Thực tế, nghiên cứu hiệu quả của các mô hình rừng trồng Keo lai, đề xuất và nhân rộng các mô hình thành công cùng với các giải pháp nâng cao hiệu quả là một nhu cầu cấp bách của sản xuất
Trang 1ĐINH THỊ HOÀNG LIÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH
TNHH MTV LÂM NGHIỆP TUYÊN BÌNH,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2014 – 2015 với sự hướng dẫn tận tình của Ts Trần Công Quân tôi đã hoàn thành xong khóa luận của mình
Các nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn: “Đánh giá hiệu quả của
một số mô hình trồng Keo lai (Acacia hybrid) ở Công ty TNHH MTV Tuyên
Bình, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” do hoàn toàn tôi điều tra đo
Trang 3Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Lâm nghiệp cùng tập thể các thầy cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới mọi người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần để tôi yên tâm hoàn thành nhiệm vụ
Tôi xin chân trọng gửi tới các thầy, cô giáo, các vị Hội đồng chấn luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất./
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 7 năm 2015
Tác giả
Đinh Thị Hoàng Liên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của luận văn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
1.1.1 Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
trên Thế giới và Việt Nam 4
1.1.2 Tổng quan về hiệu quả kinh tế 10
1.1.3 Tổng quan về cây Keo lai (Acacia Hybrid) 12
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 23
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 23
1.2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.1 Đánh giá thực trạng công tác trồng rừng nguyên liệu của Công ty 31
2.2.2 Đánh giá khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng Keo lai của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình 32
2.2.3 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đã áp dụng đến sinh trưởng của Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 32
Trang 52.2.4 Đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội của một số mô hình rừng trồng Keo lai ở một số xã thuộc địa bàn quản lý của Công
ty TNHH MTV Tuyên Bình 32
2.2.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng Keo lai trong khu vực nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp luận 33
2.3.2 Nghiên cứu trong phòng 34
2.3.3 Phương pháp cụ thể 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Thực trạng công tác trồng rừng và tình hình sinh trưởng Keo lai
của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình 43
3.1.1 Thực trạng công tác trồng rừng về diện tích, loài cây và trữ lượng
của Công ty trong những năm qua 43
3.1.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng của Keo lai
5 và 7 tuổi tại Công ty 47
3.1.3 Tình hình sâu bệnh hại 50
3.2 Thực trạng áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng
Keo lai của Công ty 51
3.2.1 Về phân chia lập địa 51
3.2.2 Tiến bộ kỹ thuật trong cải thiện và nhân giống 53
3.2.3 Kỹ thuật làm đất 55
3.2.4 Kỹ thuật bón phân 56
3.2.5 Về mật độ trồng 57
3.2.6 Về chăm sóc và tưới nước 57
3.3 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đã áp dụng đến sinh trưởng của Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 58
3.3.1 Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng Keo lai 58
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng ban đầu đến sinh trưởng Keo lai 61
3.4 Hiệu quả kinh tế một số mô hình trồng rừng Keo lai của Công ty 63
Trang 63.4.1 Hiệu quả kinh tế các mô hình trồng Keo lai trong
địa bàn nghiên cứu 63
3.4.2 Hiệu quả kinh tế tính cho 01 ha rừng trồng Keo lai trong cả chu kỳ kinh doanh 7 năm với các tỷ lệ chiết khấu khác nhau 69
3.4.3 Hiệu quả xã hội 71
3.4.4 Hiệu quả môi trường 72
3.5 Những thuận lợi, khó khăn của công ty và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trồng rừng Keo lai tại Công ty 73
3.5.1 Những thuận lợi trong công tác trồng rừng Keo lai ở khu vực 73
3.5.2 Những khó khăn gặp phải trong việc trồng và kinh doanh
loài cây Keo lai ở khu vực nghiên cứu 75
3.5.3 Một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu trông trồng rừng Keo lai tại Côngty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình 76
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 KẾT LUẬN 80
2 TỒN TẠI 82
3 KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Tài liệu tiếng Việt 84
Tài liệu nước ngoài 88
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phương pháp đánh giá đơn giản (Gan and Sim Bun Liang, 1991) 16
Bảng 1.2 Các đặc trưng phân loại của lá (Gan and Sim Bun Liang, 1991) 16
Bảng 1.3 Khả năng sinh trưởng của Keo lai so với bố mẹ 18
Bảng 1.4 Diện tích tự nhiên quản lý theo quy hoạch 24
phân bổ trên địa bàn các xã 24
Bảng 1.5 Tổng hợp diện tích đất đai, tài nguyên rừng của 26
Công ty Lâm Nghiệp Tuyên Bình 26
Bảng 1.6 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội trên địa bàn
Công ty Lâm Nghiêp Tuyên Bình 28
Bảng 1.7 Hệ thống đường giao thông trên địa bàn 30
Công ty Lâm Nghiêp Tuyên Bình 30
Bảng 3.1 Tổng hợp diện tích trồng rừng các loài cây
của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình (năm 2014) 44
Bảng 3.2 Tổng hợp diện tích và trữ lượng trồng Keo lai
của Công ty TNHH MTVLâm nghiệp Tuyên Bình (2012-2014) 46
Bảng 3.3: Sinh trưởng của Keo lai 5 tuổi 48
Bảng 3.4: Sinh trưởng của Keo lai 7 tuổi 49
Bảng 3.5 Thống kê tình hình sâu bệnh hại rừng trồng Keo lai 50
Bảng 3.6 Các dạng lập địa ở địa bàn nghiên cứu 51
Bảng 3.7 Bảng thống kê nguồn Keo lai giốngtại vườn ươm (2014) 54
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp các phương pháp làm đất trồng rừng 56
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp các mô hình bón phân trồng rừng 57
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng đường kính 59
của Keo lai ở các tuổi khác nhau tại khu vực nghiên cứu 59
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của bón phân đến chiều cao Keo lai ở các tuổi khác nhau
tại khu vực nghiên cứu 60
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng đường kính 61
của Keo lai ở các tuổi khác nhau tại khu vực nghiên cứu 61
Trang 9Bảng 3.13: Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao Keo lai
ở các tuổi khác nhau tại khu vực nghiên cứu 62
Bảng 3.14: Tổng hợp chi phí và thu nhập của 1ha rừng trồng Keo lai mật độ 1330 cây trong một chu kỳ kinh doanh ở các khu vực nghiên cứu 64
Bảng 3.15: Tổng hợp chi phí và thu nhập của 1ha rừng trồng Keo lai mật độ 1660 cây trong một chu kỳ kinh doanh ở các khu vực nghiên cứu 64
Bảng 3.16: Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của 1ha rừng trồng Keo lai với mật độ 1330 cây/ha trong một chu kỳ kinh doanh 7 năm 65
Bảng 3.17 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của 1ha rừng trồng Keo lai với mật độ 1660 cây/ha trong một chu kỳ kinh doanh 7 năm 66
Bảng 3.18 Thu nhập và hiệu quả kinh tế cho 01 ha 70
Keo lai chu kỳ 7 năm 70
Bảng 3.19 Khả năng thu hút lao động của
các mô hình rừng trồng mật độ 1660 71
Bảng 3.20 Độ che phủ rừng của Công ty từ năm 2004 - 2014 73
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ thu thập và xử lý thông tin 34
Hình 3.1: Rừng trồng Keo lai của Công ty TNHH MTV
Lâm nghiệp Tuyên Bình 45
Hình 3.2: Thực bì trên đất trồng Keo lai 52
Hình 3.3 Màu và độ dày tầng đất Feralit vàng nhạt
trên đá mẹ phiến thạch sét (Fs) 53
Hình 3.4 Tầng A của loại đất đen trên đá vôi và sét vôi (Fv) 53
Hình 3.5 Đất đỏ nâu phát triển trên đá Macma bazo và trung tính (Fk) 53
Hình 3.6: Vườn ươm của Công Ty TNHH MTV
Lâm nghiệp Tuyên Bình 54
Hình 3.7: Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng
đường kính của Keo lai 59
Hình 3.8: Biểu đồ biểu thị ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng chiều cao
