Theo cá nhân em thì ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà họat động chủ yếu của nó là huy dộng tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung cấp các phương tiện th
Trang 1gLỜI MỞ ĐẦUNghiên cứu về Ngân hàng và hoạt động ngân hàng là rất cầnthiết Đa dạng hoá là một xu hướng tất yếu của sự phát triển tronghoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng.Đặc biệt trước những yêu cầu mới của cạnh tranh và hội nhập kinh
tế, ngành ngân hàng phải không ngừng phát triển và tìm kiếmnhững hướng đi mới phù hợp để vừa có thể đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu của khách hàng vừa đứng vững trong cơ chế thịtrường Mở rộng cho vay tiêu dùng là một hướng đi như vậy Đây
là một hướng đi không mới ở các nước phát triển nhưng khá mới
mẻ ở Việt Nam, bởi người dân Việt Nam vẫn có thói quen suy nghĩrằng ngân hàng là nơi phục vụ cho các doanh nghiệp, là một kênhđầu tư tiền nhàn rỗi Do vậy, thị trường cho vay tiêu dùng còn khá
sơ khai và chưa được nhiều ngân hàng khai thác
Với thời gian thực tập không dài tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội, em nhận thấy hoạtđộng cho vay tiêu dùng ở chi nhánh vẫn còn chưa thỏa đáng vớinăng lực của chính mình Em thấy rõ được tầm quan trọng và tiềmnăng của hoạt động này Việc thực hiện và mở rộng hoạt động chovay tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển lâu dàicủa chi nhánh Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Giải pháp mở rộnghoạt động cho vay tiêu dùng tại NHNo&PTNT chi nhánh Nam HàNội ” làm chuyên đề tốt nghiệp
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn TS Cao ÝNhi và các cán bộ tín dụng ở NHNo&PTNT chi nhánh Nam HàNội đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành chuyên
đề này
Kết cấu chính của chuyên đề gồm có 3 chương:
-Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
-Chương2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng ở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội
-Chương 3: Một số giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùngtại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam
Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động chính của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Lịch sử hình thànhvà phát triển của ngân hàng thương mại
Sự xuất hiện đầu tiên của ngân hàng thương mại là vào những nămđầu của thế kỷ XV cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng
Trang 4hoá ở các nước phương Tây Nghiệp vụ kinh doanh đầu tiên củacác ngân hàng lúc bấy giờ là nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền nhằmthoả mãn nhu cầu thanh toán, gắn liền với thương mại quốc tế vàdịch vụ Những người làm nghề đổi tiền còn thực hiện cả nghiệp
vụ giữ hộ tiền để phục vụ những khách hàng có nhu cầu an toàn, bímật và tiện ích trong sử dụng Việc giữ tiền hộ của nhiều ngườidẫn đến khả năng thanh toán hộ và thanh toán không dùng tiền mặt
do đó xuất hiện nghề thanh toán hộ Điều này cũng tạo khả năngcho những người giữ hộ tiền sử dụng một phần tiền gửi của ngườikhác để cho vay Từ những nghiệp sơ khai đầu tiên ngành ngânhàng đã phát triển thành rất nhiều các nghiệp vụ, các loại dịch vụ
đa dạng phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau của khách hàng
Do đó quá trình phát triển của ngân hàng là quá trình đa dạnghoá các nghiệp vụ ngân hàng
1.1.1.2 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức có vai trò ngày càngquan trọng trong nền kinh tế Cùng với sự phát triển của nền kinh
tế, hiện nay có rất nhiều các tổ chức tài chính khác nhau cung cấpcác dịch vụ ngân hàng như dịch vụ cho vay, uỷ thác đầu tư, nhậntiền gửi và ngân hàng thương mại cũng đang mở rộng và đa dạnghoá các loại hình dịch vụ của mình Do đó rất dễ có sự nhầm lẫngiữa loại hình ngân hàng thương mại và các trung gian tài chínhkhác
Trang 5Giáo trình ngân hàng thương mại định nghĩa về ngân hàng
thương mại như sau: "Ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế ” Theo cá nhân em thì ngân hàng
thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà họat động chủ yếu của nó là huy dộng tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung cấp các phương tiện thanh toán trong lĩnh vực tài chính.
Ngân hàng thương mại khác với các trung gian tài chính khác ở chỗ ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế duy nhất được phép mở tài khoản tiền gửi thanh toán và làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Các ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nàotrong nền kinh tế để duy trì hoạt động và phát triển đều cần vốn.Nguồn vốn của ngân hàng gồm có vốn tiền gửi, vốn tiền vay, vốnchủ sở hữu và vốn uỷ thác đầu tư Để thực hiện hoạt động nàyngân hàng nhận tiền gửi, phát hành các giấy nợ hoặc cổ phiếu vớicam kết sẽ hoàn trả khách hàng đúng hạn kèm theo một khoản tiền
Trang 6gọi là tiền lãi Việc huy động được càng nhiều vốn sẽ càng tạo điềukiện cho ngân hàng mở rộng kinh doanh do đó các ngân hàng luôntìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp và ổn định, đa dạng hoácác hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy nợ nhằm thu hút được nhiềuvốn trong nền kinh tế.
1.1.2.3 Hoạt động kinh doanh ngoại hối
Đây là hoạt động đầu tiên mà ngân hàng thực hiện với nộidung là ngân hàng đứng ra mua hoặc bán một loại tiền này lấy mộtloại tiền khác và thu được lợi nhuận nhờ chênh lệch giá và phí dịch
vụ Ngày nay hoạt động này đã mở rộng ra với rất nhiều các hìnhthức và nghiệp vụ phong phú: mua bán, trao đổi, gửi vay các loại
ngoại tệ với các nghiệp vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền
Trang 7chọn và tương lai Các NHTM tham gia giao dịch ngoại hối với haimục đích Thứ nhất, ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng,chủ yếu là mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng riêng lẻ, vàngân hàng thu một khoản phí Mục đích thứ hai là ngân hàng kinhdoanh ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đổi
1.1.2.4 Hoạt động khác
Hoạt động mua bán ngoại tệ, huy động vốn và sử dụng vốn lànhững hoạt động đầu tiên được các ngân hàng thực hiện Sự pháttriển kinh tế là điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng, đến lượtmình sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúcđẩy phát triển kinh tế Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng đãtrải qua sáu thế kỷ( từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 21) và các hoạt độngngân hàng hiện đại ngày nay đã không ngừng được mở rộng và
phát triển đúng như nhận xét của Peter Rose “ thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ”.
Các hoạt động ngân hàng hiện đại có thể kể ra ở đây như làhoạt động bảo quản vật có giá, cung cấp các tài khoản giao dịch vàthực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động củachính phủ, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ uỷthác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, bảohiểm, dịch vụ đại lý Các hoạt động này mang lại nguồn thu nhậpcho ngân hàng thông qua việc thu phí và chứa đựng ít rủi ro Do
Trang 8vậy các ngân hàng hiện đại ngày nay đang ra sức mở rộng hoạtđộng dịch vụ nhằm tăng nguồn thu và giảm bớt rủi ro.
1.2 Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớncác ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân
hàng Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế trong đó ngân hàng chuyển cho chủ thể khác trong nền kinh tế quyền sử dụng một lượng giá trị ( tiền hoặc tài sản) với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng.
Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảolãnh, cho thuê, chiết khấu Đây là cách phân loại phổ biến ở cácngân hàng thương mại Trong hoạt động tín dụng thì cho vaychiếm tỷ trọng lớn nhất và cũng là tài sản mang lại thu nhập lớnnhất Đây là một trong những nghiệp vụ kinh doanh đầu tiên củangân hàng thương mại và đến nay nó vẫn giữ được vai trò quantrọng hàng đầu của mình Tuy nhiên hoạt động này luôn gắn liềnvới rủi ro Vì thế cần thiết phải phân loại cho vay để có thể quản lýtốt và hạn chế rủi ro
Có thể phân loại theo thời gian, thì cho vay gồm có cho vay ngắnhạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn
Trang 9Có thể phân loại theo đảm bảo, thì cho vay gồm có cho vay có đảmbảo và cho vay không đảm bảo.
Có thể phân loại theo mục đích sử dụng tiền vay, thì cho vay gồm
có cho vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng Do đốitượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay tiêu dùng củangân hàng thương mại nên chúng ta sẽ chỉ xem xét về hoạt độngnày
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại là một hìnhthức tài trợ của ngân hàng cho chính sự tiêu dùng của cá nhân và
hộ gia đình Đó là quan hệ kinh tế trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân hoặc hộ gia đình quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng của khách hàng Những mục
đích tiêu dùng có thể được kể ra như là: mua nhà, xây sửa nhà,mua xe hơi, các dụng cụ trong gia đình, đồ gỗ, các dịch vụ y tế, chiphí cho các dịp hè, chi phí du học …
1.2.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Ta có thể thấy rõ đặc điểm của cho vay tiêu dùng thông qua sosánh cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh trên các phươngdiện sau:
Đối tượng vay: các cá nhân và hộ gia đình là khách hàng của
loại hình cho vay tiêu dùng trong khi cho vay kinh doanh là các
Trang 10doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình.
Mục đích vay: tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân chứ
không phải nhu cầu kinh doanh
Nguồn trả nợ: Khác với cho vay kinh doanh nguồn trả nợ
chính là thu nhập từ phương án sản xuất kinh doanh, phụ thuộc vàoviệc sử dụng vốn vay và kết quả kinh doanh còn ở đây người vaytiêu dùng sử dụng tiền vay vào các hoạt động không sinh lời,nguồn trả nợ độc lập so với việc sử dụng tiền vay Khách hàng cóthể dùng các khoản thu nhập của mình để trả tiền vay như là lương,tiền cho thuê nhà, lãi tiết kiệm, cổ tức …
Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có
giá trị không lớn trừ những khoản vay để mua quyền sử dụng đất,mua nhà, mua ôtô xịn, đi du học nhưng số lượng các món vay tiêudùng lại khá nhiều
Rủi ro :cho vay tiêu dùng chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong
danh mục các tài sản của ngân hàng Sở dĩ như vậy là vì nguồn trả
nợ là thu nhập thường xuyên của người vay Mà những khoản thunhập này lại phụ thuộc vào sức khỏe và công việc của người vay
Do đó khi bị mất việc hoặc ốm đau, tai nạn người vay khó có thểtrả được nợ Hơn nữa việc thẩm định khả năng trả nợ của cá nhân
và hộ gia đình cũng khó khăn khăn hơn Bởi đối với các hãng kinhdoanh, ngân hàng có thể thẩm định khả năng trả nợ thông qua các
Trang 11báo cáo tài chính đã được kiểm toán, còn đối với người tiêu dùngngân hàng chỉ có thể dựa vào tài sản cá nhân, lương và các khoảnthu nhập khác Để có được khoản vay, khách hàng có thể giấu cácthông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai củamình nên các ngân hàng rất khó xác định được rủi ro khi cho vaytiêu dùng.
Vì các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro cao nhất nên các ngânhàng thường yêu cầu phải có tài sản bảo đảm khi vay và yêu cầungười vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, nhân thọ, bảo hiểm chohàng hoá đã được mua
Để bù đắp cho chi phí ( về thời gian và nhân lực để thẩmđịnh, quản lý các khoản vay với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn, chiphí trên một đơn vị cho vay lớn ) và rủi ro cao mà ngân hàng cóthể gặp phải khi cho vay tiêu dùng, nên lãi suất cho vay tiêu dùngphần lớn đều cao hơn các khoản vay khác của ngân hàng
Việc cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào sự tăng trưởng ổn định
về thu nhập và đảm bảo việc làm bởi nó cho phép người tiêu dùngmua được hàng hoá và dịch vụ ngày hôm nay dựa trên thu nhậpcủa ngày mai Vì vậy khi nền kinh tế có xu hướng mở rộng thì nhucầu vay tiêu dùng tăng cao và ngược lại khi nền kinh tế suy thoáinhu cầu vay tiêu dùng cũng bị giảm sút
Trang 12Thêm một đặc điểm khác của cho vay tiêu dùng là người vaythường chỉ vay một lần, ít khi có nhu cầu vay lại; không giống nhưcác khoản cho vay thương mại: nhu cầu phát sinh theo chu kỳ sảnxuất kinh doanh, lặp đi lặp lại Do đó nếu không có các giải pháp
mở rộng cho vay tiêu dùng thì ngân hàng sẽ dần mất đi nguồnkhách hàng tiềm năng này
1.2.3 Lợi ích của cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thương mại
Cho vay tiêu dùng có từ rất sớm ngay từ những ngày đầu khingân hàng mới hình thành, khi đó họ thực hiện cho vay với các cánhân, chủ yếu là những người giàu: quan lại, địa chủ, nhằm mụcđích phục vụ tiêu dùng Do lợi nhuận từ cho vay rất cao nhiều ngânhàng đã phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay Chínhđiều này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán
và phá sản nên sau đó để đảm bảo an toàn các ngân hàng thươngmại đã không cho vay tiêu dùng, chỉ cho vay kinh doanh Tuynhiên các ngân hàng đã ngày càng phát triển và khả năng quản lýrủi ro, thẩm định khách hàng ngày một tốt hơn nên bên cạnh việcduy trì và đẩy mạnh cho vay kinh doanh các ngân hàng cũng cầnthiết chú trọng mở rộng cho vay tiêu dùng Sở dĩ chúng ta khẳngđịnh như vậy là vì các lý do sau:
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng mang lại lợi ích cho nền kinh tế ( trong đó có người vay ) Chúng ta đã biết sản xuất là một quá
Trang 13trình từ sản xuất đến lưu thông và tiêu dùng Do đó tiêu dùng là cáiđích của sản xuất, sản xuất các sản phẩm ra để tiêu dùng Muốnđẩy mạnh sản xuất thì cần thiết phải đẩy mạnh tiêu dùng và ngượclại muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm thì sản xuất phải thoả mãnđược nhu cầu của người tiêu dùng Nhưng để có thể sản xuất haytiêu dùng thì đều cần có một số tiền nhất định, số tiền đó có thể cóđược qua nhiều nguồn khác nhau: tự tích luỹ; vay mượn ngườithân,bạn bè; mua hàng trả chậm; vay các trung gian tài chính.Ngân hàng là một kênh cung cấp vốn hiệu quả cho tất cả các hoạt
động đó Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu tiêu dùng của các
cá nhân, hộ gia đình ngày càng cao Và trong xã hội luôn sẵn
có nhu cầu vay tiêu dùng do các cá nhân và hộ gia đình mặc
dầu chưa có đủ phương tiện thanh toán trong hiện tại nhưng lại cónhững nhu cầu cần thiết cần được thoả mãn ngay như đi du học,tiền viện phí, tang lễ, sửa chữa nhà cửa Họ có thu nhập ổn định,hoặc chắc chắn sẽ có thu nhập trong tương lai như thừa kế, cổ tức,lãi trái phiếu đảm bảo cho họ khả năng trả nợ, do đó họ có nhucầu vay tiêu dùng và sẽ trả được nợ Khi đã có nhu cầu thì lẽ dĩ
nhiên sẽ có người cung ứng và ngân hàng- một tổ chức kinh doanh tiền tệ chắc chắn không thể bỏ qua một thị trường với sức mua lớn như thị trường cho vay tiêu dùng.
Không chỉ vậy, trên thị trường đó, ngân hàng thường được cho là nhà cung cấp có khả năng cung ứng tốt nhất so với
Trang 14các nhà cung cấp khác.Bởi so với các nguồn cung ứng vốn khác
thì ngân hàng có những ưu điểm hơn hẳn Khi cần tiền để muasắm, sửa chữa mà số tiền tự tích luỹ không đủ, kênh vay tiền người
ta thường nghĩ đến đầu tiên là vay mượn người thân, bạn bè.Nhưng những người thân, bạn bè thường chỉ đồng ý cho vay móntiền nhỏ, do họ cũng không có năng lực tài chính lớn và họ khôngchắc chắn về khả năng trả nợ của bạn Vì thông thường người quencho nhau vay tiền thường không yêu cầu phải có tài sản đảm bảocho món vay đó, và cũng không có được hợp đồng vay nợ chặt chẽnhằm đảm bảo thu hồi món vay Khi có nhu cầu vay số tiền lớn,khó có thể nhờ cậy vào những người quen, bạn bè So với cáctrung gian tài chính khác, ngân hàng thương mại có khả năng thẩmđịnh tín dụng tốt do có cán bộ thông thạo nghiệp vụ, có mạng lướithu thập thông tin rộng lớn, có khả năng tài chính vững mạnh cóthể đáp ứng mọi nhu cầu vay của khách hàng Không chỉ vậy, đếnvới ngân hàng các khách hàng có thể nhận được sự tư vấn của cácnhân viên ngân hàng, cùng khách hàng tháo gỡ khó khăn do họ lànhững người am hiểu về thị trường và khách hàng còn được cungcấp nhiều dịch vụ tiện ích khác nữa như là dịch vụ tiền gửi, thanhtoán…
Cho vay tiêu dùng mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng.
Mặc dù hoạt động cho vay tiêu dùng chứa đựng nhiều rủi ro nhưngchính điều đó lại mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng Ngân hàng
Trang 15có thể ngăn ngừa và hạn chế rủi ro bằng cách đưa ra những quychế cho vay chặt chẽ và thẩm định kỹ càng Mặt khác tài trợ chotiêu dùng là ngân hàng gián tiếp tài trợ cho sản xuất Khi tiêu dùngđược đẩy mạnh thì hoạt động sản xuất sẽ tăng lên do đó gia tăngnhu cầu vay kinh doanh và hoạt động cho vay kinh doanh của ngânhàng cũng được mở rộng Như vậy, ngân hàng cung cấp sản phẩmcho vay tiêu dùng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của kháchhàng mà còn đáp ứng chính nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm củangân hàng, thu thập nhiều thông tin về khách hàng và thị trường,
mở rộng các dịch vụ hỗ trợ, phân tán rủi ro để ngân hàng thực sự
là một trung gian tài chính cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng nhấttrong nền kinh tế
1.2.4 Phân loại cho vay tiêu dùng
Để có thể quản lý tốt cho vay tiêu dùng cần thiết phải phânloại cho vay tiêu dùng Tiêu thức sử dụng để phân loại cho vay tiêudùng là các tiêu thức sau: theo hình thức bảo đảm, theo phươngthức hoàn trả và theo phương thức cho vay giữa ngân hàng vàkhách hàng
Trang 161.2.4.1 Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay
Các hình thức bảo đảm có thể là bảo đảm bằng uy tín hoặcbảo đảm bằng tài sản Đối với bảo đảm bằng uy tín thì hình thứccho vay tiêu dùng phổ biến là cho vay thế chấp lương ( tín chấp )hoặc bằng bảo lãnh của bên thứ 3 Ngân hàng cho khách hàng vaytiền để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng trên cơ sở thếchấp bằng lương hay còn gọi là tín chấp Hình thức này chủ yếuđược áp dụng đối với các khách hàng có việc làm và thu nhập ổnđịnh, thu nhập ngoài việc trang trải các chi tiêu thường xuyên còn
Theo phươn
g thức hoàn trả
Theo phươn
g thức cho vay
Theo hình thức bảo đảm Cho
Trang 17có tích luỹ để trả nợ vay ( công chức, viên chức trong biên chế nhànước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn ) Hình thức vaythế chấp bằng lương phù hợp với những món vay giá trị không lớn,thời hạn vay ngắn và trung hạn.
Cho vay tiêu dùng thường yêu cầu có tài sản đảm bảo, do đó theotiêu thức này cho vay tiêu dùng được chia thành hai loại :
Loại 1: là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu bền của
khách hàng hoặc đảm bảo của bên thứ 3 cho khách hàng của ngânhàng Những đảm bảo này không được hình thành từ khoản tíndụng của chính ngân hàng Có thể chia các hình thức đảm bảo củaloại này thành hai loại nhỏ sau
Cho vay cầm cố Đây là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay
tiền với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian đã cam kết Danh
mục và điều kiện của tài sản cầm đồ được ngân hàng qui định cụthể dựa trên quy định của pháp luật và chính sách tín dụng củatừng ngân hàng Các tài sản cầm cố thường là các tài sản mà ngânhàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thờiviệc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt độngcủa khách hàng chẳng hạn như: các giấy tờ có giá, ngoại tệ mạnh,kim loại quý…
Cho vay thế chấp Trong hình thức này người vay phải chuyển
Trang 18các giấy tờ chứng nhận sở hữu ( hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết.
Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấpthường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất hoặc lànhững động sản mà việc ngân hàng nắm giữ nó không thuận tiệnnhư ôtô, xe máy Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người nhậntài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian vay tuy nhiênquá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năngkiểm soát của tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế Việc địnhgiá tài sản đảm bảo cũng là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩmđịnh kỹ lưỡng tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho ngân hànghoặc định giá quá thấp ảnh hưởng đến khả năng vay của kháchhàng Tuy nhiên đối với cho vay tiêu dùng thì giá trị tài sản đảmbảo cũng không quá lớn như là các dây chuyền sản xuất, nhàxưởng như đối với cho vay kinh doanh
Loại 2 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền
vay
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảmbảo hoặc tài sản đó không đáp ứng các điều kiện của ngân hàng thìngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản đượchình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật đảm bảo Chẳnghạn khách hàng vay tiền mua ôtô thì ngân hàng sẽ yêu cầu lấychính chiếc ôtô đó làm vật đảm bảo, khi khách hàng không có khả
Trang 19năng trả nợ ngân hàng sẽ phát mại ôtô đó thể thu nợ Để đảm bảorằng khách hàng sẽ không bán tài sản hoặc sử dụng không cẩn thậnlàm giảm giá trị của tài sản ngân hàng thường yêu cầu khách hàngphải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng
là ngân hàng đồng thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngânhàng
1.2.4.2 Phân loại theo cách thức hoàn trả
Nếu phân theo cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thểđược phân thành ba loại : cho vay tiêu dùng trả một lần, cho vaytrả góp, và cho vay tuần hoàn
Cho vay tiêu dùng trả một lần Theo cách này, khách hàng thanh
toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn và thường áp dụng chonhững món vay giá trị nhỏ, thời hạn cho vay ngắn
Cho vay tiêu dùng trả góp Đây là hình thức trong đó khách hàng
sẽ trả nợ cho ngân hàng thành hai hay nhiều lần liên tiếp theonhững kỳ hạn nợ nhất định trong thời hạn vay Hình thức này được
sử dụng phổ biến đối với những khoản vay có giá trị lớn, thu nhậpthường xuyên của người nhận tài trợ không đủ để thanh toán hếtmột lần số tiền vay Để được nhận tài trợ khách hàng phải trả trướcmột phần giá trị tài sản mua sắm Số tiền trả trước phụ thuộc vàokhả năng tài chính của người vay, loại tài sản, thị trường tiêu thụtài sản sau khi sử dụng Phần còn thiếu ngân hàng sẽ cho vay Điều
Trang 20này có tác dụng làm cho khách hàng cảm thấy tài sản đó thuộc sởhữu của mình do đó thúc đẩy họ bảo quản tài sản và nỗ lực trả nợđồng thời giúp hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Tổng số tiền lãi mà khách hàng phải trả khi vay trả góp lớn hơn sốtiền lãi đối với món vay trả một lần Sở dĩ như vậy vì vay trả gópchứa đựng nhiều rủi ro hơn do có thời hạn dài hơn nên ngân hàngphải tính lãi cao hơn để có lợi nhuận bù đắp được rủi ro
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn Trong thời gian đã thoả thuận căn
cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ khách hàng thựchiện vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn Dư nợ tại một thời
kỳ hoặc tổng dư nợ trong kỳ không được vượt quá giới hạn tối đacho phép Khách hàng rất thuận tiện khi sử dụng hình thức này vìchỉ phải làm thủ tục vay một lần, nhưng có thể vay nhiều lần nhằmtài trợ cho nhu cầu vay thường xuyên, không xác định trước
Cho vay theo thẻ tín dụng, cho vay thấu chi tuần hoàn là cáchình thức cho vay tiêu dùng tuần hoàn phổ biến hiện nay Đối vớicho vay theo thẻ tín dụng, khách hàng được cấp thẻ và một số dưtối đa, sử dụng thẻ để thanh toán cho tiền hàng hoá, dịch vụ ở các
cơ sở chấp nhận thẻ Khi sử dụng thẻ, trung tâm thẻ sẽ ghi nợ vàotài khoản của khách hàng và đến cuối tháng, khách hàng sẽ nhậnđược giấy báo của ngân hàng phát hành thẻ liệt kê chi tiết cáckhoản mục phải thanh toán Trong thời hạn cho phép, thường là 30ngày nếu khách hàng thanh toán( nộp tiền vào tài khoản) thì sẽ
Trang 21không bị tính lãi, nếu quá thời hạn đã quy định khách hàng sẽ phảitrả một khoản lãi.
1.2.4.3 Căn cứ vào phương thức cho vay giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn
Cho vay tiêu dùng được chia thành hai loại: cho vay tiêudùng gián tiếp và cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngânhàng mua lại các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đãbán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng
Thông thường cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ
Trang 22giá trị của món hàng cần mua Công ty giao hàng cho người tiêudùng.
3-Công ty bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng
4-Ngân hàng thanh toán tiền cho Công ty bán lẻ
5-Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
Cho phép Ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng, tiếtkiệm, giảm được chi phí trong cho vay Giúp ngân hàng mở rộngquan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác
Bên cạnh những ưu điểm thì cho vay tiêu dùng gián tiếp cũng
có những nhược điểm như: ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp vớingười tiêu dùng đã được công ty bán lẻ bán chịu do đó ngân hàngkhông kiểm soát được việc lựa chọn khách hàng của công ty bán lẻnên rủi ro khách hàng không trả được nợ cao Nghiệp vụ cho vaytiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp đòi hỏi trình độ chuyên môncủa cán bộ tín dụng cao Do đó thường chỉ có các ngân hàng lớnmới áp dụng hình thức này Các ngân hàng nhỏ thường ưa thíchhình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là hình thức trong đó ngân hàngtiếp xúc với khách hàng, cho khách hàng vay và thu nợ trực tiếp từngười vay Quá trình cho vay tiêu dùng trực tiếp có thể tóm tắt qua
sơ đồ sau:
Trang 231- Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng vay.
2- Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua hàng cho công ty3- Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ hoặckhách hàng tự thanh toán cho công ty bán lẻ
4- Người tiêu dùng nhận hàng hoá đã mua
5- Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho Ngân hàng
So với cho vay tiêu dùng trực tiếp, cho vay tiêu dùng gián tiếp cónhiều ưu điểm hơn như là ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với kháchhàng do đó có điều kiện để tìm hiểu và lựa chọn khách hàng, từ đó
ra được các quyết định phù hợp với lợi ích của cả hai bên Việcquan hệ trực tiếp với khách hàng còn giúp ngân hàng có thể báncác sản phẩm khác, xây dựng hình ảnh tốt đẹp của ngân hàng
Ngân hàng
Người tiêu
dùng
Người bán lẻ
1
3
4
2 5
Trang 24Việc phân chia cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mạichỉ mang tính tương đối và theo một vài tiêu thức mà em cho rằngphổ biến và quan trọng ở các ngân hàng Qua việc phân loại nàychúng ta có thể thấy rằng hoạt động cho vay tiêu dùng rất phongphú và đa dạng, và các ngân hàng trong quá trình hoạt động củamình luôn đưa ra các hình thức mới nhằm thu hút khách hàng vàcũng là để đáp ứng những nhu cầu mới của khách hàng.
1.2.5 Lãi suất cho vay tiêu dùng
Lãi suất cho vay tiêu dùng là tỷ lệ phần trăm số tiền lãi màkhách hàng phải trả cho ngân hàng trên tổng số vốn vay trong thờigian nhất định ( 1 năm ) Ngân hàng có các mức lãi suất khác nhautuỳ theo thời hạn của khoản vay ( ngắn, trung hay dài hạn ), tuỳtheo phương thức trả nợ là một lần hay trả góp, tuỳ theo tài sảnđảm bảo Ngân hàng khi thoả thuận về lãi suất cho vay phải tínhtoán đến rủi ro, lãi suất hoà vốn ( lãi suất mà tại đó doanh thu bằngchi phí ), lãi suất cạnh tranh trên thị trường Các mức lãi suất nàythay đổi theo thời gian, khi nhu cầu vay tăng (thường là vào cuốinăm) các ngân hàng thường tăng lãi suất cho vay do chi phí huyđộng vốn thời kỳ này cũng tăng lên Nhìn chung, lãi suất cho vaytiêu dùng được xác định sao cho ngân hàng có thể bù đắp được tổnthất có thể xảy ra khi cho vay và mang lại lợi nhuận cho ngânhàng
Trang 25Lãi suất cho vay= Lãi suất + chi phí + thuế + thu nhập + phần
tiêu dùng huy động hoạt động dự tính bù rủi ro
Thứ nhất, lãi suất huy động ở đây là lãi suất huy động bìnhquân mà ngân hàng trả cho nguồn huy động bao gồm lãi suất tiềngửi giao dịch, lãi suất tiết kiệm, lãi suất chiết khấu, lãi suất vayNHTW
Thứ hai, ngân hàng phải tính đến các chi phí quản lý trên nhưlương, tiền điện nước, khấu hao, chi phí giấy tờ Các chi phí nàyđược tính theo tỷ lệ phần trăm trên quy mô của sản phẩm
Thứ ba, các ngân hàng là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ
và phải nộp các loại thuế theo quy định của pháp luật
Thứ tư, ngân hàng dự tính thu nhập sau thuế để đảm bảo lợiích kỳ vọng của các chủ sở hữu
Thứ năm, ngân hàng tổng hợp tổn thất có thể xảy ra đối vớicác sản phẩm như khách hàng không trả được nợ, tiền giả, kinhdoanh thua lỗ dựa trên thống kê kinh nghiệm của kỳ trước đó và
dự đoán xu hướng sắp tới Phần bù rủi ro được dự đoán dựa trên tỷ
lệ phần trăm quy mô của sản phẩm
Phương pháp tính lãi phổ biến được các ngân hàng sử dụng trong
hoạt động tín dụng là phương pháp lãi đơn Đây là là phương pháp
Trang 26tính lãi trong đó số tiền lãi tỷ lệ thuận tuyến tính với thời gian vayvốn thực tế Phương pháp lãi đơn tính số tiền lãi khách hàng phảitrả dựa trên số dư nợ thực tế tại từng thời kỳ thanh toán của kháchhàng.
Công thức tính lãi đơn như sau:
Lãi phải trả = dư nợ đầu kỳ x lãi suất x thời gian
Số tiền phải trả cuối kỳ ( nợ gốc và lãi ) sẽ được xác định tuỳ vàocách thức khách hàng lựa chọn để trả nợ
Nếu khách hàng trả một lần ( cả gốc và lãi ) vào cuối kỳ thì đến kỳtrả nợ khách hàng phải trả tổng số tiền bao gồm nợ gốc và tiền lãi.Nếu gốc được trả đều làm nhiều kỳ trong thời hạn vay, gọi k làtổng số tiền vay, a là số nợ gốc phải trả mỗi kỳ, n là số kỳ trả nợ,thì số nợ gốc phải trả mỗi kỳ là:
số tiền phải trả một kỳ, n là số kỳ trả nợ thì ta có công thức :
Trang 27n i
i k
*
Như vậy là tuỳ vào cách thức trả nợ mà số tiền phải trả mỗi kỳ sẽkhác nhau
1.2.6 Hạn mức cho vay tiêu dùng
Hạn mức cho vay tiêu dùng được hiểu là số tiền tối đa màngân hàng cho khách hàng vay Hạn mức cho vay tiêu dùng đượcxác định dựa trên các yếu tố như : nhu cầu vốn của khách hàng, sốvốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo
Khách hàng là người đưa ra yêu cầu về số tiền cần thiết để tàitrợ cho việc tiêu dùng của mình Số tiền này được gọi là nhu cầuvốn của khách hàng Ngân hàng xẽ xem xét nhu cầu này có hợp lýhay không dựa trên giá trị thị trường của tài sản cần mua hay tổng
số tiền cần thiết để tài trợ cho hoạt động tiêu dùng của khách hàng( gọi là nhu cầu vốn hợp lý) Khách hàng cung cấp cho ngân hàngbiết thông tin chi tiết và chính xác về số vốn tự có của mình hoặc
số tiền đã trả trước cho công ty bán lẻ, số tiền còn thiếu cần phảivay Thông thường các ngân hàng thường yêu cầu người tiêu dùngphải trả trước một phần giá trị của tài sản Sau đó ngân hàng sẽ
tính toán nhu cầu vay hợp lý của khách hàng = nhu cầu vốn hợp lý- vốn tự có của khách hàng- vốn khách hàng vay mượn
từ nguồn khác
Trang 28Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy địnhcác hạn mức khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhucầu vay hợp lý Thông thường, cho vay cầm cố có hạn mức caonhất Chẳng hạn như khách hàng vay cầm cố sổ tiết kiệm hay tráiphiếu có thể được cấp một hạn mức lên tới 90% giá trị của tài sảncầm cố Để có thể xác định được hạn mức tín dụng dựa trên tài sảnđảm bảo của khách hàng thì ngân hàng cần phải định giá chính xácgiá trị các tài sản đó Nếu định giá quá thấp sẽ làm giảm khả năngvay của khách, nếu định giá quá cao sẽ dễ dẫn đến rủi ro cho ngânhàng
Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý và hạn mứctín dụng, để xác định số tiền có thể cho vay Nếu nhu cầu vay hợp
lý > hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theohạn mức tín dụng Nếu nhu cầu vay hợp lý < hạn mức tín dụng thìngân hàng sẽ cho khách hàng vay số tiền theo nhu cầu vay hợp lýcủa khách Như vậy vừa để thoả mãn nhu cầu vay của khách hàngvừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng
Để làm cho phần lý thuyết trên thêm sáng tỏ, chúng ta sẽ lấy 1 ví
dụ sau
Giả sử 1 khách hàng muốn mua một chiếc xe ô tô mới củahãng Honda (chiếc Civic chẳng hạn) với giá là 450.000.000 Kháchhàng có số tiền là 150.000.000 và một sổ tiết kiệm trị giá400.000.000 nhưng 6 tháng nữa mới đến hạn Khi đó ngân hàng sẽ
Trang 29tính toán số tiền cho vay như sau:
Nhu cầu vay của khách = 450.000.000 - 150.000.000 =300.000.000
Giá trị tài sản đảm bảo = 400.000.000
Khách hàng đem cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn, hạn mức tín dụngcủa hình thức đảm bảo này là 90% giá trị tài sản đảm bảo, đo đóhạn mức tín dụng là 400.000.000 x 0,9 = 360.000.000
So sánh hạn mức tín dụng và nhu cầu vay hợp lý, ngân hàng quyếtđịnh cho khách hàng vay số tiền là 300.000.000
1.2.7 Quy trình cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
Quy trình cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại gồmcác bước sau đây: Tiếp nhận hồ sơ tín dụng và kiểm tra các thôngtin khách hàng đưa ra trên hồ sơ, Thẩm định tín dụng, Xét duyệt vàquyết định cho vay, Hoàn tất các thủ tục pháp lý trước khi giảingân, Kiểm tra sau khi giải ngân và phát hiện nhu cầu mới củakhách hàng, Thu nợ và xử lý nợ quá hạn
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ tín dụng và kiểm tra sơ bộ các
thông tin khách hàng đưa ra trên hồ sơ
Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ cho vay đầy đủ
và đúng quy định theo mẫu của ngân hàng (nếu thiếu thì yêu cầukhách hàng bổ sung), bao gồm: giấy đề nghị vay vốn; phương ánvay vốn và trả nợ; danh mục các tài sản cầm cố, thế chấp và giấy
Trang 30tờ liên quan, hợp đồng lao động có xác nhận của thủ trưởng đơn vị(với các đối tượng vay thế chấp lương ); các giấy tờ chứng minhnguồn thu nhập nếu có; hộ khẩu, chứng minh nhân dân và các giấy
tờ liên quan khác
Bước 2: Thẩm định tín dụng Đây là khâu quan trọng nhất
trong quy trình cho vay tiêu dùng, quyết định chất lượng tín dụng,thường bao gồm các nội dung sau:
Thẩm định tư cách đạo đức người đi vay Cán bộ tín dụng phảiđảm bảo khách hàng vay vốn có đủ năng lực pháp luật và năng lựchành vi dân sự, đủ tư cách pháp lý vay vốn ngân hàng Đồng thờiđảm bảo khách hàng vay vốn có ý thức rõ ràng về trách nhiệm phảihoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ
Thẩm định mục đích sử dụng tiền vay Đây là một trong nhữngnguyên tắc khi cho vay của ngân hàng, ngân hàng cho vay đúngmục đích Khách hàng được phép vay để tiêu dùng những tài sản,hàng hoá mà pháp luật không cấm và phù hợp với chính sách tíndụng của từng ngân hàng
Thẩm định tình hình tài chính và khả năng thanh toán Nộidung này bao gồm: Xác định mức thu nhập, việc làm, số dư các tàikhoản tiền gửi và nơi cư trú Việc xác định nguồn thu nhập ổn địnhhàng tháng của khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây lànguồn trả nợ cho ngân hàng Những khách hàng có thu nhập ổn
Trang 31định và thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản chi phí sinh hoạt cầnthiết cao sẽ được đánh giá cao Cán bộ tín dụng cũng đồng thời xácminh lại thông tin ở cơ quan nơi khách hàng làm việc để đánh giá
độ chính xác của mức thu nhập, độ dài thời gian làm việc, nơi cưtrú và số sổ bảo hiểm xã hội ghi trên đơn xin vay Cán bộ tín dụngcũng kiểm tra số dư các tài khoản tiền gửi của khách ( nếu có ) quacác ngân hàng có liên quan Thời gian sống tại nơi cư trú hiện tạicũng thường được coi trọng vì nếu khoảng thời gian một ngườisống tại một nơi càng lâu thì có thể tin rằng cuộc sống của người
đó càng ổn định Còn nếu một người thường xuyên thay đổi chỗ ởthì sẽ là một yếu tốt bất lợi cho ngân hàng khi quyết định cho vay
Thẩm định tài sản đảm bảo Trước hết, cán bộ tín dụng sẽkiểm tra quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp tài sản của kháchhàng, khả năng chuyển nhượng của tài sản Đối với tài sản đảmbảo cán bộ tín dụng thường chú ý triển vọng của thị trường bấtđộng sản cũng như sự ổn định giá trị của tài sản trong trường hợpphải phát mại tài sản đảm bảo Định giá tài sản đảm bảo cũng làmột việc rất quan trọng trong khi thẩm định Cuối cùng ngân hàngxem xét khả năng bảo quản tài sản của người đi vay, hợp đồng bảohiểm trong trường hợp vay thế chấp Nếu tài sản thế chấp khôngđược duy trì tốt, hoặc không được mua bảo hiểm ngân hàng có thểkhông lấy lại được toàn bộ số tiền đã cho vay khi chẳng may tàisản bị hỏng, giảm giá trị
Trang 32Lập báo cáo thẩm định Sau khi thẩm định hồ sơ vay vốn củakhách hàng, cán bộ tín dụng lập báo cáo thẩm định trong đó ghivắn tắt nhưng tổng quát về tình hình của khách hàng: nhân thân,mục đích vay, số tiền vay, khả năng trả nợ, tài sản đảm bảo Cán
bộ tín dụng đưa ra những đánh giá về khách hàng và ý kiến chovay hay không cho vay đối với khách hàng Nếu cho vay thì phảighi rõ số tiền, thời hạn, lãi suất, các điều kiện kèm theo
Bước 3: Xét duyệt và quyết định cho vay Khi nhận báo cáo
thẩm định kèm theo hồ sơ vay vốn liên quan, Trưởng phòng tíndụng xem xét lại và yêu cầu cán bộ tín dụng giải thích bổ sunghoặc chỉnh sửa nếu có thiếu sót Sau đó báo cáo được trình Hộiđồng tín dụng xét duyệt Khâu quyết định cho vay do Hội đồng tíndụng thực hiện và chịu trách nhiệm về quyết định cho vay haykhông cho vay Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng tín dụng cóthể yêu cầu một phận khác tái thẩm định hồ sơ vay ( chẳng hạnnhư phòng thẩm định )
Bước 4: Hoàn tất các thủ tục pháp lý trước khi giải ngân.
