Các nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” do hoàn toàn tô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH LÀNH
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO LẬP
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP XÃ YÊN TRẠCH, HUYỆN CAO LỘC,
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH LÀNH
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO LẬP
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP XÃ YÊN TRẠCH, HUYỆN CAO LỘC,
TỈNH LẠNG SƠN
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN CÔNG QUÂN
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2014 - đến 2015 với sự hướng dẫn tận tình của
TS Trần Công Quân tôi đã hoàn thành xong khóa luận của mình
Các nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn: “Nghiên cứu cơ sở khoa
học cho lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” do hoàn toàn tôi điều tra đo đếm được và hết sức trung thực.
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Tác giả
Hoàng Minh Lành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi học viên, đó là thời gian để học viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Phòng quản lý đào tạo sau đại học - Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu cơ
sở khoa học cho lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn”
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực tập tốtnghiệp của tôi đã hoàn thành
Vậy tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn chúng tôi
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trần Công Quân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm on các ban ngành lãnh đạo UBND xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Son cùng người dân trong xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình thực tập để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm on tới gia đình, bạn bè đã luân động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Hoàng Minh Lành
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đ ề 1
2 Mục tiêu của đề tà i 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học, học tập 3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cở sở khoa học của đề tà i 4
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt N am 8
1.2.1 Tinh hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 23
1.3.1 Vị trí địa lý 23
1.3.2 Địa hình địa th ế 23
1.3.3 Khí hậu thuỷ văn 24
1.3.4 Địa chất và đất đai 25
1.3.5 Nghiên cứu về tình hình dân sinh kinh t ế 26
1.3.6 Nghiên cứu về cơ sở hạ tầng và văn hóa - xã h ộ i 26
1.4 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội xã Yên Trạch 28
1.5 Những điểm rút ra phục vụ cho nghiên cứu 29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
MỤC LỤC
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 30
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.3.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 32
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Thực trạng quản lý, sử dụng và phát triển lâm nghiệp tại xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 36
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã Yên Trạch 36
3.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng và các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Trạch 38
3.2 Những cơ sở cho lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp ở xã Yên Trạch 39
3.2.1 Cơ sở chính sách 39
3.2.2 Cơ sở kinh tế - xã hội 49
3.2.3 Cơ sở kỹ thuật 57
3.3 Phân tích quá trình lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp tại địa phương 60
3.3.1 Các căn cứ tiến hành lập kế hoạch 60
3.3.2 Trình tự tiến hành lập kế hoạch đã áp dụng tại địa phương 60
3.4 Đề xuất một số ý kiến cho công tác lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nông nghiệp tại địa phương 70
3.4.1 Những điểm hạn chế chủ yếu của quá trình lập kế hoạch 70
3.4.2 Ý kiến đề xuất về căn cứ xây dựng phương án lập kế hoạch 71
3.4.3 Ý kiến đề xuất một số bước trong quá trình lập kế hoạch 71
3.4.4 Ý kiến đề xuất về mặt kỹ thuật 73
3.5 Giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 83
3.5.1 Về chính sách 83
3.5.2 Về quản lý sử dụng đất 83
3.5.3 Thực hiện tuyên truyền giáo dục 83
3.5.4 Giải pháp về vố n 83
Trang 7KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Tồn tạ i 86
3 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khí hậu bình quân của tháng trong n ăm 25
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất của xã Yên Trạch 36
Bảng 3.2 Biến động cơ cấu đất đai của xã Yên Trạch 44
Bảng 3.3 Sự thay đổi về hoàn cảnh kinh tế 47
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất theo chủ quản lý (2014) 48
Bảng 3.5 Biến đổi trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 49
Bảng 3.6 Bảng chu chuyển đất 50
Bảng 3.7 Một số hình thức sử dụng đ ất 51
Bảng 3.8 Biến động tài nguyên rừng và đất rừng 52
Bảng 3.9 Giá cả và khả năng tiêu thụ các loại sản phẩm lâm nghiệp chủ y ếu 55
Bảng 3.10 Tóm tắt quá trình lập kế hoạch đã áp dụng tại địa phương 61
Bảng 3.11 Ý kiến đề xuất một số bước trong quá trình lập kế hoạch 72
Bảng 3.12 Chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng đến năm 2016 81
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9Hình 3.1 Biểu đồ hiện trạng sử dụng các loại đất 37
Hình 3.2 Biểu đồ biến động cơ cấu đất đai của xã Yên Trạch 45
Hình 3.3 Biểu đồ mô tả thay đổi về hoàn cảnh kinh tế 47
Hình 3.4 Mô hình rừng Thông đuôi ngựa 53
Hình 3.5 Mô hình rừng Hồi 56
Hình 3.6 Họp thôn tại Ủy Ban xã Yên Trạch 65
Hình 3.7 Đắp sa bàn thôn Khuổi Cải, xã Yên Trạch 67
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân
cư, xây dựng các công trình kinh tế - văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng Đất
đai có những tính chất đặc trưng khiến nó không giống bất kỳ tư liệu sản xuất nào,
nó vừa cung cấp nguồn nước, dự trữ nguyên vật liệu khoáng sản, là không gian của
sự sống, bảo tồn sự sống Do đó, để quản lý đất đai một cách hợp lý thì Nhà nước
phải ban hành các chính sách về quản lý và sử dụng đất đai từ trung ương đến địa
phương để sử dụng đất đai một cách có hiệu quả và lâu bền
Theo điều 3 luật đất đai năm 2013 QHSD đất là việc phân bố và khoanh
vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội,
quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở
tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng
kinh tế - xã hội là đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định Kế hoạch
sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện
trong kỳ QHSD đất Và việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tập trungvào những xã có biến động, những xã ở vùng giáp ranh hay những xã nằm trong
khu vực tương lai sẽ bị đô thị hóa Nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp xã đượclồng ghép vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện Việc lồng ghép không chỉ đảm bảo
quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn cấp xã mà còn khắc phục được tính thiếuliên kết, đồng bộ giữa các xã trên địa bàn huyện như hiện nay
Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện rõ tại khoản 2
Điều 35 Luật Đất đai năm 2013 Đó là “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải
đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế-xã hội; quy hoạch sử dụng đất
cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất cấp xã.”
Tại Điều 43 Luật Đất đai năm 2013 quy định cơ quan tổ chức lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quy định cụ thể về hình thức, nội dung, thời gian
lấy ý kiến nhân dân; trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến của nhân dân trong quá
Trang 11trình lập quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các cấp nhằm tăng cường hơn tínhcông khai, dân chủ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định, phê duyệt phải được công bố và công khai trong suốt kỳ
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính minh bạch để các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan biết và nhân dân giám sát thực hiện
Yên Trạch là xã miền núi nằm ở phía nam của huyện Cao Lộc , tỉnh Lạng
Sơn, cách trung tâm huyện lỵ 8 km Toàn xã có 12 thôn, dân số 5.390 nhân khẩu
với tổng diện tích đất tự nhiên là 4.244,46 ha, chủ yếu là đất đỏ Feralit đỏ vàng phát
triển phiến thạch sét, đất Lâm nghiệp chiếm 81,22% diện tích đất tự nhiên, với diện
tích 3.447,43 ha Nhìn chung cơ sở hạ tầng của xã Yên Trạch còn nhiều bất cập,
như: Giao thông đi lại khó khăn, đường điện nhiều chỗ mang tính tạm bợ Đặc biệt
đất đai sử dụng chưa thực sự có hiệu quả Đặc biệt đất lâm nghiệp chưa có kế hoạch
sử dụng rõ ràng và cụ thể, còn nhiều tồn tại như: việc lập kế hoạch sử dụng đất còn
hạn chế sự tham gia của người dân, không có sự hài hòa giữa nhu cầu sử dụng đất
của người dân địa phương và ưu tiên của Chính phủ trong sử dụng đất đai Do dân
số tăng nhanh, cùng với sự phát triển của xã hội đã gây sức ép không nhỏ tới nhu
cầu sử dụng đất đai Những hạn chế trên đây một phần là do công tác lập kế hoạch
sử dụng đất trước đây của xã có nhiều điểm chưa phù hợp Do nhận thức của nhiều
người dân về quan hệ đất đai không phù hợp với quy định của pháp luật vẫn còn
tồn tại các phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, luật tục về đất đai, thiếu
căn cứ pháp lý đang chi phối sinh hoạt kinh tế - xã hội ở địa phương
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài :
“Nghiên cứu cơ sở khoa học cho lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp
xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” nhằm góp phần vào phát triển cơ
sở lý luận và lập kế hoạch sử dụng đất cho sản xuất lâm nghiệp ở phạm vi cấp xã,
đồng thời góp phần vào việc quản lý sử dụng đất một cách hiệu quả ở mỗi địa phương
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn về sử dụng đất lâm nghiệp của xã Yên
Trạch, xây dựng bản đề xuất lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp bền vững tại địa
bàn nghiên cứu
Trang 122.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng và phát triển lâm nghiệp tại xã Yên
Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Xác định các cơ sở khoa học cho công tác lập kế hoạch sử dụng đất lâmnghiệp tại địa phương
- Đề xuất hướng lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp của xã Yên Trạch,
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học, học tập
- Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần cơ sở lý luận về lập kếhoạch sử dụng đất cấp xã
- Thông qua phân tích thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của xã, cơ sở khoa
học đề tài đề xuất phương hướng cho việc lập kế hoạch sử dụng đất cấp xã
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu quan trọng đánh giá đúng thực trạng, hiệuquả sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc
- Đề tài là tài liệu tham khảo về lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp có sự
tham gia của người dân
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cở sở khoa học của đề tài
Đất đai là loại tài nguyên được sử dụng cho tất cả các ngành kinh tế - xã hội,
nó là điều kiện tồn tại và phát triển của con người.Trong tiến trình lịch sử của xã hội
loài người, con người và đất đai ngày càng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đất đai trở
thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đất đai để tạo ra sản
phẩm để nuôi sống mình và gia đình mình Khi xã hội càng phát triển thì quan hệ
giữa con người và đất đai ngày càng cao, con người ngày càng tác động mạnh vào
đất đai để khai thác, khám phá “kho báu” không những trên mặt đất mà cả trong
lòng đất Trong khi đó, đất đai lại là một tài nguyên có hạn, nó không thể sản sinh
thông qua sản xuất nhưng nó lại có khả năng tái tạo được thông qua sự tác động
khoa học của con người Điều này nói lên rằng, cùng với sự tiến bộ xã hội thì con
người càng cần phải có những tác động tích cực tới loại tài nguyên này một cách
khoa học, hợp lý và tiết kiệm để không những đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sử
dụng đất mà còn đảm bảo an toàn quỹ đất đai, bảo vệ môi trường sống không những
cho hiện tại mà cho cả tương lai
Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay, khi đất đai trở nên có giá thì việc hình
thành thị trường “ngầm” về đất đai là một điều không thể tránh khỏi, nó đã tác động
lớn tới việc phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt nó kìm hãm mạnh tới sự hình thành
và phát triển thị trường bất động sản ở nước ta Chính vì vậy cần có sự quản lý của
nhà nước đối với đất đai một cách nghiêm ngặt cho từng mục đích và ý đồ của
mình Một trong những nội dung đó là công tác lập kế hoạch sử dụng đất Việc lập
kế hoạch sử dụng đất là cơ sở pháp lý để nhà nước thống nhất quản lý quỹ đất đai,
phân bổ việc sử dụng đất một cách hợp lý phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế
xã hội của từng địa phương cũng như trong cả nước trong một thời gian nhất định
nhằm đem lại những điều kiện tốt nhất cho dân cư và góp phần nâng cao việc sửdụng đất
Từ năm 1991 đến năm 2000 phần lớn các xã đã tiến hành phân chia địa giới
hành chính và tiến hành phân bổ đất đai cho phát triển sản xuất lâm nông nghiệp
Trang 14theo quyết định 364/CT [8] của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và thông tư
106/QHTK [36] Từ đó tiến hành áp dụng các phương pháp quy hoạch nhằm đưa ra
những phương pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho từng địa
phương Dựa vào quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước phân bổ hợp lý đất đai cho các
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hình thành cơ cấu sử dụng đất đai phù hợp với cơ
cấu kinh tế, khai thác được tiềm năng đất đai và sử dụng đúng mục đích Nhất là
trong giai đọan hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tiến hành công cuộc
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhiều nhu cầu khác nhau đã gây áp lực mạnh mẽ
đối với tài nguyên đất Chính vì vậy công tác lập kế hoạch sử dụng đất luôn được
chú trọng và coi là nhiệm vụ chiến lược trong việc quản lý đất đai
Theo điều 3 luật đất đai năm 2013, QH&KHSD đất là việc phân bố vàkhoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng của các ngành, lĩnh vực đối với
từng vùng kinh tế - xã hội là đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác
định Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian
để thực hiện trong kỳ QH&KHSD đất đất Và việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất được tập trung vào những xã có biến động, những xã ở vùng giáp ranh hay
những xã nằm trong khu vực tương lai sẽ bị đô thị hóa Nội dung quy hoạch sử
dụng đất cấp xã được lồng ghép vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện Việc lồng
ghép không chỉ đảm bảo quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn cấp xã mà còn
khắc phục được tính thiếu liên kết, đồng bộ giữa các xã trên địa bàn huyện
Nguyên tắc lập QH&KHSD đất được thể hiện rõ tại khoản 2 Điều 35 Luật
Đất đai năm 2013 Đó là “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính
đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế-xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải
thể hiện nội dung sử dụng đất cấp xã.”