của Keo lai ở các tuổi khác nhau 60
Hình 3.9: Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng đường kính của Keo lai
ở các tuổi khác nhau 61
Hình 3.10: Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng chiều cao của Keo lai
ở các tuổi khác nhau 62
Hình 3.11 Phân bố lao động trong chu kỳ kinh doanh của các mô hình 72
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là một tài nguyên có khả năng tự tái tạo nếu con người biết khai thác, lợi dụng đúng mức Tuy nhiên, do áp lực dân số và nhu cầu lâm sản tăng để phát triển kinh tế - xã hội, con người đã khai thác rừng ồ ạt, vượt quá khả năng của rừng nên cân bằng trong hệ sinh thái bị phá vỡ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống
Việt Nam cũng đã và đang diễn ra trong tình trạng trên Do nhu cầu lâm sản cho tái thiết và phát triển kinh tế - xã hội tăng đã dẫn đến tài nguyên rừng bị tàn phá nặng nề
Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp của Chính Phủ đến năm 2020, diện tích rừng trồng cho sản xuất của Việt Nam tăng từ 1.38 triệu ha đến năm 2010 lên 2.65 triệu ha, đến năm 2020 tăng lên 4.15 triệu ha Do đó, nhu cầu về nguồn giống
có chất lượng cao, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng rừng nhằm tăng năng suất, chất lượng và sản lượng rừng là cấp thiết trong những năm tới
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc tiểu vùng Trung tâm, thuộc vùng núi trung
du Bắc Bộ - Việt Nam, nhiệm vụ chung là trồng rừng và kinh doanh nguyện liệu giấy Tỉnh Tuyên Quang nẳm ở trung tâm lưu vực sông Lô, sông Gâm có tổng diện tích tự nhiên là 587.038,5 ha, bằng 1,78% tổng diện tích cả nước, trong đó có 70% diện tích là đồi núi, nên rừng có vai trò rất lớn trong việc hạn chế lũ lụt cho thành phố Tuyên Quang nói riêng và toàn tỉnh nói chung Vì vậy, kinh doanh rừng nguyên liệu giấy trên địa bàn tỉnh không chỉ đạt được hiệu quả kinh tế cao, đồng thời phải phát huy hết vai trò phòng hộ đầu nguồn sông Lô nói riêng cũng như cung cấp lâm sản cho vùng nguyên liệu giấy
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Tuyên Bình, được thành lập từ năm 1961 Nhiệm vụ chính của Công ty là trồng rừng và khai thác rừng, địa bàn quản lý diện tích rừng sản xuất kinh doanh của Công ty nằm trên địa bàn các xã: xã Tràng Đà thuộc thành phố Tuyên Quang, các xã: Tân Long, Tân Tiến, Xuân Vân, Trung Trực, Kiến Thiết thuộc huyện Yên Sơn Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương Công ty
Trang 12luôn luôn nỗ lực trong quá trình hoạt động của mình Công ty đã không ngừng nghiên cứu và kịp thời điều chỉnh phương hướng hoạt động của mình, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, nắm bắt được các nhân tố ảnh hưởng cùng mức độ và xu hướng tác động của từng yếu tố đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó có các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong tương lai
Trong những năm gần đây, rất nhiều giống cây rừng được đưa vào trồng nhằm phát huy được tính ưu việt là sinh trưởng, phát triển nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn như: Keo lai, Bạch đàn Uro v.v và được trồng ở hầu khắp cả nước, các vùng nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy, như: Giấy, ván nhân tạo v.v…Đặc biệt cây keo, ưu tiên cho giống Keo lai Ở Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đang đưa cây Keo lai vào trồng với diện tích tương đối lớn (chiếm > 40% diện tích đất trồng rừng của Công ty)
Thực tế, nghiên cứu hiệu quả của các mô hình rừng trồng Keo lai, đề xuất và nhân rộng các mô hình thành công cùng với các giải pháp nâng cao hiệu quả là một nhu cầu cấp bách của sản xuất ở Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình, nhằm góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng rừng, nâng cao tính năng phòng hộ nguồn nước, giảm lũ lụt đối với thành phố và góp phần cải thiện cuộc sống người dân sống bằng nghề rừng
Xuất phát yêu cầu của thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả của một số mô hình trồng Keo lai (Acacia hybrid) ở Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Tuyên Bình, Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo lai, để góp phần phát triển rừng trồng bền vững trên địa bàn quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình nói riêng, cũng như cho tỉnh Tuyên Quang nói chung
Trang 13- Đánh giá được hiệu quả về kinh tế, xã hội của một số mô hình rừng trồng phổ biến ở một số xã thuộc địa bàn quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình quản lý
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng trong khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa của luận văn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học về tổng hợp có hệ thống các chỉ tiêu về ảnh hưởng của việc áp các tiến bộ kỹ thuật lâm sinh đến tăng trưởng và năng suất của rừng trồng Keo lai tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Tuyên Bình, tỉnh Tuyên Quang
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội các mô hình trồng rừng Keo lai và đặc biệt thử nghiệm một số tỷ lệ triết khấu để khuyến nghị Nhà nước cho vay trồng rừng nguyên liệu với lãi suất vay vốn ưu đãi thì mới đảm bảo khuyến khích được các doanh nghiệp, người dân vay vốn trồng rừng
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Xác định được thực trạng áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu tại địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng biện pháp kỹ thuật lâm sinh đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng nguyên liệu với Keo lai tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình, tỉnh Tuyên Quang
- Là tài liệu tham khảo về đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình trồng rừng điển hình cho Keo lai gắn với lập địa, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trồng rừng nguyên liệu bằng cây Keo lai đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao tại khu vực nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1.1 Tiến bộ kỹ thuật trồng rừng nguyên liệu trên thế giới
a Nghiên cứu về giống cây trồng rừng
Giống là khâu quan trọng trong trồng rừng, là vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng, nhiều nước trên thế giới đã đi trước Việt Nam nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể Điển hình như nghiên cứu của Pandey D (1983) ở Brazin đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới 55 m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn được giống Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm, giống Paraserianthes falcataria trồng ở Malaysia được 7-10 năm tuổi cũng đạt 30m3/ha/năm Ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt tới 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7 [60]
b Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng
Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật cung cấp cho đất thêm dinh dưỡng, đặc biệt đối với đất nghèo dinh dưỡng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello H (1976) ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50% [58] Đối với thông (P Caribeae) ở Colombia, Bolstad P.V và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho rừng trồng như potassium, phosphate, boron và magnesium [50] Khi nghiên cứu bón phân cho rừng thông (P Caribeae) ở Cu Ba, Herrero G và cộng sự (1988) cũng cho thấy bón phosphate đã nâng sản lượng rừng từ 56 lên 69m3/ha sau 13 năm trồng [55]
c Nghiên cứu về ảnh hưởng mật độ đến năng suất rừng trồng
Mật độ trồng rừng ban đầu có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là công trình nghiên cứu của Evans, J (1992), tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau (2985;
Trang 151680; 1075 và 750 cây/ha) cho bạch đàn E deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao [51]
Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật
độ trồng cho thích hợp
1.1.1.2 Nghiên cứu về áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng rừng Keo Lai ở Việt Nam
a Tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng rừng
Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng kể, có nhiều giống đã được công nhận là giống Quốc gia và tiến bộ kỹ thuật như các giống Keo lai: BV5; BV10; BV16; BV32; BV33; TB03; TB05; TB06 và TB12 và các dòng bạch đàn E urophylla U6, PN2; PN14; GU8 và W5 Ngoài ra, còn một số giống đề nghị đưa vào để mở rộng sản xuất như các giống bạch đàn E urophylla ở Phù Ninh, một số xuất xứ bạch đàn caman, Keo lá tràm, Thông caribê… (Vụ KHCN &CLSP, 2001) [49]
Bộ NN&PTNT (2002), trích dẫn “văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh”: thành tựu lớn nhất và được áp dụng rộng rãi trong trồng rừng sản xuất trước hết phải nói đến công tác chọn và cải thiện giống cây trồng lâm nghiệp Đây là một lĩnh vực mũi nhọn được ưu tiên rất cao cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong niều năm qua, mang lại những bước nhảy vọt góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, đặc biệt đối với các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như Keo lai, Bạch đàn Các thành tựu và tiến bộ trong lĩnh vực giống cây lâm nghiệp đã được đúc kết thành hệ thống quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn áp dụng
có hiệu quả trong sản xuất [2]
Lê Đình Khả và cộng sự (1997), đã chứng minh: Sau 4 năm tuổi giống Keo lai có thể tích thân cây là 70 - 80 dm3/cây trong khi những xuất xứ tốt nhất của Keo tai tượng cũng chỉ có thể tích đạt 30 - 40 dm3/cây, còn những xuất xứ tốt của Keo lá tràm chỉ đạt 17 - 27 dm3/cây [16]
Trang 16Theo Lê Đình Khả và cộng sự (2003), công tác cải thiện giống đã có nhiều giống được công nhận là giống quốc gia như một số dòng Keo lai (BV10, BV16, BV32), Bạch đàn urophylla (PN2, PN14, U6); các dòng Bạch đàn urophylla và nhiều xuất xứ Bạch đàn camaldulensis, Keo lá tràm, Thông caribaea, Phi lao và hàng chục dòng Keo lai, cũng đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật [20]
Lê Đình Khả và Hà Huy Thịnh (2005), đã có 67 giống cây rừng lâm nghiệp được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, trong đó có các dòng Keo lai cao sản như: BV10, BV16, BV32, TB3, TB5, TB6, TB12, KL2; Các dòng Bạch đàn cao sản như: U6, PN2, PN10, PN14, PN46, PN47 và các dòng Phi lao có năng suất cao là 601 và 701 đã được gây trồng rộng rãi ở nhiều nơi trong cả nước [22]
Tổng hợp nghiên cứu của Võ Đại Hải và cộng sự (2005), đã thống kê được một số nghiên cứu sử dụn`g ưu thế lai đã đạt được những thành tựu đáng kể, cụ thể: Đối với Bạch đàn: Các tổ hợp UC, UT, UM, SM, GM cho sinh trưởng bình quân tăng từ 20÷30%, đặc biệt có tổ hợp trồng nơi lập địa tốt cho sinh trưởng tăng 70÷80
% so với giống sản xuất hiện hành sau 5 năm khảo nghiệm; Đối với Keo: Các tổ hợp AM1, AM2, MA1, MA2 cho sinh trưởng tăng bình quân 30% so với giống sản xuất hiện hành [11]
Bộ NN & PTNT (2005) ban hành: danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp Trong đó hai loài cây Keo lai và Bạch đàn Urophylla đều có mặt ở hầu hết các vùng [4]
Như vậy, lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu rất to lớn, đã tạo ra sự đột phá về năng suất trong trồng rừng, trữ lượng gỗ cây đứng tăng gấp từ 2 - 3 lần so với các giống trước đây Tuy nhiên nhiều nơi, nhiều vườn ươm vẫn sử dụng giống kém chất lượng, giống chưa được công nhận, như Trần Văn Con (2005) đã đề cập: mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực cải thiện giống, nhìn chung giống sử dụng trong trồng rừng vẫn rất xô bồ, kém chất lượng dẫn đến năng suất và chất lượng rừng còn thấp Chúng ta vẫn còn thiếu các vườn giống có chất lượng cao để cung cấp cho nhu cầu trồng rừng [7]
b Tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực nhân giống và tạo cây con
Công nghệ nhân giống vô tính là một tiến bộ kỹ thuật mới đã được áp dụng mạnh mẽ trong thời gian vừa qua, đã góp phần quan trọng cho sự thành công của
Trang 17hoạt động cải thiện giống nói trên, có nhiều nghiên cứu trong công tác nhân giống
và tạo cây con ở Việt Nam, nổi bật như: Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), việc cung cấp giống tốt, năng suất cao, kháng sâu bệnh hại có ý nghĩa quyết định tới năng suất rừng trồng trong tương lai Với cây hom năng suất cao như hiện nay, chi phí này cũng không phải quá cao, vào khoảng 10% Các giải pháp bao gồm quy trình công nghệ sản xuất cây hom cao sản bắt đầu từ khâu chọn giống, khảo nghiệm dòng, nhân giống hom và quản lý rừng trồng dòng vô tính [30]
Theo Trần Văn Con (2006), bên cạnh những thành tựu trong lĩnh vực chọn
và cải thiện chất lượng giống, kỹ thuật tạo cây con cũng đạt được những thành tựu vượt bậc Đặc biệt công nghệ sản xuất cây con bằng kỹ thuật cao như giâm hom, nuôi cấy mô cũng được phát triển nhanh chóng, nhất là đối với các loài cây mọc nhanh như Keo lai, Bạch đàn urophylla, pelissta, Bạch đàn lai không kể các vườn ươm công nghệ cao quy mô nhỏ, đã có khoảng 10 vườn ươm nhân giống bằng công nghệ cao (hom, mô) có công suất hàng triệu cây giống/năm rải rác trên các vùng Bắc Trung Nam để trồng rừng sản xuất tập trung đối với một số loài cây chủ lực [8]
Lê Đình Khả và cộng sự (2003), ngày nay ở nước ta cũng đã có khoảng 10.000 ha Keo lai và hàng ngàn hecta các giống Bạch đàn U6, Phi lao 601, 701 được trồng bằng cây hom [21] Theo nhận định của Bộ NN & PTNT (2006), thì giai đoạn 2010 - 2020, đưa tỷ lệ giống được cải thiện lên hơn 50%, tập trung thích đáng cho chọn tạo giống một số loài cây bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ, áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học vào chọn tạo giống và các phương pháp hiện đại trong nhân giống và bảo quản hạt giống Cuối giai đoạn đạt năng suất rừng trồng bình quân 30m3/ha/năm đối với gỗ nhỏ và 15m3/ha/năm đối với gỗ lớn [5]
Như vậy, công tác giống cây rừng hiện nay ở Việt Nam đang ngày càng đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác giống như chọn giống, lai giống, vừa nhân giống vừa khảo nghiệm giống và cung cấp giống Ngoài ra cần tận dựng tối đa giống từ các rừng giống đã được Bộ NN & PTNT công nhận để nhân giống đóng góp vào công tác giống cho trồng rừng, nhằm mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng năng suất chất lượng và sản lượng rừng đáp ứng nhu cầu về gỗ ngày càng tăng lên trong nước và xuất khẩu
Trang 18c Ảnh hưởng của biện pháp làm đất đến sinh trưởng của rừng trồng
Trong những năm gần đây, việc áp dụng cơ giới trong trồng rừng được coi là tiến bộ kỹ thuật trong ngành Lâm nghiệp, nhất là trồng rừng nguyên liệu đã được các nhà lâm học quan tâm, điển hình là công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001), thông qua thí nghiệm cày ngầm để trồng Bạch đàn urophylla trên đất thoái hoá ở Phù Ninh (Phú Thọ), tác giả đã cho thấy năng suất của rừng bạch đàn được trồng trên đất cày ngầm cao hơn nhiều so với nơi làm đất bằng thủ công, sau 8 năm tuổi ở nơi làm đất bằng cầy ngầm trữ lượng cây đứng có thể đạt tới 16m3/ha/năm, nhưng nơi làm đất bằng thủ công chỉ đạt 5m3/ha/năm [38]
Ngược lại, trên đất dốc chưa bị thoái hoá ở Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng
và cộng sự (2004) đã thử nghiệm 2 phương pháp làm đất là thủ công và cơ giới để trồng rừng Keo lai, kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của Keo lai ở phương pháp làm đất thủ công lại tốt hơn phương pháp cơ giới, sau 3 năm tuổi ở công thức làm đất cơ giới chỉ đạt từ 8,74 - 8,87cm về đường kính và 9,82 - 9,92m về chiều cao, nhưng ở công thức làm đất thủ công lại đạt với các trị số tương ứng là 9,40 - 10,38cm và 11,33 - 11,71m [9]
Nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự (2003) áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như làm đất, bón phân, kết quả trong một số khảo nghiệm về Keo lai năng suất đạt được trên 25m3/ha/năm; Bạch đàn urophylla trồng thâm canh cũng cho năng suất từ 18 - 25m3/ha/năm; một số dòng Bạch đàn PN2 và PN14 sau 8 năm trồng ở Tây Nguyên bình quân đạt 21m3/ha/năm Đây chính là những cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu chọn giống và áp dụng các biện pháp trồng rừng thâm canh [21]
Như vậy, làm đất trước khi trồng rừng bằng các phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào độ dốc, loại đất đã cho thấy sinh trưởng của cây trồng rừng tốt hơn, tuy nhiên cần kết hợp giữa làm đất với các biện pháp khác, như mật độ trồng, bón phân thì mới phát huy hết được khả năng sinh trưởng tốt nhất của cây trồng
d Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng
Về kỹ thuật bón phân, đã có những thành tựu trong việc xác định lượng phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp để bón lót và bón thúc cho các cây trồng Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể, trên từng lập địa và điều kiện đất đai cụ thể và từng giai đoạn phát triển thì kỹ thuật bón phân từ việc chọn loại phân, lượng phân, thời điểm bón vẫn chưa được xác định một cách hợp lý có căn cứ
Trang 19Việc bón lót trước khi trồng đã làm tăng tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của các loài keo Trong một thí nghiệm, Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2006) đã chỉ ra rằng, sinh trưởng của keo lai tốt nhất tại công thức bón 200g NPK (28g N, 8g P và 10g K) và 100g phân vi sinh Tăng trưởng bình quân tại công thức tốt nhất đạt 36,7m3/ha/năm so với 28,8m3/ha/năm của công thức không bón phân [41]
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2005), tại Thái Nguyên sinh trưởng tốt nhất của Keo lai ghi nhận được tại công thức bón phân hỗn hợp 100g NPK (10,0g N, 4,37g P và 2,49g K), 400g phân vi sinh và 50g vôi bột (27,03g Ca) Sau 3 năm thí nghiệm, đường kính ngang ngực bình quân đạt 9,4 cm và chiều cao đạt 12,6 m, trong khi tại công thức không bón phân đường kính chỉ đạt 8,2 cm và chiều cao đạt 11,2 cm [40]
Lê Đình Khả và cộng sự (1999) đã kết luận: thí nghiệm trồng rừng thâm canh (cày toàn diện, bón phân mỗi hố 4 kg phân chuồng và 100 g NPK) và quảng canh (không làm đất, bón phân mỗi hố 50 g NPK) cho Keo lai và các loài keo bố
mẹ tại Đông Hà cũng cho thấy sau khi trồng 32 tháng ở công thức trồng thâm canh Keo lai có thể đạt năng suất 27 m3/ha/năm, thì ở công thức trồng quảng canh chỉ đạt năng suất 16 m3/ha/năm [19]
Như vậy, về kỹ thuật bón phân, đã có những thành tựu trong việc xác định loại phân, liều lượng phân, thời gian và phương pháp bón phân thích hợp cho các loài cây trồng cụ thể Đối với các loài cây phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp dùng để bón lót và bón thúc chăm sóc trong 3 năm đầu mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về kỹ thuật bón phân cho từng loài cây cụ thể cần được quan tâm tiếp tục nghiên cứu
e Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng
Mật độ là yếu tố quyết định năng suất của rừng trồng, mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh trưởng của cây trồng, nhưng mật độ quá thấp sẽ lãng phí đất và phải tốn công chăm sóc diệt cỏ dại Hơn nữa, mật độ thấp cành nhánh phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng gỗ nguyên liệu Mật độ trồng ban đầu như thế nào có hiệu quả nhất? Vấn đề này phải tuỳ thuộc vào mục đích trồng rừng, đồng thời tuỳ thuộc vào điều kiện lập địa nơi gây trồng
Tuy nhiên, vấn đề này ở trong nước còn rất ít các công trình nghiên cứu, theo kinh nghiệm ở một số công ty trồng rừng nguyên liệu hiện nay thường trồng từ
Trang 201660 - 2500cây/ha đối với các loài cây mọc nhanh và trung bình, mật độ này đã phải là tối ưu chưa? câu hỏi này vẫn chưa được trả lời một cách có cơ sở khoa học
Khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông nam bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau là: 952; 1111; 1142 và 1666 cây/ha, kết quả phân tích cho thấy sau 3 năm trồng năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1666 cây/ha (21m3/ha/năm), năng suất thấp nhất ở rừng có mật độ 952 cây/ha (9,7m3/ha/năm) Tác giả cho rằng đối với Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ nên trồng mật độ từ 1111-1666 cây/ha là thích hợp nhất [9]
Như vậy, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng rừng là vấn đề cấp thiết, như Võ Đại Hải và cộng sự (2005), đã tổng kết từ kết quả nghiên cứu như: Các kỹ thuật trồng rừng có nhiều thành tựu và tiến bộ trong nghiên cứu và thực tiễn, đặc biệt là các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây mọc nhanh với suất đầu tư cao
để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Nhiều quy trình, quy phạm và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng sản xuất đã được ban hành và áp dụng rộng rãi trong sản xuất thời gian qua Tới nay hầu hết các loài cây trồng rừng chủ lực đều đã có văn bản pháp quy ban hành [11]
1.1.2 Tổng quan về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
* Quan điểm 1 :
Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong các hoạt động kinh tế Ví dụ: Năng suất cây trồng, trọng lượng xuất chuồng và gia súc…Đây là quan điểm đã ra đời từ lâu, quan điểm này đánh giá đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả mà không tính toán đến chi phí sản xuất
Trang 21Quan điểm này được coi hiệu quả kinh tế là mức độ thoả mãn quy luật kinh
tế cơ bản đảm bảo nhu cầu con người Đối với nước ta hiệu quả không phải mục tiêu mà là phương tiện nâng cao mức sống của nhân dân, phải xác định bằng cách lượng hoá, bằng các phương pháp đo lường trong kinh tế chứ không phải chỉ quan tâm đến vai trò và tác dụng của nó
* Quan điểm 4 :
Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất mà hữu ích của sản phẩm được tạo ra chỉ phản ánh được một mặt nào đó của sản phẩm tạo ra Quan điểm này chưa toàn diện
* Quan điểm 5 :
Một nền kinh tế được gọi là có hiệu quả là nền kinh tế nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó mà giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bởi chỉ tiêu sản phẩm quốc dân tiềm năng, có nghĩa là tổng sản phẩm cao nhất có thể đạt được ở mức nào đó tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
* Quan điểm 6 :
Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ nhất định, nó góp phần làm tăng lợi nhuận xã hội của nền kinh tế quốc dân Quan điểm này gắn liền chi phí với hiệu quả thu được, coi kết quả là nội dung phản ánh trình độ sản xuất Bản chất của hiệu quả là sự vận hành của quy luật tiết kiệm thời gian [33]
1.1.2.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Được sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật, công nghệ được sử dụng trong sản xuất Nông nghiệp nói riêng và trong sản xuất nói chung Hiệu quả phân phối: là giá trị sản phẩm tăng thêm trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối, điều đó có nghĩa là hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất… Như vậy hiệu quả kinh tế là mục tiêu xuyên suốt các hoạt động kinh tế Nó không phải là mục tiêu duy nhất mà trong nền kinh tế xã hội người ta còn quan tâm đến cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [33]
Trang 22* Hiệu quả kinh tế
Là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đến tất cả các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế
Trong việc sử dụng đất trước hết phải sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm càng nhiều hàng hoá với giá thành hạ, chất lượng của sản phẩm và năng suất lao động cao, tích luỹ tái sản xuất mở rộng không ngừng [33]