Cán bộ tín dụng và các bộ phận liên quan hoàn tất các thủ tục pháp
lý trước khi giải ngân như: ký Hợp đồng đảm bảo tiền vay, thoảthuận phương thức cho vay, trả nợ, Ký Hợp đồng tín dụng, đăng
ký các giao dịch bảo đảm
Bước 5: Kiểm tra sau khi giải ngân và phát hiện nhu cầu mới
của khách hàng Sau khi giải ngân tiền vay cho khách hàng, cán bộ
Trang 33tín dụng sẽ phải thường xuyên kiểm tra mục đích sử dụng tiềnvay,tài sản thế chấp và đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng,đôn đốc khách hàng trả nợ Việc kiểm tra thường xuyên sẽ giúpngân hàng sớm phát hiện ra các khoản nợ có vấn đề để có biệnpháp can thiệp kịp thời Đồng thời phát hiện nhu cầu mới củakhách hàng để phục vụ Kiểm soát tín dụng cũng giúp các nhàquản lý ngân hàng trong việc đánh giá toàn bộ rủi ro tiềm tàng củangân hàng và nhu cầu vốn của nó trong tương lai.
Bước 6 : Thu nợ và xử lý nợ quá hạn Đây là bước cuối cùng
của quy trình tín dụng Cán bộ tín dụng theo dõi việc trả nợ củakhách hàng, quá trình này giúp ngân hàng thu vốn và lãi đồng thời
bổ sung thêm thông tin về khách hàng Khi phát hiện các khoản nợ
có dấu hiệu xấu cán bộ tín dụng xem xét việc gia hạn nợ, tăngcường kiểm tra, bổ sung các điều kiện hoặc cam kết, chuyển nợquá hạn Đối với những khoản nợ đã quá hạn, khách hàng không
có khả năng trả nợ, ngân hàng tiến hành phát mại tài sản theo cácquy định hiện hành
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại chịuảnh hưởng của nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố khách quan nhưmôi trường hoạt động của ngân hàng, các yếu tố thuộc về kháchhàng và các nhân tố chủ quan thuộc về bản thân ngân hàng
Trang 341.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
Đây là các nhân tố tác động trực tiếp tới việc mở rộng chovay tiêu dùng của ngân hàng Việc cấp tín dụng cho hoạt động tiêudùng phụ thuộc rất lớn vào chính sách tín dụng, năng lực tài chínhcủa ngân hàng.cũng như trình độ của các cán bộ ngân hàng
1.3.1.1 Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướngquy định chi phối hoạt động tín dụng do hội đồng quản trị đưa ranhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp,
hộ gia đình và cá nhân Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấptín dụng nói chung đều được xem xét và đưa ra trong chính sáchtín dụng như các đối tượng có thể vay vốn, phương thức quản lýcác hoạt động tín dụng, các loại sản phẩm tín dụng do ngân hàngcung cấp, nguồn vốn dùng để tài trợ, phương thức quản lý danhmục cho vay, thời hạn và điều kiện áp dụng cho các sản phẩm tíndụng khác nhau
Chính sách tín dụng phụ thuộc vào quy mô ngân hàng vàchiến lược phát triển ngân hàng trong từng giai đoạn Nếu như cácngân hàng lớn là các ngân hàng bán buôn, chủ yếu cung cấp cáckhoản tín dụng giá trị lớn cho các doanh nghiệp thì các ngân hàngnhỏ lại tập trung vào nghiệp vụ tín dụng bán lẻ dưới dạng cáckhoản cho vay cá nhân, cho vay trả góp Các ngân hàng thường
Trang 35xác định vị trí cũng như ưu thế của mình trên thị trường và chiếnlược phát triển trong tương lai để từ đó đưa ra một chính sách tíndụng phù hợp nhằm khai thác tối đa các nguồn lực sẵn có Và chỉkhi một ngân hàng thương mại xác định mở rộng cho vay tiêudùng thì ngân hàng mới dồn nỗ lực và khả năng để tập trung pháttriển lĩnh vực này Chính vì vậy, nếu như có những hình thức chovay tiêu dùng không nằm trong chính sách cho vay của Ngân hàngthương mại thì chắc chắn các cá nhân và hộ gia đình chẳng thểmong đợi vay được những khoản tiền từ ngân hàng để tài trợ chonhu cầu chi tiêu của mình Chẳng hạn như một ngân hàng khôngthực hiện cho vay theo thẻ tín dụng thì khách hàng dù có đủ điềukiện cũng không được cấp tín dụng
Mặt khác khi một ngân hàng đã sẵn có các hình thức cho vaytiêu dùng đa dạng với chất lượng tốt thì việc mở rộng cũng dễ dàng
và thuận lợi hơn là các ngân hàng mới chỉ có các sản phẩm đơngiản Do tính chất của cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày cànggay gắt, các ngân hàng luôn phải không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm và thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhằm củng cố
và mở rộng thị phần, duy trì khả năng cạnh tranh
1.3.1.2 Năng lực tài chính của ngân hàng
Năng lực tài chính của ngân hàng được xác định dựa trên một
số yếu tố như số lượng vốn chủ sở hữu, tỷ lệ phần trăm lợi nhuậnnăm sau so với năm trước, tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ,
Trang 36số lượng tài sản thanh khoản Nếu ngân hàng có vốn chủ sở hữulớn, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận lớn, nợ quá hạn thấp và có số lượngtài sản thanh khoản lớn, khả năng huy động vốn lớn trong thời gianngắn thì có thể coi là có sức mạnh tài chính Khi ngân hàng có sứcmạnh tài chính lớn thì sẽ có khả năng cung cấp nhiều sản phẩm đadạng và các món vay có giá trị lớn.
1.3.1.3 Trình độ của cán bộ tín dụng
Trong bất cứ lĩnh vực nào nhân tố con người cũng luôn giữvai trò quan trọng bậc nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp cácsản phẩm dịch vụ như ngân hàng Đội ngũ cán bộ tín dụng cùngvới phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn của họ chính là yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp nhất tới hoạt động cho vay tiêu dùng Họ làngười trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, thẩm định các hồ sơ, đưa
ra các quyết định về cấp tín dụng, thu nợ và xử lý khi có các vấn
đề nảy sinh do đó họ là người thực thi các chính sách tín dụng mộtcách tích cực nhất Nếu ngân hàng xây dựng được một đội ngũ cán
bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đứctốt thì sẽ nâng cao chất lượng và thuận lợi trong việc mở rộng cáckhoản cho vay tiêu dùng Ngoài ra, các cán bộ tín dụng cũng gópphần tạo dựng hình ảnh của ngân hàng, góp phần tăng tính cạnhtranh của sản phẩm dịch vụ ngân hàng
1.3.2 Nhóm các nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng.
Trang 37Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ có vai trò quantrọng trong nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng rất nhạy cảm vớicác sự kiện kinh tế, chính sách kinh tế, tiền tệ, chính trị, xã hội,luật pháp, tiến bộ khoa học công nghệ
1.3.2.1 Môi trường luật pháp
Ngân hàng là trung gian tài chính tập trung một khối lượngvốn và tài sản rất lớn trong nền kinh tế do đó mà hoạt động ngânhàng phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của luật pháp cũng như các
cơ quan chức năng Điều này không chỉ đảm bảo an toàn cho ngânhàng, mà còn cho các khách hàng thực hiện giao dịch cũng như sự
ổn định cho toàn bộ nền kinh tế Mỗi một quốc gia khác nhau cónhững quy định khác nhau về tổ chức hoạt động của ngân hàngcũng như hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu các quy định đó đầy
đủ, và chặt chẽ, hợp lý, không rườm rà, chồng chéo sẽ tạo điềukiện cho hoạt động ngân hàng chung và cho vay tiêu dùng nóiriêng phát triển và sôi động
Chẳng hạn như ở Mỹ, một trong những luật quan trọng nhất tronglĩnh vực cho vay tiêu dùng là Luật bảo hộ tín dụng tiêu dùng đượcquốc hội Mỹ thông qua năm 1968 và đã được đơn giản hoá vàonăm 1981 Việc đơn giản hoá này đã thúc đẩy người tiêu dùng sửdụng các loại hình tín dụng do nó cho phép các cá nhân, hộ giađình được quyền soát lại và sửa đổi các thông tin sai lệch do cácvăn phòng tín dụng địa phương lưu giữ và cung cấp cho các ngân
Trang 38hàng ; đồng thời cũng yêu cầu các ngân hàng phải thông báo đầy
đủ và công khai về mức lãi suất hàng năm của từng khoản vay,tổng chi phí phải trả Ngoài ra ở Mỹ còn có rất nhiều các luật khácbảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng như Luật về cơ hội tín dụngcông bằng “ nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về tuổi, chủng tộc,giới tính và nhiều yếu tố khác trong việc cấp tín dụng và đặt lãisuất ” Điều này một mặt tạo thuận lợi cho người tiêu dùng trongviệc đi vay nhưng lại tạo ra gánh nặng cho ngân hàng, hạn chế sựlựa chọn của ngân hàng
Mặt khác, khi những quy chế, pháp luật về cho vay nói chung, chovay tiêu dùng nói riêng có sự nới lỏng cũng như những quy định cótác động làm giá cả hàng hoá tiêu dùng giảm xuống ( chẳng hạnnhư là quy định về giảm thuế nhập khẩu đối với ôtô, xe máy, hàngđiện tử ) thì sẽ tạo điều kiện mở rộng cho vay tiêu dùng
1.3.2.2 Môi trường kinh tế
Rõ ràng trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng và ổn định, hoạtđộng tiêu dùng có xu hướng tăng lên bởi vì thu nhập và mức sốngcủa người dân được cải thiện Do đó sẽ khuyến khích hoạt độngcho vay tiêu dùng của ngân hàng Ngược lại, trong thời kỳ suythoái, hoạt động sản xuất bị thu hẹp, thu nhập giảm sút dẫn đến hạnchế khả năng mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng Bên cạnh
đó, nếu ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế có trình độ pháttriển cao và tiên tiến thì hoạt động cho vay tiêu dùng cũng đa dạng
Trang 39và phát triển hơn ở các nước đang phát triển Môi trường kinh tếthể hiện thông qua những biến số kinh tế như thu nhập quốc dân(GDP), tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân, mức thu nhập bìnhquân đầu người và tốc độ tăng, giảm tỷ lệ thất nghiệp
1.3.2.3 Môi trường văn hoá- xã hội
Những yếu tố thuộc về văn hoá- xã hội như thói quen sửdụng các sản phẩm ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân trí, thịhiếu ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định lựa chọn hình thứccho vay tiêu dùng Chẳng hạn như ở Mỹ- xã hội được cho là xã hộitiêu dùng với tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập chỉ khoảng 10% vàthói quen mua sắm sẽ là một thị trường rất lớn để mở rộng cho vaytiêu dùng Các quan niệm về ngân hàng quen thuộc hay xa lạ, antoàn hay không an toàn, thói quen thanh toán tiền mặt trong dânchúng cũng là yếu tố có tác động rất lớn do nó hạn chế việc tiếpcận các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho người dân
1.3.2.4 Sự phát triển của khoa học, công nghệ
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của khoa học công nghệđối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Trong hoạt động tíndụng, các tiến bộ khoa học công nghệ đặc biệt là máy tính đã giúpngân hàng giảm bớt thời gian giao dịch với khách hàng, tiết kiệmthời gian và tăng sự chính xác trong phân tích, thẩm định tín dụng,
do đó hạn chế rủi ro Các ngân hàng ngày nay đều đã xây dựng
Trang 40được cho mình một cơ sở dữ liệu phong phú về các thông tinkhách hàng cùng những phương thức quản lý tiên tiến, hiệu quả.Nhờ vậy mà ngân hàng có thể mở rộng cho vay và đưa ra các sảnphẩm mới, ứng dụng các thành tựu đó như là sản phẩm thẻ tíndụng
1.3.3 Nhóm các nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người lựa chọn và ra các quyết định tiêu dùngcũng như hình thức tài trợ nên các yếu tố thuộc về bản thân kháchhàng có tác động rất lớn đến khả năng mở rộng cho vay tiêu dùngcủa ngân hàng
1.3.3.1 Nhu cầu vốn của khách hàng
Sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại làsản phẩm dịch vụ nên nhu cầu vốn khách hàng là yếu tố quyết địnhcác hình thức cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Nhu cầu vốn củakhách hàng là nền tảng căn cứ để xây dựng chiến lược phát triểnsản phẩm cho vay tiêu dùng của Ngân hàng.Khách hàng vay tiêudùng của ngân hàng là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu rất
đa dạng, từ các nhu cầu thiết yếu đến các nhu cầu cao cấp.Đờisống con người ngày càng được nâng cao thì các nhu cầu về hànghoá và dịch vụ cao cấp càng lớn Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn pháttriển sẽ xuất hiện những nhu cầu nổi bật cần được tài trợ.Vấn đề làphải phát hiện được những nhu cầu đó nhanh nhất để đáp ứng kịp