Được coi là ‘sự kiện khách quan’ nếu thỏa mãn các điều kiện sau đây: - Xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng, trừ những sự kiện bên đó đã biết hoặc đáng
Trang 1Bổ sung
Khoản 2:
hậu quả
pháp lý
2 Quyền yêu cầu sửa đổi hợp đồng theo khoản 1 Điều này
phải được bên bị thiệt hại đưa ra không chậm trễ và phải
có căn cứ Việc yêu cầu sửa đổi hợp đồng không cho
phép các bên được đơn phương tạm ngừng thực hiện,
chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp có căn
cứ do hợp đồng hoặc do pháp luật qui định để áp dụng
các quyền đó
Bổ sung
Khoản 3:
quyền
yêu cầu
cơ quan
tài phán
can thiệp
3 Nếu bên được đề nghị sửa đổi hợp đồng từ chối, hoặc
không trả lời, hoặc các bên không thỏa thuận được việc
sửa đổi hợp đồng trong một thời gian hợp lý, thì mỗi bên
có quyền yêu cầu tòa án hoặc trọng tài (nếu hợp đồng có
thỏa thuận chọn thủ tục trọng tài) giải quyết
Bổ sung
Khoản 4:
Căn cứ
để tòa án
can thiệp
và nội
dung,
hậu quả
pháp lý
áp dụng
đối với
bên vi
phạm
4 Nếu tòa án hoặc trọng tài xác định sự kiện khách
quan xảy ra là có căn cứ để cho phép bên bị thiệt hại
được quyền yêu cầu sửa đổi hợp đồng như qui định tại
khoản 1 Điều này, và nếu thấy hợp lý, thì tòa án hoặc
trọng tài có thể đưa ra một trong các quyết định sau đây:
a Sửa đổi hợp đồng nhằm thiết lập lại sự cân bằng giữa
các nghĩa vụ hợp đồng; hoặc
b Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo các điều kiện do
tòa án quyết định
Bên từ chối thỏa thuận hoặc vi phạm thoả thuận trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực mà gây thiệt hại
cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề hiệu lực của hợp đồng là một vấn đề pháp lý rất phức tạp
cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật
Về mặt học thuyết, nghiên cứu vấn đề hiệu lực của hợp đồng cho thấy một cách rõ nét nhất sự mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc điều chỉnh
hiệu lực hợp đồng: nguyên tắc pacta sunt servanda (tuân thủ hợp đồng) và nguyên tắc rebus sic stantibus (cho phép điều chỉnh hợp
đồng khi hoàn cảnh thay đổi) Đây là hai nguyên tắc luôn cùng tồn tại, vừa chế ước, vừa bổ sung cho nhau Mối quan hệ giữa hai nguyên tắc này là vấn đề mở và chưa bao giờ được giải quyết triệt để Từ đó, đặt
ra yêu cầu cần nghiên cứu để hoàn thiện cả về lý luận và các qui định pháp luật về hiệu lực hợp đồng
Trong thực tiễn lập pháp, vấn đề hiệu lực của hợp đồng cũng đã được qui định khá cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) Tuy nhiên, một số quy định về hiệu lực hợp đồng trong BLDS 2005 cũng đã bộc lộ nhiều điều bất cập, gây khó khăn cho công tác giải quyết các tranh chấp có liên quan Vấn đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hiện vẫn là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi trong giới luật học, đặc biệt là điều kiện hình thức và đường lối xử lý các hợp đồng vi phạm hình thức Qui định về thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tế và không khả thi Thực tiễn xét xử cho thấy, do những thiếu sót, bất cập nêu trên của nội dung pháp luật hợp đồng đã khiến cho việc hiểu và vận dụng những điều luật này của các Toà án các cấp và các địa phương gặp nhiều lúng túng, thiếu nhất quán trong đường lối xét xử Những bất cập trên đây cần phải được nghiên cứu làm rõ và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm khắc phục, hoàn thiện
So với pháp luật hợp đồng của một quốc gia (Pháp, Đức, Anh,
Mỹ, Nga…), các Bộ nguyên tắc hợp đồng quốc tế (PICC, PECL), qui định trong luật Việt Nam về hiệu lực của hợp đồng vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng vào các thể chế kinh tế quốc tế đòi hỏi cần phải có
Trang 2sự cải cách thích ứng hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về hợp
đồng, theo hướng tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ trong pháp
luật hợp đồng của các nước và của các Bộ nguyên tắc hợp đồng quốc
tế, làm cho pháp luật hợp đồng Việt Nam ngày càng hoàn thiện và có
sự tương đồng hơn so với pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Hiệu lực của hợp
đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam” để làm luận án tiến sỹ
luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu vấn đề hiệu lực của hợp đồng đã được nhiều nhà
khoa học pháp lý trong và ngoài nước quan tâm, dưới những góc độ
khác nhau
2.1 Ở nước ngoài: Có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật hợp
đồng nói chung, trong đó có đề cập đến các vấn đề có liên quan đến