Tại Điều 43 Luật Đất đai năm 2013 quy định cơ quan tổ chức lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về
QH&KHSD đất Quy định cụ thể về hình thức, nội dung, thời gian lấy ý kiến nhân
dân; trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến của nhân dân trong quá trình lập quy
Trang 15hoạch sử dụng đất đối với tất cả các cấp nhằm tăng cường hơn tính công khai, dân
chủ QH&KHSD đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phêduyệt phải được công bố và công khai trong suốt kỳ QH&KHSD đất nhằm nâng cao
tính minh bạch để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết và nhân dân giám
sát thực hiện
Kế hoạch sử dụng đất đai được lập theo các cấp lãnh thổ hành chính và theo
ngành, nhưng phải có sự kết hợp chặt chẽ và phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân ( không phụ
thuộc vào cơ cấu quản lý cũng như hình thức trực thuộc )
Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên một địa bàn nhất định
Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất đai hợp lý trên địa bàn cả nước, trong các
ngành và trên từng địa bàn lãnh thổ
Đạt hiệu quả đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường
Kế hoạch sử dụng đất đai theo ngành và cả nước phải đảm bảo thực hiện
được các mục tiêu vĩ mô như : an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, công bằng xã
hội Còn kế hoạch theo lãnh thổ hành chính phải cụ thể hóa các mục tiêu vĩ mô,
cùng với việc xử lý các mục tiêu cụ thể cả địa phương và các vấn đề cụ thể của từng
chủ sử dụng trên đất địa bàn
Kế hoạch sử dụng đất đai phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội
dựa trên mục tiêu chung nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhân dân về tinh thần và vật
chất Tuy nhiên cần lưu ý các điểm khác biệt : Kế hoạch sử dụng đất đai chú trọng
phát triển hình thức thời gian nhưng nội dung lại được triển khai với hình thứckhông gian nhất định Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là tiền đề của kế hoạch sử
dụng đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai là thực hiện hóa kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội nhằm bố trí không gian thống nhất đối với các hạng mục liên quan đến đất
đai ( xây dựng, khai hoang, chuyển mục đích sử dụng đ ấ t ) trong thời kỳ kế hoạch
Thời hạn lập kế hoạch sử dụng đất đai thống nhất với thời hạn lập kế hoạch
phát triển kinh tế, xã hội của các ngành và các cấp lãnh thổ hành chính, gồm kếhoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm
Trang 16Theo điều 6 của nghị định số 181/2004/NĐ - CP về thi hành luật đất đai thì
đất đai được phân loại ra làm 3 nhóm : nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông
nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Tuy nhiên hệ thống chính sách phức tạp, không
thống nhất và khó áp dụng vào điều kiện cụ thể ở từng địa phương Sự phân định
ranh giới trên thực địa, tiêu chuẩn phân chia các loại đất, các loại rừng chưa cụ thể
gây khó khăn cho công tác quy hoạch cũng như phân bổ sử dụng đất đai giữa các
ngành sản xuất [13]
Theo điều 25 luật đất đai năm 2013 kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị
trấn được lập chi tiết gắn liền với thửa đất gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết, trong
quá trình lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện lập kế hoạch
sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân
QH&KHSD đất đòi hỏi phải là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạonhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử
dụng đất nhất định QH&KHSD đất là hệ thống các biện pháp của nhà nước về tổ
chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất
thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường
Theo Nguyễn Bá Ngãi (2001) cho rằng: phương pháp đánh giá nông thôn có
sự tham gia của người dân (PRA) là công cụ rất tốt, có hiệu quả, đảm bảo tính khả
thi cho bản quy hoạch vào trong các giai đoạn của quá trình quy hoạch như: điều tra
tự nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá hiện trạng, xác định nhu cầu về đất đai, đánh giá
đất đai, phân tích hệ thống canh tác, phân chia 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ,
phân bổ đất đai và tiến hành quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp thôn bản và
xã Mỗi giai đoạn cần lựa chọn các công cụ thích hợp như: xây dựng sa bàn thôn
bản, thảo luận bên sa bàn, điều tra tuyến, phân tích biểu đồ hướng thời gian mô tả
diễn biến tình hình sử dụng đất [26]
Quy hoạch đất đai là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng
đất Trong tất cả các loại quy hoạch, các mục tiêu quan điểm và các chỉ tiêu tổng
quát của nó đều phải được cụ thể hoá để đưa vào thực tiễn và việc cụ thể hoá đó là
thông qua kế hoạch Do đó việc xây dựng kế hoạch là phải dựa vào quy hoạch, coi
Trang 17quy hoạch là một trong các căn cứ không thể thiếu được của kế hoạch Quy hoạch
càng có cơ sở khoa học, càng chính xác bao nhiêu thì kế hoạch càng có điều kiện để
thực hiện bấy nhiêu Như vậy QH&KHSD đất có vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy việc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai là sự cần thiết, không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tinh hình nghiên cứu trên thế giới
Khoa học về đất đai đã trải qua hơn một trăm năm nghiên cứu và phát triển,
những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng
làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách hiệu quả
Hiện nay trên thế giới có khoảng 6,2 tỷ người, theo tài liệu của FAO thì trên
thế giới đang sử dụng 1,476 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đất có độ dốc (đất đồi
núi) là 973 triệu ha chiếm 65,9% Trong số này đất có độ dốc 10o chiếm 63,77
triệu ha chiếm 25,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989) Trong quá trình sử
dụng nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất Norman Myers (1993) ướclượng hàng năm toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên
nhân: xói mòn, sa mạc hoá, nhiễm độc hoặc chuyển sang các dạng khác
Năm 1980, tổ chức FAO thông báo tình hình sử dụng đất nông nghiệp toàn
thế giới với các loại hình quảng canh và du canh chiếm 45% Tỷ lệ này quá lớn đã
làm hạn chế việc khai thác tiềm năng cây trồng làm đất đai bị suy thoái Đó là
nguyên nhân chính làm mất rừng đe dọa nghiêm trọng tới môi trường sống [59]
Nạn phá rừng diễn ra trầm trọng ở 56 nước nhiệt đới UNDP và ngân hàng
thế giới cho rằng với tốc độ phá rừng như vậy, hàng năm thế giới sẽ mất đi 12 tỷ tấn
đất, với lượng mất đi như vậy có thể sản xuất ra khoảng 50 triệu tấn lương thực,
hàng ngàn hồ chứa nước vùng nhiệt đới đang bị cạn dần, tuổi thọ nhiều công trình
nhiệt đới đang bị rút ngắn [19]
Trên quan điểm hệ thống, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình, hệ
thống sử dụng đất và ban hành nhiều tài liệu hướng dẫn, đánh giá đất đai cho một
loạt các loại hình sử dụng đất chủ yếu như : Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước
Trang 18trời (Land evaluation for rainfed Agriculture, 1993) [58]; Đánh giá đất cho lâm nghiệp (Land evaluation for forestry, 1984) [58]; Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới (Land evaluation irrigated agriculture, 1985); Đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive farming, 1989), hướng dẫn QH&KHSD đất (Guidelines for Land use planning, 1993) [56].
Phương pháp mà FAO đã đề xuất trong nghiên cứu đánh giá đất đai và sử dụng đất trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, KTXH và có tính đến hiệu quả của các loại hình sử dụng đất Nhìn chung quá trình đánh giá đất đai của FAO cơ bản gồm các bước sau:
(1) Xác định mục tiêu
(2) Thu thập số liệu, tài liệu liên quan
(3) Xác định loại hình sử dụng đất
(4) Xác định và xây dựng bản đồ đất
(5) Đánh giá mức độ thích hợp của loại hình sử dụng đất
(6) Xem xét tác động môi trường tự nhiên, KTXH
(7) Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp
Phương pháp trên đây đã được nhiều quốc gia thử nghiệm và thừa nhận là phương tiện tốt để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy và kế hoạch sử dụng đất các cấp
* v ề hệ thống cây trồng: những hoạt động đặc thù của nông nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi, vì thế nông nghiệp còn được định nghĩa một cách khác là sinh học
áp dụng cho việc trồng trọt vào chăn nuôi
Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI, 1990) cho rằng hệ thống canh tác là một tập hợp các đơn vị chức năng riêng biệt là: hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị (1980) Hoặc là “hình thức tập hợp của một đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở mọi môi trường nhất định, bằng những phương pháp công nghệ sản xuất làm
ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp”
Trang 19Theo Gofman (1969):
+ Sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện ở Thái Lan vào khoảng 7000 - 9000
năm trước công nguyên (TCN): trồng ngũ cốc ở chân đồi, cấy lúa ở thung lũng +
Trồng lúa mì + đại mạch + nuôi dê đã có ở Tây Á vào khoảng 6000 năm TCN
+ Lúa nước + nuôi lợn + gà đã có ở Đông Nam Á vào khoảng 3000 năm TCN
- Theo Grigg (1974): ở Bắc và Trung Mỹ bắt đầu trồng ngô vào khoảng 6000
năm TCN, trồng đậu cô ve, bí đỏ vào khoảng 3000 năm TCN, sắn, lạc, khoai tây bắt
+ Ở Tây Âu, cuộc cách mạng nông nghiệp cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 thay
cho chế độ độc canh bằng chế độ luân canh đã mở đầu cho những thay đổi lớn trong
cơ cấu cây trồng
+ Ở châu Á chế độ xen canh gối vụ truyền thống được chú ý nghiên cứu,
phát triển và nâng cao, năm 1969 Hàn Quốc và Đài Loan đạt chỉ số thâm canh tăng
vụ 1,5 và 1,8 lần, cao nhất ở châu Á
+ Phương thức Tuangya truyền thống của Myanmar trước tiên được Dictaich
Brandis vận dụng trong việc tái sinh rừng Tếch từ cuối thế kỷ 19, sau đó đã nhanh
chóng được bổ sung hoàn thiện và phổ biến trên toàn thế giới với tên gọi chung là
NLKH, được coi là hệ thống sử dụng đất có hiệu quả cả về kinh tế và môi trường
sinh thái FAO (1990) thông báo đã có 117 quốc gia trên thế giới áp dụng phương
pháp này [17]
* Về nghiên cứu hệ thống canh tác: có hai trường phái chính trong nghiên
cứu hệ thống canh tác đó là phương pháp dùng cho các nước nói tiếng Anh(Anglophon Farming Systems Research) và phương pháp dùng cho các nước nói
tiếng Pháp (Fancophone Farming Systems Research) Nghiên cứu hệ thống canh tác
cho các nước nói tiếng Pháp, xét cả về thời gian và cấp nghiên cứu phù hợp tốt hơn
đối với quy và kế hoạch sử dụng đất cấp vi mô
Trang 20LEFSA là phương pháp kết hợp giữa đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho lập kế hoạch sử dụng đất cấp vi mô đã nghiên cứu và áp dụng LEFSA tại Thái Lan.
