Trong các năm 2003- 2007 theo số liệu thống kê cho thấyhàng năm công ty làm ăn đều có lãi, nó cho thấy hiệu quả của công ty cũng luôn quan tâm tới việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay là thời đại của tri thức do đó tri thức là nền tảng tạo
ra giá trị, là tay lái chính của doanh nghiệp và của cả nền kinh tếTri thức được nói tới ở đây là chất lượng của NNL trong công ty
Một cách khái quát có thể cho thấy rằng các doanh nghiệp hiệnnay họ rất quan tâm tới vấn đề này bởi lẽ một doanh nghiệp chỉ cóthể phát triển bền vững được khi có một đội ngũ cán bộ công nhânviên giỏi Đề tài của cấ nhân em cũng tập trung vào vấn đề: làm sao đểnâng cao được hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực con người trongcông ty than Nam Mẫu Mặc dù em đã rất cố gắng tuy nhiên trongquá trình viết sẽ có nhiều vấn đề chưa được chính xác, em rất mongnhận được sự đóng góp - phê bình của các Thầy cô trong khoa kinh tếlao động và dân số để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Trang 2PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:
I Các khái niệm
1) NNL là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ vào mục địch nghiên cứu.
a NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội
đó là nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
b NNL còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động Với cách hiểu này NNL bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên.
2) Chất lượng của NNL
Được xem xét trên các mặt
+ Trình độ sức khoẻ
+ Trình độ văn hoá
Trang 3+ Trình độ chuyên môn
+ Năng lực phẩm chất
…………
3) Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng NNL
Để có thể biết yếu tố nào có ảnh hưởng tới chất lượng NNL thìchúng ta căn cứ vào các mặt
a Trình độ sức khoẻ
Nguồn: (1, 2) Giáo trình kinh tế lao động 2005- NXB Lao động xã hộiCác nhân tố về điều kiện dinh dưỡng, điều kiện kinh tế có ảnh hưởngtới vấn đề sức khoẻ của người dân nói chung, và người lao động nóiriêng
Phản ánh chuyên môn trong đào tạo của người lao động
Cái này nó phụ thuộc vào tâm lý lựa chọn của người lao động vàkhả năng đào tạo của đất nước
Trang 4Có nhiều cách phân loại khác nhau
1) Căn cứ vào nguồn gốc hình thành
a NNL có sẵn trong dân số
Nó bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động không kể tới trạng thái có việc làm hay không Độ tuổilao động là giới hạn về những điều kiện tâm sinh lý xã hội mà conngười tham gia vào quá trình lao động, được quy định tuỳ thuộcvào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước
NNL tham gia vào hoạt động kinh tế (còn gọi là dẫn số hoạt độngkinh tế)
Đây là số người có công an việc làm, đang làm việc trong các lĩnhvực kinh tế, văn hoá xã hội
c NNL dự trữ
Nó bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động nhưng vì các
lý do khác nhau họ chưa tham gia lao động Nó bao gồm:
+ Những người làm công việc nội trợ trong gia đình
+ Những người tốt nghiệp Trung học phổ thông và trung học chuyênnghiệp
+ Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có khả năng thamgia vào hoạt động kinh tế
+ Những người trong độ tuổi lao động nhưng đang thất nghiệp
2) Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận NNL tham gia vào sản xuất xã hội
Trang 5a Bộ phận lao động chính: Đây là bộ phận nhân lực nằm trong độtuổi lao động và có khả năng lao động.
2) Tinh giảm LLLĐ quản lý gián tiếp
3) Sử dụng LLLĐ theo trình độ chuyên môn
Trang 6Nó phản ánh việc sử dụng nhiều hay ít lao động và đem lại hiểu quả haylãng phái khi ta tăng giảm số lao động của doanh nghiệp.
2) Theo cơ cấu:
a) Cơ cấu theo chức năng
- Lao động trực tiếp
- Lao động gián tiếp
b) Cơ cấu theo giới tính:
chỉ tiêu này cho phép đánh giá mức độ phù hợp của công việc với từnggiới
c) cơ cấu lao động theo tuổi:
nó cho biết tuổi trong lao động ở trong từng độ tuổi
d) Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá:
+ Không biết chữ
+ Chưa tốt nghiệp tiểu học
+ Tốt nghiệp tiểu học
+ Tốt nghiệp trung học cơ sở
+ Tốt nghiệp trung học phổ thông
e) Cơ cấu theo trình độ chuyên môn lành nghề
g) Cơ cấu theo thâm niên
h) Cơ cấu theo nghề
IV Ảnh hưởng của việc nâng cao chất lượng NNL tới sự phát triển của công ty
Việc nâng cao chất lượng NNL của công ty là vấn đề mấu chốt chothành công của doanh nghiệp, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO Một
Trang 7doanh nghiệp chỉ thực sự cạnh tranh được khi họ có một đội ngũ laođộng hùng mạnh, giỏi giang Nhìn chung đây là thời kỳ của tri thức Cácdoanh nghiệp phải nâng cao chất xám của mình lên và ứng dụng khoahọc kỹ thuật và sản xuất có như thế mới có thể cạnh tranh và giành thắnglợi cho mình và nếu doanh nghiệp nào đi ngược lại nó tất yếu sẽ thất bại.
