ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- ĐỒNG NGỌC HUẤN NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ SỬ DỤNG CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ MẪU SƠN, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐỒNG NGỌC HUẤN
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ
SỬ DỤNG CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI
XÃ MẪU SƠN, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐỒNG NGỌC HUẤN
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ
SỬ DỤNG CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI
XÃ MẪU SƠN, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HD KHOA HỌC: TS ĐỖ HOÀNG CHUNG
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Đỗ Hoàng Chung
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung
thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào
Nội dung luận văn có tham khảo và sử các tài liệu, thông tin được đăng
tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi học viên, đó là thời gian để học viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Phòng quản lý đào tạo sau đại học - Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn: "Nghiên cứu tri thức bản địa trong quản lý sử dụng cây thuốc của
cộng đồng tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn"
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực tập tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành
Vậy tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn chúng tôi
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đỗ Hoàng Chung đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo UBND xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn cùng người dân trong xã Mẫu Sơn - huyện Lộc Bình, đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình thực tập để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luân động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Đồng Ngọc Huấn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 16
1.2.1 Vị trí địa lý 16
1.2.2 Địa hình địa thế 17
1.2.3 Khí hậu thủy văn 17
1.2.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
1.2.5 Trình độ dân trí – phong tục tập quán 17
1.2.6 Cơ sở hạ tầng và các công trình đầu tư 18
1.2.7 Đất đai tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 19
Trang 62.2 Thời gian nghiên cứu: 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản 20
2.4.2 Phương pháp chuyên gia 20
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 24
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thành phần loài cây được sử dụng làm thuộc 27
3.2 Mức độ khai thác, sử dụng và các loài cây thuốc ưu tiên bảo tồn 47
3.3 Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc 49
3.3.1 Tri thức bản địa trong việc khai thác các loài cây thuốc 49
3.3.2 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài cây thuốc 54
3.3.3 Tri thức bản địa thể hiện cách bảo quản các loài cây thuốc 54
3.4 Tri thức bản địa trong việc gây trồng các loài cây thuốc 59
3.4.2 Các bài thuốc cần được lưu giữ và bảo tồn 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
Kết luận 61
Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CREDEP Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng các dân tộc khai thác sử dụng
làm thuốc tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 27
Bảng 3.4: Cây thuốc được người dân nhắc đến với số lần nhiều nhất
từ cao xuống thấp 47
Bảng 3.3: Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu biểu được cộng đồng dân tộc sử dụng làm thuốc 36
Bảng 3.5: Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng các loài cây thuốc 50
Bảng 3.6: Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc tại xã Mẫu Sơn,
huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn 55
Bảng 3.7: Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa và cần bảo tồn
tại xã Mẫu Sơn huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn 59
Bảng 3.8: Các bài thuốc quan trọng của cộng đồng dân tộc
cần được lưu giữ và bảo tồn 60
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng 21
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện bộ phận thu hái 49
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện cách sử dụng các loại cây thuốc 54
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện cách bảo quản của các loài cây thuốc 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường Sơn Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một
ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài
nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt
là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất
Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao Trong đó có 3.948 loài được dùng làm thuốc (viện dược liệu, 2007) chiếm khoảng 37% số loài đã biết Đó
chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cho
đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần Ngoài ra các nhà khoa học Nông
Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng
Trang 11làm thuốc Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2002 –
2005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài) Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa dạng
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh tật cần thuốc chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày Với các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn thuốc Tây Y không phục