FAO (1976) đã đề xuất cấu trúc khung quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đất với 10 điểm chính [58]
Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch
Năm 1985 một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về quy và kế hoạch sử dụng đất đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đất đai
Trong cuốn hệ thống canh tác của FAO xuất bản năm 1990 (Farming system development) Công trình đã khái quát phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều (từ trên xuống), không phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn Thông qua nghiên cứu và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới - phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững Hệ thống nông trại là các nông hộ được chia thành 3 phần cơ bản, các bộphận này liên kết chặt chẽ trong mối tác động qua lại [17]:
Nông hộ - đơn vị ra quyết định
Trang trại và các hoạt động
Các thành phần ngoài trang trại
* Về mặt phương pháp luận: (Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân): trong nghiên cứu các hệ thống canh tác, theo Robert Chambers (1985), có các cách tiếp cận sau đây [42,22,23]:
+ Tiếp cận Sondeo của Peter Hildebrand - (Hildebrand,1981)
+ Tiếp cận “Nông thôn trở lại về nông thôn” của Robert Rhoades (Rhoades, 1982)
-+ Cách sử dụng cụm kiến nghị của L.W Harrington (Harrington, 1984)
Trang 21+ Cách tiếp cận theo tài liệu của Robert Chambers: “Nghiên cứu nông nghiệp
cho nông dân nghèo” phần 2: Một hệ biến hoá tồi tệ (đồng tác giả Javice Jiggins,
trong Agricultural Administration and Extention, 1927)
+ Cách tiếp cận “Chẩn đoán và thiết kế" của ICRAF (Rainree)
+ Chương trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo vùng hệ canh tác
của trường Đại học Cornel (Garrett và đồng tác giả, 1987)
Nhìn chung, các phương pháp tiếp cận đều xem đánh giá nhanh nông thôn
như là một quá trình học tập liên tục và đang tiếp diễn Các kết quả của mỗi giaiđoạn đều được sử dụng để đánh giá lại các vấn đề và các biện pháp đã dự kiến
Nhiều kỹ thuật điều tra và phỏng vấn xây dựng qua các tiếp cận có khả năng
áp dụng tốt đối với lâm nghiệp cộng đồng, đặc biệt là có nhu cầu cần hệ canh tác
như là một tổng thể và xem xét các vấn đề theo quan điểm của nông dân cá thể và
cả cộng đồng nhóm, cần hiểu các vấn đề về sử dụng đất tác động tới các đề xuất của
nông dân như thế nào? Những ràng buộc đặc biệt với “nông dân nghèo” cũng rất
quan trọng trong việc thiết kế các biện pháp can thiệp về trồng cây nông nghiệp và
lâm nghiệp, về cải tạo đồng cỏ chăn nuôi, hoặc các đầu vào nguồn lực chung, yêu
cầu cần phải có sự đóng góp lao động của cộng đồng
Về mặt phương pháp, hướng dẫn chung về nghiên cứu các hệ canh tác quan
tâm nhiều tới việc [42,23] :
Cung cấp các chỉ dẫn để xây dựng một khung cảnh đáng tin cậy nhằm tiến
hành phỏng vấn
Tiếp thu thông tin theo các phạm trù quen thuộc ở địa phương, đặc biệt là
các mặt cân, đo và ước tính thời gian
Tạo nên việc liên hệ tốt với người phải trả lời trước khi đi vào các vấn đề tế nhị
Khuyến khích người được hỏi tham gia thảo luận về các lĩnh vực quan trọng
đối với họ
Thảo luận các kết quả trong suốt quá trình phỏng vấn cùng với cả tổ
Kiểm tra chéo thông tin qua quan sát trực tiếp và sử dụng các kỹ thuật lấy mẫu
Thực ra “sự tham gia” (Participation) và “người tham gia” (Participatory),
xuất hiện và đưa vào từ vựng của RRA từ giữa thập kỷ 70
Trang 22Năm 1985, tại hội nghị PRA ở Đại học KhonKean (Thái Lan) từ “sự tham
gia/người tham gia” được sử dụng với sự tiếp tục của RRA
Từ thời điểm năm 1987 đến năm 1988, người ta chia ra 4 loại PRA:
+ RRA thăm dò (Exploratory RRA)
+ RRA chủ đề (Topical RRA)
+ RRA giám sát (Monitoring RRA)
+ RRA cùng tham gia (Paticipatory RRA)
Trong đó RRA cùng tham gia là quá trình chuyển đổi từ RRA sang PRA
Trong năm 1988, tại hai điểm trên thế giới thực hiện 2 chương trình phát
triển nông thôn: (1) Ở Kenya, văn phòng Môi trường quốc gia hợp tác với trường
Đại học Clack thực hiện RRA cùng tham gia tại một cộng đồng ở huyện Machakos
Một kế hoạch quản lý tài nguyên thiên nhiên cấp thôn, bản được xây dựng
vào tháng 9 năm 1988 Sau đó, người ta mô tả RRA này như là một PRA và đưa ra
mộtphương pháp xây dựng kế hoạch thôn bản (2) chương trình hỗ trợ phát triển
nông thôn Aga Khan (Ân Độ), bắt đầu sử dụng PRA có sự tham gia của người dân
Như vậy, PRA được hình thành ở cùng một thời điểm (1988), tại Kenya và
Ân Độ
Vào thời điểm từ năm 1990 đến năm 1991, là cuộc bùng nổ sử dụng PRA tại
Ân Độ vào các chương trình, dự án phát triển nông thôn như: Nepal, Thailand,
Philippine, Trung Quốc [45]
Tiếp theo đó là sự tiếp nhận PRA của các tổ chức quốc tế như: IIDE, FordFoundation, SIDA Hiện tại đã có tài liệu chuyên khảo PRA ở mức độ quốc tế
Đến năm 1994 đã có 2 cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại ấn Độ, đến nay cóhơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào phát triển các lĩnh vực:
+ Quản lý tài nguyên thiên nhiên
+ Nông nghiệp
+ Các chương trình xã hội xoá đói giảm nghèo
+ Y tế và an toàn lương thực
Trang 23Cho đến nay, đã có hơn 100 cộng đồng đã sử dụng PRA vào lập kế hoạchthực hiện, giám sát và đánh giá Nhiều cộng đồng đã thực hiện PRA vòng 2, 3, 4 để
tiếp tục thực hiện các hoạt động của thôn bản
v ề QH&KHSD đất có sự tham gia của người dân được đề cập khá đầy đủ và
toàn diện trong tài liệu hội thảo VFC - TV Dresden, 1998 của Tiến sỹ Holm Uibrig
Phương pháp tiếp cận mới QH&KHSD đất đai
Chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998) - Tài liệu hội thảo về
QH&KHSD đất cấp làng, bản (Land use planning at village level) của FAO đã đề
cập một cách chi tiết khái niệm về sự tham gia, đề xuất các chiến lược quy hoạch và
kế hoạch sử dụng đất đai và giao đất cấp làng, bản [11] v ề cơ bản chiến lược nêu:
Sự tham gia của người dân trong những hoạt động thực thi quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất đai và giao đất:
+ Đào tạo cán bộ và chuẩn bị
+ Hội nghị làng và chuẩn bị
Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và xâydựng bản đồ sử dụng đất
+ Thu thập số liệu và phân tích
+ Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai và giao đất
+ Xác định đất canh tác nông nghiệp
+ Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển nhượng
đất nông - lâm nghiệp
+ Mở rộng quản lý và sử dụng đất
+ Kiểm tra và đánh giá [58]
Trên đây là những nghiên cứu và những tài liệu liên quan tới vấn đề sử dụng
đất đai, hệ thống sử dụng đất, hệ thống canh tác và hệ thống cây trồng cùng phương
Trang 24pháp tiếp cận nông thôn mới trên thế giới đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều
quốc gia, có thể coi đó là cơ sở lý luận và thực thiễn để các nước vận dụng trong
quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai cấp vi mô Những tài liệu hướng dẫn trên là
phương tiện tiến hành quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai cho cấp xã, cấp làng,
bản và HGĐ theo phương pháp cùng tham gia
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ quan trọng để
Nhà nước thống nhất quản lý đối với toàn bộ đất đai, đảm bảo cho đất đai được sử
dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả [3]
Hiến pháp nước CHXHCN VN năm 1992 nêu "Nhà nước thống nhất quản lý
toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, HGĐ và cá nhân sử dụng lâu dài "
