Hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư ở việt nam hiện nay
Trang 1Đề tài
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU
TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giáo viên: Phạm Tiến Mạnh Lớp: Thị trường chứng khoán, thứ 3 ca 4 phòng H303
Nhóm sinh viên: NKD Group
Mức độ đóng góp
MỤC LỤC
I TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ 3
Trang 21 Khái niệm 3
2 Các bên tham gia………3
3 Phân loại 3
3.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động 4
a, Qũy đại chúng 4
b, Qũy đầu tư thành viên 4
3.2 Căn cứ vào cơ quy mô, cách thức và tính chất góp vốn 4
a, Qũy đóng 4
b, Qũy mở 4
3.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức điều hành 5
a, Quỹ đầu tư dạng công ty 5
b, Quỹ đầu tư dạng tín thác 5
II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6
1 Số lượng các quỹ đầu tư ở Việt Nam hiện nay 7
2 Kết quả hoạt động của các quỹ ở Việt Nam hiện nay 8
3 Cơ cấu tài sản và lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các quỹ 9
a, Cơ cấu tài sản 9
b, Lĩnh vực đầu tư chủ yếu 10
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các quỹ 12
A, Môi trường vĩ mô 12
B, Trình độ phối hợp quản lý giám sát của các bên tham gia 14
5 Hiện tượng thoái vốn ……… 17
III GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ……… 18
1.Về phía nhà nước……… ………18
2.Về phía quỹ đầu tư……….……… 20
KẾT LUẬN………20
I.TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ
1 Khái niệm
Qũy đầu tư là một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp do các nhà đầu tư cùng góp vốn Từ những khoản tiền tiết kiệm, nhàn rỗi phân tán trong dân chúng được tập trung lại thành các nguồn vốn lớn cho các nhà chuyên nghiệp sử dụng trong lĩnh vực đầu tư kiếm lời và phân chia cổ tức cho các cổ đông góp vốn
2 Các bên tham gia
Trang 3Các bên tham gia
Lợi ích của việc đầu tư qua quỹ mang lại cho các bên là dễ dàng nhận thấy:
• Nhà đầu tư vẫn có thể đầu tư với số tiền vừa và nhỏ, tiết kiệm được chi phí thông tin và chi phí giao dịch tính trên một đồng đầu tư do đa dạng hóa danh mục đầu tư, rủi ro được phân tán qua các loại tài sản và cho các những người nắm giữ CCQ, đồng thời được sàng lọc và loại bớt do trình độ quản lý của công ty quản lý quỹ và khả năng giám sát của ngân hàng
• Quản lý quỹ là hoạt động sinh lợi chính cho các công ty quản lý, đồng thời tạo thêm thu nhập cho ngân hàng giám sát và cũng là cơ hội để quảng bá thương hiệu, bán chéo sản phẩm, hoặc cung cấp các dịch vụ ngân hàng tiện ích khác
3 Phân loại
Theo luật chứng khoán Việt Nam 2006, các quỹ đầu tư được chia thành quỹ đại chúng và quỹ thành viên, trong đó quỹ đại chúng lại được chia ra thành quỹ đóng và quỹ
mở Ngoài ra người ta còn phân chia quỹ theo nhiều tiêu chí khác
3.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
a, Quỹ đại chúng là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng.