vụ đến kịp thời Các bài thuốc Nam lại là nguồn nguyên liệu sẵn có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc an toàn và có hiệu quả Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng bào dân tộc thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là “sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng , kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến
sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Mẫu Sơn - huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc
Xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản địa trong quản lý sử dụng cây thuốc của cộng đồng tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn" được thực hiện nhằm tìm ra giải pháp để bảo tồn và phát triển các
loài thuốc có giá trị và kinh nghiệm sử dụng các bài thuốc của cộng đồng dân tộc
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Phát hiện được từ cộng đồng các cây thuốc, bài thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống
Trang 12- Lựa chọn được các bài thuốc, cây thuốc hay quan trọng để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân
- Tư liệu hóa được tri thức sử dụng, một số bài thuốc gia truyền và những kinh nghiệm chữa bệnh của đồng bào dân tộc từ các loài cây hoặc các bộ phận của cây sử dụng an toàn và có hiệu quả
- Tư liệu hóa được tri thức trong việc trồng, khai thác và chế biến cây thuốc của các cộng đồng ở khu vực nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng
đồng thôn bản và người dân
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật Lâm sản ngoài
gỗ để làm thuốc nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây làm thuốc
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm Sản Ngoài Gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ
đáng kể Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong
việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn
sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm
1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại
cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các
loại cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”,
“Giang Tô trung dược danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần Hồng Hạnh,1996).[6]
Năm 1968 một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc đã
xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” cuốn sách đã đề
cấp tới cây Thảo quả với nội dung sau:
- Phân loại cây Thảo quả: gồm tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost Lemaire), tên họ Zingiberceae
- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả
- Vùng phân bố ở Trung Quốc
- Đặc điểm sinh thái: Khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật gây trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh
- Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản
- Công dụng: Làm thuốc trị các bệnh về đường ruột
Trang 14Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và có hệ
thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc
biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả
tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội dung đề cấp là: Tên khoa học, một số dặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hóa học Năm 1999,
trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua, N
Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây
thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân
loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo
vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [16]
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 2000-5000
USD/ Kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay
có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [13]
Trang 15Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác
giả A.l.Ermakov, V.V Arasimovich đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp nghiên cứu hóa sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử
dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko
đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế)
trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G Kovalena đã công bố rộng
rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa
không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh
với liều lượng đã được định sẵn Tiến sĩ James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ
đã có nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh
mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử
dụng các loại cây thuốc (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005) [8]
Những nghiên cứu về tri thức bản địa các loài cây thuốc có thể liệt kê có một
số công trình dưới đây:
Harsha V.H và cs (2002) nghiên cứu tri thức thực vật dân tộc tại huyện Uttara Kannada, bang Karnataka Ấn Độ [17] Kết quả cho thấy có 45 loài cây thuộc 26 họ
được cộng đồng người Kunabis sử dụng làm thuốc Các loài được sử dụng để chữa trị
một số bệnh như sốt, ho, bệnh ngoài da, thấp khớp, rắn cắn, bệnh vàng da, kiết lỵ,…
Parinitha M và cs (2005) nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ [20] Kết quả cho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9 bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm Mười hai tuyên bố mới về kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có trong văn học
Muthu C và cs (2006) nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi các thầy lang
ở Kancheepuram, bang Tamil, Ấn độ [19] Kết quả cho thấy, những thầy lang sử
Trang 16dụng 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau Các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa trị các bệnh về da, độc cắn,