[32].Theo luật đất đai năm 1993 cho rằng [19]: "Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các địa bàn dân cư, xây dựng các cơ sở, kinh tế
văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng" Cho nên đất đai chính là một tư liệu sản
xuất không có gì thay thế được
Luật đất đai năm 2013 quy định việc QH&KHSD đất đai là việc hoạch định
hoặc điều chỉnh đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh
tế - xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước, là sự tính toán, phân bổ
việc sử dụng đất cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí không gian Mục tiêu của việc
quy hoạch đất đai là xây dựng cơ sở khoa học làm căn cứ cho việc xây dựng kế
hoạch sử dụng đất, nhằm lựa chọn phương án sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất về
kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng [53]
Sang giai đoạn 1955 đến 1975, cả hai miền Bắc - Nam đều đã chú ý vào
phân loại đất đai Từ sau năm 1975, về nghiên cứu đánh giá đất đai gắn liền vớimục tiêu sử dụng đạt được nhiều thành tích, nhất là từ sau năm 1980, với những
công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai do FAO đề xuất
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu phân hạng đất dựa trên cơ sở vùng địa lý
thổ nhưỡng, cây trồng, tính đặc thù của địa phương, trình độ thâm canh và năng suất
Trang 25cây nông nghiệp Những thành tựu nghiên cứu về đất đai trong giai đoạn trên, là cơ
sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một
cách có hiệu quả trong cả nước
Tuy nhiên, nông nghiệp ở nước ta, vấn đề quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
đai cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu và ứng dụng
trong những năm gần đây Về cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch và kế hoạch
sử dụng đất đai cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều công trình
nghiên cứu, song mức độ đề cập có khác nhau, chưa được tổng hợp và phân tích,
đánh giá, tập hợp thành cơ sở lý luận và thực tiễn Nghiên cứu đầy đủ nhất về quyhoạch và kế hoạch sử dụng đất đai cấp xã ở Việt Nam đã được các tác giả: Vũ
Nhâm (1998) - nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất đai cấp vi mô
Nguyễn Bá Ngãi (2001) cho rằng: phương pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của người dân (PRA) là công cụ rất tốt, có hiệu quả, đảm bảo tính khả thi
cho bản quy hoạch vào trong các giai đoạn của quá trình quy hoạch như: điều tra tự
nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá hiện trạng, xác định nhu cầu về đất đai, đánh giá đất
đai, phân tích hệ thống canh tác, phân chia 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ, phân
bổ đất đai và tiến hành quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp thôn bản và xã
Mỗi giai đoạn cần lựa chọn các công cụ thích hợp như: xây dựng sa bàn thôn bản,
thảo luận bên sa bàn, điều tra tuyến, phân tích biểu đồ hướng thời gian mô tả diễn
biến tình hình sử dụng đất [26]
Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) đã nêu rõ: xã được coi là đơn vị quản lý
hành chính nhỏ bé nhất, là đơn vị quản lý và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các
thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Công tác quy hoạch cần giải quyết những nội
dung sản xuất, các giải pháp kinh tế, kỹ thuật và xã hội thật chi tiết cụ thể Ngoài ra,
cần phải ước tính được đầu tư, nguồn vốn và hiệu quả đầu tư về các mặt kinh tế, xã
hội và môi trường [55]
Trong công trình sử dụng đất tổng hợp và bền vững của Nguyễn Xuân Quát
(1996), công trình đã nêu lên [32]:
+ Những điều cần biết về đất đai
Trang 26+ Tình hình sử dụng đất đai ở Việt Nam, thế nào là sử dụng đất tổng hợp và bền vững.
+ Các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững
+ Mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng
+ Cây trồng trong mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững
Nguyễn Ngọc Bình (1996), trong công trình - Đất rừng Việt Nam đã trìnhbày [1]:
+ Quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng
+ Những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam
Bùi Quang Toản (1996), trong công trình quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta, đã phân tích mở rộng đất nông nghiệp vùng đồi trung du [41]
Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997), trong chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của trường ĐHLN - Khái niệm về các hệ thống sử dụng đất (phần các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bền vững) - Các tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản về hệ thống sử dụng đất bền vững:
+ Tiềm năng đất vùng trung du
+ Hiện trạng sử dụng đất trung du
+ Các kiến nghị về sử dụng bền vững [54]
Quan điểm về vấn đề hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập trong chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, trường ĐHLN, các tác giả Hà Quang
Trang 27Khải, Đặng Văn Phụ (1997), dựa trên quan điểm về hệ thống sử dụng đất của FAO
Nghiên cứu hệ thống canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau ngày
thống nhất đất nước Tổng cục địa chính đã tiến hành tổng kiểm kê quỹ đất bốn lần
vào các năm 1978, 1985, 1995, 2000) Năm 1988, Viện Khoa học và kỹ thuật nông
nghiệp Việt Nam đề xuất 3 hệ thống canh tác trên quan điểm nông nghiệp sinh thái
là: hệ canh tác vùng đất trũng, hệ canh tác vùng ven biển, và hệ canh tác đồi gò làm
cơ sở cho việc xây dựng hệ thống cây trồng
Nguyễn Bá Ngãi (2001), nghiên cứu phương pháp quy hoạch phát triển nông
lâm nghiệp cấp xã, kết hợp đánh giá đất đai (LE) với phương pháp phân tích hệ
thống canh tác (FSA) để đánh giá tiềm năng đất đai, xây dựng bản đồ lập địa cấp
xã, phân tích lựa chọn cây trồng là phù hợp [26]
Đào Thế Tuấn (1989), nghiên cứu hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông
Hồng đã phát hiện hàng loạt vấn đề tồn tại và nguyên nhân của nó và đề xuất cácmục tiêu, giải pháp khắc phục [47]
Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Đức Viên (1993),
trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình hệ thống nông nghiệp Ngoài
phần hệ thống hoá kiến thức về hệ thống nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất hướng
chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp Việt Nam
gồm các hệ phụ: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, quản lý, lưu thông,phân phối [39] Công trình đã hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu nông nghiệp
trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Về hệ thống cây trồng, đầu thập kỷ 60, Đào Thế Tuấn cùng các Nhà nghiên
cứu của Viện Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu đưa lúa
Trang 28xuân với các giống ngắn ngày và tập đoàn cây trồng vụ đông vào chân đất hai vụ
lúa, đưa cây màu vụ đông xuân vào chân đất một vụ lúa mùa đã tạo nên sự
chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm, trước hết là đồng bằng sông
Hồng, sau đó là các vùng phụ cận góp phần tăng năng suất và hiệu suất sử dụng đất
nông nghiệp Đào Thế Tuấn (1977), Lý Nhạc, Đặng Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh
(1987), khi nghiên cứu hệ thống cây trồng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống
cây trồng với khí hậu, đất đai, loại cây trồng, quần thể sinh vật và hệ thống canh tác