* Hiệu quả xã hội
Có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Nó phản ánh trên các khía cạnh như các vấn đề việc làm, thất nghiệp, tỷ lệ nghèo đói, trình độ dân trí…Đời sống của nông thôn không ngừng được nâng cao, thực hiện dân chủ công bằng văn minh xã hội, xoá dần các tệ nạn xã hội, phát huy được những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng
* Hiệu quả môi trường sinh thái
Đây là chỉ tiêu hiệu quả được tất cả các nước cũng như nhiều người quan tâm Làm thế nào để trong hoạt động sản xuất kinh doanh không làm tổn hại đến môi trường mà bảo vệ và cải thiện được môi trường sinh thái nông thôn Sử dụng đất đai không chỉ tăng tổng giá trị sản phẩm, tăng tổng sản phẩm hàng hoá, đem lại nhiều lợi nhuận, nhưng nguồn tài nguyên không bị tàn phá, đất đai không bị xói mòn, rửa trôi, rừng không bị chặt phá, nguồn nước không bị ô nhiễm, thuỷ lợi, thuỷ văn không bị xấu đi
Phải đảm bảo cả ba mặt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái thì việc sử dụng đất đai mới được bền vững lâu dài, nó phải bao trùm lên toàn bộ phương hướng và sử dụng đất đai theo kế hoạch và quy hoạch chung của sử dụng đất đai phù hợp với từng thời kỳ, từng vùng, từng nơi cụ thể
Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái có liên quan chặt chẽ với nhau hỗ trợ cho nhau và không thể thay thế cho nhau Không thể coi nhẹ một vấn đề nào, tuy nhiên từng vùng cụ thể, từng thời gian cụ thể mà xem xét giải quyết từng mặt hiệu quả có khác nhau [33]
1.1.3 Tổng quan về cây Keo lai (Acacia Hybrid)
1.1.3.1 Sơ lược về cây Keo lai
Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) là tên gọi để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)
Trang 23Hai loài bố mẹ của Keo lai này được trồng ở nước ta từ vài chục năm trở lại đây, hai loài keo bố mẹ đã được đánh giá và công nhận là những loài cây mọc nhanh cũng như có giá trị ở nhiều mặt (lấy gỗ, củi và là loài cây cải tạo đất) Hiện nay Keo tai tượng và Keo lá tràm vẫn đang được trồng phổ biến ở nhiều nơi trong cả nước
Giống Keo lai đã được phát hiện và khảo nghiệm ở Việt Nam, đợt một trong các năm 1993 - 1995 Từ năm 1996 Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục tiến hành nghiên cứu về Keo lai Các nghiên cứu này gọi là chọn lọc thêm các cây Keo lai tự nhiên, xây dựng các khảo nghiệm dòng
vô tính, tiến hành đánh giá tiềm năng bột giấy của Keo lai, khả năng cải tạo đất của Keo lai, cũng như tiến hành khảo nghiệm dòng Keo lai chọn được ở các vùng sinh thái khác nhau
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp đều biết đến loài Keo lai bởi những ưu thế của nó về sinh trưởng và một số giá trị về kinh tế, cũng như khả năng cải thiện đất, nâng cao độ phì của đất trồng hơn hẳn so với một số loài cây mọc nhanh khác, Keo lai đã được đánh giá trên cơ sở những nghiên cứu thực nghiệm cơ bản và cả trên mô hình trồng thử Keo lại tại một
số vùng sinh thái ở nước ta
Năm 1995 Keo lai đã được hội đồng khoa học Bộ Lâm nghiệp (trước đây) đánh giá là giống tiến bộ kỹ thuật và cần tiếp tục nghiên cứu khảo nghiệm nhằm đưa giống này vào sản xuất đại trà, trồng rừng phủ xanh đất trồng đồi núi trọc, làm cây phù trợ cho trồng rừng đặc dụng, phòng hộ, trồng cây nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván nhân tạo phục vụ cho các chương trình trồng rừng như: 327, 5 triệu ha rừng, trồng cây nguyên liệu v.v ở nước ta cho sản xuất nông nghiệp lâu dài
a) Sơ lược về sự phát hiện và nghiên cứu Keo lai trên thế giới
Theo FAO, 1982 Keo lai tự nhiên giữa A mangium và A auriculiformis
được phát hiện đầu tiên vào năm 1970 tại bang Sabah (Malaixia) Theo Rufelds,
1987 [53] thì những cây này ở Ulu Kukul đã thấy có kích thước lớn hơn, dạng cành
và thân tròn đều hơn các cây Keo tai tượng đứng gần đó Ngoài ra còn có dấu hiệu cho thấy tỷ trọng gỗ và một số tính chất hơn cây mẹ Keo Tai tượng
Trang 24Theo Pinso và Nasi (1991) Keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm được Messir Herbern và Shim phát hiện lần đầu tiên trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah (Malaixia) Đến năm 1976, Tham [55] cũng coi là giống lai Đến tháng 7 năm 1978 sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensiand (Australia) được gửi tới từ tháng 1 năm 1977, Pegley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm
Từ đó trở đi Keo lai đã được các nhà lâm nghiệp để ý đến và cũng được phát hiện ở nhiều vùng khác như: phát hiện của Turnbull, 1986 [58], Gun et al, 1987 và Griffin,
1988 [55] thì vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea Theo Rufelds Theo Kijkar, 1992 [57] thì Keo lai cùng được phát hiện ở Thái Lan Ở đây Keo lai được gây trồng thành đám khoảng 30 cây tại trụ sở của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN - Canada ở Muak - Lek, Saraburi
Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm Keo lai tự nhiên còn tìm thấy trong vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) của Trạm nghiên cứu Jon-pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan và ở khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu (Trung Quốc)
b) Sự phát hiện và các đặc điểm của Keo lai Ở Việt Nam
Theo Lê Đình Khả, 1999 [19] thì ở nước ta Keo lai được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam) phát hiện tại Ba Vì (Hà Tây trước đây), Đông Nam Bộ và Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh), có những nghiên cứu đầu tiên Keo lai đã được phát hiện lác đác tại nhiều nơi như Nam Bộ (Tân Tạo, Trảng Bom, Sông Mây, Trị An), ở Trung Bộ (Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình
- Trị - Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng), ở Bắc Bộ (chủ yếu ở vùng Ba Vì (Hà Tây cũ)
và một số nơi khác như Hoà Bình, Phù Thọ, Tuyên Quang, v.v Các cây lai này đã xuất hiện trong các rừng trồng Keo tai tượng, được lấy giống từ các khu khảo nghiệm Keo tai tượng trồng cạnh Keo lá tràm tại Đông Nam Bộ và tại Ba Vì Vì thế
có thể biết mẹ của chúng là Keo tai tượng (Acacia mangium) và bố của chúng là Keo lá tràm (A auriculiformis)
Giống lai vùng Ba Vì được lấy từ khu khảo nghiệm giống Keo trồng năm
1982 tại Lâm trường Ba Vì Cây mẹ là Keo tai tượng, xuất xứ Daintree (thuộc bang
Trang 25Queensland của Australia) ở vĩ độ 16017’N, kinh độ 145031’Đ, với lượng mưa hàng năm khoảng 800 - 1200 mm/năm Cây bố là Keo lá tràm, xuất xứ Darwin (thuộc bang Northern Territory của Australia) có vĩ độ 12026’N, kinh độ 132016’Đ, với lượng mưa khoảng 1500 - 1900 mm/năm
Giống lai vùng Đông Nam Bộ được lấy từ khu khảo nghiệm giống keo trồng
1984 Cây mẹ là Keo tai tượng xuất xứ Mossman (thuộc bang Queensland của Australia) có vĩ độ là 16020’N, kinh độ 145024’Đ với lượng mưa hàng năm là 800 -
1200 mm/năm Cây bố là Keo lá tràm được đưa vào gây trồng trước đây không rõ xuất xứ hoặc thuộc xuất xứ Oenpelli (thuộc bang Northern Territory của Australia)
ở 12020’N, kinh độ 133004’Đ, với lượng mưa khoảng 1500 - 1900 mm/năm
Như vậy, các giống Keo lai ở nước ta dù được phát hiện hoặc được lấy giống
ở miền Bắc hoặc miền Nam về cơ bản đều có cây mẹ thuộc cùng những vùng sinh thái giống nhau, do đó có khả năng phát triển như nhau trên các vùng sinh thái chính ở nước ta Tuy nhiên do đặc điểm sinh trưởng và phát triển riêng biệt của chúng nên các giống này có thể có ưu thế lai khác nhau khá rõ rệt
1.1.3.2 Đặc điểm lâm học của cây Keo lai
* Hình thái
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003 cho thấy: Chương trình phát triển cây Keo lai dựa vào việc sử dụng hạt lai hoặc cây hom Keo lai bắt đầu từ keo lai tự nhiên hay nhân tạo Lai Keo có một khó khăn là hoa Keo nhỏ, việc khử đực trước khi lai khá phiền toái, nên đôi khi người ta xây dựng vườn giống hỗn giao hai loài bố mẹ
để sản xuất hàng loạt hạt lai cho trồng rừng đại trà hoặc cho sản xuất cây hom
Năm 1988, Rufelds đã đưa ra phương pháp xác định cây con Keo lai tại vườn ươm để các cán bộ kỹ thuật có thể dễ dàng nhận biết và tách riêng chúng ra khỏi các
lô hạt Keo tai tượng hoặc Keo lá tràm Sau này, Edmun Gan and Sim Bun Liang,
1991 [55] đã đưa ra các bảng đơn giản để đánh giá Keo lai ở vườn ươm (bảng )
Có hai nhóm đặc trưng của cây con được dùng để phân biệt Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở vườn ươm là:
- Các đặc trưng phân loại của lá,
- Hình mẫu phát triển của lá
Khi ta sử dụng đồng thời hai bảng này thì có thể phân biệt và nhóm các cây con cùng nhóm phân loại vào với nhau Việc đánh giá cần được thực hiện hàng tuần cho 8 đến 10 tuần
Trang 26Bảng 1.1 Phương pháp đánh giá đơn giản (Gan and Sim Bun Liang, 1991)
Lô hạt
cây mẹ
Thời gian
đánh giá
Đặc trưng cây con
Keo thuần Keo lai
A mangium
9 Có lá kép hai lần (4-pinn) và
nhiều hơn 5 lá kép (2-pinn)
Không có lá kép hai lần pinn), ít hơn 5 lá kép (2-pinn)
(4-10 8 hay nhiều hơn lá kép trước
khi ra lá giả đầy đủ
Ít hơn 8 lá kép trước khi ra lá
Chú ý: (1) Cây con được giữ dưới dàn che 50 - 70%
(2) Lá kép (pinnate) chỉ tất cả các dạng lá trừ lá giả đầy đủ và lá mầm
Bảng 1.2 Các đặc trưng phân loại của lá (Gan and Sim Bun Liang, 1991)
auriculiformis
Lá lông chim
Lá giả + Lá kép
Lông trắng mép lá kép rậm rậm đến vừa phải không có
Trang 27phòng tiêu bản thực vật ở Queensiand (Australia) được gửi tới từ tháng 1 năm 1977, Pegley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm
Từ đó trở đi Keo lai đã được các nhà lâm nghiệp để ý đến và cũng được phát hiện ở nhiều vùng khác như: phát hiện của Turnbull, Gun et al, 1987 và Griffin,
1988 [57] thì vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea Theo Kijkar,
1992 [58] thì Keo lai cùng được phát hiện ở Thái Lan Ở đây Keo lai được gây trồng thành đám khoảng 30 cây tại trụ sở của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN - Canada ở Muak - Lek, Saraburi
Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm Keo lai tự nhiên còn tìm thấy trong vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) của Trạm nghiên cứu Jon-pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan và ở khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu (Trung Quốc)
Ở nước ta giống Keo lai ở Ba Vì có nguồn gốc cây mẹ là Keo tai tượng có xuất xứ Pain-tree bang Queensland - Australia Cây bố là Keo lá tràm xuất xứ Darwin bang Northern Territory – Australia ở Đông Nam Bộ hạt giống lấy từ cây
mẹ Keo tai tượng xuất xứ Mossman và cây bố Keo lá tràm cũng ở Australia nhưng không rõ xuất xứ Về cơ bản các giống Keo lai đã phát hiện ở nước ta đều có cây
mẹ cùng vùng sinh thái giống nhau : Vĩ độ 12o20’ ÷ 16o20’Bắc, kinh độ 132o16’
÷145o30’ Đông, lượng mưa 800 ÷1900mm
* Sinh trưởng và tái sinh
Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với loài keo bố mẹ Với một
số loài Keo lai đã chọn lọc trồng thâm canh 3 tuổi đạt trung bình 8,6 – 9,8 m về chiều cao, 9,8 ÷ 11,4 cm về đường kính, 19,4 ÷ 27,2 m3/ha/năm, về lượng sinh trưởng và 50 ÷ 70 m3 về sản lượng gỗ Rừng Keo lai 7 ÷ 8 tuổi đạt 150 ÷ 200 m3gỗ/ha, nhiều hơn 1,5 ÷ 2 lần rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm
Keo lai có nhiều hạt và khả năng tái sinh tự nhiên bằng hạt rất mạnh Rừng trồng 8 ÷ 10 tuổi sau khi khai thác trắng, đốt thực bì và cành nhánh, hạt nảy mầm và
tự tái sinh hàng vạn cây/ha Khi cây con được 0,5 ÷ 1 tuổi, chặt tỉa cây xấu chọn để lại khoảng 2000 cây/ha, chăm sóc tạo rừng mới Tuy nhiên không trồng rừng Keo lai bằng cây con từ hạt mà phải bằng cây hom [22]
Trang 28Trên cơ sở phân biệt hình thái cây con để chọn cây lai, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003 [32] trích dẫn từ Edward Chia (1993) ở Sabah, Malaixia đã so sánh chiều cao bình quân các cây mẹ và Keo lai 1 năm tuổi và cho thấy triển vọng lớn của cây Keo lai có mẹ là Keo tai tượng (Am) và mẹ là Keo lá tràm (Aa) ở bảng sau:
Như vậy từ bảng 3.4 trên cho ta thấy Keo lai có khả năng sinh trưởng nhanh hơn so với keo bố mẹ của chúng là Keo tai tượng và Keo lá tràm
Bảng 1.3 Khả năng sinh trưởng của Keo lai so với bố mẹ
(Keo tai tượng và Keo lá tràm) Lặp lại A mangium A auriculiformis Keo lai (Am) Keo lai (Aa)
2
Trong đó: - π = 3,1416
- D: đường kính ngang ngực (D1.3)
- H: chiều cao vút ngọn (Hvn)
- f: hệ số hình dạng hoặc hình số (được giả định bằng 0,5)
1.1.3.3 Công dụng của Keo lai
Keo lai là một trong các loài cây chủ lực cung cấp gỗ nguyên liệu giấy Tỷ trọng gỗ 0,542, hàm lượng xenlulô 45,36%, tổng các chất sản xuất bột giấy 95,2%, hiệu xuất bột giấy 52,8%, độ nhớt của bột 36,6%, độ chịu gấp, chịu đập cao hơn hoặc trung gian giữa hai loài keo bố mẹ Ngoài ra keo lai còn dùng làm gỗ dán, ván dán cao cấp dùng trong xây dựng và xuất khẩu
Trang 29Keo lai mọc nhanh, cành lá phát triển mạnh, xanh quanh năm , sau khi trồng
1 ÷ 2 năm rừng đã khép tán, cải thiện được tiểu khí hậu, đất đai nơi trồng, che chắn hạn chế dòng chảy, trả lại một lượng cành khô lá dụng cho đất Cây con 3 tháng tuổi
có 40 ÷ 80 nốt sần cộng sinh, chứa hàng triệu Vi khuẩn cố định đạm, nhiều gấp 3 ÷
12 lần so với Keo tai tượng và Keo lá tràm Trong một gam đất dưới tán rừng Keo lai 5 tuổi có lượng vi sinh vật gấp 5 đến 17 lần các loài keo bố mẹ và gấp 96 lần ở nơi đất trống
Từ nghiên cứu về Keo lai cho thấy Keo lai nổi trội hơn hẳn Keo tai tượng và Keo Lá tràm về sinh trưởng phát triển Thực tế trồng các loài Keo ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, khả năng sinh trưởng nhanh hơn của Keo lai so với các loài Keo khác, đã giúp người trồng rừng rút ngắn được chu kỳ kinh doanh nguyên liệu công nghiệp, tăng năng suất và sản lượng gỗ trên một ha rừng trồng Tuy nhiên để thấy được tiềm năng bột giấy của Keo lai so với các loài Keo bố mẹ như thế nào, đã
có nhiều nhà khoa học đề cập đến
Theo Lê Đình Khả và Lê Quang Phúc, 1995 [19] cho thấy việc xác định tiềm năng bột giấy cho cây Keo lai có so sánh với các loài bố mẹ đã được tiến hành lần đầu tiên vào cuối năm 1994 Tiềm năng bột giấy và các tính chất cơ bản của Keo lai cao hơn các loài cây bố mẹ (các dòng Từ Ba Vì) hoặc có tính trung gian giữa hai loài bố mẹ
Một nghiên cứu mới đây của Lê Đình Khả và các cộng tác viên, 2003 dẫn chứng việc xác định tiềm năng bột giấy vẫn do Viện Công nghiệp giấy và xenlulo tiến hành Mẫu gỗ được lấy cho cây 4 tuổi và cây 5 tuổi của các dòng Keo Lai được lựa chọn, có so sánh với các loài bố mẹ là Keo tai tượng và Keo lá tràm cùng như
Bạch đàn trắng caman (Eucalyptus camaldulensis) được trồng cùng khoảng cách
3m x 2m và cùng một công thức bón phân quan phân tích được biết:
Về tỷ trọng gỗ của Keo lai cho thấy nó biến động từ 0,511 - 0,629 (trung bình là 0,574) Trong khí đó tỷ trọng gỗ của Keo lá tràm là 0,555 (xuất xứ Coen River) đến 0,590 (xuất xứ More head River) Tỷ trọng gỗ khô tự nhiên của Bạch đàn trắng caman (xuất xứ Petford) là 0,633, cao hơn khá rõ so với các dòng Keo lai
và các loài Keo bố mẹ Xác định tỷ trọng khô kiệt sau khi sấy ở nhiệt độ 1050C cho thấy các dòng Keo lai có tỷ trọng (0,491) trung gian giữa Keo tai tượng (0,474) và Keo lá tràm (0,493 - 0,541)
Trang 30Bên cạnh đó nghiên cứu còn chỉ thêm một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá gỗ khi phơi khô là mức độ nứt mặt cắt ngang của các đoạn gỗ dài 30 cm Mức độ nứt thể hiện tính co rút của gỗ khi phơi khô Gỗ càng có nhiều vết nứt và vết nứt rộng thì tính co rút càng mạnh Mức độ nứt gỗ được tính theo trị số trung bình của ố vết nứt và độ rộng vết nứt ở cả hai đầu của đoạn gỗ dài 30 cm sau khi phơi khô 3 tháng Kết quả cho thấy: Các dòng Keo lai được lựa chọn có trung bình 1,2 vết nứt trên một mặt cắt ngang với chiều rộng ngoài cùng của vết nứt là 2,46 mm Còn Keo tai tượng có trung bình là 1,22 số vết nứt; chiều rộng vết nứt là 3,39 mm Keo lá tràm
có trung bình là 0,80 vết nứt, chiều rộng vết nứt trung bình là 1,75 mm Gỗ Bạch đàn trắng caman có trung bình là 0,94 vết nứt, chiều rộng vết nứt là 1,44 mm
Như vậy, Keo lai có số vết nứt tương đương Keo tai tượng và cao hơn Keo
lá tràm, còn chiều rộng vết nứt lại nhỏ hơn Keo tai tượng nhưng lại cao hơn Keo lá tràm, Keo lai có tính chất trung gian giữa hai loài bố mẹ
1.1.3.4 Sơ lược về hiệu quả trồng rừng Keo lai ở Việt Nam
a) Về hiệu quả kinh tế
Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [38], đã nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào trồng rừng công nghiệp tại các vùng Trung Tâm, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đồng thời tính toán hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai Kết quả cho thấy ở vùng Trung Tâm các chỉ tiêu NPV và IRR (9%) đều thể hiện kinh doanh có lãi; ở các tỉnh Đông Nam Bộ chỉ tiêu IRR đạt khá cao khoảng từ 17%- 19% Tác giả nhận định, với chi phí trồng rừng như thời điểm nghiên cứu, nếu năng suất rừng trồng bình quân không đạt được trên 15 m3/ha/năm thì tỉ suất nội tại của vốn đầu tư sẽ không đạt được các mức như đã tính toán
Kết quả nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam (2004) ở vùng Đông Bắc; Bắc Trung Bộ; Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cho thấy: việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh (chọn giống, làm đất, bón phân, chăm sóc và mật độ trồng) đã cho năng suất rừng trồng Keo lai bình quân đạt trên 20 m3/ha/năm Kết quả tính toán hiệu quả kinh tế cho thấy, tỷ lệ lãi suất nội tại (IRR= 16%), đây là hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất lâm nghiệp, tác giả khẳng định năng suất cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh tế của quá trình đầu tư [27]
Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai ở Thái Nguyên và Bắc Kạn, Trần Công Quân (2012) đã điều tra, khảo sát trực tiếp các diện tích rừng trồng
Trang 31Keo lai và tập hợp các số liệu về chi phí và thu nhập để tính toán hiệu quả kinh tế Kết quả cho thấy, năng suất của rừng trồng Keo lai bình quân đạt 20m3/ha/năm và lợi nhuận thu được cao, trong 7 năm bình quân mỗi năm lãi được hơn 2 triệu đồng/năm, tỷ lệ lãi suất nội tại (IRR= 24%)[35]
Theo Võ Đại Hải và cộng sự, (2005) [11] khi nghiên cứu các mô hình rừng trồng sản xuất thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy hiệu quả kinh tế xã hội các
mô hình rừng trồng sản xuất được tổng hợp và trích một phần vào bảng sau: Đối với nhóm lấy gỗ thì tỷ suất thu nhập và chi phí BCR dao động không lớn lắm và đều lớn hơn 1 ở tất cả các mô hình, nghĩa là kinh doanh lâm nghiệp hiện nay đều có lãi, trong đó giá trị BCR cao là ở các rừng trồng Keo tai tượng, Keo Lai, Keo lá tràm,
Mỡ với trị số BCR đạt từ 1,9 - 2,5 tại các điểm khảo sát Cũng cần lưu ý một điểm rằng, cùng một loài cây những ở những lập địa khác nhau, điều kiện cơ sở hạ tầng
và khả năng chế biến sản phẩm khác nhau giá trị BCR cũng rất khác nhau vì năng suất rừng, giá bán sản phẩm khác nhau
Cần chú ý rằng Mỡ và Keo tai tượng giá trị thu nhập tính cho gỗ nhỏ những thực tế ít ra 1/3 nguyên liệu được bán tính theo giá trị gỗ lớn 1,2 - 1,3 triệu đồng/m3, nên thực tế BCR sẽ cao hơn nữa Mặt khác, đây cũng là cây có khả năng cung cấp
gỗ lớn kết hợp gỗ nhỏ với chu kỳ 15 - 20 năm nên không chỉ suất thu nhập được tăng , mà tính bền vững về môi trường sinh thái cũng tốt hơn cho nên cần có chuyển hướng về mục tiêu kinh doanh 2 loài cây này theo hướng đó thay vì chỉ đáp ứng cung cấp gỗ nhỏ
Keo lai mọc nhanh kinh doanh gỗ nhỏ chu kỳ ngắn, khả năng cải tạo đất và phòng hộ bị hạn chế cần thực hiện phương thức luân canh giữa 2 loài đó sau khi chặt chính Quan trọng hơn nữa là phải sử dụng nguồn giống từ các dòng đã được chọn lọc cải thiện và công nhận với kỹ thuật nhân giống bằng hom, mô và thâm cạnh
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn và cộng sự, (2006) [41] đã đề xuất rằng: Trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng tuy đã đạt được những thành tựu nhất định về năng suất, những hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trồng thâm canh như thế nào cũng là vấn đề thời sự đáng được quan tâm Các thông số kinh tế -
kỹ thuật sử dụng trong tính toán hiệu quả kinh tế được các tác giả đưa ra như:
- Chu kỳ kinh doanh 8 năm đối với Keo lai và Keo tai tượng
Trang 32- Mật độ trồng ban đầu bình quân là 1660 cây/ha, mật độ
- Phương thức trồng thâm canh với kỹ thuật làm đất bằng cơ giới một số khâu hoặc làm đất thủ công toán bộ tuỳ địa kiện địa hình cụ thể;
- Chăm sóc liên tục 4 năm đầu;
- Bảo vệ từ năm thứ 5 đến hết chu kỳ kinh doanh;
- Tỷ lệ lãi suất vay vốn đầu tư trồng rừng từ quỹ hỗ trợ đầu tư là 5,4%/năm;
- Thuế sử dụng đất lâm nghiệp là 2 % giá trị gỗ thương phẩm;
Kết quả tính toán hiệu quả kinh tế cho 6 mô hình trồng rừng thâm canh ở các vùng sinh thái được nghiên cứu và tổng hợp vào bảng trên cho thấy hiệu quả kinh tế của các mô hình khá cao, biểu hiện bằng các chỉ tiêu trên bảng như NPV, IRR, BCR đạt giá trị càng cao thì mô hình càng có hiệu quả kinh tế Trong 6 mô hình thì cao nhất là mô hình trồng Keo lai ở Bình Dương có, NPV: 34,85 và tỷ suất thu nhập nội
bộ (IRR) đạt 19,20%, với tỷ suất thu nhập trên chi phí đạt 2,68 (tức là một 1nghìn đồng vốn đầu tư bỏ ra thì sau 8 năm có thể thu về thu nhập là 2,68 nghìn đồng); Thấp nhất là mô hình trồng Thông Caribê ở Vĩnh Phúc, chu kỳ kinh doanh dài (15 năm), nhưng NPV chỉ đạt 17.910 đồng, BCR đạt 1,79 (tức là một 1nghìn đồng vốn đầu tư bỏ ra thì sau 8 năm có thể thu về thu nhập là 1,79 nghìn đồng), IRR đạt 9,57
% Các tác giả còn nhận định với Thông Caribê và Keo lá tràm phải kết hợp cả mục tiêu gỗ nhỏ và gỗ lớn thì mới mang lại hiệu quả kinh tế cao
b) Về hiệu quả về xã hội và môi trường
Với cây Keo lai được trồng rừng nguyên liệu phổ biến hiện nay có nhiều ưu điểm được các nhà nghiên cứu và trồng rừng quan tâm như khả năng nhân giống nhanh bằng nhiều phương pháp, sinh trưởng phát triển nhanh và các mô hình trồng rừng bằng giống cây này nhằm cung cấp gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu đều có hiệu quả kinh
tế khá cao Tuy nhiên, tác động của rừng khi trồng giống cây này với môi trường như thế nào cũng là vấn đề được quan tâm Về mặt phòng hộ và bảo vệ môi trường không khí, bảo vệ nguồn nước v.v thì ai cũng khẳng định là các loài cây rừng nói chung và các loài cây trồng rừng sản xuất, trồng rừng nguyên liệu đầu phát huy rất tốt Ở chuyên đề này chúng tôi chú ý nhiều hơn tới khả năng tác động đến đất đai
Nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự, (1999) [19] trên 30 bầu cây cho thấy
ở giai đoạn cây ươm ở giai đoạn 3 tháng tuổi số lượng và khối lượng nốt sần trên rễ của Keo lai nhiều gấp 3 đến 10 lần các loài keo bố mẹ; số tế bào vi sinh vật và vi
Trang 33khuẩn cố định đạm trong 01g đất dưới tán rừng Keo lai cao hơn rõ rệt so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, đất được cải thiện tốt hơn cả về hoá lý tính và vi sinh vật đất Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất
ở Ba Vì, Vũ Tấn Phương (2001) [32] đã đánh giá diễn biến độ phì của đất ở dưới rừng Keo lai từ 2- 6 tuổi đã có sự cải thiện rõ rệt, độ phì của đất tăng lên cùng với
sự tăng lên của tuổi cây rừng; mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất đơn lẻ là không chặt chẽ, tuy nhiên nó có quan hệ chặt chẽ với tổng hợp một số tính chất của đất
* Kết Luận:
- Ở Việt Nam, các nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc phát triển trồng rừng Keo lai Đặc biệt, công tác chọn giống và khảo nghiệm các dòng Keo lai có năng suất cao để trồng rừng tại một vùng vùng Đông Bắc, đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả cũng đã chỉ ra được một số biện pháp