Khi chất lượng NNL tăng lên thì năng suất lao động tăng lên, chiphí cho sản xuất giảm đi, giảm giá thành sản phẩm và làm ăn sẽ có lãi
Đó chính là ảnh hưởng của việc nâng cao chất lượng NNL tới sựphát triển của công ty
Ngày nay các doanh nghiệp họ càng ngày càng hạn chế sử dụng laođộng chân tay mà thay vào đó là lao động trí óc bởi lẽ tri thức bây giờ trởthành nền tảng của giá trị và là tay lái chính trong thời kỳ mới
Một doanh nghiệp chỉ được coi là thành đạt khi họ có một đội ngũlao động tiên tiến Chất xám nó là một tài nguyên quý giá, vô hạn vàquan trọng nhất trong sản xuất kinh doanh
Trang 8PHẦN II:ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NNL TRONG CÔNG TY THAN NAM MẪU
I Tổng quan về công ty:
1 Quá trình hình thành và phát triển:
Xí nghiệp than Nam Mẫu là xí nghiệp khai thác than hầm lò Đượcthành lập vào ngày 01/04/1999 Trên cơ sở sáp nhập hai mỏ là mỏ thanthùng và mỏ than yên tử
Về vị trí địa lý xí nghiệp than Nam Mẫu nằm ở 200 17” vĩ độ Bắc và
106056” kinh độ Đông nằm cách Hà Nội 160 km và cách Hạ Long 40 km
Cơ quan điều hành của xí nghiệp nằm giữa trung tâm thị xã Uông Bí –Tỉnh Quảng Ninh và nó trực thuộc công ty than Uông Bí Nhìn chung xínghiệp thành lập mới chỉ được 8 năm nhưng xí nghiệp đã nhanh chónghoàn thiện sản xuất và ngày nay đã là một công ty lớn với “ 2887 cán bộcông nhân viên”1
Trang 9Những ngày khi xí nghiệp thành lập cũng rất nhiều những khókhăn như: Thiếu lao động có kỹ năng, có kinh nghiệm và máy mócthiết bị phục vụ cho sản xuất.
Tuy nhiên được sự trợ giúp của Công ty Than Uông Bí, Xínghiệp đã nhanh chóng ổn định sản xuất và từng bước khẳng địnhđược vị thế của mình
Trong suốt 8 năm hoạt động doanh nghiệp luôn cố gắng hoànthành nhiệm vụ sản xuất được giao và doanh nghiệp đã thành côngtrong công tác đó ở các doanh nghiệp than nếu có công ty nào đó hoạtđộng không hiệu quả trong nhiều năm liên tiếp thì công ty đó sẽphải sáp nhập hoặc phá sản Đây cũng chính là sự thực rất rõ ràngkhông chỏ của các công ty than mà là của cả nền Kinh tế Ngày naydiện mạo của công ty đã hoàn toàn thay đổi Khu làm việc cuả cán
bộ công nhân được mở rộng và đặc biệt công ty đã từng bước hiệnđại hoá máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng suất lao động vàgiảm chi phí
Cùng với đó là thu nhập của người lao dộng tăng lên, cán
bộ nhận viên đoàn kết với nhau đã tạo ra tâm lý phấn khởi và sựgắn bó với công ty
2 Bộ máy quản lý của công ty:
“Bảng 1 Thống kê đội ngũ cán bộ CNV Xí nghiệp than Nam Mẫu2005”
Trang 10Bảng 1: Nguồn: Báo cáo tình hình cán bộ CNV 2005 – Phòng TCLĐ
Bộ máy quản lý của xí nghiệp than Nam Mẫu được tổ chức theo cơcấu trực tuyến - chức năng Đứng đầu là giám đốc - Người chịu tráchnhiệm chính của công ty Giúp việc cho giám đốc có 4 Phó Giám Đốccùng các phòng ban chuyên môn về các lĩnh vực, có chức năng cố vấn,tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý và ra quyết định, điều đóđảm bảo sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời quyết định của giám đốc đến cácđơn vị sản xuất trong xí nghiệp
Bộ máy quản lý của xí nghiệp được phân làm hai cấp: cấp quản lý xínghiệp và cấp quản lý công trường Và ta có sơ đồ quản lý của cấp quản
Phó QĐ trực ca 3
Phó QĐ trực ca 4
Phó QĐ trực ca 5
Tổ sản
xuất
Tổ sản xuất
Tổ sản xuất
Tổ cơ điện
Trang 11Nguồn báo cáo tình hình tổ chức của các bộ phận sản xuất 2005 –phòng TCLĐ
Công ty có 14 phòng và 22 phân xưởng và nó tương ứng có hai cấpquản lý
+ Cấp quản lý xí nghiệp
+ Cấp quản lý công trường