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giao kết hợp đồng, hiệu lực của
hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, như: Richard Stone, The Modern
Law of Contract, 5th ed., Cavendish, London 2002; Hein Kotz & Axel
Flessner, European Contract Law, Vol 1 – Formation, Validity and
Content of Contract…, Clarendon, Oxford 1997; MacMillan C.A &
R Stone, Elements of the Law of Contract, University of London,
London 2004; Mathias Reinmann & Reinhard Zimmermann, The
Oxford Handbook of Comparative Law, OUP, Oxford 2006; Basil
Markesinis & others, The German Law of Contract – A Comparative
Treaties, 2nd ed., Hart, Oxford 2006; Catherine Kessedjian, Competing
Approaches to Force Majeure and Hardship, International Review of
Law and Economics 25 (2005)…
Các công trình này không nghiên cứu chuyên biệt về hiệu lực hợp
đồng nói chung, và hiệu lực hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt
Nam, nói riêng
2.2 Ở trong nước: Ở cấp độ các đề tài Luận án tiến sỹ, như “Chế độ
hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” của TS Phạm Hữu Nghị; “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả
Đề xuất Nội dung cụ thể
Bổ sung vào BLDS
2005 toàn bộ các qui định mới
về việc sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi:
Bổ sung Khoản 1:
qui định căn cứ để sửa đổi hợp đồng
Điều 423a Sửa đổi hợp đồng (dân sự) 2 khi hoàn cảnh thay đổi
1 Một bên có quyền yêu cầu bên kia sửa đổi hợp đồng khi xảy ra sự kiện khách quan làm thay đổi cơ bản sự
cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc do chi phí
thực hiện nghĩa vụ tăng lên bất thường, hoặc do giá trị của khoản thu nhập đáng lẽ nhận được từ hợp đồng giảm xuống bất thường, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác
Được coi là ‘sự kiện khách quan’ nếu thỏa mãn các điều kiện sau đây:
- Xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau
khi giao kết hợp đồng, trừ những sự kiện bên đó đã biết hoặc đáng lẽ phải biết;
- Xảy ra khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của
bên bị thiệt hại;
- Rủi ro về các sự kiện này không thuộc trường hợp qui định tại các Điều 440 BLDS 2005, Điều 57 đến Điều 62 Luật Thương mại 2005 và các qui định tương
tự trong BLDS 2005 và Luật Thương mại 2005;
Được coi là ‘bất thường’ nếu chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc giá trị của khoản thu nhập đáng
lẽ thu được từ hợp đồng giảm xuống đáng kể, ngoài dự kiến và vượt ngoài phạm vi rủi ro về giá cả theo tập quán của lĩnh vực tương ứng
2 Hai từ “dân sự” để trong ngoặc đơn nói trên nhằm phù hợp với Điều 423 BLDS 2005 hiện hành Hai từ này được dự kiến sẽ phải bỏ đi cho phù hợp với các qui định khác mang tính hệ thống của pháp luật hợp đồng, tạo sự thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng nói chung
Trang 3thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định
Sử a đ ổ i
k h o ả n
1 Điều
3 0 3
Điều 303 Trách nhiệm dân sự do không thực hiện
nghĩa vụ giao vật
1 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao
vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên
có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn thì
phải thanh toán giá trị của vật; nếu vật bị hư hỏng thì
bên có quyền có thể từ chối nhận vật và yêu cầu thanh
toán giá trị của vật, hoặc nhận vật đồng thời yêu cầu
bên có nghĩa vụ sửa chữa hoặc thanh toán tiền sửa chữa
hoặc thanh toán thêm phần giá trị của vật bị giảm sút,
hoặc nhận vật và yêu cầu giảm giá tương ứng với phần
giá trị của vật bị giảm sút, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác
Sử a đ ổ i
k h o ả n
2
2 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ
giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật
Trong trường hợp vật cùng loại là các hàng hóa đặc biệt
không dễ dàng tìm thấy trên thị trường và bên có quyền
bị vi phạm không có khả năng tìm được nguồn hàng hóa
khác để thay thế, thì tòa án có thể buộc bên vi phạm
nghĩa vụ phải giao đúng vật đó, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác
Giữ
nguyên
khoản 3
3 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện
được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này
Phụ lục số 4
Sửa đổi, bổ sung các qui định về sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của TS Lê Thị Bích Thọ; “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” của TS Nguyễn Văn Cường
Một số sách nghiên cứu có liên quan tới một số khía cạnh pháp lý
của vấn đề hiệu lực hợp đồng, như quyển Việt Nam Dân luật - luợc khảo của GS.Vũ Văn Mẫu, Bộ QGGD, Sài Gòn 1968; Pháp luật về hợp đồng của TS Nguyễn Mạnh Bách, Nxb CTQG, H 1995; Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam của TS Nguyễn Ngọc Khánh, Nxb Tư pháp, H 2007; Nguyễn Thị Mơ (Cb), Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử, Nxb LĐ-XH, H 2006; Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án của TS Đỗ
Văn Đại, Nxb CTQG, H 2008 Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa
học đăng trên các tạp chí, như Hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng của PGS.TS Đinh Văn Thanh (Luật học, số Chuyên đề về BLDS, 1996); Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa; Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng của TS Phạm Công Lạc (Pháp
luật Việt Nam, Số chuyên đề 01, 11/2004)…
Những công trình khoa học kể trên không nghiên cứu riêng và toàn diện về hiệu lực của hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam, nhưng những công trình kể trên là tài liệu vô cùng quí báu giúp tác giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận án
Bởi vậy, việc lựa chọn đề tài “Hiệu lực của hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam” để làm luận án tiến sỹ luật là không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực hợp đồng ở Việt Nam, trên cơ sở đối chiếu với qui định về hiệu lực hợp đồng của một số quốc gia trên thế giới và một số Bộ
Trang 4nguyên tắc hợp đồng quốc tế nhằm góp phần làm rõ và làm phong phú
thêm về cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý của vấn đề hiệu lực hợp
đồng, tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ trong pháp luật quốc tế
về hợp đồng; đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổ
sung các qui định còn bất cập, thiếu sót trong pháp luật hiện hành,
hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh hiệu lực hợp đồng theo xu hướng
hiện đại và hội nhập, qua đó nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp
luật Việt Nam về hiệu lực của hợp đồng
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau đây:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hiệu lực của hợp
đồng, như: làm rõ khái niệm và bản chất của vấn đề hiệu lực của hợp
đồng, xây dựng khái niệm cơ chế pháp lý điều chỉnh hiệu lực hợp
đồng; làm rõ cơ sở lý luận và các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu
lực của hợp đồng như điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và ảnh
hưởng của nó đối với hiệu lực pháp luật của hợp đồng, thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng, hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, hiệu lực của
hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
về hiệu lực hợp đồng ở Việt Nam, bao gồm cả việc nghiên cứu về mối
quan hệ giữa các văn bản pháp luật liên quan và những điểm thiếu sót,
chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập của pháp luật về hiệu lực của hợp
đồng, đánh giá thực trạng của qui định pháp luật về hiệu lực của hợp
đồng, để từ đó xác định được những điểm cần sửa đổi, bổ khuyết trong
các văn bản pháp luật về hợp đồng hiện hành của Việt Nam
- Trên cơ sở những bất cập đã được xác định để từ đó đề xuất
những kiến nghị, giải pháp pháp lý cụ thể trong việc sửa đổi, bổ sung
các qui định pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của hợp đồng,
đồng thời xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết làm căn cứ cho
việc đề xuất những kiến nghị và giải pháp cụ thể đó
Bổ sung Khoản 5:
khi có qui ước:
im lặng
là trả lời chấp nhận và loại trừ
5 Theo thỏa thuận, hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên, hoặc pháp luật có qui định im lặng là sự trả
lời, và đề nghị giao kết hợp đồng có ấn định thời hạn trả lời, thì hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời
hạn trả lời mà bên được đề nghị vẫn im lặng Qui định này không áp dụng đối với việc doanh nghiệp bán hàng có gửi các thông tin quảng cáo hoặc gửi hàng hóa đến địa chỉ giao dịch của người tiêu dùng
Sửa đổi
bổ sung khoản 1 Điều 405
Điều 4 0 5 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự
1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời
điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Bổ sung qui định khoản 2 Điều 405 (mới)
2 Các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là một thời điểm xác định, nhưng không được sớm hơn thời điểm giao kết hợp đồng theo qui định tại Điều 404 của Bộ luật này Nếu pháp luật có qui định hợp đồng có hiệu lực tại một thời điểm xác định, thì các bên không được thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng sớm hơn thời điểm đó
Phụ lục số 3
Sửa đổi, bổ sung các qui định
về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng
Đề xuất Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể
Bổ sung Điều 405a (mới)
Điều 405a Hiệu lực của hợp đồng (dân sự)
1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực như pháp luật đối với các bên tham gia hợp đồng
2 Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ, nếu có
Trang 5lạc khác, hoặc nếu chỉ có trả lời chấp nhận là được làm
bằng văn bản, thì hợp đồng được giao kết tại thời điểm
bên đề nghị nhận được văn bản trả lời chấp nhận, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có
qui định khác
Thời điểm nhận được thông điệp dữ liệu được áp dụng
theo qui định của Luật Giao dịch điện tử
Bổ sung
Khoản 4:
qui định
thời điểm
giao kết
hợp đồng
bằng
hành vi
cụ thể
4 Trong trường hợp bên được đề nghị trả lời chấp nhận
giao kết hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, thì hợp đồng
được giao kết tại thời điểm bên được đề nghị bắt đầu thực
hiện hành vi đó, trừ trường hợp pháp luật có qui định
khác
Nếu hợp đồng được giao kết gián tiếp, hoặc tuy giao kết trực tiếp mà một hoặc các bên dành một thời hạn
chờ bên được đề nghị trả lời, thì hợp đồng được giao kết
tại thời điểm bên đề nghị nhận được thông báo của bên
được đề nghị về việc bắt đầu thực hiện hành vi cụ thể đó
Nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận bằng việc thực
hiện một công việc cụ thể nhưng không thông báo về việc
này cho bên đề nghị biết, thì hợp đồng giao kết vào thời
điểm hoàn thành công việc
Nhưng nếu theo đề nghị giao kết hợp đồng, hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên, hoặc theo
tập quán, bên được đề nghị có thể chấp nhận đề nghị
bằng một hành vi cụ thể mà không cần phải thông báo cho
bên đề nghị, thì hợp đồng được giao kết khi bên được đề
nghị bắt đầu thực hiện hành vi này
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Hiệu lực của hợp đồng là vấn đề rất rộng Mặt
khác, vấn đề hiệu lực hợp đồng là vấn đề mang tính nguyên lý chung của hợp đồng và được qui định chủ yếu trong BLDS, nên nội dung của Luận án tập trung phân tích các qui định trong phần chung về hợp đồng trong BLDS 2005 Điều này không có nghĩa Luận án chỉ nghiên cứu về hợp đồng trong lĩnh vực dân sự Bởi lẽ, khái niệm hiệu lực hợp đồng được trình bày trong Luận án là khái niệm chung nhất cho mọi hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng dân sự, kinh doanh – thương mại và các hợp đồng khác Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn việc phân tích chỉ những vấn đề hiệu lực của hợp đồng theo nghĩa rộng (bao gồm chủ yếu là các hợp đồng kinh doanh – thương mại và hợp đồng dân sự), như qui định tại Điều 1 BLDS 2005,1 mà không phân tích các hợp đồng trong lĩnh vực lao động Bên cạnh đó, luận án còn phân tích về các qui định có liên quan đến hiệu lực của hợp đồng trong Luật Thương mại 2005 và các văn bản liên quan khác, cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực này
Ngoài ra, nội hàm của khái niệm hiệu lực của hợp đồng là vấn đề pháp lý rất phức tạp và có mối liên hệ biện chứng với nhiều vấn đề pháp lý quan trọng khác của pháp luật hợp đồng, như qui định về việc thực hiện hợp đồng, tạm hoãn thực hiện hợp đồng do có sự vi phạm hoặc dự đoán có sự vi phạm hợp đồng của bên kia, chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, giải thích hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng đối với người thứ ba, phân chia rủi ro, thông tin bất cân xứng… Tuy nhiên, đề tài cũng không có tham vọng giải quyết mọi vấn
đề khác có liên quan tới hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ đi sâu tìm hiểu các vấn đề về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, thời điểm có hiệu
1 Điều 1 BLDS 2005 qui định: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn
mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung
là quan hệ dân sự)…”
Trang 6lực của hợp đồng, hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, sự hạn chế hiệu
lực của hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
- Về mặt thời gian: Cùng với việc nghiên cứu các qui định của
pháp luật, đề tài cũng dành một liều lượng thích hợp để nghiên cứu
thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực của hợp đồng để giải quyết các
tranh chấp hợp đồng (dân sự, kinh doanh – thương mại) trên thực tế,
tại Tòa án và Trọng tài Thương mại Việt Nam, tính từ ngày BLDS
1995 được ban hành, đặc biệt là từ khi BLDS 2005 có hiệu lực đến
nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện
chứng Mác-Lê nin và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp
lý để giải quyết những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến các qui
định về hiệu lực của hợp đồng Trong đó, chú trọng sử dụng phương
pháp lô ghích pháp lý, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh
pháp luật để làm rõ mối quan hệ giữa qui định về hiệu lực của hợp
đồng trong phần chung BLDS với các qui định về hiệu lực của các hợp
đồng dân sự thông dụng trong BLDS, và với các qui định về hiệu lực
của hợp đồng trong các luật chuyên ngành Trong một số vấn đề cụ thể
(thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng khi hoàn
cảnh thay đổi) cũng có so sánh với pháp luật hợp đồng của một số
nước như Pháp, Đức, Nga, Nhật, Trung Quốc Đề tài cũng sử dụng
phương pháp phỏng vấn chuyên gia trong một vài vấn đề cụ thể, và
phương pháp khảo sát đánh giá thực tiễn để tìm hiểu thêm quan điểm
của các luật gia làm công tác thực tiễn pháp lý, qua đó góp phần làm
rõ thêm thực trạng áp dụng các qui định về hiệu lực của hợp đồng
trong việc giải quyết tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng tại Việt Nam
từ khi BLDS 1995 được ban hành đến nay
Cách nghiên cứu vấn đề theo “chiều dọc” nhằm làm rõ toàn bộ
các nội dung pháp lý liên quan tới hiệu lực hợp đồng trong mối quan
hệ biện chứng từ khi giao kết, xác lập, thực hiện hợp đồng đến khi sửa
đổi, chấm dứt hợp đồng, và từ những qui định mang tính nguyên tắc
Phụ lục số 2
Sửa đổi, bổ sung các qui định
về thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Đề xuất Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể
Sửa đổi
bổ sung Khoản 1:
nguyên tắc chung
Điều 404 Thời điểm giao kết hợp đồng
1 Hợp đồng được giao kết tại thời điểm các bên đã thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phải được giao kết theo hình thức, thủ tục xác định thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm hoàn tất hình thức, thủ tục đó
Bổ sung Khoản 2:
đề nghị gián tiếp
2 Khi hợp đồng được giao kết gián tiếp thông qua thư tín hoặc các phương tiện thông tin, liên lạc khác, hoặc tuy được giao kết trực tiếp nhưng một hoặc các bên dành một thời hạn để chờ bên được đề nghị trả lời, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết
Bổ sung Khoản 3:
qui định thời điểm giao kết hợp đồng trực tiếp, bằng văn bản
3 Trong trường hợp việc giao kết hợp đồng được các bên xác lập trực tiếp, trên cùng một văn bản, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản; nếu hợp đồng được lập thành nhiều văn bản có nội dung giống nhau, thì hợp đồng được giao kết tại thời điểm mỗi bên đã ký vào văn bản của bên kia Văn bản được lập chỉ cần các bên hoặc người đại diện hợp pháp của các bên ký tên và ghi rõ họ tên là đủ mà không cần phải có thêm thủ tục nào khác, kể cả việc phải đóng dấu của các bên, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định điều này
Nếu các bên giao kết hợp đồng bằng văn bản được gửi qua bưu điện, hoặc phương tiện thông tin, liên
Trang 7với các giao dịch khác nếu pháp luật có qui định minh thị
về việc loại trừ áp dụng qui định tại Điều này với loại giao
dịch khác đó
Bổ
sung
khoản 3
Điều
134
(mới)
3 Nếu giao dịch dân sự được lập không đúng hình thức do
các bên thỏa thuận hoặc pháp luật qui định và thiếu một
trong các điều kiện qui định tại khoản 2 Điều này (như vừa
được bổ sung ở trên – tác giả chú thích), thì theo yêu cầu
của các bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao
dịch dân sự vô hiệu theo Điều 137 của Bộ luật này
Sửa đổi
khoản 1
Điều
401
Điều 401 Hình thức hợp đồng
1 Hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn
bản, bằng hành vi cụ thể, hoặc bằng các hình thức vật chất
khác có thể diễn đạt được ý chí của các bên và chứng minh
được sự tồn tại của hợp đồng, hoặc bằng sự kết hợp của hai
hay nhiều hình thức kể trên
Sửa đổi
khoản 2
Điều
401
2 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng hình thức
nhất định thì hợp đồng phải được giao kết theo đúng hình
thức đó
Bãi bỏ
đoạn 2,
khoản 2
Bổ
sung
khoản 3
(mới)
3 Hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp
luật có quy định hợp đồng phải được lập bằng một hình
thức xác định
chung cho đến ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực hợp đồng Mặt khác, trong mỗi vấn đề, tác giả cũng sử dụng cách thức truyền thống là đi từ nghiên cứu lý thuyết cơ bản cho đến thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, và cuối cùng là các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
6 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu có hệ thống về các vấn đề pháp lý liên quan tới hiệu lực hợp đồng, đưa ra những định hướng và đề xuất các kiến nghị
cụ thể mà kết quả của nó sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây và hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam, góp phần tăng cường hiệu quả điều chỉnh của pháp luật hợp đồng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, trong xu hướng hội nhập quốc tế của hệ thống pháp luật nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung, vào trào lưu chung của thế giới
Góp phần làm hoàn thiện pháp luật hợp đồng cũng là góp phần vào việc bảo đảm cho các quan hệ hợp đồng ở Việt Nam được ổn định,
an toàn pháp lý và tránh được các rủi ro cho các bên chủ thể, bảo đảm quyền tự do giao kết hợp đồng, quyền được pháp luật bảo vệ khi tham gia các quan hệ hợp đồng và các quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong hợp đồng
Kết quả nghiên cứu đề tài cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành luật hợp đồng trong các trường đào tạo về luật
7 Những điểm mới của luận án
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong luận án có một số điểm mới sau đây:
- Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề hiệu lực hợp đồng, phân tích và làm rõ nội hàm của các khái niệm hiệu lực tương đối của hợp đồng, hiệu lực ràng buộc của hợp đồng (chương 1) kiến nghị thay thuật ngữ ‘hợp đồng dân sự’ trong qui định tại Điều 388 BLDS 2005 bằng thuật ngữ ‘hợp đồng’ (chương 1);
- Hai là, xây dựng các khái niệm mới hiệu lực của hợp đồng (chương 1), cơ chế pháp lý điều chỉnh hiệu lực hợp đồng (chương 1),
Trang 8điều khoản điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi theo quan
niệm pháp lý Việt Nam (trên cơ sở tiếp thu từ khái niệm hardship
trong thực tiễn thương mại quốc tế), và làm rõ nội hàm của các khái
niệm này (chương 5) Đây là những khái niệm mới chưa được đề cập
trong các công trình khoa học pháp lý trước đây
- Ba là, trong mỗi chương, tác giả đều chỉ ra những điểm bất cập,
thiếu sót của pháp luật hiện hành và của thực tiễn áp dụng, đồng thời
dựa trên những kết quả đó để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về các qui định tương ứng, như các kiến nghị: hoàn thiện các qui định
về hình thức hợp đồng và hậu quả pháp lý khi hợp đồng vi phạm qui
định bắt buộc về hình thức (chương 2) [Xem Phụ lục 1]; sửa đổi, bổ
sung các qui định về thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm có hiệu
lực hợp đồng (chương 3) [Phụ lục 2]; bổ sung qui định về nguyên tắc
và ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực ràng buộc hợp đồng, đồng thời
hoàn thiện các giải pháp khắc phục do vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ
trong hợp đồng (chương 4) [Phụ lục 3]
- Bốn là, phân tích thực tiễn pháp luật về xu hướng cho phép điều
chỉnh hiệu lực của hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi (hardship), tìm
hiểu kinh nghiệm xây dựng và áp dụng pháp luật về nội dung tương
ứng trong pháp luật của nước ngoài và của các bộ nguyên tắc quốc tế
về hợp đồng, từ đó kiến nghị Việt hóa khái niệm này thành khái niệm
‘sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi’, và đề xuất bổ sung vào
trong BLDS 2005 căn cứ cho phép sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh
thay đổi với những tiêu chí, đường lối, giải pháp cụ thể (chương 5)
[Phụ lục 4]
8 Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các
phụ lục, nội dung của Luận án gồm 5 chương
Phụ lục số 1
Sửa đổi, bổ sung các qui định về hình thức hợp đồng
Đề xuất Nội dung của các điều khoản mới d5 sửa đổi, bổ sung
Sửa đổi Điều
134 và thiết kế thành khoản 1 Điều
134 (Mới)
Điều 134 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy
định về hình thức
1 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu
lực của giao dịch mà các bên không tuân theo, thì theo yêu