đau bụng và rối loạn thần kinh
Uniyal S.K và cs (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc của các bộ lạc ở khu vực phía Tây dãy Himalaya [22] Kết quả cho thấy, có 35 loài thực vật thường được sử dụng bởi người dân địa phương trong việc chữa các bệnh khác nhau Có đến 45% loài cây, người dân đã sử dụng phần dưới đất để làm thuốc
Sajem A.L và Gosaik (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của tộc người Jaintia ở Ấn độ [21] Kết quả cho thấy cộng đồng sử dụng 39 loài thuộc 27 họ và 35 chi Để trị nhiều loại bệnh, việc sử dụng các bộ phận của cây trên mặt đất chiếm tỷ lệ cao hơn (76,59%) so với các bộ phận dưới mặt đất (23,41%) Lá
đã được sử dụng trong đa số các trường hợp (23 loài), tiếp theo là quả (4 loài) Tổng
cộng có 30 loại bệnh đã được báo cáo được chữa khỏi bằng cách sử dụng 39 loài cây thuốc
Manju Panghal và cs (2010) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ [18] Kết quả cho thấy có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật Trong đó có
19 loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn Có 48 loài thuộc 34 họ được sử dụng
để chữa trị các bệnh khác Phân theo dạng sống có 20 loài cây thân thảo (36%), 16
loài cây gỗ (28%), 10 loài dây leo (18%), 9 loài cây bụi (16%) và 1 loài thân bò (2%) Những họ có số loài nhiều nhất là họ Đậu (Fabaceae) 8 loài, họ Loa kèn (Liliaceae) 5 loài, họ Hoa môi (Laminaceae) và họ Cúc (Asteraceae) mỗi họ có 3 loài
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát Đặc biệt là nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồng bào nhân dân sống gần đó mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu chữa tại chỗ là rất cần thiết và cấp bách nhất
Trang 17Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên) Gần đây nhiều loài thuốc ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà, Ác Ti sô, Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã Đề, Sả, Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ , vv…
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây
thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Gs Đỗ Tất Lợi (1999) trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc; Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; Ts Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc
nhập nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ, củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng
được tiến hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc
ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không
đáng kể Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua
biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm 1996,
Trang 18tuy mới biết được trên 10 loài thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam (Viện Dược Liệu, 2002) [10]
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới
núi cao Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài Ở nước
ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu
định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến từ rất
lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống kê được trên 60
đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến lỵ, đâu dạ
dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, …Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian trồng, thu
hoạch của Sa nhân (Lê Trần Đức, 1997).[5]
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo
ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng,
Mây nếp, …(Nguyễn Ngọc Bình và cs, 2000) [3]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả - huyên Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng
đồng dân tộccho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân
tộc ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái
Trang 19chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các
điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức độ tác động của người đân địa
phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồng tài nguyên cây thuốc (Phạm Thanh Huyền và cs, 2000) [7]
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ 1994 -2002, Viện dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích trong đó có mô hình
Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình trồng Ba kích ở đồi
và đất nương rẫy cũ Bước đầu các mô hình này đã đem lại những hiệu quả đáng kể
Ở nước ta số loài cây thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không
ngừng tăng lên, theo báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu về dược liệu và tài nguyên
cây thuốc (Viện dược liệu, 2003) [10]
- Năm 1952 toàn Đông Dương có 1.350 loài
- Năm 1986 Việt Nam đã biết có 1.863 loài
- Năm 1996 Việt Nam đã biết có 3.200 loài
- Năm 2000 Việt Nam đã biết có 3.800 loài
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và
phát triển cây thuốc (Trần Khắc Bảo, 2003) [2]
Nguyễn Văn Thành khi nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng-Phốk vùng lõi vườn Quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăc Lắc đã chỉ ra các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc
Trang 20hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển, nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc
theo nhóm bệnh (Nguyễn Văn Thành, 2004) [15]
Trong 2 năm 2004 - 2005 Ngô Quý Công đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục
đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên
ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải
pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển (Ngô Quý Công, 2005).[4]
Theo Nguyễn Văn Tập, để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cộng sự đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thời gian trong cộng đồng thường sử dụng, nhằm kế thừa
và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này (Nguyễn Văn Tâp, 2005) [13] Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều
Trang 21tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm - Hoàng Bồ - Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong
đó có 8 loài được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam
(Nguyễn Văn Tập, 2006).[14]
Năm 2006, Lê Thị Diên và cộng sự nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc Nam dưới tán rừng tự nhiên trong bối cảnh nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên dang bị khai thác cạn kiệt cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện, nhằm sử dụng nguồn tài nguyên này trong tương lai Kỹ thuật tạo cây con và gây trồng các loài cây Bách bệnh, Bình vôi, Bồng bồng, lá Khôi, Vằng đắng, đã
được người dân tại thôn Hà An áp dụng rộng rãi Các cây thuốc Nam được gây
trồng có tỷ lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng Công trình nghiên cứu này nhằm cung cấp kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc Nam được người dân sử dụng nhiều dựa trên kinh nghiệm của họ kết hợp với những thử nghiệm từ đề tài để phát triển cây thuốc Nam tại thôn Hà An
Cho đến nay Lâm sản ngoài gỗ vẫn là nguồn dược liệu chủ yếu và là nguồn thu nhập của người dân ở những vùng rừng mưa thường xanh ở miền Bắc và miền Trung, điển hình là ở Đông Bắc, Bắc Bộ và Tây Nguyên Nhiều dược liệu quý dùng trong nước và xuất khẩu đều có nguồn gốc từ Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn… như Sâm Ngọc Linh, Hoàng Đằng (để sản xuất Becberin) ở Tây Nguyên rất nổi tiếng Ngày nay nhiều hộ gia đình đã trồng các loài cây dược liệu trong vườn nhà với nguồn giống lấy từ rừng, như trồng quế đã thành phổ biến ở các tỉnh Đông Bắc, Bắc Bộ và Trà Bồng, Trà My (Quảng Nam); Ba kích , Hà thủ ô, Hòe…trồng rất phổ biến ở nhiều nơi Dược liệu đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều vùng, người dân thu hái dược liệu chỉ để sử dụng một phần rất nhỏ còn lại
đem bán ra ngoài thị trường và từ đó xuất khẩu sang các nước khác Những người
sống ở gần biên giới phía Bắc thường bán các dược liệu thu hái được qua biên giới
Trang 22bằng con đường trực tiếp hoặc thông qua người buôn Nhiều loại dược liệu có nguồn gốc từ Việt Nam xuất khẩu sang các nước khác, qua chế biến và quay trở
lại Việt Nam với thương hiệu nước ngoài trong tỉnh (Theo Cẩm nang Lâm nghiệp, Phần Lâm sản ngoài gỗ, 2006) [1]
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng vầ tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài
cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây
chủ yếu là cộng đồng dân tộc và Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm
có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần
được ưu tiên và bảo tồn (Đỗ Hoàng Sơn, 2008) [12]
Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập được 500 loài cây thuốc đem
về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Thanh Trì (Hà Nội), Vườn Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và Vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn – Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện sống như điều kiện sống của chúng và lý lich thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa-quả… được ghi lại để đánh giá khả năng bảo tồn
Danh sách một số loài cây dược liệu có giá trị cao trên thị trường được người dân bán tại chợ Sapa do tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Viện Đông y thống kê như sau: Bạch chỉ, Bạch thược, Bạch truật, Cam thảo, Đại táo, Đẳng sâm, Đỗ trọng, Đương quy, Hà thủ ô dổ, Hà thủ ô trắng, Liên nhục, Hoài sơn, Hoàng kỳ, Huyền sâm, Mạch ngôn, Ngũ gia bì chân chim, Ngũ gia bì gai, Ngu tất, Sâm nam, Thổ phục linh, Thục
Trang 23địa Trong số dược liệu này chỉ có một số rất nhỏ có nguồn gốc Trung Hoa như: Đương
quy, Đại táo, số còn lại là sản phẩm có nguồn gốc từ rừng của miền Nam
Thuần hóa Lâm sản ngoài gỗ thành công rõ rệt nhất là với những loài cây dược liệu Trong vòng 50 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có hơn 30 loài cây thuốc vốn c tự nhiên ở rừng đã được thuần hóa đưa vào trồng ở các quy mô khác nhau, trong số đó có 4 loài là Ích mẫu, Củ cọc, Kim tiền thảo, Nhân trần đã được trồng tương đối ổn định; 10 loài đang được nghiên cứu thuần hóa, đó là những loài quý hiếm như: Ba kích, Cốt khí củ, Đẳng sâm, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì gai, Sâm ngọc linh, Sâm vũ điệp, Sì to, Tam thất hoang và Tục đoạn Vấn đề khó khăn là thiếu nguồn giống, quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng cũng là những khâu quan trọng cần được nghiên cứu Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây Chè đắng mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè
đắng có 5 nhóm chất: saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng,
calotennoid và axit hữu cơ Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong
số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau: Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa kịp khai thác Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như
Trang 24Vằng đắng (Coscinium fenestratum); Các loài Bình vôi (Stephania ssp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đắng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá
mức, không chú ý bảo vệ tái sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một
số loài thuộc nhóm này như Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc
Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc tự nhiên, Hoàng liên, Lan một
lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2005) [13]
Nước ta lại là một nước nhiệt đới có nhiều rừng, tập trung nhiều thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vì vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến
sử dụng tài nguyên cây thuốc bản địa là một việc rất cần thiết hiện nay
Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở Việt Nam họ có những bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả chữa bệnh lại rất cao Lạng Sơn cũng là tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là huyện Lộc Bình nơi có dân tộc cộng đồng dân tộc sinh sống nên đây cũng là nơi lý tưởng cho các nghiên cứu về kiến thức bản địa trong đó có kiến thức sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thiên nhiên
Như vậy tri thực bản địa ở đây là gì?
Tri thức bản địa là những kiến thức địa phương của riêng một nền văn hóa hoặc cộng đồng nào đó Nó có thể có những tên gọi khác như: “kiến thức địa phương”, “ kiến thức dân gian”, “kiến thức truyền thống” hay “kiến thức khoa học truyền thống” Những kiến thức này được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, thường là được truyền lại thông qua hình thức truyền miệng hoặc thông qua các nghi lễ văn hóa, chúng là nền tảng duy trì các hoạt động xã hội thiết yếu của cộng
Trang 25đồng như nông nghiệp, cách chế biến thức ăn, cách chăm sóc sức khỏe, giáo dục, sự
bảo tồn và rất nhiều các hoạt động khác ở rất nhiều vùng trên thế giới
Những cư dân bản địa sở hữu vốn kiến thức rộng về cách sống bền vững Tuy nhiên, những hệ thống giáo dục chính quy đã ngăn cản sự học tập và thực hành những tri thức bản địa này trong cuộc sống hàng ngày, và thay thế vào đó bằng những kiến thức mang tính lí thuyết và những phương pháp học tập và thực hành mang tính học thuật Ngày này, có một vấn đề nghiêm trọng đó là nhiều tri thức bản
địa đang bị mất đi, và cùng với sự biến mất này, là kiến thức quý giá về những cách
sống bền vững
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý
Mẫu Sơn là vùng núi cao chạy theo hướng đông-tây, nằm ở phía đông bắc
tỉnh Lạng Sơn thuộc địa phận chính của 3 xã: Mẫu Sơn, Công Sơn huyện Cao Lộc và xã Mẫu Sơn huyện Lộc Bình, nằm cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía
đông, giáp với biên giới Việt-Trung Đây là vùng núi cao của tỉnh, có địa hình đa
dạng, độ cao trung bình 800 – 1.000 m so với mặt nước biển, bao gồm một quần thể
80 ngọn núi lớn nhỏ với đỉnh cao nhất là Phia Po (1.541 m, còn gọi là đỉnh Công hay Công Sơn), đỉnh Pia mê cao 1520 m Diện tích khu Mẫu Sơn khoảng 550 km² Khu dân cư sống rải rác gần khu rừng trồng, thuộc vành đai thấp với độ cao không quá 700 m so với mặt nước biển
Về mùa đông nhiệt độ ở Mẫu Sơn xuống tới nhiệt độ âm, thường xuyên cóbăng giá và có thể có tuyết rơi Nhiệt độ trung bình ở đây là 15,5 °C, đỉnh núi quanh năm có mây phủ
Vùng núi này là nơi cư trú của các dân tộc Dao, Nùng, Tày Từ năm
1925-1926 ở đây đã có 16 km đường giao thông nối từ quốc lộ 4a lên đến đỉnh núi 1935 người Pháp đã quy hoạch và xây dựng tại đây nhiều nhà nghỉ Ngày nay tỉnh Lạng Sơn đang cho xây dựng những công trình phục vụ cho việc nghỉ dưỡng và đón khách du lịch
Mẫu Sơn nổi tiếng với các sản vật chè tuyết sơn, gà sáu cựa, chanh rừng, ếch hương, lợn quay, rượu Mẫu Sơn, đào chuông Mẫu Sơn, dịch vụ tắm thuốc của đồng
Trang 26bào Dao và nhiều sản vật theo mùa khác của khu du lịch Mẫu Sơn Khu du lịch Mẫu Sơn đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn quy hoạch thành Khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, leo núi thám hiểm và du lịch văn hoá Khu du lịch có diện tích trên 20ha ở độ cao trung bình tù 800 - 1200m so với mặt nước biển, có hệ thống nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, bãi cắm trại đạt tiêu chuẩn phục vụ du khách du lịch
- Phía Bắc giáp với các xã Xuân Lễ, Bằng Khánh, Đồng Bục, Xuân Mãn, Hữu Khánh, Yên Khoái
- Phía Đông giáp với Trung Quốc
1.2.2 Địa hình địa thế
Mẫu Sơn là xã miền núi của huyện Lộc bình có dạng địa hình đồi núi cao, độ cao trung bình so với mặt nước biển 800m có nhiều đỉnh núi cao > 1000m Đỉnh cao nhất là đỉnh Phia Pò cao 1541m phần lớn đất đai của xã có độ dốc > 20 độ Địa hình chia cắt mạnh có nhiều vách núi dựng đứng, đất nông nghiệp chiếm diện tích rất nhỏ, chủ yếu là phù hợp với sản xuất lâm nghiệp
1.2.3 Khí hậu thủy văn
Mẫu Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi mùa đông lạnh
và khô, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 18,5 độ C nên nhiệt độ phân hóa theo
2 mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm thừ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô lạnh từ tháng 10
đến tháng 4 năm sau
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình là 2.200mm cao nhất trong toàn huyện
và phân bố không đều, lượng mưa từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 76% tổng lượng mưa cả năm
1.2.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Mẫu Sơn có 271 hộ với 1217 nhân khẩu, tổng số lao động trong độ tuổi khoảng 667 người, phân bố ở 8 thôn bản đa số là dân tộc Dao chủ yếu là sản xuất nông, lâm nghiệp kết hợp với chăn nuôi Lực lượng lao động cơ bản có việc làm chủ yếu là lao động lâm nghiệp đa số chưa qua đào tạo, trình độ dân trí thấp