Việc phân chi này nó đảm bảo tốt cho hoạt động của Công ty ởcấp quản lý công trường đứng đầu là quản đốc các phân xưởng và 3phó quản đốc điều hành 3 ca sản xuất
Trong quá trình sản xuất ở các phân xưởng như phân xưởngkhai thác, phân xưởng điện…thì luôn có nhân viên giám sát thuộccác phòng như : phòng an toàn, phòng thống kê…
Trang 12Có thể nói bộ máy quản lý của công ty than Nam Mẫu luônhoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Trong sản xuất không để xảy
ra các sự cố diễn biến lâu và mất ổn định trong sản xuất
Trong các năm 2003- 2007 theo số liệu thống kê cho thấyhàng năm công ty làm ăn đều có lãi, nó cho thấy hiệu quả của công
ty cũng luôn quan tâm tới việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản
lý của mình, những cán bộ mà năng lực còn hạn chế thì đều đượccác doanh nghiệp cử đi học ở các lớp ngắn hạn và dài hạn nhằmgiúp họ tự nâng cao được những năng lực chuyên môn và những cán
bộ quá yếu kém về năng lực thì được thuyên chuyển sang các bộphận khác
Công ty than Nam Mẫu cũng đang trong giai đoạn cải tổ lại
bộ máy quản lý nhằm tránh sự lãng phí không cần thiếtt và nângcao năng lực quản lý của mình
Hiện nay doanh nghiệp chỉ có 9,6% tổng số là tốt nghiệp hệđại học còn lại 90,4% là trình độ từ trung cấp trở xuống Đây cũng
là con số cho thấy doanh nghiệp còn rất thiếu lao động có trình
độ chuyên môn cao
3 Nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh:
Nói cung tất cả các công ty than đều có nhiệm vụ sản xuất và khaithác than do đặc điểm than là tài nguyên rất phong phú cho nên việc khaithác than cũng đem lại một nguồn lợi to lớn cho công ty than nói riêng
và cho Tỉnh Quảng Ninh nói chung Than phân bố ở hầu hết các khu vực
có núi, do đó việc khai thác than cũng hết sức phong phú và phức tạp
Trang 13Những nơi có đi9ều kiện khai thác lộ tiên như mỏ than Cẩm Phả, thanCọc Sáu, than Cao Sơn… thì khai thác dễ hơn, còn với công ty than NamMẫu thì khai thác theo hình thức hầm lò rất phức tạp, độc hại và khókhăn Mặc dù thế công ty luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ sản xuất:hàng trăm nghìn tấn than cứ lần lượt được đưa lên từ lòng đất Than làmột loại tài nguyên chính làm nhiên liệu cho các ngành công nghiệpnhư: luyện kim, hoá chất… và ở Việt Nam thì dùng cho xuất khẩu than
là chủ yếu Điều này đã mang lợi cho Quảng Ninh một diện mạo mới.Năm 2005 sản lượng khai thác than đạt 1.035.305 tấn tăng so với kếhoạch là 35 305 tấn tương đương là 3,5% và tăng so với thực hiện năm
2004 là 33% điều này cho thấy mặc dù khai thác khó xong doanh nghiệpvẫn vượt chỉ trên khai thác và quy mô ngày càng mở rộng
Trong quá trình giai đoạn từ 2007 trở đi nhiệm vụ càng nặng
nề hơn khi mà công ty đã khai thác xuống tới mức: Cos 0 (Đây làmức khai thác ngang với mực nước biển)
ở mức khai thác này hệ số bốc dỡ đất sẽ lớn hơn và vì thế chiphí khai thác ra một tấn than sẽ cao hơn và phần lợi nhuận sẽgiảm đi Đây thực sự là một bài toán khó cho không chỉ công tythan Nam Mẫu mà là của cả ngành than nói chung
Về nguyên tắc khi chi phí sản xuất tăng thì giá bán than sẽtăng lên, tuy nhiên giá bán ra lại do nhà nước điều chỉnh Và nócũng đã tạo ra dào cản cho việc tăng giá than để đảm bảo mức lãicho doanh nghiệp Có thể giải thích một cách đơn giản rằng than
là nguyên liệu đốt cho hầu hết ngành công nghiệp và khi giá than
Trang 14tăng thì cũng sẽ làm cho giá điện, giá thép, giá phân bón…tănglên và làm cho giá cả chung của cả nền kinh tế tăng.