Lê Trọng (1993), cho rằng: Vấn đề kinh tế thị trường và quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất đai cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường đã được đề cập trong
công trình phát triển và quản lý trang trại trong kinh tế thị trường, cụ thể:
+ Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường
+ Tính tất yếu của sự phát triển trang trại trong kinh tế thị trường
+ Những vấn đề cơ bản về quản lý trang trại trong kinh tế thị trường
+ Thực trạng về phát triển trang trại ở nước ta hiện nay và một số bài học về
quản lý trang trại trong kinh tế thị trường [43]
Về định hướng QH&KHSD đất cả nước đến năm 2000, được Tổng cục địa
chính (1994), xây dựng định hướng QH&KHSD đất cả nước đến năm 2000 và kế
hoạch giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác
Báo cáo đã đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến
năm 2000 làm căn cứ để các ngành và địa phương triển khai thống nhất công tác
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai [36]
Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả theo quan
điểm sinh thái và phát triển lâu bền, Nguyễn Huy Phồn (1997), trong luận án Phó
tiến sỹ khoa học nông nghiệp đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong
nông - lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm của miền núiBắc bộ Việt Nam Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai và
hiện trạng sử dụng đất nông - lâm nghiệp vùng trung tâm miền núi Bắc bộ, tác giả
đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất tỷ lệ 1/250000, đối với một số loại hình sử
dụng đất bền vững phục vụ các mục tiêu kinh tế và môi trường cho toàn vùng [31]
Trang 29Vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý sử dụng đất đai, cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất cấp, được đề cập khá đầy đủ và chi tiết trong tóm tắt báo cáo khảo sát đợt 1 về LNXH nhóm luật và chính sách (1998) của trường ĐHLN [45] Tài liệu tập huấn về - Những quy định và chính sách quản lý sử dụng đất của Trần Thanh Bình (1997) [2], các chính sách có liên quan đến phát triển kinh
tế trang trại (1997) [44], đề tài KX-08-03 nghiên cứu về "Các chính sách, biện pháp
hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn" trong chương trình phát triển KTXH nông thôn (1994) [4]
v ề phương pháp tiếp cận nông thôn mới (phương pháp có sự tham gia của người dân) đã được đề cập trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của trường ĐHLN: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình (1997), trên cơ sở phương pháp tiếp cận mới quốc tế được sự hỗ trợ của dự án hỗ trợ LNXH, các tác giả đã phối hợp với các chuyên gia trong nước và quốc tế biên soạn tài liệu với những chủ đề chính [42]:
+ Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia
+ Các phương pháp, công cụ đánh giá nông thôn có người dân tham gia.+ Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn
+ Thực hành tổng hợp
Đề cập vấn đề quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản, Lê Sỹ Việt - Trần Hữu Viên [55] đã chỉ ra rằng: quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp ở cấp làng bản (cấp vi mô) khác với quy hoạch tầm vĩ mô ở chỗ: quy hoạch ở cấp vi mô phải do người dân trực tiếp tham gia mới có tính khả thi cao
và mang lại hiệu quả thiết thực Đồng thời cũng chỉ ra những ưu nhược điểm của phương pháp này là tuy khuyến khích được người dân tham gia, họ sẵn sàng chủ động trong việc tham gia thực hiện nhưng kết quả lại khó phù hợp với những quy hoạch ở cấp cao hơn Vì vậy cần phải giải quyết tốt mối quan hệ hai chiều từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, cần có sự quan tâm hỗ trợ thoả đáng từ cấp trên
Phương pháp QH&KHSD đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân được
đề cập trong công trình QH&KHSD đất Lâm nghiệp và giao đất lâm nghiệp của Đoàn Diễm (1997) Tác giả đã nêu lên một số vấn đề cơ bản [16]:
Trang 30+ Phương pháp QH&KHSD đất và giao đất giao rừng ở Việt Nam.
+ Phương pháp QH&KHSD đất và giao đất giao rừng của dự án
GCP/VIE/024/ITA
+ Những tồn tại của QH&KHSD đất và giao đất lâm nghiệp của Việt Nam và
quốc tế
+ Kiến nghị phương pháp đơn giản về QH&KHSD đất và giao đất lâm
nghiệp có sự tham gia của người dân
Tài liệu tập huấn về QH&KHSD đất và giao đất có sự tham gia của Trần
Hữu Viên (1997) - Trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp QH&KHSD đất trong
nước và phương pháp QH&KHSD đất của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại
một số vùng có dự án ở Việt Nam và tài liệu có liên quan, tác giả đã nêu lên [51]:
+ Khái niệm về QH&KHSD đất
+ Nguyên tắc chỉ đạo QH&KHSD đất và giao đất có người dân tham gia
+ QH&KHSD đất và giao đất có sự tham gia của người dân
Những tài liệu trên đây là cơ sở quan trọng để tiến hành QH&KHSD đất và
giao đất theo phương pháp cùng tham gia ở nước ta
Trong những năm gần đây nhiều chương trình dự án đã vận dụng phương
pháp lập kế hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân vào công tác lập kế
hoạch sử dụng đất lâm nông nghiệp cho các thôn, bản ở trong nước, đáng chú ý là
chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển về phát triển nông thôn
miền núi của 5 tỉnh phía Bắc, chương trình PAM, dự án phát triển LNXH sông Đà;
dự án trồng rừng Lạng Sơn, Hà Bắc do GTZ tài trợ và một số chương trình hỗ trợcủa các tổ chức phi chính phủ khác
Vũ Văn Mễ và Desloges năm 1996 cho rằng đưa ra vấn đề về sự tham gia
của người dân trong quá trình quy hoạch, cho rằng "Điểm quan trọng là thu hút
người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình QH&KHSD đất và giao
đất lâm nghiệp ngay từ khi bắt đầu Sự tham gia này tất nhiên sẽ khác nhau về phạm
vi và mức độ tuỳ theo nội dụng hoạt động và giai đoạn tiến hành" [24]
Từ kết quả thử nghiệm ở Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Gia Lai và Sông Bé
Vũ Văn Mễ cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng sử dụng đất hiện tại,
Trang 31tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu nguyện vọng của
người dân, xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên
Năm 1999 và 2000, Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của dự án khu
vực lâm nghiệp Việt Nam - ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp xây
dựng tiểu dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra phương pháp quy hoạch lâm nông nghiệp
cấp xã có sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu dự án lâm nông nghiệp cho
50 xã và 4 tỉnh: Thanh Hoá, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị [26, 27, 28, 33, 37] và đã
rút ra kinh nghiệm:
+ v ề việc tiến hành quy hoạch phải dựa trên kết quả đánh giá và điều tra
nguồn lực một cách chi tiết và đầy đủ
+ Quy hoạch sử dụng đất là cơ sở quan trọng cho lập kế hoạch sử dụng đất lâm
+ Tổng hợp và cân đối kế hoạch cho phạm vi cấp xã trên cơ sở: định hướng
phát triển chiến lược của huyện, tỉnh, khả năng hỗ trợ từ bên ngoài, đối thoại và
thống nhất trực tiếp giữa đại diện các cộng đồng với nhau, giữa đại diện các cộng
đồng với cán bộ tỉnh, huyện và dự án: có sự nhất trí chung của toàn xã thông qua
các cuộc họp cộng đồng cấp thôn hoặc cấp xóm
Về chủ trương phát triển kinh tế - xã hội miền núi nói chung và kinh tế nông
lâm nghiệp nói riêng hiện đã có hàng loạt các chính sách và chương trình lớn của
Đảng và Nhà nước như: chính sách giao đất giao rừng, chương trình 327, chương