kỹ thuật lâm sinh áp dụng trồng rừng Keo lai cho năng suất cao, như mật độ trồng, bón phân; những ưu thế về hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường của rừng trồng Keo lai và cũng đã chỉ ra được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trồng rừng Keo lai mang lại, Những kết quả nghiên cứu của các tác giả được tham khảo sau này làm cơ sở cho những dẫn liệu và định hướng quan trọng khi nghiên cứu và viết luận án
- Tuy đã đạt được những kết quả nhất định, song các nghiên cứu về Keo lai vẫn còn nhiều hạn chế, như các nghiên cứu về cơ sở khoa học của quá trình sinh trưởng, tăng trưởng, điều kiện gây trồng, nghiên cứu đặc điểm liên quan đến các biện pháp kỹ thuật trồng rừng; các biện pháp kỹ thuật lâm sinh còn thiếu tính hệ thống và chưa đồng bộ; việc nghiên cứu áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp trong các điều kiện cụ thể của từng vùng sinh thái nhằm mục tiêu cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp và đặc biệt là người trồng rừng vẫn chưa thực sự chú ý đến kết quả những nghiên cứu, hay kết quả những nghiên cứu chưa thực sự thuyết phục người trồng rừng nên nhiều khi có hiện tượng sai lệch, hoặc làm theo chủ quan thiếu khoa học Vì vậy, cần có nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn trong các lĩnh vực
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 341.2.1.1 Vị trí địa lý
Công ty Lâm nghiệp Tuyên Bình nằm trên địa bàn 6 xã: Xã Tràng Đà thuộc Thành phố Tuyên Quang; Các xã: Tân Long, Tân Tiến, Xuân Vân, Trung Trực, Kiến Thiết thuộc huyện Yên Sơn
- Phía Bắc giáp huyện Chiêm Hoá
- Phía Nam giáp thành phố Tuyên Quang
- Phía Tây giáp xã Phúc Ninh của huyện Yên Sơn
- Phía Đông giáp xã Đạo Viện của huyện Yên Sơn
Trụ sở Văn phòng Công ty đặt tại xã Tràng Đà- Thành phố Tuyên Quang Có toạ độ: Kinh độ X : 418.057; Vỹ độ Y : 2.417.057
- Diện tích tự nhiên quản lý theo quy hoạch được duyệt: 3.166,2 ha phân bổ
trên địa bàn các xã như sau:
Bảng 1.4 Diện tích tự nhiên quản lý theo quy hoạch
phân bổ trên địa bàn các xã
Địa bàn Công ty quản lý có 2 vùng với đặc điểm địa hình khác nhau:
- Vùng phía Bắc và phía Đông: là vùng núi cao, độ dốc trên 250
- Vùng phía Nam và phía Tây: là vùng núi thấp, đồi bát úp, độ dốc bình quân 15-200
- Độ cao so với mặt nước biển: Độ cao bình quân so với mặt nước biển
- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau: Thời tiết lạnh và khô
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9: Nóng ẩm mưa nhiều
Trang 35- Lượng mưa tháng cao nhất: 230 mm
1.2.1.4 Đặc điểm về đất đai
Có 3 loại đất chính là:
- Feralit trên núi cao: Tầng đất sâu, thành phần cơ giới trung bình (vùng phía Bắc)
- Feralít vàng nâu phát triển trên phiến thạch sét, sa thạch: Tầng đất trung bình, thành phần cơ giới trung bình, đất thịt nhẹ (vùng phía Tây)
- Feralít bị sói mòn, tầng đất mỏng , thành phần cơ giới trung bình đến nhẹ (vùng phía Nam)
1.4.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên trong vùng quản lý của Công ty phù hợp với việc sản xuất kinh doanh nghề rừng Các loại cây lâm nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên như
Tổng diện tích đất đề nghị được giao theo quy hoạch sử dụng đất: 3.166,2 ha
* Phân theo địa giới hành chính
Xã Tràng đà: 141,4 ha Xã Xuân Vân: 246,1 ha
Xã Trung Trực: 503,4 ha Xã Tân Long: 140,1 ha
Xã Kiến Thiết: 1.289,4 ha Xã Tân Tiến: 845,8 ha
* Phân theo hiện trạng sử dụng
Trang 36- Diện tích có rừng: 1.456,5 ha
+ Diện tích rừng tự nhiên sản xuất: 265,4 ha
+ Diện tích rừng trồng sản xuất: 1.191,1ha
- Diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng: 1.643,0 ha
- Diện tích đất khác: 66,7 ha
Bảng 1.5 Tổng hợp diện tích đất đai, tài nguyên rừng của
Công ty Lâm Nghiệp Tuyên Bình
Hạng mục
Diện tích trồng Trữ lượng
(M3- 1000 cây)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
2013, loài cây chủ yếu là Keo, Mỡ Diện tích đất có rừng tự nhiên có trạng thái gỗ
đã là 265,4 ha, diện tích này theo quy hoạch phân 3 loại rừng là rừng tự nhiên sản xuất, đã bị tác động của con người nên trữ lượng đã bị suy giảm Diện tích đất chưa
có rừng là 1.643 ha, phần lớn diện tích này đang là đất lấn chiếm của các hộ dân để
Trang 37trồng màu, cây lâm nghiệp và sử dụng vào mục đích khác, theo quy hoạch được duyệt thì đây là diện tích đất phải thu hồi để sản xuất kinh doanh
Nhìn chung, công tác quản lý sử dụng đất đai tài nguyên của đơn vị còn có mặt hạn chế như trữ sản lượng rừng trồng còn thấp, diện tích đất quản lý đang bị lấn chiếm còn nhiều Chính từ những hạn chế này đã ít nhiều ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh và sự phát triển của đơn vị
1.2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
1.2.3.1 Dân số, dân tộc, lao động có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
Trên địa bàn 6 xã thuộc vùng quản lý của Công ty có 21.000 dân, lao động chính có khoảng 9.000 người
- Dân tộc Kinh: 46%
- Dân tộc Tày: 14%
- Dân tộc Dao: 23%
- Dân tộc khác: 17%
Hầu hết bà con nhân dân sống bằng nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp
cơ bản là ruộng 1 hoặc 2 vụ, diện tích bình quân đạt 0,6 - 0,8 sào bắc bộ/ khẩu Lương thực quy thóc bình quân đạt 42 kg/khẩu/tháng Ngoài diện tích đất sản xuất nông nghiệp, bà con nhân dân sống gần rừng còn có diện tích đất lâm nghiệp để trồng rừng, chăn thả gia súc nhằm tăng thêm nguồn thu nhập
Trang 38Bảng 1.6 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội trên địa bàn Công ty Lâm Nghiêp Tuyên Bình
Trang 391.2.3.2 Tình hình xã hội
Trong vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của đất nước thì sự nhìn nhận và định hướng phát triển kinh tế của các hộ dân cũng được cải thiện đáng kể Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật như giống cây trồng, biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng vào sản xuất để làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng đã được chú trọng Người dân đã từng bước xoá bỏ dần những hủ tục lạc hậu Cơ sở hạ tầng đến các xã được cải thiện đáng kể, 100% các xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% các xã có trường học tại trung tâm xã được xây dựng kiên cố, trung tâm các
xã đã được phủ sóng điện thoại di động
1.2.3.3 Đặc điểm kinh tế
Trong vùng quản lý của Công ty, ngoài diện tích đất xã Tràng Đà thuộc thành phố Tuyên Quang, đặc điểm kinh tế của các xã còn lại trên địa bàn huyện Yên Sơn đều mang tính thuần nông, tự sản tự tiêu là chính, thu nhập kinh tế chủ yếu của các hộ dân đều trông vào ruộng, chăn nuôi và kinh tế vườn đồi
1.2.3.4 Kết cấu hạ tầng
Trong vài năm trở lại đây, nhờ có nguồn vốn đầu tư từ chương trình 135, cơ
sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm đã được đầu tư nâng cấp đáng kể, 100 % số xã
đã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% số xã có Bưu điện xã, sóng viễn thông đã được phủ sóng tới khoảng 70% diện tích quản lý
Đường giao thông trong trên địa bàn Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Lâm Bình hoàn toàn trong lâm phần, đường liên thôn, xã là đường đất, nhiều đoạn đèo dốc, nhiều ổ gà, nhiều đoạn phải qua suối rất khó đi đặc biệt trong mùa mưa, trơn trượt, lầy lội, hoặc rất rễ gặp lũ cuốn trôi Nhiều tuyến đường để ra được đường liên huyện, đường rải nhựa đi lại dễ dạng thì rất xa, 10-30 km, nhiều xã phải đến 40 km
Cụ thể, về giao thông trong lâm phần quản lý của Công ty được chúng tôi tổng hợp vào bản sau:
Trang 40Bảng 1.7 Hệ thống đường giao thông trên địa bàn
Công ty Lâm Nghiêp Tuyên Bình
đường
Chiều dài (km)
Mô tả đánh giá
Đường đất Nhà máy xi măng- Ba xứ 28 Đèo dốc, khó đi Đường đất Tân Tiến- Trung Trực 6 Đường xấu Đường đất Xuân Vân- Quý Quân 5 Nhiều suối, ổ gà Đường đất Xuân Vân- Trung Trực 2 Nhiều dốc, ổ gà