tỷ đồng

Trong năm, một số chế độ bồi thường được điều chỉnh, bổ xung, thay đổi theo Nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ 01/10/2009 UBND tỉnh vừa có Quyết định số 3995/2009/QĐ-UBND ngày 20/11/2009 Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thực hiện khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh, có hiệu lực từ ngày 30/11/2009 Vì vậy, các hộ có đất bị thu hồi chưa chấp nhận bồi thường theo đơn giá cũ, không hợp tác, không cho kiểm kê, một số bộ phận nhân dân nhận thức về chính sách bồi thường GPMB còn hạn chế… Những điều này đã gây ảnh hưởng, khó khăn trong quá trình thực hiện công tác bồi thường GPMB, chậm tiến độ triển khai các dự án

Trang 37

Để giải quyết tình trạng này, hiện nay, bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao phát triển đô thị… Thành phố đang tích cực triển khai nhiều biện pháp thiết thực; thực hiện đúng chế độ chính xác theo quy định; phấn đấu đẩy mạnh tiến độ, sớm bàn giao mặt bằng cho chủ dự án đầu tư phát triển hạ tầng; góp phần để thành phố đạt mục tiêu trở thành đô thị

loại I vào năm 2015 (nguồn: trang thông tin VnExpress)

2.3.2.3 Những ưu nhược điểm trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ

ổn định đời sống thời gian qua

2.3.2.3.1 Những mặt đạt được

Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh; việc triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khá thuận lợi và ít gặp trở ngại từ phía người có đất bị thu hồi

- Các quy định về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với quy luật kinh tế, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất

bị thu hồi; trình tự, thủ tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng hơn

- Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường hầu như không có hoặc có rất ít khiếu nại

- Việc bổ sung quy định về tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất

2.3.2.3.2 Những mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật công nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất TĐC (thu hồi giá quá thấp, chưa sát với thị trường)

Trang 38

- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ánh gay gắt của những người có đất bị thu hồi

- Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực

đô thị và liền kề với khu dân cư Tại vùng giáp ranh giữa các tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá đất bồi thường, hỗ trợ

- Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư

- Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để GPMB chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi,… cho tới khâu cưỡng chế

- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền

- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa

Trang 39

bàn, một số khu TĐC đã lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thoả đáng hơn; tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với việc thiếu sự vận dụng cụ thể, linh hoạt tại các dự án mức bồi thường khác nhau do sự thay đổi chính sách đã dẫn tới sự so bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy việc GPMB để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ

- Nhiều nhà đầu tư không đủ khả năng về tài chính để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Việc ngân hàng rút bỏ cam kết, không cho vay vốn khi thị trường nhà đất chững lại cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của nhà đầu tư để triển khai dự án

- Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người sử dụng đất hoặc do không hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường hỗ trợ hêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết kéo dài, gây ách tắc việc giải phóng mặt bằng

2.3.3 Tình hình giải phóng mặt bằng ở Tỉnh Lạng Sơn

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác giải phóng mặt bằng trong việc tạo điều kiện thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế trên các lĩnh vực, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Đồng thời quán triệt sâu rộng tinh thần Kết luận số 04 của Tỉnh ủy tới các cấp, các ngành, nhằm huy động, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị vào công tác giải phóng mặt bằng

Trang 40

Theo đó, trong giai đoạn từ 2010 đến hết 2013, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành lập các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, lập các đồ án quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch chi tiết xây dựng tại các đô thị, cửa khẩu trọng điểm trên địa bàn tỉnh tạo căn cứ pháp lý để thu hút, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng và tiểu dự án đền bù giải phóng mặt bằng Giai đoạn này, tỉnh đã phê duyệt, công bố 18 đồ án quy hoạch, riêng khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn quy hoạch chung phủ kín 100% và tỷ lệ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 trong khu kinh tế đạt 10% diện tích cần lập quy hoạch chi tiết Công tác quy hoạch được tăng cường và được công bố công khai minh đã thu hút đông đảo người dân quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án giải phóng mặt bằng Từ cuối 2009 đến hết

2013, Sở Tài nguyên -Môi trường và Phòng Tài nguyên -Môi trường các huyện, thành phố đã thực hiện thẩm định, trình UBND tỉnh và UBND cấp huyện phê duyệt được trên 300 phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư với tổng diện tích thu hồi trên 1.100 ha, tổng kinh phí bồi thường trên 1.500 tỷ đồng Kết quả thống kê đối với 12 dự án trọng điểm có diện tích thu hồi đất lớn từ năm 2006 đến nay cho thấy, số hộ bị thu hồi đất ủng hộ chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng ngay từ đầu chiếm tỷ lệ cao đạt trên 80% Tỷ lệ ủng hộ sau khi được giải thích, tuyên truyền bình quân đạt khoảng 50% số hộ

có đơn thư kiến nghị

Thực hiện Kết luận 04-KL/TU ngày 11/9/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh

ủy về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TU ngày 8/4/2004 của Ban Thường

vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng và chỉnh trang đô thị trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh tới cơ sở đã có nhiều giải pháp, kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đối với lĩnh vực giải phóng mặt bằng Qua đó, nhiều dự án được thực hiện đúng tiến độ đã góp phần tích cực trong

Ngày đăng: 02/06/2016, 17:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo về tình hình sử dụng đất nông nghiệp xây dựng các khu công nghiệp và đời sống Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trương (2005), Báo cáo nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trương (2007), Báo cáo kiểm tra thi hành Luật Đất đai (2003) Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai (2003) Khác
5. CARE Quốc tế tại Việt Nam - Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2005), Quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn miền Bắc nước ta, Nxb Lao động - Xã hội Khác
7. Nghị đinh số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai Khác
8. Nghị đính số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
10. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định về bổ sung về QHSDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
11. Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính Khác
12. Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Khác
13. IFC, World Bank, VCCI (2011). Cải cách quy trình và thủ tục hành chính về đầu tư, đất đai cho xây dựng, nxb Lao động Hà Nội 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Trình tự thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ ổn định đời sống - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Hình 2.1 Trình tự thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ ổn định đời sống (Trang 26)
Bảng 4.2. Tình hình dân số phân theo các nhóm ngành - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.2. Tình hình dân số phân theo các nhóm ngành (Trang 50)
Bảng 4.4. Kết quả bồi thường về đất - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.4. Kết quả bồi thường về đất (Trang 62)
Bảng 4.5. Bảng hỗ trợ đất công - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.5. Bảng hỗ trợ đất công (Trang 63)
Bảng 4.6. Bảng tín toán bồi thường, hỗ trợ cây cối hoa màu - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.6. Bảng tín toán bồi thường, hỗ trợ cây cối hoa màu (Trang 64)
Bảng 4.7. Bảng tính toán bồi thường, hỗ trợ nhà cửa vật liệu, kiến trúc - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.7. Bảng tính toán bồi thường, hỗ trợ nhà cửa vật liệu, kiến trúc (Trang 66)
Bảng 4.9. Ý kiến của người dân về các hoạt động GPMB - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.9. Ý kiến của người dân về các hoạt động GPMB (Trang 70)
Bảng 4.10. Kết quả phỏng vấn về việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.10. Kết quả phỏng vấn về việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ (Trang 71)
Bảng 4.11. Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra cán bộ chuyên môn về - Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố lạng sơn   tỉnh lạng sơn
Bảng 4.11. Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra cán bộ chuyên môn về (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w