trình 661 về việc trồng mới 5 triệu ha rừng Những chính sách và chương trình
trên là cơ sở vững chắc để cũng cố lòng tin cho người dân, là tiền đề thuận lợi nhằm
thu hút lực lượng đông đảo trong các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất lâm nông
nghiệp, quản lý sử dụng đất bền vững để phát triển sản xuất
Đi đôi với việc triển khai các chủ trương, chính sách và các chương trình lớn,
dự án, công tác lập kế hoạch sử dụng đất bền vững cũng như thu hút sự quan tâm
Trang 32chú ý của các Nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành thông qua các hoạt động tư
vấn cho các dự án Mỗi dự án có một đặc thù riêng, phương pháp và trình tự tiến
hành quy hoạch cũng chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương
Song nhìn chung các phương pháp thực hiện đều thống nhất với nhau về cách tiếp
cận từ dưới lên
Đây cũng là điểm chính mà đề tài cần hướng tới phân tích nhằm tìm ra
những cơ sở khoa học và thực tiễn chắc chắn cho công tác lập kế hoạch sử dụng đất
bền vững
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.3.1 VỊ trí địa lý
Yên Trạch là xã miền núi nằm ở phía nam của huyện Cao Lộc , tỉnh Lạng
Sơn, cách trung tâm huyện lỵ 8 km Toàn xã có 12 thôn, dân số 5.390 nhân khẩu
với tổng diện tích đất tự nhiên là 4.244,46 ha, xã Yên Trạch có ranh giới hành chính
như sau:
Phía Bắc giáp Mai Pha (thành phố Lạng Sơn)
Phía Nam và nam tây nam giáp xã Chiến Thắng, xã Vân Thủy (huyện Chi
Lăng)
Phía đông và đông bắc giáp xã Tân Liên
Phía Tây và tây bắc giáp xã Quảng Lạc (thành phố Lạng Sơn)
Xã Yên Trạch có đường quốc lộ 1A chạy qua trung tâm xã, có ga Yên Trạch,
vị trí của xã liền kề với thành phố Lạng Sơn rất thuận tiên cho việc phát triển kinh tế
xã hội của xã.là vùng đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 150-200m Các đỉnh caogần 500m nằm ranh giới phía Tây, phía Nam, phía Đông của xã Vì vậy địa thế của
xã Yên Trạch hình thành một máng trũng thấp dần về phía Bắc, gồm nhiều khe suối
đáng kể tập trung thành một nhánh chảy ra sông Kỳ Cùng
1.3.2 Địa hình địa thế
Yên Trạch có địa hình bán sơn địa, cao ở phía Đông Bắc, thấp dần về phía Tây
Nam, là vùng đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 150-200m Các đỉnh cao gần 500m
nằm ranh giới phía Tây, phía Nam, phía Đông của xã Vì vậy địa thế của xã Yên
Trang 33Trạch hình thành một máng trũng thấp dần về phía Bắc, gồm nhiều khe suối đáng
kể tập trung thành một nhánh chảy ra sông Kỳ Cùng
Phía Bắc và phía Đông không được bằng phẳng, hệ thống ruộng đa số là ruộng bậc thang nhưng có chênh lệch về độ cao giữa các ruộng không lớn, hệ thống kênh mương tại đây hàng năm được nạo vét tu bổ
Phía Nam và phía Tây địa hình tương đối bằng phẳng tạo nên vùng trồng lúa
và các cây công nghiệp ngắn ngày, hệ thống ao hồ, kênh mương tại đây tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
1.3.3 Khí hậu thuỷ văn
Yên trạch mang đặc điểm khí hậu miền núi và trung du phía bắc, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 22oC Lượng mưa trung bình/năml390mm Độ ẩm không khí trung bình 82% Mùa hè nóng bức mưa nhiều, tháng nóng nhất là tháng 7 nhiệt độ có ngày lên tới 39oC Mùa mưa kéo dài
từ tháng 5 đến thang 9 Số ngày mưa trung bình 132 ngày Mùa đông nhiệt độ xuống thấp có ngày rét đậm nhiệt độ khoảng 3-4 oC, thời tiết khô hanh xuất hiện sương muối từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau Yên Trạch cũng chịu ảnh hưởng của bão và chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc
Hướng gió chính : Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 1 đến tháng 4 năm sau, gió Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10 Nhìn chung khí hậu và thời tiết của xã Yên Trạch tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi
Về thủy văn : Xã có hệ thống suối Yên Thủy I, II chảy qua thôn Bản Bảm dài 7,5km Ngoài ra còn có một số ao hồ nhỏ Nước suối là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất của nhân dân Do hệ thống thủy lợi của xã hạn chế, hệ thống ao hồ
ít chỉ có suối chảy qua nên nhân dân trong vùng thường thiếu nước để canh tác đặc biệt là mùa khô Hiện một số hộ đã có giếng khoan hay lấy nước từ khe về để sinh hoạt và sản xuất nhưng còn hạn chế Số hộ được hưởng nước sạch chưa nhiều
Các chỉ tiêu khí hậu như nhiệt độ không khí, lượng mưa và độ ẩm không khí bình quân của các tháng (từ năm1990 đến năm 2000) tại khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bảng 3.1
Trang 34Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khí hậu bình quân của tháng trong năm
Tháng Nhiệt độ không
khí TB (0C)
Lượng mưa TB (mm)
Đất dốc tụ và đất Feralit biến đổi do trồng lúa
Đất Feralit mùn trên núi thấp, phong hoá chậm,
Nhìn chung đất có thành phần cơ giới trung bình, tầng đất dầy khoảng 50cm Một số diện tích đất bằng ở thung lũng, khe núi đã chải qua một thời gian dài canh tác nên đất đai của xã Yên Trạch bị xói mòn, thoái hóa mạnh ở một số khu vực Đất đồi trên địa bàn nghèo dinh dưỡng, cằn khô chỉ trồng thông, hồi và bạch đàn là phù hợp
Diện tích đất tự nhiên: 4.244,46 ha, mật độ dân số 127 người/km2
Diện tích đất nông nghiệp: 3.831,79 ha, trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 377,26 ha
Trang 351.3.5 Nghiên cứu về tình hình dân sinh kinh tế
1.3.5.1 Dân cư và phân bố dân cư
Xã Yên Trạch có 3 dân tộc anh em cùng chung sống, với phong tục tập quán
của từng dân tộc khác nhau Do đặc điểm tự nhiên và phong tục tập quán của từng
dân tộc nên các khu dân cư của xã được phân bố ở khắp địa bàn tập trung thành 12 thôn
Theo số liệu điều tra toàn xã có 5390 nhân khẩu với 1190 hộ gồm 2647 nam,
2743 nữ Trong đó: Dân tộc Nùng có 583 hộ với 3172 khẩu, dân tộc Tày có 598 hộ
với 2180 khẩu, dân tộc Kinh có 7 hộ với 29 khẩu, các dân tộc khác có 2 hộ với 9
khẩu Số người trong độ tuổi lao động là 2380 người chiếm 44,15% tổng số dântoàn xã, trong đó lao động nông nghiệp 2269 người, lao động phi nông nghiệp 111
người Tỷ lệ phát triển dân số là 1,07% Mặc dù trên địa bàn xã có một số cơ quan
nhà nước, xã lại gần thành phố Lạng Sơn và có quốc lộ 1A chạy qua song kinh tế
của xã vẫn mang tính thuần nông, lao động phi nông nghiệp chủ yếu là phụ vữa
Lao động nông nghiệp cho thu nhập thấp và theo mùa vụ vì vậy số người không có
viêc làm còn nhiều đặc biệt là lao động nông nhàn
1.3.6 Nghiên cứu về cơ sở hạ tầng và văn hóa - xã hội
1.3.6.1 Giao thông
Hệ thống giao thông của xã nhìn chung chưa tốt Mặc dù có quốc lộ 1A chạy
qua thuận tiện lưu thông nhưng hầu hết các tuyến đường còn lại là đường đất vàđường cấp phối đã xuống cấp gây khó khăn cho đi lại và lưu thông hàng hóa đặc
biệt là mùa mưa
Trang 36Năm qua UBND xã đã tích cực huy động nhân dân sửa đường, đặt cống, đổ
bê tông một số đoạn đường nội thôn theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm
1.3.6.2 Điện, nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt
Hệ thống điện của xã đã được xây dựng phủ khắp địa bàn phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong xã Tuy nhiên hệ thống cột từ trung tâm để kéo điện về thôn vẫn chưa đảm bảo ( chủ yếu là cột gỗ, dây điện nhỏ) làm cho điện yếu và giá điện còn quá cao
Hệ thống thủy lợi của xã hầu như không có Ngoài suối Bản Bảm, Yên Thủy