Những người đầu tư vào quỹ có thể là các cá nhân hoạc tổ chức kinh tế, nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ, ít am hiểu về thị trường chứng khoán Quỹ đại chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi
ro, chi phí đầu tư thấp với hiệu quả đầu tư cao
b, Quỹ thành viên huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một số
nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các thể nhân hoặc các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường đầu
tư lượng vốn tương đối lớn và đổi lại họ đòi hỏi các yêu cầu về quản lý quỹ rất cao Họ
Ngân hàng giám sát
Trang 4sẵn sàng chấp thuận khả năng thanh khoản thấp hơn so với các nhà đầu tư nhỏ – nhũng người đầu tư vào các quỹ tập thể – và vì thế họ khống chế việc đầu tư trong các quỹ tư nhân Một đặc điểm khác của các quỹ tư nhân đó là các nhà quản lí quỹ thường tham gia kiểm soát hoạt động của các công ty nhận đầu tư Việc kiểm soát này có thể dưới hình thức là thành viên Hội đồng quản trị, cung cấp tư vấn hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các thành viên của Hội đồng quản trị của công ty nhận đầu tư
3.2 Căn cứ vào quy mô, cách thức và tính chất góp vốn
a, Quỹ đóng: Đây là quỹ đầu tư mà theo điều lệ quy định thường chỉ tạo vốn qua một
lần bán chứng khoán cho công chúng Quỹ đầu tư dạng đóng có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu Quỹ không được phát hành thêm bất kì một loại
cổ phiếu nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các cổ phiếu đã phát hành Những người tham gia góp vốn đầu tư không được phép rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho chính quỹ đầu tư Tuy nhiên, chính việc cấm rút vốn làm cho cấu trúc của quỹ rất chặt chẽ, nên các chứng chỉ quỹ đầu tư dạng đóng thường được niêm yết giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán, vì vậy người đầu tư có thể rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư trên Sở giao dịch chứng khoán Với tính chất cơ cấu vốn ổn định cho phép quỹ đầu tư dạng đóng có thể đăng kí đầu tư vào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản cao Quy mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được của quỹ mà thôi
b, Quỹ mở: Quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ (Mutual funds) Khác
với quỹ đầu tư dạng đóng, các quỹ này luôn phát hành thêm những cổ phiếu mới để tăng vốn và cũng sẵn sàng chuộc lại những cổ phiếu đã phát hành Các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp cho công chúng không thông qua thị trường chứng khoán Tất cả các cổ phiếu phát hành của quỹ này đều là cổ phiếu thường, so với quỹ đầu tư dạng đóng, quỹ đầu tư dạng mở có lợi thế rõ ràng về khả năng huy động, mở rộng quy mô vốn, do đó nó linh hoạt hơn trong việc lựa chon các dự án đầu tư Nhà đầu tư có thể rút vốn khỏi quỹ bất cứ lúc nào vì vậy cơ cấu vốn của quỹ không ổn định cho nên quỹ thường xuyên phải duy trì một tỷ lệ khá lớn những tài sản có tính thanh khoản cao như trái phiếu… ít có khả năng đầu tư vào các dự án lớn có tiềm năng nhưng tiềm ẩn độ rủi ro cao Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam
3.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức-điều hành
Trang 5a, Quỹ đầu tư dạng công ty: Theo mô hình công ty, quỹ đầu tư được xem là một
pháp nhân đầy đủ, những người góp vốn trở thành các cổ đông và có quyền biểu quyết và
có quyền bầu ra Hội đồng quản trị quỹ Đây là tổ chức cao nhất trong quỹ đứng ra thuê công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản tài sản quỹ và giám sát việc tuân thủ hoạt động của 2 tổ chức này Trong đó, ngân hàng giám sát đóng vai trò bảo quản các tài sản quỹ, nhận hoặc giao chứng khoán cho quỹ khi thực hiện lệnh giao dịch Còn công ty quản lý quỹ có trách nhiệm cử người điều hành và sử dụng vốn của quỹ để đầu tư vào các chứng khoán hay các tài sản sinh lời khác Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng công ty
thường được sử dụng ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển, tiêu biểu là thị trường Mỹ và Anh
b, Qũy đầu tư dạng tín thác: Theo mô hình thác, quỹ đầu tư không được xem là