Để đối phó với khó khăn này thì doanh nghiệp chỉ còn mộtcách là tăng năng suất lao động bằng cách nhập về dây chuyển sảnxuất hiện đại hơn và tăng đầu tư cho nguồn lực con người Tuynhiên vấn đề này cũng rất khó khăn và không thể làm ngay được
mà phải từng bướ
Một số doanh nghiệp khai thác ở Quảng Ninh cũng đã bị thua
lỗ hoặc gần như không có lãi khi khai thác xuống mức cos 0, Đâycũng là thực trạng chung vì thế bản thân doanh nghiệp cũngkhông nên chủ quan vì nhà nước luôn khống chế giá bán than.Theo quan điểm cá nhân: Vấn đề nằm trong bản thân các vấn đềkinh tế Nói chung là doanh nghiệp cũng không thể bỏ ra hàngtrăm tỷ đồng để nhập máy móc mới cũng như đầu tư cho nguồnlực con người vì vậy chỉ có một cách là tăng giá bán ra Và vấn
đề này là của tập đoàn than và của chính phủ Một khi chính phủkhống chế giá thì hoạt động khai thác than sẽ bị méo mó đi Điềunày thể hiện rất rõ trong năm vừa qua khi mà đại diện tập đoànthan đã có văn bản kiến nghị chính phủ cho tăng giá bán than.Một trong những vấn đề nữa là khi giá bán bị khống chế thìthu nhập của người lao động sẽ bị giảm sút mà ngành than lại làngành nặng nhọc độc hại do đó thu nhập bị giảm đi sẽ làm chongười lao động bị thiệt thòi
4 Đặc điểm về lao động và máy móc thiết bị:
Trang 15Nhìn chung, công nhân khai thác than hầu hết họ đều có sức khoẻ tốt
và tinh thần kỷ luật chặt chẽ, họ lao động chân tay là chủ yếu
Một đặc điểm nữa về lao động đó là vấn đề người lao động vàbệnh nghề nghiệp luôn ở mức cao hơn so với các ngành côngnghiệp khác Tuy nhiên mức lương bình quân của một công nhânkhai thác than là từ 4-5 triệu và công nhân cơ điện lò là trừ 2,5triệu đến 3 triệu Đây là mức lương tương đối cao trả cho laođộng chân tay do vậy mà nhu cầu về việc làm bây giờ rất lớn.Người lao động chủ yếu là từ nông thôn thuộc các tỉnh : Thái bình,Nam Định, Hải Dương…ra làm việc rất động Để có thể nhận vàolàm công nhân thì họ chỉ cần được đào tạo nghề theo các hệ 9tháng, 12 tháng, hoặc 18 tháng Nói chung vì đây là ngành độc hại
do đó về chính phủ và doanh nghiệp cũng nên xem xét việc làmsao nâng cao hơn nữa mức lương , cải tạo điều kiện làm việc vàchế độ cho người lao động khi họ nghỉ hưu cũng như họ đang
Trang 16làm việc Có như thế thì mới đảm bảo tốt cho người lao động.Công ty than Nam Mẫu cũng rất coi trọng các vấn đề này và luôntạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động làm việc vàđảm bảo đầy đủ các điều kiện lao động nhằm giảm bớt tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động trong công ty.b) Đặc điểm về máy móc thiết bị:
Máy móc dùng trong qúa trình sản xuất cũng rất đặc thù mà chỉ ởngành mới cần dùng và nó chia ra làm hai nhóm:
+ Nhóm trang thiết bị cho bộ phận sản xuất chính
+ Nhóm trang thiết bị cho bộ phận sản xuất phụ
Và nó được thể hiện qua hai bảng sau:
Bảng 3: Thống kê máy móc – Thiết bị
Trang 1717 Tủ nạp tàu CKK-150 Cái 3 1
Trang 1849 Máy tiện 9M14 Cái 1
52
Nguồn: Báo cáo máy móc thiết bị vật tư 2005- PKTVT
Ngoài những số liệu máy móc thiết bị kỹ thuật đã nêu ở trên, Xínghiệp