I, hệ thống ao, hồ nhỏ để chứa nước hiện nay do nhân dân trong xã đã xây dựng được một số đập nhỏ dẫn nước suối vào ruộng Tuy nhiên diện tích được tưới không nhiều, sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu dựa vào nước mưa, trong giai đoạn quy hoạch cần đầu tư xây dựng thủy lợi nhỏ, giếng khoan để tưới tiêu cho diện tích đất canh tác tạo điều kiện phát triển nông nghiệp
1.3.6.3 Y tế, giáo dục, văn hoá
Về y tế : Trong những năm qua công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được chú trọng Hiện tại xã có 6 y sỹ, y tá với 5 gường bệnh Đến tháng 10 năm 2012 ước tính khám chữa bệnh cho 4759 lượt người Tỷ lệ tiêm chủng mở rộng đạt 94%
Giáo dục : Toàn xã có 119 học sinh mẫu giáo, 580 học sinh tiểu học, 460 học sinh trung học cơ sở Yên Trạch đã xây dựng được trường trung học cơ sở khang trang với 8 phòng học kiên cố, trường tiểu học và hệ thống lớp học ở thôn chủ yếu
là cấp 4 Để đảm bảo phát triển giáo dục cần đầu tư cơ sở vật chất, bồi dững đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
Văn hóa : Xã thường xuyên tuyên truyền các chính sách pháp luật của Đảng
và Nhà nước để nhân dân nhận thức đúng, hiểu pháp luật, chỉ đạo sản xuất góp phần xóa đói giảm nghèo, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình văn hóa, bản làng văn hóa Trong thời gian tới xã cần củng cố lại phong trào đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, lấy thanh niên làm nòng cốt phát triển phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao
Trang 371.3.6.4 An ninh quốc phòng
Lực lượng cán bộ công an xã thường xuyên tuần tra, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản nhân dân để nhân dân yên tâm sản xuất UBND xã đẩy manh công tác phòng chống các tệ nạn xã hội trên địa bàn
1.4 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội xã Yên Trạch
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy - UBND xã, Yên Trạch
đã có những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới Trong giai đoạn phát triển hiện nay, xã Yên Trạch có những thuận lợi khó khăn sau
Cơ cấu sản xuất của xã chủ yếu là nông nghiệp song nông nghiệp chưa phát triển thành nền kinh tế hàng hóa Cơ sở hạ tầng còn thấp kém và chưa đồng bộ ảnh hưởng tới phát triển kinh tế xã hội Năng suất cây trồng, vật nuôi chưa cao, nhân dân trong xã còn khó khăn
Trang 381.5 Những điểm rút ra phục vụ cho nghiên cứu
Từ kết quả tổng kết và phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về QH&KHSD đất sản xuất lâm nông nghiệp ở Việt Nam cho phép rút ra một số điểm cho nghiên cứu sau:
Hiện tại, Việt Nam đã có những nghiên cứu liên quan đến QH&KHSD đất cũng như quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp vi mô Đặc biệt là công trình nghiên cứu của các tác giả: Vũ Văn Mễ (1996) về phương pháp QH&KHSD đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân; Vũ Nhâm (1998) - nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn của QH&KHSD đất cấp vi mô; Nguyễn Bá Ngãi (2001) - nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Những nghiên cứu này đang được vận dụng ở nhiều địa phương nhưng chưa được tổng kết và phát triển thành phương pháp luận
Việc thực thi phương án lập kế hoạch sử dụng đất ở nhiều nơi hiện còn đang lúng túng, nhiều điểm chưa rõ và được vận dụng rất khác nhau ở các địa phương Phương pháp lập kế hoạch thường phức tạp, chưa được thống nhất Hiện tại ở nhiều nơi vẫn tách biệt giữa công tác quy hoạch và quản lý thực hiện kế hoạch Chưa phân biệt giữa QH&KHSD đất và kế hoạch sử dụng đất cấp xã Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai mà ít xét đến tiềm năng của đất đai, nhu cầu, khảnăng của cộng đồng và thị trường Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân đang được chú ý và thí điểm ở một số nơi
Cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nông nghiệp cấp xã mới được nghiên cứu, mặt khác thực tiễn về quy hoạch này chưa nhiều để có thể tổng kết và đánh giá, vì vậy nhiều vấn đề được đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng và đất lâm nghiệp (3499,80 ha) xã
Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Một số mô hình sử dụng đất lâm nghiệp
của các hộ được điều tra
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề: cơ sở, nội dung, trình tự và phương
pháp lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đã áp dụng trên địa bàn nghiên cứu dựa
trên bản kế hoạch sử dụng đất đã được lập ở địa phương
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Toàn bộ diện tích rừng và đất rừng của xã YênTrạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Thời gian nghiên cứu: Các thông tin, số liệu tình hình sử dụng đất ở xã Yên
Trạch làm cơ sở nghiên cứu được thu thập trong 03 năm (2012-2014)
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội
dung chủ yếu sau:
- Đánh giá thực trạng quản lý, phát triển lâm nghiệp tại xã Yên Trạch
- Nghiên cứu những cơ sở cho lập kế hoạch sử dụng đất ở xã Yên Trạch
- Phân tích quá trình lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp tại địa phương
- Đề xuất một số ý kiến cho công tác lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm
nông nghiệp tại địa phương
- Giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp tại xã YênTrạch huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Để giải quyết những nội dung trên, đề tài tiến hành chọn điểm nghiên cứu
theo những tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu mà Donovan (1997) đã đưa ra Phương
Trang 40pháp này đã được Nguyễn Bá Ngãi (2001) áp dụng vào việc chọn xã nghiên cứu
trong luận án Tiến sỹ Nông nghiệp [25] tại vùng trung tâm miền núi phía Bắc
Cụ thể trong đề tài này sử dụng những tiêu chuẩn sau để chọn xã và thôn
nghiên cứu: địa hình; dân cư và phân bố dân cư; thành phần dân tộc; trình độ phát
triển; trình độ dân trí và khả năng tiếp cận
Chọn xã nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu những cơ sở và thực tiễn cho
lập kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nông nghiệp, đề tài chọn xã đã tiến hành lập
kế hoạch sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp Xã nghiên cứu phải có đầy đủ các hoạt
động sản xuất lâm nghiệp và có nhiều biến động để phục vụ cho việc nghiên cứu
Vì vậy, đề tài chọn xã Yên Trạch là một xã có đặc trưng chung cho huyện Cao Lộc
và đáp ứng được tiêu chí nêu trên
Chọn thôn nghiên cứu: chọn thôn có cơ cấu đất đai đặc trưng cho toàn xã,
gồm: rừng tự nhiên, rừng trồng và đất trống đồi núi trọc đồng thời thôn phải tham
gia trong vùng dự án quy hoạch Có mật độ dân cư, trình độ dân trí và phát triển
kinh tế ở mức trung bình so với các thôn khác trong xã Qua phỏng vấn lãnh đạo xã,
kết hợp với phân tích những thông tin về điều kiện dân sinh, kinh tế, đề tài chọn
thôn Khuổi Cải, Nà Thà và thôn Yên Sơn II là các thôn đáp ứng những tiêu chí trên
làm đối tượng để nghiên cứu
Chọn HGĐ: Chọn những hộ trực tiếp tham gia vào các hoạt động của dự án
Phương pháp lựa chọn theo các nhóm hộ, trong đó 1/3 số hộ khá, 1/3 số hộ trung
bình và 1/3 số hộ nghèo để tiến hành phỏng vấn Danh sách các nhóm hộ: khá, trung
bình, nghèo trong thôn do trưởng thôn cung cấp
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Các tài liệu có sẵn liên quan đến địa bàn nghiên cứu được thu thập trực tiếp
từ xã, huyện và các cơ quan liên quan như Chi cục lâm nghiệp, Lâm trường, hạtKiểm lâm
Các tài liêu đã có ở địa phương được thu thập gồm:
Thu thập các văn bản Nhà nước của Trung ương và địa phương có liên quan
đến lập kế hoạch sử dụng đất cấp xã