cầu của một hoặc các bên, tùy từng trường hợp mà toà án, hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có thể công nhận hiệu lực của giao dịch hoặc tuyên bố giao dịch vô hiệu theo các căn cứ được qui định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
Bổ sung:
khoản 2 Điều
134 (mới)
2 Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp giao dịch vi phạm hình thức mà các bên có bằng chứng hợp pháp khác chứng minh được sự tồn tại của giao dịch, đã chuyển giao cho nhau một phần hoặc toàn bộ đối tượng của hợp đồng, đã thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền cần thanh toán,
và nếu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một hoặc các bên
Trong trường hợp hiệu lực của giao dịch được công nhận mà các bên chưa thực hiện hoàn tất nghĩa vụ giao vật thì phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giao vật; nếu các bên chưa hoàn tất nghĩa vụ trả tiền thì phải tiếp tục trả khoản tiền còn thiếu, theo tỷ lệ tương ứng tính theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật qui định khác
Qui định này không áp dụng đối với hợp đồng tặng cho tài sản, di chúc; qui định này cũng không áp dụng đối
Trang 9PICC, PECL) Chương 5 tập trung nghiên cứu về thực tiễn pháp lý về
điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi (hardship clause)
với tính chất là một căn cứ làm hạn chế hiệu lực hợp đồng, thông qua
việc khảo sát thực tiễn pháp lý này ở một số nước trên thế giới để tìm
hiểu về những kinh nghiệm thích hợp phục vụ cho việc xây dựng, bổ
sung các qui định tương ứng vào BLDS 2005 Trên cơ sở đó, phần
kiến nghị chương 5 đã đưa ra các đề xuất cụ thể, như: Việt hóa khái
niệm hardship để đưa vào qui định trong luật Việt Nam với tên gọi là
điều khoản “sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” và thiết kế
thành Điều 423a BLDS 2005; đồng thời bổ sung các căn cứ, các tiêu
chí cụ thể để cho phép các bên được yêu cầu tòa án, trọng tài can thiệp
buộc các bên phải thương lượng lại hợp đồng trong một thời hạn và
theo thủ tục xác định; nếu các bên không chịu thương lượng lại, hoặc
thương lượng không thành công, hoặc việc thương lượng lại không thể
thực hiện được, thì tùy trường hợp mà tòa có thể can thiệp để sửa hợp
đồng hoặc tuyên bố chấm dứt hợp đồng (Xem phụ lục 4)
8 Trong bối cảnh ngày càng gia tăng xu hướng hội nhập và toàn cầu
hóa của các nền kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh
tế thương mại giữa các quốc gia đã tác động và làm thay đổi sâu rộng
trong nhận thức đối với các học thuyết pháp lý về hiệu lực hợp đồng,
sự khẳng định ngày càng rõ rệt của xu hướng nhất thể hóa, hài hòa hóa
giữa các hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật hợp
đồng, thì việc cần sớm tìm một cơ chế điều chỉnh hiệu lực hợp đồng
linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu
của tình hình mới, là yêu cầu cấp bách của khoa học pháp lý
9 Hiệu lực của hợp đồng là một đề tài có nội dung phức tạp và phạm
vi nghiên cứu rất rộng, liên quan tới nhiều nội dung phức tạp khác, nên
trong quá trình nghiên cứu, tác giả chưa có điều kiện để giải quyết hết
được, tác giả coi đó như hướng nghiên cứu tiếp khi có điều kiện, như
vấn đề hiệu lực tương đối của hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng đối với
người thứ ba, giải thích hợp đồng…
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN ÁN
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG 1.1 Khái niệm hợp đồng, bản chất của hợp đồng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Khái niệm hợp đồng khởi nguồn từ thuật ngữ ‘contractus’ trong tiếng La-tinh
Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng trong
thực tế đời sống để chỉ về hợp đồng: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ giao ước, tờ ưng thuận… Trong cổ luật, các nhà làm
luật sử dụng các từ như ‘văn tự’, ‘văn khế’ để chỉ hợp đồng Pháp luật thời cận đại sử dụng thuật ngữ ‘khế ước’ hoặc ‘hiệp ước’ Pháp luật của nhà nước ta ban đầu cũng sử dụng thuật ngữ ‘khế ước’ do kế thừa pháp luật trước đó Về sau, nhà làm luật còn sử dụng các thuật ngữ
‘hợp đồng dân sự’, ‘hợp đồng kinh tế’, hợp đồng ‘thương mại’… Và, hiện nay BLDS 2005 chính thức sử dụng thuật ngữ ‘hợp đồng dân sự’
để chỉ khái niệm hợp đồng nói chung Điều 388 BLDS 2005 định
nghĩa hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Định nghĩa hợp đồng (dân sự) tại Điều 388 BLDS 2005 là chấp nhận được Tuy vậy, để đảm bảo tính chuẩn xác của thuật ngữ này, tác giả kiến nghị Quốc hội cần sửa đổi Điều 388 BLDS 2005 theo hướng
bỏ hai từ ‘dân sự’ kèm theo sau thuật ngữ ‘hợp đồng’ Theo đó, Điều
388 BLDS 2005 sẽ được viết lại là: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
1.1.2 Bản chất của hợp đồng
Bản chất của hợp đồng được tạo nên bởi hai yếu tố pháp lý là sự thỏa thuận và sự ràng buộc pháp lý giữa các bên
Thỏa thuận của là kết quả của sự thống nhất giữa ‘ý chí’ với ‘sự bày tỏ ý chí’ của mỗi bên, đặt trong mối liên hệ thống nhất với sự ‘ưng
Trang 10thuận’ tương ứng của một hoặc các bên khác, tạo thành sự ‘đồng
thuận’ của các bên, nhằm đạt một mục đích xác định
Không phải là mọi thỏa thuận đều trở thành hợp đồng mà chỉ
những thỏa thuận nhằm tạo ra hậu quả pháp lý, tức làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự thì mới có thể trở thành
hợp đồng Một hợp đồng hợp pháp phải được giao kết, xác lập tuân
thủ các điều kiện do pháp luật qui định
1.2 Khái niệm hiệu lực hợp đồng, hiệu lực tương đối của hợp đồng
1.2.1 Khái niệm hiệu lực hợp đồng
Khái niệm hiệu lực hợp đồng chưa được tìm thấy trong trong các
tài liệu khoa học pháp lý Việt Nam và trên thế giới Trên cơ sở nhận
thức bản chất của ‘hiệu lực hợp đồng’, có thể đưa ra khái niệm hiệu
lực hợp đồng như sau:
Hiệu lực hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát
sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, và giá trị pháp lý
ràng buộc các bên tham gia hợp đồng phải tôn trọng và phải thi hành
nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ đó
Việc nhận thức đúng khái niệm hiệu lực hợp đồng là nền tảng
lý luận để nghiên cứu quá trình tạo lập, xác nhận giá trị pháp lý và
hiệu lực thực thi hợp đồng, và tiếp cận các vấn đề khác có liên quan
trong các chương tiếp theo của Luận án
1.2.2 Hiệu lực tương đối của hợp đồng
Qua nghiên cứu, Luận án xác định hiệu lực tương đối của hợp
đồng không chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên trực tiếp tham gia
hợp đồng, mà còn có giá trị đối người thứ ba kế vị pháp lý của chủ thể
hợp đồng (do thừa kế, do cải tổ của pháp nhân…), và người thứ ba
không phải là người kế vị pháp lý (hợp đồng vì lợi ích của người thứ
ba)
Giá trị pháp lý của hợp đồng còn được pháp luật bảo đảm, và
được các chủ thể khác tôn trọng
điểm có hiệu lực của hợp đồng là hai loại thời điểm khác nhau, có ý nghĩa pháp lý khác nhau Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết hợp đồng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác Qua khảo sát thực trạng các qui định pháp luật về thời có hiệu lực của hợp đồng và thực tiễn áp dụng, xác định: nội dung Điều 404 là chưa lô gích và chưa chặt chẽ, khoản 2 Điều 404 chưa dự liệu trường hợp đồng ý bằng sự im lặng do pháp luật qui định; Điều 405 có tiêu đề chưa phù hợp, nội dung của Điều 405 chưa đầy đủ và còn gây nhiều tranh cãi Từ đó, phần kiến nghị đã đưa
ra một số đề xuất cụ thể: sửa đổi cơ bản và bổ sung một số qui định mới vào Điều 404 về thời điểm giao kết hợp đồng; bổ sung qui định về việc thỏa thuận thời điểm có hiệu lực hợp đồng và thiết kế thành khoản 2 (mới) của Điều 405 BLDS 2005 (Xem phụ lục 2)
6 Chương 4 nghiên cứu cơ bản về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng
Đây là nội dung phức tạp, có liên quan tới nhiều qui định khác của pháp luật về nghĩa vụ dân sự, về thực hiện hợp đồng và trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng hợp đồng Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy cần phải có những sửa đổi, bổ sung nhất định vào các qui định về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng Cụ thể: bổ sung Điều luật qui định trực tiếp về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng; sửa đổi, bổ sung qui định tại khoản 1 Điều 303 BLDS 2005 về trách nhiệm đối với
có nghĩa vụ giao vật đặc định bị hư hỏng; Sửa đổi, bổ sung qui định tại khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự về trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật cùng loại (Xem phụ lục 3)
7 Thực tiễn pháp lý cho thấy, có những vấn đề liên quan tới sự hạn
chế hiệu lực hợp đồng theo yêu cầu của nguyên tắc công bằng và nguyên tắc trung thực, thiện chí và hợp tác, nhưng chưa được dự liệu trong luật thực định và chưa được biết đến một cách rộng rãi trong thực tiễn pháp lý ở Việt Nam hiện nay – đó là vấn đề hardship – tình thế đặc biệt khó khăn Đây là vấn đề đã được chấp nhận trong luật thực định và thực tiễn tư pháp ở nhiều quốc qua trên thế giới, cũng như đã được đưa vào các bộ nguyên tắc quốc tế về hợp đồng (như