còn nhiều máy móc thiết bị khác phục vụ cho quá trình sản xuấtcũng như công việc khác như: Thiết bị động lực, thiết bị truyền dẫn,máy móc trong quản lý: Máy vi tính, máy photocopy, máy điều hoà…NHưng vì số liệu có hạn nên đồ án không thể liệt kê đầy đủ số lượngcác loại máy móc thiết bị
b Thiết bị kỹ thuật dùng cho quá trình sản xuất phụ trợ
Sản xuất phụ trợ là quá trình sản xuất tạo điều kiện cho bộ phậnsản xuất chính hoạt động nhưng không mang tính chất thường xuyênnhư quá trình vận chuyển than từ vỉa về nơi giao hàng, vận chuyển vật
tư, máy móc thiết bị được sử dụng ở đây, trang thiết bị này được nêu ởbảng 1.7
Qua các bảng thống kê đã cho thấy hầu hết đều là các thiết
bị công nghiệp có giá trị kinh tế cao và trong mức chưa sản xuấtđược
Máy móc thiết bị này chủ yếu được nhập từ Nhật bản và trungquốc với giá thành tương đối cao Tuy nhiên đặc điểm khai thácthan là khai thác trong lòng núi cao Do đó nó cần những loại máymóc Công nghiệp đó Đối với Việt Nam thì đây vẫn được coi lànhững loại máy móc tiên tiến Tuy nhiên chúng ta vẫn phải dần
Trang 19thay thế nó Bởi lẽ các quốc gia như Nhật Bản…họ khai thác thanchủ yếu là các dây chuyền tự động chứ không như ở Việt Nam Tuyvậy giá trị các giây chuyền này quá cao chúng ta vẫn chưa đủ sức đểtrang bị nó
Bảng 4: Trang thiết bị kỹ thuật
stt Tên thiết bị Mó hiệu ĐVT Số lượng
2 Xe gạt KOMATSU D85A- 12 Chiếc 1 2
Nguồn: Báo cáo Trang thiết bị – máy móc 2005 Phòng kỹ thuật vật tư
II Đánh giá thực trạng chất lượng NNL của Công ty.
1 Trình độ sức khoẻ:
Trang 20Sức khoẻ của người lao động cũng là yếu tố cũng rất quan trọng choquá trình lao động ở Việt Nam hiện nay do công nghệ còn nhiềuhạn chế do đó phải sử dụng nhiều lao động chân tay (hay nói cáchkhác cần người lao động có sức khoẻ Nếu đánh giá về trình độ sứckhoẻ của công ty than Nam Mộu, ta chia ra làm hai bộ phận:
+ Sức khoẻ với cán bộ phòng ban
+ Sức khoẻ với công nhân
a Với cán bộ phòng ban
Trong tất cả các phòng ban người lao động ở đây là người quản lý,
họ làm việc bằng trí óc là chính, do đó khi tuyển dụng đối tượngnày thì chủ yếu là căn cứ vào năng lực của họ, còn điều kiện vềsức khoẻ thì chỉ cần đạt mức bình thường là được
Đối với công ty than Nam Mộu cũng là như th, tuy nhiên một vấn
đề cũng đang được đặt ra là do áp lực của công việc nhiều do đóngười lao động thuộc đối tượng này càng có sức khoẻ thì càng tốt.Con người càng khoẻ mạnh thì họ làm việc càng hiệu quả hơn
Tóm lại do tính chất ở đây là lao động trí óc do vậy mục đíchchính vẫn là chọn những người có năng lực hay là kiến thức chuyênmôn
b Với công nhân:
Chúng ta xem xét 2 bộ phận chủ yếu đó là công nhân hầm lò vàcông nhân phân loại than
+Với công nhân hầm lò chủ yếu là công nhân khai thác và côngnhân cơ điện Đối với công nhân khai thác, do tính chất làm việc
Trang 21nặng nhọc chủ yếu lao động bằng chân tay, người lao động thuộcđối tượng này phải có sức khoẻ tốt mới đảm đương nổi công việc.Theo tiêu chuẩn của công ty tối thiểu phải đạt 54kg và cao 1m65.