một pháp nhân đầy đủ, mà chỉ là quỹ chung vốn giữa những người đầu tư để thuê chuyên gia quản lý quỹ chuyên nghiệp đầu tư sinh lời Theo mô hình này, vai trò của công ty quản lý quỹ khá nổi bật Đó là tổ chức đứng ra thành lập và sử dụng vốn thu được vào nơi có hiệu quả nhất Còn ngân hàng giám sát đóng vai trò là người bảo quản an toàn vốn và tài sản của người đầu tư, giám sát các hoạt động của công ty quản lý quỹ trong việc tuân thủ điều lệ quỹ đầu tư Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng tín thác thường được sử dụng ở các thị trường chứng khoán mới nổi (emerging markets) đặc biệt là các thị trường chứng khoán đang phát triển ở Châu Á
II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trước khi đi vào thực trạng hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam hiện nay, ta điểm qua một chút sự ra đời và các chặng đường phát triển của các quỹ đầu tư tại Việt Nam:
Những quỹ đầu tư đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào những năm đầu của thập kỷ
90, có tám quỹ đầu tư tiến hành hoạt động tại Việt Nam với tổng lượng vốn huy động
khoảng 700 triệu USD Những khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm cơ hội bỏ vốn cùng tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1997 đã khiến các quỹ nản lòng và lần lượt rút lui Thời điểm sau năm 1997 chỉ còn lại hai quỹ đầu tư là Vietnam Enterprise
Trang 6Investment Fund (VIEL) do công ty Dragon Capital quản lý và Vietnam Frontier Fund (VFF) thuộc tập đoàn Finasa Bản thân VFF, với qui mô 50 triệu USD, rốt cuộc cũng ra khỏi Việt Nam sau 10 năm hoạt động
Giai đoạn từ 2002 đến 2005, hoạt động của các quỹ đầu tư tương đối trầm lặng Với
tâm lý khá e ngại và còn băn khoăn về sự thành công của mô hình này, các nhà đầu tư mới chỉ dám bỏ các khoản đầu tư nhỏ nhằm thăm dò thị trường Mặc dù vậy vẫn ghi nhận
sự xuất hiện thêm nhiều quỹ mới thuộc các công ty Mekong Capital, VinaCapital, IDG, VietFund hay PXP Asset Management
Năm 2006,Việt nam gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trên 8%, thị
trường chứng khoán tăng vượt bậc đạt đỉnh cao nhất từ khi thị trường chứng khoán Việt nam ra đời đã đánh dấu một thời kì vàng son của các quỹ đầu tư Theo thống kê của giới tài chính, phải có tới khoảng 100 quỹ đầu tư lớn nhỏ các loại đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam, có khoảng 20 quỹ mới được thành lập UBCKNN cũng cấp giấy phép hoạt động cho 17 công ty quản lý quỹ Trong số này, nổi bật có Công ty liên doanh Quản
lý quỹ đầu tư BIDV-Vietnam Partners với quỹ VIF có qui mô vốn tối đa 1.600 tỷ đồng và
một loạt công ty thành lập vào nửa cuối năm 2007 với qui mô vốn lớn: Công ty cổ phần
Quản lý quỹ đầu tư FPT, Công ty TNHH Quản lý quỹ SSI, Công ty TNHH Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông.Còn phải kể tới hoạt động của các công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam như Nomura Internetional (Hongkong), Blackhorse Asset Management Pte Ltd (Singapore) hay Mirae Asset Maps Investment Management Co., Ltd (Hàn Quốc)
Để nghiên cứu thực trạng hoạt động của các quỹ đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhóm nghiên cứu xin mạnh dạn đề xuất nghiên cứu trong suốt thời kỳ
từ 2008-nay, để có thể có được cái nhìn tổng quan và phân tích được đầy đủ các nhân
tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các quỹ.
1 Số lượng các quỹ đầu tư ở Việt Nam hiện nay
Tính đến tháng 7 năm 2011, có 49 công ty quản lý quỹ và 24 quỹ được cấp phép hoạt động tại Việt Nam theo công bố của Bộ Tài chính Trong đó:
Bảng 1 : 5 quỹ đóng/24 quỹ được cấp phép
Tên quỹ
Trang 71, Quỹ cân bằng PRUBF1
2, Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam
3, Quỹ ĐT tăng trưởng Manulife
4, Quỹ VF4
5, Quỹ đầu tư năng động Việt Nam
Ngoài ra còn có một số quỹ nước ngoài hoạt động ở Việt Nam như Vietnam Enterprise Investment Fund, Vietnam Growth Fund, Vietnam Dragon Fund, Vietnam Opportunity Fund (VOF),…
2 Kết quả hoạt động của các quỹ đầu tư hiện nay
Bảng 2: Lợi nhuận/(lỗ) ròng của một số quỹ đầu tư qua các năm 2007-2010
(đơn vị: tỷ đồng, nếu không có ký hiệu khác)
nghìn USD nghìn USD(415.657) nghìn USD3.098 105.005nghìn
Trang 8USD (*) lũy kế từ khi hoạt động, (**) quỹ nước ngoài