1.2.5 Trình độ dân trí – phong tục tập quán
Toàn xã có 8 thôn bản đa số là dân tộc Dao, chủ yếu là lao động lâm nghiệp, chưa qua đào tạo, trình độ dân trí thấp Các tập quán, hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan,
Trang 27ma chay, cưới xin đang từng bước được cải thiện và xóa bỏ Nhân dân đã xây dựng quy ước, hương ước thôn bản cùng nhau thực hiện khu dân cư văn hóa, phù hợp với tập tục và đúng với Luật pháp của nhà nước
1.2.6 Cơ sở hạ tầng và các công trình đầu tư
- Hệ thống điện hạ thế đã được kéo đến từng hộ gia đình 7/8 thôn bản đạt 87,5%
- Hệ thống đường liên thôn, liên xã còn nhỏ hẹp, xấu và dốc đi lại khó khăn về
mùa mưa chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa
- Xã có 1 trường tiểu học, 7 phân trường tiểu học, 1 trường THCS
- Về khám chữa bệnh có 1 trạm y tế xã (nhà cấp IV)
1.2.7 Đất đai tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên: 6.829,75ha
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chỉ nghiên cứu các loài thực vật được cộng đồng dân tộc sử dụng làm thuốc
- Địa điểm nghiên cứu: Tại cộng đồng dân tộc thiểu số Dao sống tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
2.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
Nội dung 1: Thành phần loài cây được sử dụng làm thuốc
- Xác định các loài cây được người dân khai thác và sử dụng làm thuốc
- Xác định tên địa phương, tên dân tộc, tên khoa học của các loài cây thuốc
- Mô tả một số đặc điểm hình thái, sinh thái và nơi sống của các loài cây thuốc
Nội dung 2: Mức độ khai thác, sử dụng và các loài cây thuốc ưu tiên bảo tồn
- Xác định số lượng người/gia đình có sử dụng các loài thực vật trong cộng đồng
- Lịch sử khai thác và sử dụng
- Số lượng người tham gia thu hái, ai tham gia thu hái (Phụ nữ, người già )
- Mục đích thu hái: Sử dụng tại gia đình hay bán ra thị trường
- Khối lượng thu hái theo năm:
Nội dung 3: Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc
- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về khai thác như: Bộ phận thu hái; Mùa vụ và
kỹ thuật thu hái;
- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về về bảo quản sản phẩm: Biện pháp xử lý, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch
- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về cách chế biến và sử dụng các loài cây thuốc: Các phương thức chế biến đối với từng cây ở từng cộng đồng, từng hộ như
Trang 29bằng cách đơn giản (phơi, gác bếp, dùng tươi ) hay cầu kỳ (phải qua nhiều công
đoạn khác nhau ); Thành phần và tỷ lệ các loài cây phối hợp trong các bài thuốc
dân gian
Nội dung 4: Tri thức bản địa trong việc gây trồng các loài cây thuốc
Tư liệu hóa các kiến thức bản địa về trồng và chăm sóc; về chọn lọc và phát triển giống; về bảo quản và lưu giữ giống và kiến thức bản địa về nhân giống các
loài cây thuốc
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa các tài liệu cơ bản
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tớí các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp chuyên gia
Phân loại thực vật được giám định của các chuyên gia về thực vật tại các cơ
sở có uy tín (Viện Sinh thái và TNSV, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên )
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.3.1 Liệt kê tự do
Liệt kê tự do là kỹ thuật thường được áp dụng trong nghiên cứu xã hội Áp dụng trong điều tra cây thuốc, liệt kê tự do cần được thực hiện qua hai giai đoạn: (i) liệt kê tự do và (ii) xác định cây thuốc
Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin
(NCCT), đề nghị họ cho tên tất cả các tên của cây làm thuốc
Chọn mẫu: NCCT được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên – phân tầng:
NCCT được phân thành một số nhóm nhất định (theo kinh nghiệm; dân tộc; độ tuổi; giới ), sau đó lấy ngẫu nhiên NCCT từ các loại đó
Phỏng vấn: Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả NCCT, ví dụ: “Xin bác
(anh/chị/ông/bà) kể tên tất cả các cây trong khu vực có thể được sử dụng làm thuốc
mà bác (anh/chị/ông/bà) biết?” Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị
Trang 30NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình Điều này tránh
được sự nhầm lẫn tên cây thuốc giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau
Hình 2.1 Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng
Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần mềm
máy tính, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii)
đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục
các tên theo thứ tự nào đó, ví dụ như xếp theo tần số giảm dần Có thể xác định danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (hay các loài cốt lõi), là các loài
được nhiều NCCT nhắc đến, cộng với một số lượng lớn các loài được một số ít
NCCT hay chỉ một người nhắc đến Các loài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chung của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực cây thuốc trong khu vực điều tra Các loài còn lại thể hiện cái nhìn, tri thức, kinh nghiệm riêng của các thành viên trong cộng đồng
2.4.3.2 Xác định cây thuốc
Sau khi xử lý dữ liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, chúng ta có trong tay một danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng là thuốc Tuy nhiên đây chỉ là danh
Số tên cây thuốc
Số người cung cấp tin
Số người cần hỏi
Trang 31mục bằng tên địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào Do đó, cần thiết phải xác