Tại sao phải quy định như thế? Theo lý giải của phòng laođộng thì đây là mức tiêu chuẩn thấp nhất để một người lao độngkhai thác than có thể hoàn thành được tốt nhiệm vụ Cụ thể như : Mộtcông việc hầm lò thường xuyên phải mang vác cột thủy lực nặngkhoảng 60kg và đi trong lò dốc, do đó nếu sức khoẻ kém (dưới54kg và thấp hơn 1m65)
Trước đây nhiều công nhân được tuyển vào nhưng vì sức khoẻquá yếu đã không làm được đành phải bỏ việc, hơn nữa người laođộng quá yếu sẽ hay bị mắc bệnh nghề nghiệp
Còn đối với công nhân cơ điện thì dù là lao động sửa chữamáy và vận hành máy tuy nhiên vẫn phải theo quy trình của công
ty khi tuyển vào phải cao 1m65 trở lên và nặng từ 54kg trở lên
+ Công nhân phân loại than: Đây cũng là lao động tay chân tuy nhiênlại có môi trường làm việc ở trên mặt đất và ít độc hại hơn
Công việc của họ là phân loại than thành các loại A1, A2…Mặc
dù cũng vất vả tuy nhiên với đối tượng này công ty cũng không quyđịnh mức sức khoẻ tối thiểu, chỉ cần có nhu cầu là có thể được vàolàm việc
Theo đánh giá của cá nhân em thì bản thân doanh nghiệpcũng đã đưa ra các giải pháp tốt, nó phù hợp với thực tế kháchquan trong doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có ý
Trang 22nghĩa quan trọng cho sự hoạt động và tồn tại của một tổ chức, tuynhiên khi đánh giá chất lượng NNL thì vấn đề sức khoẻ cũng cầnphải đặt ra là mục tiêu chính Với những vị trí làm việc cần có sứckhoẻ tốt thì phải có những người lao động lành nghề và có sức khoẻtốt Có như thế hoạt động sản xuất mới không bị gián đoạn Mộtvấn đề đã từng xảy ra trước đây trong doanh nghiệp khi mà ngườilao động có sức khoẻ không đảm bảo, những người này họ làm việcđược một thời gian (từ một năm đến khoảng 3 năm) khi đó sức khoẻ
đã kiệt quệ do phải làm việc cố sức đã dẫn tới việc dễ mắc bệnh như:Đau phổi, đau cơ sương, do đó họ không thể tiếp tục làm việc và cábiệt có những trường hộ xin nghỉ việc do áp lực về sức khoẻ quálớn
Nhìn chung do thể trọng của người Việt Nam còn nhiều hạnchế, do vậy bản thân doanh nghiệp cũng rất lúng túng khi mình đangcần công nhân, trong khi người công nhân lại có sức khoẻ chưa đủtiêu chuẩn, mà với những công nhân này họ chỉ có thể xin việc ởngành than do tính chất đào tạo là ngành của mỏ
Thế nhưng nếu nhận họ vào làm thì sức khoẻ của họ chắcchắn sẽ không đủ để làm việc và nếu làm việc có thể gây ra tainạn lao động, mất an toàn trong sản xuất …do sức khoẻ kém
Vì vậy để có thể tuyển được một đội ngũ lao động giỏi vềchuyên môn và có sức khoẻ tốt thì cũng đang là bài toán khó chodoanh nghiệp
Trang 23Tuy thế nhưng doanh nghiệp cũng nên chủ động hơn, nên tìmcách cải thiện chất lượng của đội nghũ lao động, còn ở vai trò lànhững công nhân đã vào làm trực tiếp rồi thì doanh nghiệp cũngluôn bố trí cho họ đi điều dưỡng định kỳ và khám sức khoẻ saumỗi năm làm việc.
Việc làm này cũng có rất nhiều ý nghĩa, một mặt nó cung cấpcho doanh nghiệp thông tin những ai cần phải đi điều dưỡng,những ai mắc bệnh nghề nghiệp, những ai không còn đủ sức khoẻ đểtiếp tục làm việc…để có cách giải quyết kịp thời
Qua phân tích đó cho thấy doanh nghiệp cũng rất quan tâmtới sức khoẻ của người lao động, không chỉ với những người mới vào
mà cả với những cán bộ công nhân viên đã làm việc tại doanhnghiệp
Một thực trạng cũng đang rất nan giải ở doanh nghiệp hiện nay.Theo thống kê của doanh nghiệp “ qua 3 năm là 2004, 2005, 2006doanh nghiệp có tới 50 trường hợp là nghiện ma tuý”2
Những đối tượng này sử dụng chất kích thích trái phép do đó đã
bị đình chỉ công tác cho đi cai nghiện Nếu cai nghiện được thìdoanh nghiệp sẽ nhận vào làm còn nếu không thì bị xoá hợp đồng.Như vậy cho thấy vấn đề giáo dục tuyên truyền cho người laođộng hiểu tác hại của ma tuý với sức khoẻ cũng cần được quantâm hơn
Nguồn2: báo cáo chất lượng công nhân 2006- phòng TCLĐ
2 Trình độ văn hoá.
Trang 24Đây là vấn đề có thể nói là rất khó đánh giá bởi lẽ nó docách hiểu về khái niện này Trong giai đoạn trước đây người ta luônđồng nhất trình độ văn hoá với trình độ học vấn, kể cả với công tythan Nam Mộu, tuy nhiên cho đến ngày nay thì người ta đã phân biệthai khái nhiệm này một cách đầy đủ, theo đó trình độ văn hoá làtổng hợp khả năng nhận thức, trình độ hiểu biết và cách thức cư xửgiữa con người với nhau trong xã hội.
Trong công ty than Nam Mẫu thì theo quan sát cảu cá nhân
em thì con người trong tổ chức đều là những người có hiểu biết,
có kiến thức, và kết hợp với tính kỷ luật cao trong công việc , do
đó trình độ văn hoá được đảm bảo, trong công việc giữa cán bộcông nhân viên với nhau, họ luôn coi nhau như tình đồng chí, đồngđội cũng lao động cùng sản xuất và chia sẻ những tâm tư tình cảmvới nhau
Đó là những biểu hiện cho thấy được phần nào về tìnhcảm,tình đoàn kết giữa con người với con người trong tổ chức Tuy nhiên có thể đánh giá đầy đủ nó thì do năng lực bản thân cònnhiều những hạn chế do đó em chưa có thu thập được những tài liệu
về vấn đề này Em cũng mong các thầy cô thông cảm cho thiếu sótđó
Một vấn đề nữa đó là doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới vấn
đề cuộc sống, tâm tư của anh chị trong doanh nghiệp
Những chương trình văn nghệ giao lưu, những chuyến du lịch…tất cả
nó đã tạo ra cho Anh chị Em trong doanh nghiệp có điều kiện tiếp
Trang 25xúc, gặp gỡ, giao lưu cùng với nhau, qua đó nó ngày càng gắn kếtvới nhau.
Như chúng ta cũng đã biết công ty than Nam mẫu có gần 300công nhân viên, do đó nó được chia ra làm nhiều phòng ban vàphân xưởng sản xuất Công việc hàng ngày rất bận rộn và vất vả,
do đó để có được dịp gặp gỡ vui vẻ bên nhau là rất khó, nhất là khi
họ làm việc khác đơn vị, phân xưởng Vì thế khi doanh nghiệp mởcác cuộc giao lưu Anh em rất là vui và hạnh phúc, qua đó nó chothấy truyền thống anh hùng bất khuất của người thợ lò, thông quacác chương trình đó Công ty cũng đã có điều kiện nâng cao trình độvăn hoá cho người lao động, làm cho họ cảm thấy gắn bó hơn, chia
sẻ với nhau nhiều hơn
3) Năng lực phẩm chất
Đây là vấn đề mà bản thân doanh nghiệp cũng chưa có tàiliệu chính thức nào, cũng như chưa có điều tra chính thức Tuynhiên nếu đánh giá một cách khái quát có thể cho thấy: Công việccủa người thợ mỏ vất vả và nặng nhọc, cũng như rất khó khăn.Doanh nghiệp đặt ra chỉ tiêu khai thác than cho từng năm Tuy nhiênvới vấn đề làm sao giảm thiểu tối đa vấn đề tai nạn lao động thìbuộc trong quá trình sản xuất phải thực hiện tốt quy định antoàn cũng như phải nghiên cứu, tìm hiểu, cải tiến những công nghệđang có cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Trang 26Muốn làm được điều đó nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có mộtđội ngũ cán bộ giỏi, có năng lực phẩm chất tốt có nhu thế mớihoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Người thợ mỏ từ xa xưa đã có truyền thống cần cù bất khuất,
họ đến với lao động bằng tình yêu nghề nghiệp, bằng khát khaolao động Đó chính là phẩm chất đáng quý nhất của người thợ lò
Hơn nữa nghề mỏ đã có hàng trăm năm nay do đó họ cũng đãđúc két được nhiều kinh nghiệm cho sản xuất, chịu khó tìm hiểunâng cao năng suất lao động cải tiến công nghệ…có thể nói nănglực của họ đã đóng góp không nhỏ cho những tấn than an toàn,hiệu quả
Và để đánh giá năng lực sâu hơn thì phần sau đề tài sẽ trìnhbày rõ hơn và cụ thể hơn (trong phần: Trình độ chuyên môn kỹ thuật)
Mặc dù đã cố gắng tuy nhiên do nhịp sống hiện đại đã tácđộng không nhỏ tới một số cán bộ công nhân viên, đặc biệt làcông nhân trẻ
Các tệ nạn xã hội như: Ma tuý, tham nhũng…đã xâm nhập vàodoanh nghiệp Mặc dù nó chỉ là con số nhỏ tuy nhiên vấn đề giáodục nâng cao nhận thức cho người lao động cần được nâng caohơn Đặc biệt là những đơn vị cí người nghiện cần quan tâm hơn tớinhững cá nhân này, động viên giúp đỡ chia sẻ và giúp họ vượtqua khó khăn đó để làm lại cuộc sống
Hãy ngăn chặn nó đừng để nó làm ảnh hưởng tới truyền thốngthợ mỏ bất khuất hơn là những anh hùng trong lao động sản xuất
Trang 274 Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Bảng 5: Cơ cấu theo trình độ đào tạo
Nguồn báo cáo tổng hợp 2005 – phòng TCLĐ
Qua bảng 14 cho thấy:
+ Trình độ chuyên môn của người lao động còn ở mức thấp
+ Lao động phổ thông có 971 người chiếm 38,2% đây là tỷ lệ cònquá cao nó sẽ làm cho năng suất lao động bình quân thấp Vì vậy cầnphải giảm tỷ lệ này xuống.mặt khác ở bậc trung cấp chỉ có 132 ngườichiếm 5,2% đây chỉ là tỷ lệ quá thấp Do đó doanh nghiệp cần nâng caolên
Và điều này có thể giải thích cho việc tại sao doanh nghiệp lại cóthể tăng năng suất lao động lên cao và rất nhanh Chỉ cần chúng ta tăng
số trung cấp- đại học lên và giảm số lao động phổ thông đi thì năngsuất lao động sẽ ngay lập tức tăng lên Đây là thực trạng chung của hầuhết các công ty than chứ không phải của riêng công ty than Nam MẫuLao động phổ thông chiếm 38,2% ở đây bao gồm: Lao động ở
bộ phận phân loại than, công nhân đường sắt, công nhân gác trạm…Đây là bộ phận nên giảm xuống về số lượng, còn chất lượng thìcũng không cần thiết phải cho đi đào tạo Bởi lẽ như công nhânphân loại than họ chỉ có nhiệm vụ chọn trong các đống than hỗnhợp rồi phân ra thành các loại than khác nhau như loại A1, A2… có
Trang 28loại chỉ dùng cho xuất khẩu như than đá, có loại dùng cho trongnước như than đá nhỏ, than cám, than bùn…
Với mức đòi hỏi của công việc như thế chỉ cần họ có sức khoẻ
và tốt nghiệp trung học phổ thông là có thể nhận vào làm trước khivào làm họ được huấn luyện qua từ một tới hai buổi để biết cáchphân loại than ở bậc công nhân kỹ thuật chiếm tới 47% điều này chothấy đa phần công nhân trực tiếp sản xuất tại hầm lò là công nhân
kỹ thuật Nói chung dù sao họ cũng chỉ là lao động chân tay Vớitrình độ chuyên môn thấp được đào tạo khoảng 9 tháng hoặc 12tháng là có thể vào làm việc Vì thế cùng với hệ trung cấp chỉchiếm 5,2% là cũng có lý do Học trung cấp mất 2,5 năm trong khihọc nghề mỏ chỉ mất 1 năm mà công việc gần như nhau vì thế cũng
có ít người theo học bậc trung cấp hơn
Còn ở bậc đại học và cao đẳng chỉ chiếm có 9,1% đây là con sốquá thấp Bởi đây chính là bộ phận lãnh đạo của doanh nghiệp Mặtkhác số lượng cán bộ tốt nghiệp đại học hệ chính quy lại chiếm rất ítchỉ khoảng 25% còn lại là hệ tại chức Điều này nói lên sự hạn chế vềtrình độ đào tạo của cán bộ trong doanh nghiệp
Do đó cái cần thiêt nhất là phải nâng cao chất lượng của đội ngũcán bộ này lên hơn nữa Có như hế mới đáp ứng được nhất là trongthời buổi cạnh tranh như ngày nay
Để biết cụ thể và chính xác hơn nữa những phân tích trênchúng ta quan sát bảng báo cáo trình độ đội ngũ cán bộ khoa học
Trang 29kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn có trình độ trung cấp – cao
đẳng-đại học và trên đẳng-đại học
Bảng6: Báo cáo tình tình đội ngũ cán
BÁO CÁO TÌNH TÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHKT NGHIỆP VỤ
CHUYÊN MÔN CÓ TRÌNH ĐỘ TRÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG,
Phân tích chất lượng
ĐảngViên
Phụnữ
Dântộc ítngười
BộđộiPVCN
Thànhphần
<31
31-45
55
Trang 32Phân tích chất lượng
ĐảngViên
Phụnữ
Dântộc ítngười
BộđộiPVCN
Thànhphần
<31
31-45
55
46->55 Dưới
5năm
5nămtrởlên
Caocấp
TrungCấp
Trang 3522 Các
ngành
khác
Nguồn: Báo cáo tình hình đội ngũ cán bộ- Phòng TCLĐ 2005
Trang 36SVTH: Ngô Trường Giang 61