Sau thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam đón nhận luồng vốn nước ngoài vào mạnh, thổi bùng sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Ở thời kỳ hoàng kim này, các quỹ đầu tư thu được những khoản lợi nhuận tương đối lớn Từ 2008, chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngay lập tức hầu hết các quỹ rơi vào tình trạng thua lỗ Trong thời điểm hiện nay, dưới sự biến động khôn lường của tình hình kinh tế thế giới, tăng trưởng trong nước chưa thực sự được phục hồi, niềm tin của các nhà đầu tư chưa được lấy lại, thị trường chứng khoán chưa có đà hồi phục mạnh, các quỹ giương cao mục tiêu bảo toàn NAV và chớp cơ hội kinh doanh, song thực trạng thua lỗ vẫn rất phổ biến Tuy nhiên, cũng có một số quỹ không những bảo toàn được vốn của mình mà còn có lãi, chứng tỏ ngoài môi trường vĩ mô ra còn có những nhân tố khác tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ Tất cả sẽ được làm rõ ở những mục tiếp theo
Một minh chứng nữa cho tình trạng làm ăn kém hiệu quả hiện nay của đa số các quỹ là các CCQ thường được giao dịch với mức chiết khấu khá lớn từ 40%-60%
3 Cơ cấu tài sản và các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các quỹ
a, Cơ cấu tài sản của các quỹ:
Bảng 3: Phân bố tài sản (%NAV) của quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam VF1
Cổ phiếu niêm yết
Cổ phiếu chưa niêm
Ứng trước đầu tư Tiền – Tàisản khác
Trang 92008 34,8 22,7 19,3 4,8 18,4
Bảng 4: Phân bố tài sản của VOF qua các năm 2007-2010
Cash and
Overseas equity
Private equity
OTC equity
Listed equity
Real estate
Bảng 5: phân bố tài sản (%NAV) của một số quỹ khác
2008 2009 2010 2008 2009 2010
Cổ phiếu niêm yết 8,24 36,64 54,04 92,91 94,04 93,60
Cổ phiếu chưa niêm yết 5,76 2,37 3,05 0,82 0,00 0,00 Trái phiếu 75,80 56,87 14,34 0,00 0,00 0,57 Tài sản khác và tiền 10,20 4,13 28,57 6,27 5,96 5,83
Như vậy, có thể thấy, các quỹ đầu tư chủ yếu vào các cổ phiểu niêm, loại tài sản này chiếm tỷ trọng cao nhất trong danh mục đầu tư Cổ phiếu niêm yết của các công ty lớn,
có mức tăng trưởng ổn định, tính thanh khoản cao, luôn là lựa chọn số một cho danh mục tài sản Bên cạnh đó, cổ phiếu chưa niêm yết cũng được chú trọng song thường bị thanh hoán trong thời kỳ khó khăn do lo ngại khả năng tăng trưởng của các cổ phiếu này Trong thời kỳ lạm phát cao và lãi suất lên cao ngất ngưởng như hiện nay, ảnh hưởng rất lớn đến thị giá của chứng khoán trong đó có trái phiếu, do đó tỷ trọng trái phiếu cũng được giảm
Trang 10dần Quỹ nước ngoài còn mạnh dạn đầu tư vào các dự án bất động sản, chiếm tỷ trọng cũng khá lớn, song cũng chỉ một số quỹ có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực này dám mạnh dạn đầu tư trưc tiếp
b, Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu
Bảng 6: Danh mục đầu tư theo các lĩnh vực của VF1 từ 2007-2010
Vật liệu, khai khoáng 11,5 12,2 15,3 28,4
Thực phẩm, nước giải khát 7,8 8,5 9,3 6,1
Bảng 7: Danh mục đầu tư theo các lĩnh vực của VOF từ 2007-2010
Tiền và tương đương tiền 11,0 3,8 13,2 10,5
Xây dựng và vật liệu 13,7 14,0 8,8 10,2
Qua xem xét đại diện hai quỹ VF1(quỹ trong nước) và VOF (quỹ nước ngoài), ta thấy lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các quỹ đầu tư là Bất động sản, Vật liệu khai khoáng,
Trang 11Tài chính ngân hàng, Hàng hóa tiêu dùng, …tùy theo diễn biến tình hình kinh tế từng năm, trong đó Bất động sản vẫn là lĩnh vực chiếm vị trí ưu tiên nhất
4 Các nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của các quỹ ở Việt Nam:
A, Môi trường vĩ mô
Biểu đồ 1: Diễn biến tình hình lạm phát Biểu đồ 2:Tình hình tăng trưởng tín dụng
Biểu đồ 3: Chỉ số vận tải đối với các cỡ tàu
Trang 12Biểu đồ 4: Giá phôi thép thế giới Biểu đồ 5: Biến động giá dầu thế giới
Tình hình lạm phát gia tăng gây khó khăn cho toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó tác động tới thị giá của các công cụ nợ, ảnh hưởng tới NAV của các quỹ đầu tư
Để kiềm chế lạm phát, chính phủ và các cơ quan chức năng, đặc biệt là NHNN và Bộ tài chính đã đưa ra các biện pháp như thắt chặt tín dụng, và cắt giảm chi tiêu… hạn chế luồng tiền vào lĩnh vực phi sản xuất làm cho bức tranh thị trường chứng khoán trở lên ảm đạm còn thị trường tín dụng đóng băng…Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới các khoản đầu tư của các quỹ
Giá cước vận chuyển tàu quốc tế diễn biến đi ngang, chưa có dấu hiệu phục hồi rõ rang làm thu nhập của các công ty vận tải biển khó tăng trưởng khả quan Giá dầu thế giới sau khi chạm đáy cuối năm 2008 đã phục hồi rất mạnh mẽ Điều này khuyến khích hoạt động khai thác, thăm dò của các công ty dầu khí, song lại đẩy chi phí sản xuất của