định tên phổ thông và tên khoa học của các cây mang tên đó Để làm được việc này,
cần thu thập mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây thuốc đã được nêu ra trong danh mục,
xử lý và định tên (tiến hành theo phương pháp điều tra theo tuyến) Việc xác định tên
khoa học của các mẫu cây thuốc dựa trên tên được liệt kê nói trên sẽ góp phần loại bỏ các tên đồng nghĩa trong phần liệt kê tự do lần nữa Như vậy số loài cây thuốc thực tế
có thể sẽ nhỏ hơn số tên thống kê được trong giai đoạn liệt kê tự do Cần chú ý là một tên địa phương có thể chỉ nhiều loài khác nhau, thường là các loài trong cùng một chi,
có đặc điểm hình thái giống nhau hay các loài có cùng công dụng
Sỗ liệu điều tra của các mục trên được ghi vào các mẫu biểu có sẵn (Phụ lục
1 đến phụ lục 4)
2.4.3.3 Điều tra theo tuyến với người cung cấp tin quan trọng
Điều tra 5 tuyến hướng đi theo chân, sườn, đỉnh
Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực vật
Dựa trên cơ sở kết quả của bước Liệt kê tự do, lựa chọn người cung cấp tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các loài cây thuốc trên thực địa
NCCT quan trọng là những người am hiểu về cây thuốc trong khu vực, thường là những người già, phụ nữ, tự nguyện cung cấp thống tin Mục tiêu điều tra
là xác định chính xác các loài cây đã được liệt kê tại bước liệt kê tự do Các bước thực hiện bao gồm:
+ Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra có thể được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố cây thuốc trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau Trong điều tra tại cộng đồng, lấy trung tâm công đồng làm tâm
và đi theo bốn hướng khác nhau
+ Thu thập thông tin tại thực địa: Cách đơn giản nhất là NCCT và điều tra viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi Cách thu thập thông tin khác, có hệ thống hơn, là NCCT và điều tra viên dừng lại
Trang 32tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây thuốc xuất hiện trong khu vực đó
Thông tin cần phỏng vấn bao gồm: tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng, cách dùng Để tiết kiệm thời gian người ta thường in sẵn một sổ mẫu biểu có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kỳ cây nào được NCCT xác định là cây thuốc đều được thu thập
để xác định tên khoa học (Phụ lục 5)
+ Xử lý thông tin: Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất định tính, bao gồm: Danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, ), ước lượng tần số xuất hiện trong tuyến điều tra
2.4.3.4 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài:
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác): sử dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 1 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 0 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang mức 3 điểm
- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
Trang 332.4.3.5 Phương pháp phỏng vấn và thảo luận nhóm
Sử dụng một số câu hỏi cho 40 hộ được chọn Trong khi phỏng vấn, yêu cầu người cung cấp thông tin đưa ra tên cây theo tiếng của dân tộc mình Quá trình phỏng vấn có thể diễn ra ở một chỗ (nhà, vườn hay trong rừng) hoặc cán bộ nghiên cứu cùng với người cung cấp tin vừa đi vừa phỏng vấn Cách thứ hai có ưu điểm là trong một lúc, người cung cấp tin chưa thể nhớ hết các cây được sử dụng, khi đi như vậy sẽ giúp
họ gợi nhớ tốt hơn Trong phỏng vấn cần kết hợp cả các cách phỏng vấn sau:
+ Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi về bất kỳ cây nào với những câu hỏi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội dung cần hỏi có thể thay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người cung cấp thông tin
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một số câu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể
+ Phỏng vấn có cấu trúc (phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụng một bộ câu hỏi nhất định đối với những người cung cấp thông tin có chọn lọc tham gia
+ Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đó chúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một quy trình xử lý hay chế biến nào đó
+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người khác
đã đưa ra trong các lần phỏng vấn trước
Thảo luận nhóm:
Sau khi có kết quả bước đầu về tri thức và kinh nghiệm qua phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm các thông tin bổ sung, đánh giá mức độ
ưu tiên bảo tồn các loài cây thuốc, chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm Nhóm thảo
luận bao gồm 5 thành viên trong nhóm điều tra và cán bộ thuộc Hạt kiểm lâm huyện Lộc Bình Trong khi thảo luận, cán bộ nghiên cứu lần lượt đưa các thông tin đã thu thập được ra để mọi người tranh luận, nhiều kinh nghiệm đã được chỉnh lý và bổ sung qua quá trình này
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật học
Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của người
dân địa phương
Trang 34Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ hay dương xỉ) Các cây lớn thu từ 3- 5 mẫu trên cùng cây; các cây thảo nhỏ và dương xỉ thì thu 3 - 5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình
định mẫu và trao đổi mẫu vật Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù
hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản: 41 x 29 cm
Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu được thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, cần thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ… ), các mẫu này không đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này
Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sử dụng, chúng tôi còn thu thập các mẫu thực vật dân tộc học- các mẫu thực vật chứa đựng giá trị tri thức dân tộc như: bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật
Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi
chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc
điểm thân, cành, lá, hoa, quả trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể
hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi, vị của hoa quả nếu có thể biết được… Bên cạnh đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh thái nơi sống, mật độ, người thu mẫu… cũng nên được ghi cùng
Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thức của người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cách thức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là: tên dân tộc của cây, ý nghĩa của tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cách khai thác, bảo quản và
sử dụng, cách thức dùng khi phối hợp với các cây khác, nguồn gốc thông tin… Ngoài ra, do mẫu thực vật dân tộc thường không có đầy đủ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên cán bộ điều tra đề nghị người cung cấp tin mô tả các bộ phận còn thiếu
Trang 35tuy nhiên những mô tả này chỉ để tham khảo và định hướng tiếp theo chứ không
được coi là các mô tả thực vật vì cách nhìn nhận, mô tả của người dân không hoàn
toàn trùng khít với cách mô tả thực vật của người nghiên cứu Các thông tin có thể
được vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối
ngày phải vào phiếu
Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp
vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dung dịch cồn 40o -
45o để mang về Khi về, mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô
Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh
Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với các bản
mô tả, hình vẽ Các tài liệu thường xuyên được dùng là: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Cây cỏ Việt Nam…
Các mẫu vật phức tạp, không có nhiều đặc điểm nhận dạng sẽ được chuyển cho các chuyên gia phân loại sâu để giám định
Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, tiến hành lập danh lục thực
vật, Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh lục cuối cùng được xây dựng theo nguyên tắc: Tên các
họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự abc Trong bảng danh lục
có các cột là: Stt, Tên dân tộc, tên phổ thông, tên khoa học, họ thực vật, chế biến và
sử dụng, địa điểm thu mẫu
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp
Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, thống kê tất cả các loài cây thuốc lên danh lục thực vật và viết báo cáo
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài cây được sử dụng làm thuộc
Trên cơ sở điều tra các bài thuốc trong đó có các cây thuốc được đồng bào xác định theo tiếng địa phương và một số ít tên phổ thông, nhóm nghiên cứu đã cùng người dân đi rừng lấy mẫu, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái sau đó mang về làm tài liệu tra cứu xác định tên phổ thông cùng tên khoa học và họ thực vật của chúng Kết quả được tổng hợp thành bảng 3.1
Bảng 3.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng các dân tộc khai thác sử dụng
làm thuốc tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
STT Tên phổ thông Tên địa phương Tên
khoa học
Bộ phận dùng
Công dụng
I Polypodiophyta - Ngành dương xỉ
I.1 Schizaeaceae - Họ thòng bong
flexuosum Cả cây Đái vàng
I.2 Polypodioaceae - Họ dương xỉ
parasiticus Rễ
Cầm máu bong gân
IV.1 Cucurbitacea – Họ bầu bí
pentaphylum Cả cây
Chữa hạ đường huyết, tăng cường miễn dịch
Trang 37STT Tên phổ thông Tên địa phương Tên
khoa học
Bộ phận dùng
Công dụng
IV.2 Malvaceae - Họ bông
8 IV.4 Rubiaceae - Họ cà phê
Chè rừng Kèng bung đáng cochinchinen Aidia
IV.5 Rutaeceae - Họ cam
citroides Quả
Chữa ho, viêm họng
11 Ớt rừng - Micromelum
falcatum Vỏ thân Đau răng
IV.6 Verbenaceae - Họ cỏ roi ngựa
13 Mò mâm xôi Búng súi mía
Clerodendrum philippinum var simplex
Rễ
Kinh nguyệt không đều, mụn nhọt
IV.7 Asteraceae - Họ cúc
odorata
Toàn cây, chủ yếu là lá
Chữa ỉa chảy, đau nhức xương
Trang 38STT Tên phổ thông Tên địa phương Tên
khoa học
Bộ phận dùng
Công dụng
Ageratum conyzoides indica
Lợi gân cốt, giảm đau
Chống viêm, lợi tiểu
22 Rau má lá rau
Emilia sonchifolia Cả cây
Viêm họng, mụn nhọt
miềng
Wedelia calendulacea Cả cây Mụn nhọt
IV.8 Moraceae – Họ dâu tằm
cành, quả
Chữa lao hạch, táo bón, phổi nóng, táo bón
heterophyllus Cả cây
Chữa ngã bị ứ huyết, ngực bụng, đau nhức
Trang 39STT Tên phổ thông Tên địa phương Tên
khoa học
Bộ phận dùng
Công dụng
IV.9 Thunbergiaceae – Dây bông xanh
26 Dây bông xanh Cây thuốc triết Thunbergia
IV.11 Fabaceae- Họ đậu
kinh, mất ngủ
IV.12 Myrsinaceae - Họ đơn nem
crenata Sims Rễ Sốt rét
IV.13 Urticaceae - Họ gai
Kháng khuẩn, lợi tiểu
IV.14 Saururaceae – Họ giấp cá
32 Rau diếp cá Cùa mua mia Houttuynia
cordata Toàn cây
Chữa sốt xuyết huyết, táo bón, mụn, viêm phổi, quai bị
IV.15 Leeaceae- Họ gối hạc
kinh
Trang 40STT Tên phổ thông Tên địa phương Tên
khoa học
Bộ phận dùng
Công dụng
IV.16 Lamiaceae - Họ hoa môi
IV.17 Scrophulariaceae - Hoa mõm sói
IV.19 Illiciaceae- Họ hồi
difengpi Quả Đau bụng
IV.20 Smilacaceae – Họ khúc khắc
glabra Rễ, củ
Chữa phong thấp, lợi gân cốt
IV.21 Passifloraceae - Họ lạc tiên
foetida Cả cây
Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh