PHAN BỘI CHÂU NIÊN BIỂU PHAN BỘI CHÂU VÀ GIẤC MỘNG LỚN TẢN ĐÀ - NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN CỦA TỰ TRUYỆN VIỆT NAM Lê Tú Anh1 TÓM TẮT Phan Bội Châu niên biểu của Phan Bội Châu và Giấc mộng lớ
Trang 1PHAN BỘI CHÂU NIÊN BIỂU (PHAN BỘI CHÂU) VÀ GIẤC MỘNG LỚN (TẢN ĐÀ) - NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN
CỦA TỰ TRUYỆN VIỆT NAM
Lê Tú Anh1
TÓM TẮT
Phan Bội Châu niên biểu của Phan Bội Châu và Giấc mộng lớn của Tản Đà - một tác phẩm viết bằng chữ Hán, một viết bằng chữ quốc ngữ, cùng ra đời vào năm 1929, có thể được xem là những tác phẩm khai sinh thể loại tự truyện trong nền văn học Việt Nam Tự truyện ra đời không chỉ dự phần vào hệ thống thể loại văn học hiện đại mà còn thúc đẩy quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam nhanh chóng bước vào chặng hoàn tất với một diện mạo “phong phú, giàu có, bề thế đến kinh ngạc”.
Từ khoá: Tự truyện.
1 MỞ ĐẦU
Tự truyện tuy không chiếm vị trí quan trọng nhất trong loại hình văn xuôi, nhưng là thể loạikhông thể không kể đến trong hệ thống thể loại văn học hiện đại Trong quá trình vận động của nềnvăn học Việt Nam từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại, thể loại này có dấu
hiệu xuất hiện ngay từ tác phẩm văn xuôi bằng chữ quốc ngữ đầu tiên: Thầy Lazarô Phiền (Nguyễn
Trọng Quản) Đến chặng hoàn tất của quá trình hiện đại hoá văn học (1930-1945), tự truyện đãchính thức có mặt và cùng với các thể loại khác, làm nên một diện mạo mới cho nền văn học ViệtNam Góp phần tạo nên sự xuất hiện sớm sủa và mau lẹ của thể loại này, theo chúng tôi, không thểkhông kể tới vai trò của Phan Bội Châu và Tản Đà Hai tác phẩm đánh dấu sự ra đời của thể loại văn
học này chính là Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản Đà).
Nghiên cứu về tự truyện với tư cách một thể loại trong nền văn học Việt Nam lâu nay vẫnchưa được chú ý Điều này một phần xuất phát từ quan niệm về thể loại chưa thấu đáo, tự truyệnthường bị đánh đồng với hồi ký - thể loại đã có khá nhiều thành tựu ở nước ta Thêm vào đó, một
Nam vẫn chưa có tự truyện theo đúng nghĩa Trên cơ sở lý thuyết về thể loại và bằng quan điểmlịch sử cụ thể, trong công trình này, tôi muốn khẳng định rằng tự truyện đích thực đã xuất hiệntrong nền văn học Việt Nam hiện đại ngay từ chặng khởi đầu; ngõ hầu đem đến một cái nhìn mới
mẻ, khoa học hơn về thể loại tự truyện trong nền văn học nước ta
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Trước khi bàn về Phan Bội Châu niên biểu và Giấc mộng lớn, chúng tôi xin được trình
bày quan điểm của mình về tự truyện Đã có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này,nhưng theo chúng tôi, một tác phẩm tự truyện cần phải thỏa mãn ba yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, tác giả - người kể chuyện và nhân vật chính của tác phẩm là một Nghĩa là, tự
truyện là chuyện đời của chính người viết Có một lưu ý cho quy ước này, chuyện đời của người
1TS Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.
Trang 2viết phải là những chuyện có thực, là cuộc đời nhà văn đã nghiệm sinh Nói cách khác, tác giả
tự truyện phải là con người hữu thể, thực tính, đã sống thật
Thứ hai, người viết tự truyện phải đặt cái “tôi” của mình ở vị trí trung tâm tác phẩm để tự
quan sát, đào xới, lý giải bằng nhãn quan cá nhân Nghĩa là, nhà văn viết tự truyện phải sử dụng
điểm nhìn nội quan (introspetion) trong trần thuật Tuy nhiên, trong khi đi tìm cái “tôi”, một tự
truyện đích thực phải đạt tới cái “chúng ta”
Thứ ba, nhà văn kể lại chuyện đời mình trong tinh thần sám hối, thú tội, tự vấn lương tâm.
Có nhà nghiên cứu cho rằng, tự truyện “in dấu nếp sống của tín đồ Thiên Chúa giáo, rõ nhất làviệc xưng tội” [1; tr.375]
Tự truyện có nhiều điểm gần gũi với nhật ký, tiểu thuyết và nhất là hồi ký Do vậy, nhiều
tự truyện vẫn được gọi là hồi ký và nhiều hồi ký lại được xem là tự truyện Theo tôi, tự truyện
và hồi ký có những điểm gần gũi, song cũng có rất nhiều khác biệt Điểm gần gũi dễ nhận thấynhất là cả người viết tự truyện và người viết hồi ký đều phải “ngoái nhìn” phần đời quan trọng
đã qua của mình để kể lại Do vậy, sự thật của tự truyện và hồi ký là sự thật được nhớ lại, chứ không phải sự thật đang trải qua của nhật ký Thế nên, nếu tự truyện và hồi ký mang tính chất
tổng kết, thì nhật ký lại thường dang dở Tuy nhiên, giữa hồi ký và tự truyện có một điểm khácbiệt căn bản nhất, đó là nội dung kể Hồi ký kể chuyện đời của người viết nhưng có liên quanđến nhiều người, tác giả chỉ là người tham gia hoặc chứng kiến những chuyện ấy, người ấy, việcấy Hồi ký đòi hỏi tính xác thực, không hư cấu về chất liệu và được xem là gần với ghi chép tư
liệu lịch sử Do vậy, hồi ký cũng như nhật ký, không dùng các thủ pháp xây dựng cốt truyện Tự
truyện thì khác, người viết tự truyện phải đặt cái tôi đời tư của mình ở vị trí trung tâm của tácphẩm để miêu tả và lí giải Cốt truyện của tự truyện vì thế sẽ được xâu chuỗi từ chính mỗi bước
đi của cái “tôi” trên đường đời của anh ta giữa cuộc đời rộng lớn
2.2 Trước khi Phan Bội Châu niên biểu và Giấc mộng lớn xuất hiện, văn học Việt Nam
đã có nhiều tác phẩm có yếu tố tự truyện Trong văn xuôi tự sự thời trung đại, tính tự truyện thể
hiện khá rõ ở các tác phẩm Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Sơ kính tân trang của Phạm Thái Tuy nhiên, đó chưa phải là những tác phẩm tự
truyện, hiểu theo nội hàm hẹp của khái niệm này Cuối thế kỷ XIX sang đầu XX, văn xuôi quốc
ngữ cũng xuất hiện khá nhiều tác phẩm mang dáng vẻ của tự truyện Đầu tiên phải kể đến Thầy Lazarô Phiền – tác phẩm văn xuôi tự sự quốc ngữ xuất hiện sớm nhất, năm 1887 Toàn bộ truyện
dài 32 trang in, không có một dòng nào đề là “tự thuật” hay “tự truyện” Nhưng nó dường như lại
có đầy đủ tính cách của một tác phẩm tự truyện Tác phẩm có hai tầng trần thuật, hai người kểxưng “tôi”: một là Lazarô Phiền và một là người đã nghe chuyện của Phiền rồi kể lại cho độc giả.Người đọc cũng dễ dàng nhận ra Lazarô Phiền mới là nhân vật của tự truyện Lazarô Phiền tự kểcâu chuyện đời mình, tự phơi bày những góc khuất tối của tâm hồn, những tội lỗi trong quá khứ;
lý giải sự hình thành tâm trạng khổ đau tột cùng trong thời điểm kể chuyện và kể bằng giọng sámhối của một con chiên xưng tội, một kẻ tự đầu thú Nhưng rõ ràng, tác phẩm đã không đáp ứngđược nguyên tắc quan trọng nhất của tự truyện Đó là người kể lại đời mình phải là một con người
có thật, bằng xương bằng thịt chứ không phải một cái “tôi” được hư cấu Không có bằng chứngnào chứng tỏ nhân vật người kể xưng “tôi” nghe chuyện của thầy Phiền rồi thuật lại cho người
hư cấu của tác phẩm: “tôi một có ý dụng lấy tiếng thường mọi người hằng nói mà làm ra mộttruyện” và “tôi mới giám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mắt ta luôn” [6; tr.4].Còn nhân vật Lazarô Phiền, thật khó xác định danh tính anh ta dù đã có những bằng chứng kháxác thực Thậm chí, ngay những bằng chứng tưởng chừng xác thực đó, theo tôi, lại chính là sảnphẩm của sự hư cấu để nhân vật trở nên sống động, như thật
Trang 3Từ sau Thầy Lazarô Phiền, trong giai đoạn 1900-1930, văn xuôi quốc ngữ đã hình thành một dòng “tự thuật” rất rõ rệt Tiêu biểu là các tác phẩm Lâm Kim Liên của Trần Thiên Trung, Oan kia theo mãi (Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật) của Lê Hoằng Mưu, Sổ đoạn trường (Lâm Kim Lang tự thuật) của Nguyễn Thành Long, Đoạn nghĩa tóc tơ (Mười tám đêm
Trần Minh Châu tự thuật) của Nguyễn Hữu Tình, riêng Phạm Minh Kiên có tới hai tác phẩm là
Mười lăm năm lưu lạc (Dương Tuấn Anh tự thuật) và Duyên phận lỡ làng (Hà Cảnh Lạc năm ngày tự thuật) Tuy nhiên, cũng như Thầy Lazarô Phiền, các tác phẩm này đều đã vi phạm vào
nguyên tắc thứ nhất của tự truyện Ở đó, nhân vật “tự thuật” và người viết không phải là một.Nói cách khác, nhân vật đã không thể tự viết ra câu chuyện cuộc đời mình Mặt khác, việc xácđịnh danh tính của những nhân vật “tự thuật” trong các tác phẩm kể trên quả thực khó khăn.Theo tôi, đó vẫn chỉ là những cái tôi hư cấu kiểu Lazarô Phiền Các nhà văn đã dùng kiểu kếtcấu truyện trong truyện để thể nghiệm một lối trần thuật mới: từ ngôi thứ nhất – hình thức trầnthuật chưa từng được sử dụng trong văn xuôi tự sự truyền thống Tuy nhiên, với nhiều biểu hiện
mới mẻ về cách viết, Thầy Lazarô Phiền và dòng tiểu thuyết “tự thuật” đã góp phần chuẩn bị
cho sự ra đời của tự truyện Việt Nam
2.3 Nói về tự truyện của Phan Bội Châu, ngoài Phan Bội Châu niên biểu, một số nhà
nghiên cứu còn kể tới Ngục trung thư Về Ngục trung thư, chỉ nhan đề đã gợi ý cho người đọc việc xác định thể loại tác phẩm Bức thư được viết cuối năm 1913, ngay sau khi Phan Bội Châu
bị bắt, bị giam ở nhà ngục Quảng Châu (Trung Quốc) Tin chắc là không thoát khỏi cái chết,
ông viết bức thư này như một sự giãi bày, một “tiếng kêu đau thương sau chót” Như vậy, về
mục đích sáng tác, có thể thấy nhà văn có ý định nhìn lại đời mình và bày tỏ lòng mình Nhưng
qua XVII chương của Ngục trung thư, thấy Phan Bội Châu không chỉ kể chuyện của mình Câu
chuyện cuộc đời ông được kể một cách vắn tắt từ lúc sinh ra đến thời điểm viết thư này có liênquan tới rất nhiều người, nhiều sự kiện mà tác giả chỉ là người tham gia và chứng kiến Do vậy,ngôi kể trong toàn bộ tác phẩm không nhất quán: khi thì xưng “tôi”, khi lại xưng “chúng tôi”(tức ông và các bạn đồng chí) hoặc xưng “ta” (gồm cả “tôi” và “chúng tôi”) Chỉ riêng điều này
đã cho thấy tác phẩm là một cuốn hồi ký cách mạng thì đúng hơn Về cách kể, tác phẩm thiên
về kể sự Tác giả đặc biệt lưu ý đến yếu tố thời gian, địa điểm của sự việc Do vậy, tính chấtbiên niên rất rõ nét Chẳng hạn: “Thiệt ta sinh ra đời giữa năm Đinh Mão (1867), niên hiệu TựĐức thứ 20, nghĩa là lúc Nam Kỳ đã mất sáu năm rồi”, “Năm tôi 17 tuổi, tức là năm Tự Đức36” , “Đến năm tôi 19 tuổi nhằm năm Ất Dậu” Lối kể này cho thấy rõ tính chất người thật,việc thật, sự chân thực, không hư cấu; kết hợp với giọng văn nghiêm trang; cách viết ngắn gọn,không đưa vào những chi tiết rườm rà khiến tác phẩm mang nhiều dáng vẻ của thể liệt truyện
“Vào thời đại Phan Bội Châu đó là thể loại phổ biến và thích hợp để ghi chép truyện các đồngchí đã hy sinh” [5; tr 174] Phan Bội Châu đã vận dụng thể loại này, có cách tân để viết loạttruyện về những người anh hùng đã hy sinh vì nước Đó là các tác phẩm “Tiểu truyện các anh
hùng chí sĩ khi mất nước” trong Việt Nam vong quốc sử (1905), Hoàng Phan Thái truyện (1907),
Hà thành liệt sĩ truyện (1913), Chân tướng quân liệt truyện (1917), Phạm Hồng Thái (1924)
Trong những sáng tác của Phan Bội Châu, tác phẩm đáng được xếp vào loại tự truyện
nhất, theo tôi, chính là Phan Bội Châu niên biểu Có thể dễ dàng nhận thấy cả ba quy ước quan
trọng của tự truyện đều có mặt trong tác phẩm này Theo lời tựa của cụ Huỳnh Thúc Kháng(viết năm 1946) thì tác phẩm được viết vào năm 1929 bằng chữ Hán Vào thời điểm đó, PhanBội Châu đang sống những năm tháng của Ông già Bến Ngự “Mưu toan” kể lại lịch sử cái tôicủa chính người viết được tác giả thể hiện ngay từ câu mở đầu tác phẩm: “Lịch sử của tôi là lịch
sử hoàn toàn thất bại, mà sở dĩ đi đến thất bại, khuyết điểm đã rõ ràng, song những chỗ có thể tựhào cũng không phải là không có” [3; tr.723] Có thể thấy một cái tôi ý thức rất rõ về con người
Trang 4mình Mở đầu ấy cũng báo hiệu một thái độ trung thực trong quá trình tìm lại cái tôi của ngườiviết Và dự cảm quả không sai khi ta thâm nhập thực sự vào toàn bộ tác phẩm Theo lối viết
niên biểu, cuốn lịch sử về cái tôi Phan Bội Châu được ông chia ra làm ba thời kỳ:
“Thời kỳ thứ nhất là lúc hàn vi, không đáng trình bày nhưng đó là lúc bắt đầu ra đời, cho
nên không dám bỏ sót
Thời kỳ thứ hai là lúc tráng niên của tôi, trước khi xuất dương, tôi đã có những hành động
ngấm ngầm, nào sắp đặt mưu kế, nào liên kết các hào kiệt, tất cả chép ở đoạn này
Thời kỳ thứ ba là lịch sử của tôi từ khi xuất dương về sau” [3; tr.724].
Bằng một giọng kể trung thực, nhỏ nhẹ, tác phẩm cho người đọc hình dung khá trọn vẹn
về cuộc đời Phan Bội Châu từ lúc sinh ra, lớn lên, gắn bó với gia đình rồi hăng say hoạt độngcách mạng, cho tới lúc bị bắt tại ga Thượng Hải (Trung Quốc) Nhà văn đặt mình ở vị trí trungtâm tác phẩm làm sợi dây xâu chuỗi sự kiện, tình tiết, nhân vật Qua đó, thấy được những nétlớn của một nhân cách vĩ đại, một bậc anh hùng sớm tự nhận về mình trách nhiệm lớn lao trướclịch sử dân tộc - một giai đoạn lịch sử đầy đau thương Cắt nghĩa về lịch sử hình thành của cáitôi, tác giả quan niệm “lúc hàn vi” tuy “không đáng trình bày”, nhưng “không dám bỏ sót” vì đó
là lúc “bắt đầu ra đời” Điều này cho thấy nhà văn ý thức rất rõ về hành động viết tự truyện củamình Bởi tự truyện không phải là việc liệt kê đơn giản những sự kiện xảy đến với người viết.Trong tác phẩm tự truyện, cái tôi người viết phải được trình bày trong chiều lịch đại với một lịch
sử hình thành trải nhiều biến cố Nói về cái tôi lúc “bắt đầu ra đời”, Phan Bội Châu không ôm
đồm mà tập trung vào những khởi nguồn quan trọng nhất Đó là một tư chất thông minh thiênbẩm: “Lúc mới 4, 5 tuổi, tuy tôi chưa biết mặt chữ, nhưng đã có thể đọc được mấy chương ChuNam, trong Kinh Thi nhờ mẹ tôi truyền khẩu cho Năm lên 6 tuổi, tôi được theo cha tôi đến ở nhàdạy học Cha tôi dạy tôi chữ Hán Mới học 3 ngày tôi đã đọc hết quyển Tam tự kinh, gấp sách lạiđọc không sai sót một chữ Cha tôi lấy làm lạ rồi cho học sách “Luận ngữ” và cho tập viết, bắt viếtnhững sách đã học, mỗi ngày tôi học 10 tờ; vì nhà nghèo không đủ tiền mua giấy, tôi phải lấy láchuối thay giấy, học thuộc rồi lại đốt đi” [3; tr.726] Hình ảnh hai cụ thân sinh, nhất là người mẹ,tuy chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng ấn tượng để lại thật khó phai mờ: “Mẹ tôi nhân từ, có lòngthương người nghèo, nhà dẫu nghèo, nhưng nếu thấy bạn hữu hay láng giềng ai có nghèo ngặt màtrong nhà có thể bố thí được, thì dù một đồng tiền, một bát gạo cũng vui vẻ giúp cho Mẹ tôi dạybảo tôi lúc còn bé, không bao giờ nói một lời gì sơ suất Tôi ở với mẹ tôi trong 16 năm mà không
hề nghe thấy mẹ tôi mắng nhiếc một người nào cả Gặp người nào ngang ngược với mình, thìcũng cười rồi bỏ qua” [3; tr.725-726] Tiếc là, mới khi Phan Bội Châu 18 tuổi, bà mẹ khả kính ấyqua đời Sự kiện này đã tạo nên bước ngoặt đầu tiên trong đời ông: “Vì có tang mẹ, tôi khôngđược đi thi; cảnh nhà lại nghèo túng, hai em gái bồ côi mẹ, cha tôi ở goá phải thổi nấu lấy cơm.Bắt đầu từ đấy tôi phải đi kiếm ăn bằng nghề nghiên bút” [3; tr.727] Theo Phan Bội Châu, thuởhàn vi chính là quãng thời gian quyết định những thành bại của ông về sau này
Cái “tôi” càng trưởng thành, càng nảy nở nhiều mối quan hệ xã hội, nhất là quan hệ vớianh em đồng chí cùng hoạt động cách mạng Thời kỳ thứ ba của cái “tôi” được người kể dành
số trang ưu ái nhất Suốt hơn bốn chục trang sách, tác giả đã kể lại một cách khá tường tận conđường hoạt động cách mạng của mình Mỗi thành bại trong cuộc đời, nhà văn đều trình bày cụthể, cặn kẽ, lý giải nguyên nhân và có cả phần bình luận, cảm tưởng của người viết Theo lời kể,người đọc không chỉ được chứng kiến Phan Bội Châu trong rất nhiều cảnh ngộ, tình huống khácnhau; mà còn có thể thấy rõ sự chuyển biến trong tư tưởng của tác giả Lại nữa, đọc tự truyệnPhan Bội Châu người ta không chỉ thấy được cuộc đời, con người ông; mà còn thấy được phầnnào lịch sử đấu tranh chống xâm lược của đất nước ta quãng mấy chục năm đầu thế kỷ XX
Điều này vừa khẳng định Phan Bội Châu là nhân vật lịch sử quan trọng, vừa chứng tỏ Phan Bội
Trang 5Châu niên biểu là một tự truyện văn học đích thực Bởi một tác phẩm tự truyện không phải chỉ
là những câu chuyện vặt vãnh về cuộc đời của một cá nhân, tách rời những vấn đề lớn của xãhội, thời đại mà cái “tôi” ấy đã sống Nó phải từ câu chuyện của cái “tôi” mà đạt tới cái “chúngta” Mặt khác, với hình thức này Phan Bội Châu đã thực hiện được nguyện vọng không chỉ của
cá nhân mình Đó là việc “viết những chuyện cách mạng mà đời Cụ đã sống, đã nghe để phổbiến cho đồng bào, nhất là đám thanh niên Việc này, Cụ có thẩm quyền hơn hết mọi ngườiđương thời từ đầu thế kỷ XX đến ngày Cụ bị bắt” [9; tr.312] Phan Bội Châu đã viết tự truyệnnày như một hành động trả nghĩa cho đồng bào: “Tôi bị bắt từ nước ngoài đem về, phải giam ởngục Nhờ quốc dân quá thương nên mới giữ được chút hơi tàn đến nay, để cùng các bạn thânyêu đã xa cách nhau vài chục năm nay, lại được cùng nhau nhắc nhở chuyện cũ Có người yêutôi, có người ghét tôi, có người mong đợi ở tôi, nhưng dù biết tôi hay không biết tôi, ai cũngmuốn biết rõ đầu đuôi cái lịch sử của Phan Bội Châu này cả.” [3; tr.721]
Suốt từ đầu đến cuối, tác phẩm nhất quán một ngôi kể xưng “tôi”, nhưng ấn tượng về mộtcách nhìn nhận, lý giải cái tôi mang tính chủ quan không trùm lên người đọc Mỗi nhân vật, địadanh, thời điểm được nhắc đến trong tác phẩm đều nhắc nhở người đọc về tính xác thực, có thậtcủa nó Nỗi ám ảnh về những thất bại và tinh thần tự thú chân thành ngay từ lời Tựa của người
viết càng khiến Phan Bội Châu niên biểu gần gũi với tác phẩm được xem là “hoàn thiện tiêu biểu” của thể tự truyện trên thế giới - Confessions (Những lời tự thú) của Jean Jacques Rousseau 2.4 Bàn về Giấc mộng lớn của Tản Đà, nhiều người gọi đó là một cuốn tự truyện, nhưng nói về tự truyện trong nền văn học Việt Nam nói chung, hầu như ít người nhắc tới Giấc mộng lớn Như một lối mòn nhận thức, khi người ta đã “mê” thơ của Tản Đà và thấy văn xuôi không
“ngang tầm” với thơ thì mặc nhiên cho là văn xuôi dở Hơn nữa, ở vào thời điểm tác phẩm rađời (1929), việc nhà văn đem chuyện riêng tư của đời mình ra kể một cách trực diện nhưNguyễn Khắc Hiếu còn là chuyện quá hiếm hoi Bởi vậy, tác phẩm cũng có số phận long đongkhông kém tác giả của nó: “Từ khi nó ra đời, người ta đã bắt đầu mạt sát nó ” và “người ta đem
nó lên xe lửa bán rao” [8; tr.25] Ngay cả Lê Thanh, một nhà nghiên cứu có nhiều đóng góptrong việc nhận diện thể loại văn học đầu thế kỷ XX, vẫn không chịu nổi cái lối yêu mình tháiquá của Tản Đà: “Nên trách ông Hiếu đã tự đem ông ra làm vai chính trong tiểu thuyết của ông.Khi viết tiểu thuyết, ông lại quên rằng ông viết cho đồng bào xem, ông cứ tự tiện tán tụng ông,khen ông, đặt ông lên trên mọi người.” [8; tr.24] Tuy nhiên, trên phương diện thể loại, cũng
chính Lê Thanh là người đã nhìn thấy trước giá trị của nó: “Đọc Giấc mộng lớn không có gì là mộng cả Nó không khác gì những tập ký ức, những pho tự thuật của các văn sĩ Âu Tây” và:
“Nó có thể gọi là tập ký ức viết bằng quốc văn thứ nhất của ta ( ) sau này sẽ tất có giá trị cho aimuốn khảo cứu về thân thế văn chương của ông” [8; tr.25] Bởi ở đó con người cá nhân của Tản
Đà đã được chính ông tự thuật, chân thực hơn bất cứ một tài liệu nào
Giấc mộng lớn in năm 1929, có thể được xem là sáng tác quan trọng cuối cùng của Tản
Đà Bởi cuối năm 1932, tờ An Nam tạp chí (tờ báo do ông sáng lập, làm chủ bút và đăng những
sáng tác thơ) tục bản, nhưng chỉ ra mấy kỳ rồi tắt ngấm vào đầu năm 1933 Trên số chót người
ta thấy có mục quảng cáo chữa thơ và xem số Hà Lạc Năm 1932, Phong Hoá đưa nhà thơ lên báo chế giễu, gọi ông là “đại biểu chính thức nền thơ cũ” Khoảng 1934 - 1935, Ngày Nay lại
đưa nhà thơ ra làm trò cười một lần nữa [7; tr.170] Gần bốn mươi năm cuộc đời, Tản Đà đã
nếm trải nhiều cay đắng Vào thời điểm này ông càng nhận thấy rõ điều ấy Giấc mộng lớn được
Tản Đà viết trong trạng thái của một người tỉnh mộng để thấy mình đã hoàn toàn trắng tay trước
cuộc đời Nhìn lại đời mình, tác giả Giấc mộng lớn chú ý nhiều nhất đến lịch sử hình thành bản thân Tản Đà – một nhà văn, nhà thơ sống giữa buổi giao thời xã hội, vì kế mưu sinh đã phải
làm ra nhiều thứ “hàng hoá văn chương”, nhưng bằng tài năng hiếm có, ông đã để lại cho đời
Trang 6một sự nghiệp trước tác đủ để hậu thế có quyền tự hào mỗi khi nói về ông Do vậy, trong lịch sửvăn học Việt Nam, Tản Đà chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng, một vị trí không người thaythế Nhưng đó là phán xét của người sau (gần nhất cũng là cho đến tận lúc nhà thơ qua đời – năm
1939), của người ngoài cuộc Vào thời điểm viết Giấc mộng lớn, Tản Đà tự phán xét đời mình,
ông như nhận thấy phần đời quan trọng nhất đã trôi qua với quá nhiều thất bại Nhưng thất bại và
đỗ vỡ liên tiếp lại chính là nguồn cơn làm nên sự nghiệp trước tác đồ sộ của ông sau này
Thất bại trong cuộc đời đến với ông quá sớm Bắt đầu là sự bất thành trong con đườngkhoa cử Hai lần đi thi (năm 1909 và 1912) đều hỏng Sự kiện người yêu đầu tiên, cô con gáinhà tư sản Đỗ Thận ở phố Hàng Bồ, bỏ đi lấy chồng xảy ra tiếp ngay sau đó đã khiến Tản Đàđau đớn đến phát điên Xoáy sâu vào bất hạnh lớn đầu đời, Tản Đà cho rằng cảm giác tuyệtvọng, chán đời ấy cũng chính là khởi phát ngoài mong muốn của thơ văn ông: “Các thơ văn
trong buổi ấy, đến sau in ở hai quyển Khối tình và Khối tình con thứ nhất về phần nhiều, mà
trong khi đương ở ấp Cổ Đằng, thực chưa có bụng nào viết văn để in vậy” [4; tr.613] Cũngchính thời điểm này, bài văn tế độc đáo có một không hai, bài văn tế nàng Chiêu Quân bằng chữHán mà sau này kể cả bài dịch ra văn xuôi của chính Tản Đà lẫn bài dịch lục bát quốc văn củaNguyễn Thiện Kế cũng không hết ý, đã ra đời Sau hai cú sốc trời giáng ấy, bước ngoặt tiếp theo
của cuộc đời Tản Đà là cuộc tiếp xúc với nhật trình tàu tại nhà một đại tư bản mà theo Tản Đà
thì đó chính là nơi phát đoan cái cơ duyên báo chí sau này Sự kiện người anh cả cùng cha khác
mẹ, người có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời Tản Đà – ông Nguyễn Tái Tích tạ thế, lại tạonên một bước ngoặt mới: “Cái tình cảnh bi thương trong gia đình hợp một cái cảnh ngộ bần hàncủa thân thế, khiến cho kẻ chán đời chẳng được thời lại phải tuỳ thời thế mà sinh nhai lối dọc
đường ngang” [4; tr.614] Từ đây, Tản Đà chính thức bước vào cuộc đời của người cầm bút Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu
Một trong những đặc điểm quan trọng của tự truyện là nhà văn luôn đặt cái “tôi” củamình ở vị trí trung tâm tác phẩm để tự quan sát, đào xới, lý giải bằng nhãn quan cá nhân, nghĩa
là nhà văn có nhu cầu tự nhận thức Ngay từ khi lý thuyết về văn học hiện đại nước ta còn rất
non nớt, Tản Đà đã nhận ra điều này Về căn nguyên ra đời của Giấc mộng lớn, ông viết: “Nghĩ
như người ta sinh ra đời, không ai dễ có mấy thân, cho nên mình yêu mình là cái tình chung củanhân loại Một cái tình yêu đó, không cứ đẹp hay xấu, hay hay dở, mà yêu thời cứ yêu Bởi thếcho nên phóng ảnh truyền thần, đời càng văn minh thì cái cách yêu mình cũng tiến bộ Nhữngcách đó, chỉ có thể mình chơi với mình về vật chất, mình chơi với mình trong nhất sinh”
[4; tr.601] Như vậy, đối với Tản Đà, viết truyện về mình là khi nhà văn có nhu cầu ngắm mình, là một cách để mình chơi với mình trong muôn kiếp Quả là một ý tưởng thực sự táo bạo, một sự giải phóng triệt để con người cá nhân Thế nên, Tản Đà đã dành hơn nửa số trang của Giấc mộng lớn để viết về “sự đi chơi” Bởi bản tính ham chơi là một trong ba phương diện quan trọng
nhất (ngông – đa tình – xê dịch) cấu trúc nên cái “tôi” Tản Đà Với ông, “cái lợi ích trong sự đichơi ấy, được ở dọc đường về phần nhiều Rộng mắt nhận sơn hải, mà nặng lòng chủng tộc giangsơn” [4; tr.615] và cả hai đều rất quan trọng Mặc dầu vậy, kết thúc “sự đi chơi”, Tản Đà vẫnkhông thể thanh thản trong lòng:
“Hơn mười năm bút sắt, bút lông, hao giấy mực chẳng ích gì cho xã hội;
Trải ba xứ đường xe đường bể, trụi râu mày còn thẹn với giang sơn” [4;tr.643]
Tìm về Vĩnh Yên, mượn một mỏm đồi thôn Yên Lập, Tản Đà dựng ba gian nhà cỏ, những
mong “cùng vợ con ăn dưa muối ngô khoai” để “có thể cho là một đoạn kết thúc ba mươi sáu năm Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu vậy” [4; tr.643] Nhưng tạo hoá vẫn còn “quá ghen chi với kẻ bất
tài”, chưa hết nỗi “lo phiền khốn nhục” vì “mưa bão đổ nhà, vợ con nguy ách”, Tản Đà tiếp tục bị
Trang 7rơi vào tình thế của “một kẻ bần nho không có thước đất nào” [4; tr.654] Bị nhà chức trách địaphương “thịnh nộ đuổi phải đi nơi khác”, Tản Đà lại dắt díu bầu đoàn thê tử “trôi về mạn bể”.
Giấc mộng trở thành một nhà văn học kiêm triết học đến đây tan như bọt nước, khiến Tản Đà tự
thấy mình thật đáng thẹn, đáng tội nghiệp Thái độ thú nhận chân thành như thế, chỉ có thể thấy ởnhân vật tự truyện
2.5 Tuy không phải là người mở đầu cho thời đại văn chương tự sự của chữ “tôi”, nhưng
Tản Đà và Phan Bội Châu là những người đầu tiên đưa cái tôi hữu thể, con người thực củachính mình vào văn xuôi tự sự Không còn là cái tôi hư cấu, tưởng tượng của tiểu thuyết nữa,cái tôi của Phan Bội Châu và Tản Đà là cái tôi bằng xương, bằng thịt, cái tôi tự truyện Tuy chữviết khác nhau (một tác phẩm viết bằng chữ Hán, một viết bằng chữ quốc ngữ), nhưng có thể
khẳng định Phan Bội Châu niên biểu và Giấc mộng lớn chính là hai tác phẩm đánh dấu sự ra đời
của thể loại tự truyện trong nền văn học hiện đại Việt Nam Điều này cũng hoàn toàn phù hợp vớiquy luật vận động của nền văn học Trong quá trình vận động của nền văn học từ phạm trù trungđại sang phạm trù hiện đại, ở chặng giao thời, Phan Bội Châu và Tản Đà tuy đều xuất thân nho gianhưng là những người sớm thức tỉnh và thức tỉnh sâu sắc nhất về cái tôi bản ngã Vào lúc Hán họcchưa tàn, nhiều người còn mê man với giấc mộng khoa cử, Phan Bội Châu đã viết những vần thơthể hiện thái độ phản tỉnh sâu sắc:
“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há đề càn khôn tự chuyển dời
Non sông đã chết sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoài”
(Xuất dương lưu biệt).
Tản Đà tuy không phải nhà cách mạng, nhưng bản lĩnh thể hiện con người cá nhân thìkhông thua kém, thậm chí còn thường trực hơn so với chí sĩ họ Phan Ngoài văn xuôi, ông còndùng cả thơ để tự thuật Bởi vậy, vào năm 1939 khi Tản Đà ra đi, trong cái tang chung của vănhọc nước nhà, Xuân Diệu biểu dương “Công của thi sĩ Tản Đà”, đã viết: “Tản Đà là người thứnhất có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng bạo dạn, dám giữ một bản ngã,dám có một cái “tôi” [7; tr.165] Thực ra, ý thức cá nhân không phải chưa từng có trong thờitrung đại Nhưng việc thể hiện cái tôi trong văn chương trung đại chủ yếu xuất phát từ tài năngnghệ sĩ Lịch sử văn học đã cho thấy, người nghệ sĩ càng giàu tài năng, càng nhiều cá tính và cátính sáng tạo Với Phan Bội Châu và Tản Đà, sự thức tỉnh về con người cá nhân ngoài yếu tố tàinăng còn được hoàn cảnh xã hội, văn hoá tạo điều kiện Trong đó, việc tiếp xúc với phươngTây, trực tiếp hoặc gián tiếp, là nhân tố quan trọng nhất Một sự gặp gỡ thú vị nữa là do cuộcmưu sinh, cả Phan Bội Châu và Tản Đà đều đã phải kiếm ăn bằng nghề nghiên bút Do vậy, sovới các nhà nho thời trung đại, hai nhà nho đầu thế kỷ XX này đã có điều kiện để tung hoànhngòi bút của mình ở nhiều thể loại: “Từ góc nhìn hệ thống thể loại mà xét, có thể nói giữanhững tác giả văn học xuất thân từ nền học vấn Nho gia sống và viết trong khoảng bốn mươinăm đầu thế kỷ XX chỉ có Phan Bội Châu và Tản Đà là những tác giả có sự phong phú đặc biệt
về khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các thể loại văn học.” [10; tr.341]
3 KẾT LUẬN
Như vậy, vào năm 1929, gần kết thúc chặng giao thời của nền văn học Việt Nam, với sự
xuất hiện của Phan Bội Châu niên biểu và Giấc mộng lớn, thể loại tự truyện đã chính thức ra
đời Khoảng thời gian này, tiểu thuyết cũng đang gấp rút định hình thể loại Ký và kịch nói đã
Trang 8xuất hiện Thơ ca bắt đầu bước vào cuộc giao tranh cũ mới Phóng sự phải đợi thêm vài ba nămnữa mới ra đời Sự xuất hiện của tự truyện so với hệ thống thể loại văn học hiện đại như vậy làmau lẹ, sớm sủa Nó góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam nhanh chóngbước vào chặng hoàn tất với một diện mạo “phong phú, giàu có, bề thế đến kinh ngạc”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[2] Phan Bội Châu (1914): Ngục trung thư, in trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX
xuôi đầu thế kỷ), Quyển I, Tập I, NXB Văn Học, HN.2001
[4] Tản Đà (1929): Giấc mộng lớn, in trong Tản Đà toàn tập, Tập II, NXB Văn học, HN 2002 [5] Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng, Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900- 1930, NXB.
Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, HN.1988
[6] P.J.-B Nguyễn Trọng Quản (1887): Thầy Lazarô Phiền, Saigon, J.LINAGE
Thông tin, HN 2003
[8] Lê Thanh, Nghiên cứu và phê bình văn học, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB.
Hội Nhà văn – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, HN 2003
[9] Chương Thâu - Trần Ngọc Vương (giới thiệu và tuyển chọn), Phan Bội Châu về tác giả
và tác phẩm (tái bản lần thứ nhất), NXB Giáo dục, HN 2003.
[10] Trần Ngọc Vương (chủ biên), Giáo trình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX,
NXB Đại học Quốc Gia, HN 2003
PHAN BOI CHAU CHRONOLOGY BY PHAN BOI CHAU AND A GREAT DREAM BY TAN DA - THE FIRST STEPS OF
Key words: Autobiography.
Người phản biện: PGS.TS Lã Nhâm Thìn
Trang 9CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG CÂU TỒN TẠI ĐỊNH VỊ TIẾNG VIỆT
Lê Thị Bình1
TÓM TẮT
Ngữ pháp chức năng nghiên cứu câu trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Trên bình diện ngữ dụng, câu được nghiên cứu theo cấu trúc đề - thuyết Câu tồn tại là kiểu câu “đặc biệt và cấu trúc đề - thuyết của nó cũng có những đặc điểm riêng biệt Cấu trúc
đề - thuyết trong câu tồn tại định vị (một kiểu câu tồn tại) được xác lập trên cơ sở đặc điểm cấu trúc cú pháp chung của câu tồn tại (không có chủ ngữ) cùng với điều kiện bắt buộc: có sự tham gia của thành phần trạng ngữ chỉ thời gian hoặc/và không gian Nghiên cứu cấu trúc đề - thuyết ở câu tồn tại nói chung, câu tồn tại định vị nói riêng cho thấy sự phong phú, linh hoạt của việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp.
Từ khóa: Cấu trúc đề thuyết, câu tồn tại định vị
1 MỞ ĐẦU
Ngữ pháp chức năng - một khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại – nghiên cứu câutrên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Trên bình diện ngữ dụng, câu được đặttrong mối quan hệ với người sử dụng, gắn với mục đích sử dụng và các hoàn cảnh sử dụng khácnhau Cấu trúc đề - thuyết là kiểu cấu trúc thuộc bình diện ngữ dụng, phản ánh cách tổ chức câukhi đưa vào văn bản, vào tình huống sử dụng Là một kiểu câu “đặc biệt”, câu tồn tại đã đượccác nhà Việt ngữ học nghiên cứu từ lâu nhưng chủ yếu từ phương diện cấu tạo ngữ pháp và ngữnghĩa Bài viết này đi sâu nghiên cứu một tiểu loại của câu tồn tại trong tiếng Việt - câu tồn tạiđịnh vị - từ bình diện ngữ dụng với cấu trúc đề - thuyết nhằm xác định được đặc điểm của kiểucấu trúc này trong một dạng câu không không điển thể
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát về cấu trúc đề - thuyết
Trào lưu nghiên cứu câu theo cấu trúc đề – thuyết trong Việt ngữ học xuất hiện và pháttriển từ nửa sau thế kỷ XX
Lưu Vân Lăng với lý thuyết phân tích câu theo ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân chủ trươnggạt bỏ khái niệm chủ - vị mà dùng khái niệm Đề - thuyết, phân tích cú pháp xét cả hình thức cấutrúc lẫn nội dung ngữ nghĩa, chức năng Đề, thuyết là những thành tố nòng cốt tạo nên nòng cốtcâu Hạt nhân đề - thuyết tạo nên cấu trúc hạt nhân của câu
Hồ Lê với quan điểm ngữ nghĩa - cú pháp cũng tán thành, gọi cấu tạo của câu hai phầntheo khái niệm đề - thuyết Theo ông, phần đề nêu lên một cái gì đó và phần thuyết nói về điều
có liên quan đến cái được nêu lên ở phần đề
1ThS Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.
Trang 10Cao Xuân Hạo coi cấu trúc đề thuyết thuộc bình diện lô gích ngôn từ Phân đoạn đề thuyết là kết quả của cách tổ chức phát ngôn theo hướng đi của dòng tư duy cho nên trật tự đi từ
-đề đến thuyết (hiện thực hóa trong phát ngôn là phần -đề đứng trước phần thuyết) phản ánh mộttrật tự thuận, phổ biến trong tư duy con người
Tác giả Diệp Quang Ban, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, đã nghiên cứu kỹ về cấu trúc
đề - thuyết trong câu tiếng Việt “Khi đưa câu vào văn bản, vào tình huống sử dụng, người nóiphải chọn từ ngữ làm điểm xuất phát cho việc tổ chức câu Những từ ngữ được chọn làm điểm
xuất phát cho câu được gọi là phần khởi đề, phần còn lại được coi là phần trần thuyết, gọi gọn là
phần đề và phần thuyết Quan hệ giữa phần đề với phần thuyết làm thành cấu trúc đề - thuyết.Phần đề giới thiệu sự có mặt của phần thuyết, phần thuyết nêu điều có quan hệ về phương diệnnào đó với phần đề Quan hệ giữa phần đề và phần thuyết lấy cái được chọn làm xuất phát điểm
và phần còn lại làm cơ sở, không quan tâm đến việc hai phần này có cùng một kiểu nghĩa haykhông” [ 1 tr.40]
Đơn cử một số quan điểm để thấy rằng, nghiên cứu câu theo cấu trúc đề - thuyết đã vàđang là một khuynh hướng chủ đạo trong Việt ngữ học Theo một cách hiểu khó thống nhất thìcấu trúc đề - thuyết là cấu trúc phản ánh cách tổ chức câu - phát ngôn khi đưa vào văn bản.Theo đó, người nói sẽ chọn từ ngữ làm điểm xuất phát cho câu nói của mình (phần đề) và phầntiếp theo sẽ nói về điều có liên quan đến cái nêu ở phần đề (phần thuyết)
Về quan hệ ngữ nghĩa, giữa phần đề và phần thuyết có thể quan hệ với nhau trên cùngmột kiểu nghĩa (đề nêu sự vật và thuyết nói về sự vật ở đề), có thể không cùng một kiểu nghĩa:
đề nêu yếu tố diễn đạt thái độ, cách nhìn của người nói còn thuyết nêu cái được phản ánh tronglời nói, hoặc chỉ ra quan hệ nối kết nghĩa - lôgích của câu chứa nó với câu khác, hoặc nối kếtnghĩa của câu chứa nó với tình huống bên ngoài lời còn thuyết nêu sự việc được phản ánh trongcâu chứa nó
Cấu trúc đề - thuyết cũng cần được phân biệt với cấu trúc tin Theo tác giả Diệp QuangBan: “Cấu trúc tin và cấu trúc đề - thuyết là hai hiện tượng khác nhau về bản chất, chúng đượcphân định theo những cơ sở khác nhau và trong câu các bộ phận của mỗi cấu trúc cũng đượcphân bố khác nhau.” [ 1 tr.275]
2.2 Câu tồn tại và câu tồn tại định vị
Câu tồn tại có mặt trong nhiều ngôn ngữ dưới những hình thức riêng của từng ngôn ngữ Trong tiếng Việt, câu tồn tại là kiểu câu “đặc biệt” được phân biệt với các kiểu câu kháctrước hết bởi ý nghĩa biểu thị sự “tồn tại” (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả sự xuất hiện và tiêu biến)của sự vật, hành động, tính chất… Về hình thức, nó là kiểu câu không có chủ ngữ Đây cũng chính
là cơ sở xác định câu tồn tại trong tiếng Việt, một ngôn ngữ không biến hình từ Theo cơ sở này,những câu cũng biểu thị ý nghĩa tồn tại nhưng có chủ ngữ chỉ thực thể tồn tại sẽ không mang nhãn
“câu tồn tại” và không là đối tượng mà bài viết đề cập đến
So sánh hai trường hợp sau:
(a) Tiền còn đấy
(b) Còn tiền đấy
Cả hai câu cùng biểu thị sự tồn tại của sự vật “tiền” Song, trường hợp (a) là câu được sửdụng để miêu tả sự tồn tại của sự vật, quan hệ tồn tại được tách ra thành đặc trưng miêu tả Vềcấu tạo, câu (a) gồm cả chủ ngữ và vị tố Đây là câu mang ý nghĩa tồn tại nói chung Trường
Trang 11hợp (b), về cấu tạo ngữ pháp: câu không có chủ ngữ; về ý nghĩa: câu nêu sự tồn tại gắn liền vớithực thể (thực thể tồn tại giữ chức vụ bổ ngữ trong cấu trúc cú pháp) Đây là câu thoả mãn haitiêu chuẩn của câu tồn tại.
Tuy nhiên, trong Việt ngữ học chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong quan niệm đối vớikiểu câu này Có tác giả cho rằng đây là loại câu đảo chủ ngữ, tức là kiểu câu được tổ chức theotrật tự vị ngữ - chủ ngữ về cấu trúc cú pháp (Lý Toàn Thắng…) Cũng có tác giả gọi kiểu câunày với cái tên “câu đặc biệt” (TT KHXH & NV QG, Bùi Minh Toán …)
Cùng diễn đạt quan hệ tồn tại nhưng cách thức diễn đạt khác nhau làm thành những kiểu câutồn tại khác nhau Trong tiếng Việt, quan hệ tồn tại được diễn đạt theo ba cách sau đây:
- “Tồn tại hiển hiện” là sự có mặt của vật, hiện tượng đang bày ra trước mắt
- “Tồn tại khái quát”, là sự có mặt của vật, hiện tượng nói chung, không tính đến sự hiểnhiện cũng không xác định được vị trí
- “Tồn tại định vị” là sự có mặt của sự vật, hiện tượng tại không gian, thời gian nào đóđược diễn đạt bằng từ ngữ trong câu
Tương ứng với ba cách diễn đạt trên là ba kiểu câu tồn tại:
- Câu tồn tại hiển hiện
Ví dụ: Mưa
- Câu tồn tại khái quát
Ví dụ: Có mưa
- Câu tồn tại định vị
Ví dụ: Hôm nay, có mưa
Kiểu câu thứ ba – câu tồn tại định vị là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong bài viết này.Câu tồn tại định vị được phân biệt với các kiểu câu tồn tại khác bởi các đặc điểm sau đây:
- Sự tồn tại của sự vật, hành động, tính chất… được xác định tại một thời điểm hoặc mộtkhông gian nào đấy Như vậy, nếu nói về nghĩa biểu hiện, câu tồn tại định vị không chỉ biểuhiện quan hệ tồn tại (được diễn đạt bằng vị tố), vai nghĩa chủ thể tồn tại (được diễn đạt bằng bổngữ), mà còn có sự tham gia của vai nghĩa vị trí (không gian, thời gian) Điều đáng lưu ý làtrong câu tồn tại định vị vai nghĩa này tồn tại với tư cách tham thể chứ không phải chu cảnh(cảnh huống)
- Xét về cấu trúc cú pháp, câu tồn tại có cấu tạo gồm: gia ngữ (tức trạng ngữ) chỉ thờigian, không gian, vị tố chỉ quan hệ tồn tại và bổ ngữ chỉ vật thể tồn tại
Nh v y, khuôn hình c u trúc cú pháp v c u trúc ngh a bi u hi n ư vậy, khuôn hình cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện ậy, khuôn hình cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện ấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện à cấu trúc nghĩa biểu hiện ấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện ĩa biểu hiện ểu hiện ện
c a câu t n t i ủa câu tồn tại được biểu diễn như sau: ồn tại được biểu diễn như sau: ại được biểu diễn như sau: đư vậy, khuôn hình cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiệnợc biểu diễn như sau: c bi u di n nh sau: ểu hiện ễn như sau: ư vậy, khuôn hình cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện
Kiểu cấu trúc điển hình trên gồm ba bộ phận bắt buộc Tuy nhiên, trong thực tế ngôn ngữ,khi vị tố của câu tồn tại định vị là từ chỉ hình ảnh thì có khi không kèm danh từ chỉ vật, hiệntượng đứng sau vị tố (tức không có bổ ngữ)
Một số ví dụ về câu tồn tại định vị:
(1) Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn (Sơn tinh, Thuỷ tinh, Ngữ văn 6, tập 1, trang 31)(2) Ở đây có cả mưa tuyết đấy (Lặng lẽ Sa pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập 1,trang 183)
Trang 12(3) Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính (Cây tre ViệtNam, Thép Mới, Ngữ văn 6, tập 2, trang 96)
(4) Ở bên kia lục sục (Truyện người hàng xóm, Tuyển tập Nam Cao, trang 482)
2.3 Đặc điểm cấu trúc đề - thuyết trong câu tồn tại định vị
Vận dụng lý thuyết về cấu trúc đề - thuyết để phân tích những trường hợp cụ thể, chúngtôi thấy: ở trường hợp điển hình với khuôn hình cấu trúc ba bộ phận như đã nói ở trên, phần đềcủa câu tồn tại định vị do những từ ngữ giữ chức năng cú pháp là gia ngữ đảm nhiệm, phần cònlại gồm vị tố và bổ ngữ làm thành phần thuyết của câu Dưới đây là cấu trúc đề - thuyết của bốn
Trong câu tồn tại định vị, ở trường hợp điển hình, phần đề trong cấu trúc đề - thuyết chính
là gia ngữ (của cấu trúc cú pháp), là tham thể thời gian/không gian (của cấu trúc nghĩa biểuhiện) Quan sát trong thực tế hoạt động ngôn ngữ, chúng tôi thấy phần đề ở kiểu câu tồn tại định
vị này có một số đặc điểm sau:
Về ngữ nghĩa, phần đề nêu lên hoàn cảnh thời gian, không gian mà sự vật, hiện tượng tồn tại
Về cấu tạo, phần đề có thể được cấu tạo bằng một từ, một cụm từ hay một giới ngữ.
- Phần đề được cấu tạo bằng một từ
Ví dụ: (phần đề in đậm)
Bỗng xuất hiện một người lạ mặt (Dẫn theo DQB)
- Phần đề được cấu tạo bằng một cụm từ
Ví dụ: (phần đề in đậm)
Ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo đi ở cho một nhà phú ông (Sọ Dừa, Ngữ
văn 6, tập 1, trang 49)
- Phần đề được cấu tạo bằng một giới ngữ
Ví dụ: (phần đề in đậm)
[Có một con ếch sống lâu ngày trong một cái giếng nọ] Xung quanh nó chỉ có vài
con nhái, cua, ốc bé nhỏ (Ếch ngồi đáy giếng, Ngữ văn 6, tập 1, trang 100)
Cao, Tập 1, trang 337)
Trang 13Về kiểu tổ chức, phần đề có khi do một gia ngữ tạo thành (các ví dụ trên), có khi là sự kết
hợp của cả hai loại gia ngữ (chỉ không gian và thời gian) Ví dụ:
Ngày xưa, ở quận Cao Bình có hai vợ chồng tuổi già mà chưa có con (Thạch Sanh, Ngữ
văn 6, tập 1, trang 61) (gia ngữ chỉ thời gian + gia ngữ chỉ không gian)
Đối với câu tồn tại định vị, phần đề được tổ chức như trên là phổ biến Đề chỉ gồm mộtloại đề (đề - đề tài) Kiểu cấu tạo này thuộc loại đơn đề
Thực tế, trong câu tồn tại định vị còn có mặt các thành phần phụ khác như thành phầntình thái, thành phần liên kết Khi đó, đề - đề tài kết hợp với đề văn bản hoặc/ và đề tình thái tạothành kiểu cấu tạo bội đề Ví dụ:
[Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra] Và ngoài đường cũng có mấy
người đứng dừng lại để nhìn vào (Tôi đi học, Ngữ văn 8, tập 1, trang 7 )
[Thị cũng lim dim chực ngủ.] Nhưng trong nhà nhiều muỗi quá (Chí Phèo, Tuyển tập
Nam Cao, tập 1, trang 61)
Nghe đâu, trước đây có một ông sư dữ như hổ mang (Lao xao, Duy Khán, Ngữ văn 6,
tập 2, trang 111)
C u trúc ấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện đề thuyết của các câu trên được phân tích như sau: thuy t c a các câu trên ết của các câu trên được phân tích như sau: ủa câu tồn tại được biểu diễn như sau: đư vậy, khuôn hình cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiệnợc biểu diễn như sau: c phân tích nh sau: ư vậy, khuôn hình cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện
dừng lại để nhìn vào
Bội đề
Trong câu tồn tại định vị, phần thuyết tương ứng với tổ hợp “vị tố + bổ ngữ” của cấu trúc
cú pháp, tương ứng với phần nêu nội dung sự tình của cấu trúc nghĩa biểu hiện Đặc điểm phầnthuyết của kiểu câu này có thể khái quát như sau:
Về ý nghĩa, phần thuyết biểu thị nội dung sự tình, đó là sự tồn tại (hoặc xuất hiện, tiêu
biến) của thực thể được nêu ở bổ ngữ
Về cấu tạo, phần thuyết phổ biến do tổ hợp “vị tố + bổ ngữ” tạo thành Sau đây là những
biểu hiện cụ thể của phần thuyết về mặt cấu tạo:
- Phần thuyết chỉ gồm vị tố (vị tố được cấu tạo bằng một từ hoặc một cụm từ)
Trang 14Ở đấy còn có lửa (Truyện người hàng xóm, Tuyển tập Nam Cao, tập 1, trang 441)
Ở đây có cả mưa tuyết đấy.
Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn
Khi vị tố là những động từ tồn tại đích thực như có, còn, và các loại động từ khác lâm thời
mang ý nghĩa tồn tại khả năng xuất hiện bổ ngữ chỉ thực thể tồn tại là rất cao Hiện tượng phầnthuyết chỉ do vị tố tạo nên tức không có bổ ngữ chỉ thực thể tồn tại đi kèm xảy ra khi vị tố lànhững từ tượng thanh, tượng hình, là những tính từ chỉ tính chất Do đó, vấn đề vị tố cũng cầnbàn bạc thêm khi nghiên cứu kiểu câu này
Trong câu tồn tại định vị tiếng Việt, để biểu thị quan hệ tồn tại, vị tố thuộc các lớp từsau đây:
- Các động từ mang ý nghĩa tồn tại như có, còn, mất, hết
Ví dụ:
Ở đây có cả mưa tuyết đấy
[Ông Ngã… vội chạy tọt vào một cái nhà hàng xóm] Ở đấy còn có lửa
- Các tính từ chỉ lượng như đông, đầy, vắng, thưa, nhiều, ít…
Tập 1, trang 466)
- Những từ tượng thanh, gợi hình
Ví dụ:
Việt Nam, Thép Mới, Ngữ văn 6, Tập 2, trang 95)
Tập 2, trang 46)
- Một số động từ chỉ hoạt động cũng được dùng với ý nghĩa tồn tại định vị
Ví dụ:
Thì năm nay lại nở ra Chí Phèo (Chí Phèo, Tuyển tập Nam Cao, tập 1, trang 46)
Trên thinh không bay ngang qua từng bầy chim lớn (Dẫn theo DQB)
3 KẾT LUẬN
Nghiên cứu câu tồn tại định vị (một tiểu loại câu tồn tại) từ bình diện ngữ dụng với cấutrúc đề - thuyết, chúng tôi thấy, do đặc điểm “đặc biệt” về cấu trúc cú pháp (không có chủ ngữ)nên cấu trúc đề thuyết ở câu tồn tại định vị cũng có sự khác biệt: yếu tố làm nên phần đề ở kiểucâu này không nằm trong cấu trúc cơ sở của câu mà là gia ngữ (trạng ngữ) câu chỉ không gian,thời gian Cùng với gia ngữ, thành phần tình thái (biệt tố), thành phần liên kết (liên tố) cũng
Trang 15xuất hiện trong câu tạo thành bội đề Phần thuyết có thể chỉ do vị tố tạo nên, song, phổ biến là
sự kết hợp của vị tố và bổ ngữ với cấu tạo khá phong phú của bổ ngữ nêu chủ thể tồn tại Nghiên cứu tiếng Việt nói chung, câu tiếng Việt nói riêng vẫn luôn là vấn đề “gai góc” màthú vị Cấu trúc đề - thuyết của câu tồn tại định vị nói riêng, câu tồn tại nói chung trong tiếngViệt vẫn còn nhiều điều cần bàn thêm Bài viết là kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên cơ sởngữ liệu khảo sát được và trên tinh thần tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà Việt ngữ họcvới hy vọng góp một tiếng nói dù nhỏ trong trào lưu nghiên cứu câu tiếng Việt theo khuynhhướng nghiên cứu mới: ngữ pháp chức năng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, HN 2005.
[5] Hồ Lê, Cú pháp tiếng Việt, quyển 1, NXB KHXH, HN.1991.
[6] Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt – Câu, NXB ĐHQG, HN 2008.
[7] Lý Toàn Thắng, Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp, NXB ĐHQG, HN.2008.
[9] Trung tâm KHXH và NV QG, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB KHXH, HN.2002.
[10] M A K Halliday, Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Văn Vân dịch), NXB ĐHQG,
HN 2004
The Theme - Rhyme Structure of another subtype
of Vietnamese existential sentences
no subjects, but also requires another condition: there must be an adverb of time and/ or place Study on the Theme – Rhyme Structure of existential sentences in general, locating ones in particular, shows the flexibility and variability using language in communication.
Key words: Theme - Rhyme Structure, existential sentence
Người phản biện: GS.TS Bùi Minh Toán
Trang 16VỀ KIỂU SỰ CỐ TRONG QUAN HỆ ĐỜI THƯỜNG
Từ khóa: Tây Du Ký.
1 MỞ ĐẦU
Sự cố là “hiện tượng bất ngờ và không hay xảy ra trong một quá trình hoạt động nàođó” [5, tr 877] Trong các tác phẩm tự sự, sự cố có ý nghĩa quan trọng tạo ra bước ngoặt trong sựdiễn biến sự kiện, tình tiết, khiến cho cốt truyện trở nên “có chuyện”, thu hút chú ý và đem lại sứchấp dẫn đối với người đọc
Mâu thuẫn trong Tây du ký, xét đến cùng, có nguồn gốc từ cả những trở ngại tự nhiên lẫn
những mâu thuẫn, xung đột xã hội; nhưng cho dù là trở ngại tự nhiên, thì cũng được hình tượng hóathành mâu thuẫn, xung đột xã hội Những mâu thuẫn, xung đột này, có thể là đối kháng, dẫn đếnnhững cuộc giao tranh một mất một còn; và cũng có thể chỉ là những trục trặc, lủng củng, nhầm lẫn,những biến cố ngoài ý muốn trong quan hệ đời thường (hay được miêu tả như quan hệ đời thường)giữa các nhân vật Chúng tôi gọi kiểu mâu thuẫn sau là sự cố trong quan hệ đời thường
Nghiên cứu kiểu sự cố trong quan hệ đời thường trong Tây du ký có thể góp phần quan
trọng vào việc làm nổi bật tính chất phong phú, đa dạng của hệ thống sự kiện, tình tiết của tác
phẩm, sắc thái thẩm mỹ độc đáo của nó so với những tiểu thuyết anh hùng trước đó như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh
để làm rõ những biểu hiện và ý nghĩa cơ bản của kiểu sự cố trong quan hệ đời thường trong tác
phẩm, bao gồm: sự cố trong quan hệ nội bộ nhóm thỉnh kinh và sự cố trong quan hệ giữa nhómhay thành viên của nhóm thỉnh kinh với các đối tượng khác
2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Biểu hiện rõ nhất của hệ thống sự kiện, tình tiết kỳ lạ trong Tây du ký là: bên cạnh
nhiều cuộc kỳ ngộ, có cả một hệ thống trùng trùng điệp điệp những sự cố trên đường đi lấy kinhcủa thầy trò Đường Tăng, và chủ yếu được xâu chuỗi bởi chủ đề “chinh phục cái chết” [2], [4]
Ở kiếu sự cố trong quan hệ đời thường, quan hệ ban đầu giữa các nhân vật nếu không đầy thiện
ý thì cũng không phải là đối lập; nhưng do tình huống đưa đẩy, dẫn đến những khác biệt về tư
1TS Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.
Trang 17tưởng, tình cảm, động cơ hành động, cung cách ứng xử,… làm nảy sinh mâu thuẫn, xung đột
Do đó, kết quả của việc khắc phục sự cố trong quan hệ đời thường chủ yếu là mối quan hệ tốtđẹp giữa các nhân vật
2.2 Về những sự cố trong quan hệ nội bộ tập thể thỉnh kinh (“Tứ chúng”) Chúng ta đều
đã biết: trong bốn nhân vật của “Tứ chúng”, chỉ trừ Sa Tăng là tính cách không nổi bật, ít thamgia vào các cuộc tranh cãi, những nhân vật còn lại đều mỗi người một tính, hay có, dở có, nhưngnhìn chung là khó hoà hợp lâu Từ mâu thuẫn nhỏ đến xung đột lớn giữa Đường Tăng, NgộKhông, Bát Giới đều đã xảy ra không chỉ một hai lần, kể cả lúc bình thường lẫn khi lâm sự Xét
từ quan niệm tôn giáo, những sự cố này có nguyên nhân sâu xa từ triết lý nhân quả, từ cácchứng “tham”, “sân”, “si” của nhân vật Xét từ quan niệm triết học, đó là biểu hiện quan hệ chếhóa của ngũ hành mà mỗi nhân vật trong nhóm là đại diện Nhưng xét từ cấp độ hình tượng, thì
đó là do những khác biệt về tính cách Những điều này đã ít nhiều được đề cập đến khi bàn đếntính cách các nhân vật này (xem thêm [3], [5]) Dưới đây là một vài sự cố có ý nghĩa tiêu biểu
Sự cố đầu tiên thuộc dạng này xảy ra khi tập thể thỉnh kinh mới chỉ có hai thầy trò ĐườngTăng và Ngộ Không Ngộ Không được Đường Tăng bóc bùa giải thoát, đưa sư phụ vượt qua núiLưỡng Giới, sau một đêm trọ ở nhà cụ Trần, lại ngày đi đêm nghỉ, thẳng đường sang Tây, gặp sáutên giặc cỏ (hình tượng hóa “sáu giặc” theo quan niệm Phật giáo) xông ra chặn đường Ngộ Không
để cho chúng nhằm đầu chém bảy tám mươi nhát liền rồi rút “cây kim” ra đập chết hết ĐườngTăng đem lý tưởng từ bi bác ái của nhà Phật oán trách Ngộ Không, lão Tôn lại lấy thực tế trướcmắt trả lời sư phụ: “Sư phụ, nếu con không đánh chết chúng, chúng lại muốn đánh chết sư phụ kia”[7, tr.191] (q thượng) Nhưng Đường Tăng cứ lải nhải mãi, mà Ngộ Không thì vốn xưa nay khôngchịu nổi mắng nhiếc, bực tức nói lời từ giã rồi nhảy vút lên mây phóng về phương Đông Sự vachạm dẫn đến xung đột lớn đầu tiên xảy ra giữa hai tính cách có nhiều điểm đối lập này tuy bất ngờnhưng mang tính tất yếu Phản ứng của Đường Tăng (hiện thân của chữ “si”) và Ngộ Không (hiệnthân của chữ “sân”) đều phù hợp với logic nội tại của tính cách mỗi nhân vật
Ngộ Không đi rồi, Tam Tạng tự an ủi ấy là cái số mình không thu nạp được đồ đệ, quyếttâm một mình sang phương Tây Đang bơ vơ buồn bã dắt ngựa đi thì gặp đức Quan Âm Bồ Tátbiến thành bà lão trao cho một tấm áo bông, một chiếc mũ dát hoa vàng, lại truyền cho bài chú
“Định tâm chân ngôn”, còn gọi là “Khẩn cô nhi chú” để làm cho Ngộ Không “không dám hànhhung và không dám bỏ đi nữa” Còn Ngộ Không bỏ sư phụ ra đi, lại chưa về chốn cũ ngay mà đếnthẳng Đông Dương đại hải thăm Long vương xin chén trà uống Uống trà xong, nhân ngắm bứctranh “Cầu Dĩ dâng giày” và nghe Long vương kể sự tích Trương Lương ba lần dâng giày choHoàng Thạch công ở cầu Dĩ, Ngộ Không liền hồi tâm chuyển ý, quyết định quay lại hộ vệ ĐườngTăng Đây là chi tiết rất đáng chú ý vì nó chứng tỏ Ngộ Không tuy nhất thời nóng nảy nhưng lại làngười biết trọng nghĩa khí và có tinh thần phục thiện, nhanh chóng sửa chữa sai lầm, khác hẳn vớitính cố chấp của Đường Tăng Gặp lại sư phụ, thầy trò vừa tỏ tình thân thiện xong, Đường Tăng
đã bịa chuyện nói dối để lừa cho Ngộ Không tự chụp chiếc mũ dát hoa vàng lên đầu và niệm chúnhiều lần để chiếc mũ biến thành chiếc vòng mọc rễ, xiết chặt vào da thịt Ngộ Không Lão Tônđau đớn, miễn cưỡng chấp nhận yêu cầu của Đường Tăng nhưng vẫn tức giận, rút gậy nhằm đầuông ta bổ xuống, lại bị ông ta niệm luôn hai ba lần nữa, ngã lăn ra đất, phải kêu xin Hỏi biết là BồTát đã truyền cho Đường Tăng phép ấy, Ngộ Không càng giận, định sang Nam Hải đánh
Bồ Tát, nhưng nghe Đường Tăng nói: “Nếu ngươi tìm ngài, ngài mà niệm, ngươi lại chẳng
Trang 18chết à?” [7, tr.197] (q thượng), mới định tâm cùng sư phụ lấy lại hoà khí, một lòng một dạsang Tây.
Rõ ràng phép lạ hay là phương thuốc định tâm của Như Lai và Bồ Tát, dù hay nhưngkhông phải dễ dàng có công hiệu nếu Ngộ Không chưa thể chiến thắng được “con vượn lòng”của chính mình Phản ứng của Ngộ Không vừa hợp với logic hiện thực đời sống vừa hợp vớilogic nội tại của tính cách nhân vật này Từ việc giải quyết sự cố trong quan hệ thầy trò, nhờ được
Bồ Tát ban cho phép lạ, kể từ đây Đường Tăng người trần mắt thịt đã khống chế được đồ đệ thầnthông quảng đại, tài ba dũng cảm nhất nhưng cũng khẳng khái, ương ngạnh, khó bảo nhất là TônNgộ Không Sự cố này cũng báo hiệu một xu thế tất yếu trong quan hệ giữa hai thầy trò: bên cạnhtình cảm ấm áp tốt đẹp như cha con, sẽ luôn tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn Những nguy cơ ấy trênthực tế đã nhiều phen bùng phát thành xung đột dữ dội, mà Đường Tăng thì vẫn thường lạm dụng
“phép lạ” thay cho lý trí tỉnh táo, xét đoán và trừng phạt Ngộ Không một cách oan uổng
Ngoài sự cố trong quan hệ thầy trò giữa Đường Tăng và Ngộ Không, những sự cố trongquan hệ anh em giữa Ngộ Không và Bát Giới (hiện thân của chữ “tham”) cũng thường xuyên xảy
ra Bát Giới thì hay mượn sự hồ đồ và bài chú “khẩn cô nhi” của Đường Tăng để hại Ngộ Không,ngược lại Ngộ Không thường lợi dụng tính ngốc và tham của bản thân Bát Giới để trêu chọc lão.Ngoài lý do khác biệt về tính cách, sở dĩ hai nhân vật này thường hục hặc còn vì sự mê lầm dẫnđến cách cư xử thiếu công bằng của Đường Tăng Vì vậy, quan hệ tay ba Đường Tăng – NgộKhông – Bát Giới là quan hệ phức tạp, có tính biện chứng Bên cạnh việc trêu đùa không ác ý đốivới những khuyết điểm của Bát Giới, Ngộ Không cũng có lúc chơi khăm cho bõ tức vì hay bị BátGiới xúc xiểm để sư phụ kết tội và hành hạ oan uổng mình, cảm thấy “cụ già nhà mình chỉ haybênh che” hắn [7, tr.524] (q trung), “sư phụ cũng quá bênh che, quá thiên vị” hắn [7,tr.1054] (q hạ) Bát Giới thì ngoài thói xúc xiểm, ăn nói quàng xiên vì bị sắc đẹp và mối lợi làmcho mờ mắt, còn hại Ngộ Không để trả miếng vì nỗi bị Ngộ Không áp chế và chơi khăm Tuynhiên, khách quan mà nói thì những sự cố trong quan hệ giữa hai nhân vật này chỉ là vặt vãnh, nhỏnhặt, hầu như không hề dẫn đến xung đột lớn mà thường có ý nghĩa bước đệm, ý nghĩa tiền đềthúc đẩy hoặc kìm hãm các xung đột khác, khiến cho sự kiện, tình tiết thêm ly kỳ, hấp dẫn, hìnhtượng nhân vật thêm đầy đặn, phong phú, giàu sức sống hơn
Chẳng hạn ở tình tiết cứu vua nước Ô Kê, Bát Giới đang ngon giấc thì bị Ngộ Không lừa,
rủ đi kiếm “món hời” nhưng sự thực là bảo xuống giếng vớt xác chết Bát Giới hậm hực vềchuyện đó, bèn nghĩ cách chơi xỏ, khích sư phụ niệm chú bắt Ngộ Không phải cứu sống quốcvương ngay ở dương gian Ngộ Không bị niệm chú, phải từ bỏ ý định “xuống âm ty hỏi xemDiêm Vương nào giữ linh hồn hắn, xin mang về cứu”, mà hứa sẽ “lên thẳng tầng trời Ly Hận thứ
ba mươi ba, vào cung Đâu Suất, gặp Thái Thượng Lão Quân, xin ngài ấy một viên ‘cửu chuyểnhoàn hồn đơn’ mang về cứu sống hắn” [7, tr.534] (q trung) Đây là cách dẫn chuyện hết sức tựnhiên nhằm góp phần mô tả các phương thức cải tử hoàn sinh kỳ lạ, biểu hiện một mô típ quan
trọng trong Tây du ký
Hay ở tình tiết “Đại chiến Sư Đà lĩnh”, sau khi lão yêu cả bị Ngộ Không hàng phục, hứađưa sư phụ qua núi, lão yêu hai bàn kế bội ước, đem quân bày trận thách Ngộ Không ra giaochiến Ngộ Không bấy giờ lấy nghĩa khí khích Bát Giới ra đánh nhau với hắn, chú Ngốc hănghái xung trận, nhưng lại đề xuất một phương án phòng bị kỳ quặc là buộc sợi dây ngang lưng đểnếu thắng, thì buông chùng sợi dây “để tôi bắt hắn”, còn thua thì kéo ngay về, “đừng để hắn bắtmất tôi” Ngộ Không đồng ý nhưng khi Bát Giới bị thua kêu cứu, lại thả sợi dây cho chùng rakhiến chú Ngốc vướng dây ngã chổng kềnh, bị yêu quái bắt sống mang về trói vứt xuống ao
Trang 19Ngộ Không bị sư phụ trách mắng, đi cứu lão Trư nhưng trong lòng đã quyết: “Chú Ngốc hayrủa mình chết, vậy đừng để cho hắn sung sướng vội” Lúc thấy tình cảnh thảm hại của Bát Giớithì vừa giận vừa thương – thương vì “hắn cũng là một con người ở hội Long Hoa”, giận vì “hắnđộng một tí là chia hành lý bỏ đi, lại hay xúc xiểm sư phụ niệm chú ‘khẩn cô nhi’ hại mình”, nghenói “hắn còn góp nhặt dành dụm được ít vốn riêng” [7, tr.1054-1055] (q hạ) Vậy là Ngộ Khôngrắp tâm “doạ hắn một vố xem sao”, bèn thác lời quỷ sứ được Diêm Vương sai đi bắt hồn Bát Giới,kết quả là thu được số bạc bốn đồng cân sáu hoa mà lão Trư giấu trong lỗ tai để làm vốn riêng, rồimới thực hiện việc cứu sư đệ và cùng nhau đánh thốc ra ngoài Như vậy, từ sự cố Bát Giới bị NgộKhông thả chùng sợi dây, tác giả đã khéo léo, tự nhiên “thả chùng” xung đột chính trên chiếntrường, để rồi đẩy tới cao trào, kết thúc nhanh chóng một bước xung đột - lão yêu hai bị hàngphục Giữa hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, mà vẫn có những cảnh trêu đùa như thế, quả là chuyệnhết sức kỳ lạ và điều này càng tỏ rõ tinh thần lạc quan, xem thường nguy hiểm của Ngộ Không
Có thể thấy, với những tình tiết phức tạp, việc dẫn chuyện sở dĩ có được thứ lớp mạch lạc
và biến hoá, chứa đựng những sắc thái ý nghĩa phong phú đa dạng, một phần quan trọng chính
là nhờ tác giả đã kết hợp tài tình những sự cố nhỏ xen giữa những xung đột lớn như vậy Vai tròcủa sự cố trong nội bộ tập thể thỉnh kinh đối với cấu tứ nghệ thuật của tác phẩm cũng chủ yếu làđược thể hiện ở chỗ này Xét cho cùng thì số lượng những sự cố “thuần tuý nội bộ” không nhiềulắm, vì ở đa số các trường hợp, sự cố chịu sự chi phối mạnh mẽ của các tác nhân bên ngoài
2.3 Những sự cố trong quan hệ giữa nhóm hay các thành viên của nhóm thỉnh kinh với các
đối tượng khác diễn ra thường xuyên hơn, có vai trò rộng lớn hơn trong việc tổ chức đường dây sự
kiện Nhiều sự cố trở thành đầu mối xung đột lớn, tạo ra được những tình tiết ly kỳ hấp dẫn, nhânvật nhờ đó mà có thêm điều kiện thuận lợi để phô bày bản lĩnh của mình Xét trên bề mặt, có thểliệt kê hàng loạt các sự cố dạng này Sự cố đầu tiên là việc Ngộ Không khoe bảo bối khiến sư già
ở chùa Quan Âm nảy lòng tham, manh tâm làm ác đốt chùa, giết người đoạt của, tạo ra đầu mốicủa tình tiết “Đại náo Hắc Phong sơn” (hồi 16-17); và sự cố cuối cùng là việc con rùa già ở sôngThông Thiên, buồn vì thánh tăng không hỏi Phật tổ hộ mình xem đến bao giờ thì được thành thânngười, nên đã nghiêng mình khiến bốn thầy trò, con ngựa bạch và tất cả kinh kệ, hành lý rơi tõmxuống sông Giữa hai sự cố đầu và cuối ấy, còn rất nhiều sự cố khác Ở đất Phật thì xảy ra chuyện
A Nan, Ca Diếp đòi lễ không được nên đã giao kinh không chữ cho thầy trò Đường Tăng Ở nonTiên thì xảy ra chuyện thánh tăng nhầm lẫn không ăn quả quý nhưng đồ đệ lại ăn trộm, quật đổ cảcây, dẫn đến việc tình cố tri giữa thánh tăng và Đại tiên bị đám đệ tử biến thành quan hệ đối địch.Giữa trần gian càng nhiều sự cố tương tự, chuyện lành có, chuyện dữ có, nhưng thảy đều rắc rối,
và việc khắc phục đều phải trông cậy vào bản lĩnh thần thông quảng đại, tài biến báo của Tôn NgộKhông Nào chuyện nữ vương nước Tây Lương muốn lấy Đường Tăng làm chồng, nhường ngôicho ông ta, để mình làm hoàng hậu Nào chuyện đúng vào lúc vua nước Diệt Pháp muốn giết bốnhoà thượng nổi danh sau khi đã giết chín nghìn chín trăm chín mươi sáu hoà thượng, thì thầy tròĐường Tăng phải đi qua nước ấy; thầy trò đã cải trang vào quán trọ, khi ngủ cũng thận trọng chuivào hòm nhờ chủ quán khoá ngoài để tránh bị phát hiện, nhưng chiếc hòm lại bị bọn trộm cướpkhiêng ra ngoài thành và quan quân đuổi theo bắt được (hồi 84-85) Rồi chuyện tăng quan, sư sãichùa “Sắc kiến Bảo Lâm”, vì sẵn thành kiến với bọn nhà sư lang thang ở nhờ và làm bậy ở chùanày trước đây, nên đã tỏ thái độ khinh bỉ, định không cho thầy trò Đường Tăng ngủ trọ (hồi 36);chuyện thầy trò Đường Tăng bị bắt giam cùng với tang vật vụ án cướp nhà Khấu viên ngoại ởhuyện Địa Linh, phủ Đồng Đài
Trang 20Tất nhiên, ngoài quan hệ giữa người với người, còn có quan hệ giữa người với tự nhiên(như núi Hắc Phong, sông Hắc Thủy, sông Thông Thiên, núi Kính Cức, động Vô Để…), mà tiêubiểu nhất là biến cố “Hỏa Diệm sơn nghẽn lối” dẫn đến chuyện ba lần mượn quạt Ba Tiêu(“Tam điệu Ba Tiêu phiến - hồi 59- 61) Tuy nhiên, việc xử lý quan hệ giữa người với tự nhiên
ở đây, cũng được miêu tả thành việc xử lý quan hệ giữa người với người; và giống như hầu hếtcác trường hợp khác, lại trở thành xung đột đối kháng với những cuộc giao tranh một mất mộtcòn như đã nói trên … v.v
Trong sự cố ở chùa Quan Âm, ngay từ đầu tác giả đã khéo léo sắp đặt sự va chạm về tínhcách giữa ba nhân vật: sư già, Ngộ Không, Đường Tăng Sư già thì vừa tham sống, vừa thamcủa, lại thích khoe khoang Đường Tăng thì khiêm tốn, nhũn nhặn, cẩn trọng Ngộ Không thìhiếu thắng, chủ quan, bất cẩn Chỗ vi diệu của tác giả khi trình bày sự cố này là đã để choĐường Tăng có ý thức đề phòng, ngăn cản sự hăng hái thái quá của Ngộ Không, lường trước cảtình huống xấu: “Nếu nhìn qua, tất động lòng, đã động lòng, tất sinh mưu kế Mình sợ tai vạ tấtphải chiều theo họ Bằng không sẽ hại thân mất mạng cũng chỉ vì thế Việc không nhỏ đâu”[7, tr.215] (q thượng) Chi tiết này không chỉ có ý nghĩa nhấn mạnh sự chủ quan củaNgộ Không mà còn đặc biệt làm nổi bật dã tâm làm ác của sư già – Đường Tăng tuy lườngtrước được “việc không đơn giản” nhưng cũng không thể nào ngờ được một nhà sư đã sống và
tu hành đến hai trăm bảy mươi tuổi lại có gan sai đệ tử chất củi đốt chùa thiêu người để đoạt củabáu! Sự cố xảy ra bất ngờ giữa đêm khuya, nhưng trong bất ngờ lại nảy sinh bất ngờ hơn nữa.Ngộ Không đang tồn thần dưỡng khí, nửa tỉnh nửa mơ thì nghe tiếng chân người rầm rập, tiếngcủi chất rào rào như gió, nghi là có trộm cướp, bèn biến hoá bay ra xem xét Nhìn rõ lòng dạ độc
ác của bọn người này, Ngộ Không cân nhắc và đi đến quyết định sẽ “thuận tay bắt dê, tương kếtựu kế” cho chúng một vố Thế là lên trời mượn “lồng tránh lửa” của Quảng Mục thiên vương
về úp chụp lấy sư phụ, con ngựa bạch và hành lý Còn mình thì ra phía sau phòng của sư giàngồi bảo vệ tấm áo cà sa, nhưng vì mải tập trung vào việc “giúp họ qua quýt một ít gió”, lãoTôn không biết rằng có một con yêu tinh định đến cứu chùa đã phát hiện ra và cuỗm mất bảobối Đó chính là sự kiện dẫn đến tình tiết “Đại náo núi Hắc Phong” đã được nói đến trên kia.Việc Ngộ Không thay vì dùng nước lại thổi gió để giải quyết nạn lửa là việc lạ, nhưng rất phùhợp với logic nội tại của tính cách lão Tôn Thái độ và hành động ấy được tác giả trực tiếp biểu
lộ sự đồng tình giữa những vần thơ hừng hực miêu tả ngọn lửa: “Nếu không trừ diệt, hoá ra giúpác” [7, tr.220] (q thượng) Ở đây, sự cố đã tiếp liền sự cố, khiến tình tiết càng thêm ly kỳ biến
ảo, góp phần tô đậm và làm phong phú hơn hình tượng nhân vật
Nói đến kiểu sự cố nảy sinh trong quan hệ đời thường, không thể bỏ qua một sự cố có tínhđiển hình là chuyện rắc rối giữa thầy trò Đường Tăng với thầy trò Trấn Nguyên đại tiên ở quánNgũ Trang, núi Vạn Thọ, mà trước hết là với hai tiểu đồng Thanh Phong, Minh Nguyệt Sự cố nàykhởi nguồn từ đầu hồi 24, nhưng hậu quả của nó thì phải đến cuối hồi 26 mới khắc phục xong Cảmột trường đoạn đầy ắp những chi tiết, sự kiện kỳ lạ được triển khai trong ba hồi của tiểu thuyết,đem lại nhiều hứng thú thẩm mỹ cho người đọc
Quan hệ kỳ lạ giữa Đường Tăng và Đại tiên được trình bày ngay trước khi thầy trò đặtchân đến quán Hôm ấy, Đại tiên phải đến cung Di La trên Thượng Thanh Thiên nghe NguyênThủy Thiên tôn giảng về “Hỗn nguyên đạo quả”, biết trước Đường Tăng - bạn cũ từ năm trămnăm trước” sẽ đến, bèn dặn dò hai tiểu đồng “mang hai quả nhân sâm ra mời ngài xơi, để tỏ chúttình cố cựu”, và còn dặn thêm rằng: “Quả của ta đã có số, chỉ được mời ngài hai quả, không đượcmời nhiều”, “Đường Tam Tạng tuy là bạn cũ, nhưng phải đề phòng bọn thủ hạ dò la, không thểkinh động để họ biết” [7, tr.324] (q thượng) Qua những lời dặn dò của Đại tiên, tác giả đã làm
Trang 21nổi bật hai điều: một là Đại tiên hết sức quý trọng Đường Tăng, hai là quả nhân sâm cực kỳ quýgiá, không phải ai cũng được ăn và muốn ăn bao nhiêu cũng được Nhưng cả hai điều ấy ĐườngTăng đều hoàn toàn không biết Đây chính là một nguyên nhân sâu xa khiến cho sự cố xảy ra sau
đó càng lúc càng trở nên nghiêm trọng
Thầy trò Đường Tăng vào đến quán, vừa nhìn thấy đôi câu đối ở lần cửa thứ hai, NgộKhông đã nhận xét: “Ông đạo sĩ này nói phét quá trời!”, đến lúc nghe hai tiểu đồng giải thích vềviệc quán này chỉ treo thờ hai chữ “Thiên Địa” và nói về sư phụ của họ thì lão Tôn hết cười ngặtnghẽo vì cho là họ nói phét, lại nổi cáu, mắng họ là “đồ tiểu đồng khai thối”, và gọi sư phụ họ là
“đồ móng trâu ngang ngược” [7, tr.326] (q thượng) Như vậy là ngay từ đầu, Ngộ Không đãbộc lộ cá tính hấp tấp, nóng nảy, hiếu thắng Điều này không tránh khỏi tạo nên ấn tượng xấunơi hai tiểu đồng về ba đồ đệ “mặt mũi xấu xí hung tợn, tính nết thô tục” của Đường Tăng May
mà Đường Tăng ngăn cản kịp thời, sai các đồ đệ mỗi người một việc Hai tiểu đồng sau khi hỏi
dò biết chắc Đường Tăng là bạn cũ của sư phụ mình, đem ngoèo vàng khay đan đi hái quả nhânsâm mời ngài xơi Nhưng thứ “của quý nhà tiên” - một vạn năm chỉ kết được ba mươi quả, mà
“ngửi một lần, thì sống lâu ba trăm sáu mươi tuổi; ăn một quả, sống mãi bốn vạn bảy nghìnnăm” – ấy, Tam Tạng người trần mắt thịt đâu có biết Nhìn thấy thứ quả kỳ lạ, hình dáng “tựanhư đứa trẻ mới sinh chưa đầy ba ngày”, ông ta tưởng là đứa trẻ thật, run rẩy sợ hãi, nói thế nàocũng không chịu tin, kiên quyết từ chối Hai tiểu đồng đành bưng quả vào phòng trong chianhau ăn Bát Giới nấu ăn trong bếp ở cạnh đó, lúc trước nghe lỏm được chuyện lấy ngoèo vàngkhay đan nên đã để ý, bây giờ rõ chuyện Đường Tăng không biết quả nhân sâm thì thèm chảynước dãi, tự biết mình không thể hái được, nhưng đã tính chuyện chờ Ngộ Không về để bànmẹo hái trộm quả
Ngộ Không biết ở đây có thứ quả quý mà mình chưa từng thấy, lập tức hưởng ứng lời đềnghị của Bát Giới Thế là biến hoá, lấy ngoèo vàng ra phía sau, đến chỗ cây quý Vì chỉ dùngngoèo vàng mà không hứng bằng khay đan nên quả nhân sâm đầu tiên biến mất Tưởng là thổđịa giữ không cho lấy, Ngộ Không gọi thổ địa lên mắng Thổ địa kêu oan, nói rõ đặc tính kỳ lạ
“khắc với ngũ hành” của quả nhân sâm: “Quả này gặp kim thì rụng, gặp mộc thì khô, gặp thuỷthì hoá, gặp hoả thì héo, gặp thổ thì nhập Đại Thánh vừa mới chọc rụng, nó chui vào đất ngay.Đất ấy cũng thọ bốn vạn bảy nghìn năm, cứng hơn cả đồng, có khoan nó cũng chẳng động chútnào ” [7, tr.331] (q.thượng) Biết đặc tính và cách hái quả này rồi, Ngộ Không bèn lấy vạt áobông làm túi đựng, hái luôn ba quả mang về bảo Bát Giới gọi cả Sa Tăng lại, chia nhau mỗingười ăn một quả Bát Giới ăn vội, không biết được mùi vị gì, lại chẳng “tri túc”, đòi thêm mộtmiếng để thưởng thức không được nên càu nhàu mãi Thanh Phong tình cờ nghe được, bảoMinh Nguyệt cùng đi kiểm tra cây nhân sâm, thấy thiếu bốn quả, bèn quay vào chỉ mặt ĐườngTăng xỉ vả, mắng nhiếc Bọn đồ đệ Đường Tăng bàn nhau chối phắt đi, nhưng trong lúc hai bênlời qua tiếng lại, nghe tiểu đồng nói “lấy trộm những bốn quả…”, chú Ngốc lại quay ngoắt sang
tỏ thái độ ghen tỵ với Ngộ Không, làm ầm ỹ lên Thế là “lạy ông tôi ở bụi này”, chuyện đã rõrành rành, không thể cãi vào đâu được Hai tiên đồng càng mắng nhiếc thậm tệ, Đại Thánh càngtức tối, nhưng tạm nhẫn nhục rồi dùng “kế tuyệt hậu”, sử phép thế thân, xuất thần nhảy lên mây,rút gậy nện vào gốc cây, lại dùng hết sức bình sinh đẩy cây đổ lăn kềnh ra
Rõ ràng từ sự kiện có ý nghĩa đầu mối - Đường Tăng được mời ăn quả nhân sâm nhưngkhông ăn - đến sự kiện cây nhân sâm bị Ngộ Không quật đổ là cả một chuỗi liên tục nhiều sự cốnhỏ nối tiếp nhau theo quan hệ nhân quả, cuối cùng dẫn đến một sự cố lớn nhất, nghiêm trọngnhất Vì Trấn Nguyên tử đi vắng, Đường Tăng là người trần mắt thịt không hề biết gì về quan
Trang 22hệ trong tiền kiếp của mình với Đại tiên, lại thêm tâm lý sợ hãi nên càng hồ đồ Do đó, việc ông
ta từ chối không ăn quả quý không có gì lạ, mà chỉ làm nổi bật cái lạ về hình thức của quả nhânsâm Hai tiểu đồng chia nhau ăn quả cũng là hợp lý vì quả này để lâu không ăn được, mà mờicác đồ đệ Đường Tăng thì dứt khoát là không rồi – chẳng những vì sư phụ họ đã dặn thế mà còn
vì những ấn tượng ban đầu không tốt đối với ba đồ đệ Đường Tăng Chỉ có điều, mặc dù đãcảnh giác nhưng bí mật về quả nhân sâm vẫn bị lộ Đây là một sự cố bất ngờ đối với hai tiểuđồng, do sự cố này mà quả nhân sâm bị hái trộm, và logic tất yếu là hai tiểu đồng ngờ ĐườngTăng sai đồ đệ làm việc ấy, mắng chửi ông ta trước tiên, còn ba đồ đệ thì có cơ hội thống nhấtphương án trả lời Việc Ngộ Không đi hái nhân sâm cũng không suôn sẻ, một quả chui tọt vàođất Tất nhiên sự cố nhỏ này dễ dàng được khắc phục nhờ có thổ địa mách bảo, nhưng đây chính
là chỗ “phục bút” tinh tế của tác giả để sau này tạo ra việc Bát Giới hiểu lầm Ngộ Không và làm
ầm ỹ lên, ngẫu nhiên thừa nhận có ăn trộm quả Sau khi ăn quả, nếu Bát Giới không càu nhàu đểtiểu đồng tình cờ nghe được thì chưa chắc việc đã bị phát hiện, nhưng đúng là “tai vách mạchrừng” Vì thế sự cố bất ngờ đối với tập thể thỉnh kinh đã xảy ra và người đầu tiên chịu trận, thậttrớ trêu, lại là Đường Tăng Ngộ Không thì chẳng những phải nghe những lời mắng nhiếc thậm
tệ của “lũ tiên đồng đáng ghét”, mà còn bị Bát Giới hiểu lầm và vô tình “phản bội”, tất nhiêncàng điên tiết, mới quyết tâm dùng “kế tuyệt hậu”, phá đổ cây tiên
Chỉ vì một sự hiểu lầm mà đôi bên đều gặp chuyện đen đủi, đổi thân thiện thành thù địch.Thanh Phong, Minh Nguyệt thì sợ hãi, tìm kế nhốt thầy trò Đường Tăng để sư phụ họ về xử lý,Ngộ Không thì dùng phép giải thoát mọi người, dẫn đến việc Đại tiên mấy lần đuổi bắt thầy trò,Đại Thánh thi thố pháp lực và tìm khắp ba đảo tiên không ra thuốc chữa cây, cuối cùng cầuđược Bồ Tát đem bình nước cam lộ đến cứu cây tiên sống lại, hai bên hoà hợp, Đại tiên lại bàytiệc rượu cùng Đại Thánh kết làm anh em Một chuỗi sự kiện bắt đầu từ sự cố đã được tác giả thểhiện tự nhiên, sinh động xoay quanh một hiện tượng kỳ lạ: quả nhân sâm Qua đó, đặc điểm tâm
lý, tính cách các nhân vật được khắc hoạ rõ nét, đặc biệt là hai nhân vật Ngộ Không và Bát Giới
Những sự cố nói trên rõ ràng đã góp phần tạo nên sắc thái thẩm mỹ độc đáo của Tây du
ký Đó là sự thống nhất cao độ giữa cái cao quý với cái phàm tục, giữa tính ly kỳ với tính hài hước, khiến cho thế giới nhân vật Tây du ký vừa hết sức lạ lẫm vừa đặc biệt gần gũi, quen thuộc
đối với tâm tư, tình cảm và sự trải nghiệm của người đọc Đây là điểm khác biệt căn bản với sắc
thái hùng tráng và bi tráng có tính chất “sử thi” của Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử truyện.
3 KẾT LUẬN
Sự cố trong quan hệ đời thường giữa các nhân vật cũng đa dạng như chính sự đa dạng củabản thân đời sống Mỗi sự cố có lý do khác nhau với những cách thức khắc phục khác nhaunhưng đều trực tiếp hoặc gián tiếp biểu thị triết lý nhân quả Phật giáo Đó là sự thống nhất giữatính ngẫu nhiên và tính tất yếu của các biến cố, nhằm tạo ra được những tình huống bất ngờ, hấpdẫn Sự cố trong quan hệ đời thường giữa các nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong việc
góp phần tạo nên vẻ đẹp ly kỳ, biến ảo và tính chất hài hước của Tây du ký Những sự cố kiểu
này được thể hiện sinh động cả trong nội bộ nhóm “Tứ chúng”, cả trong quan hệ giữa nhóm haycác thành viên của nhóm với các đối tượng khác ngoài nhóm Từ những sự cố này, người ta thấytác giả đã phản ánh sinh động những khác biệt, quá trình khắc phục những dục vọng, toan tínhchủ quan, và nhiều trở ngại, hạn chế khách quan khác – từ tự nhiên đến xã hội – đối với nhóm
Trang 23“Tứ chúng” Đặc biệt là qua những sự cố này, tác giả còn đặt ra những vấn đề trần thế, cấp thiết,liên quan đến tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, lợi ích của từng cá nhân trong xã hội Đó lànhững vấn đề có tính nhân loại hết sức sâu sắc mà đương thời, không phải tác phẩm nào cũng có
thể có được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lương Duy Thứ giới thiệu, NXB Văn học, H.1988
dân gian, số 4/1991, tr 68-70
độ tính cách”, Thông báo Khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên,
số 1, 2002, tr 46-54
Kỷ yếu Hội nghị Khoa học 45 năm Đại học Vinh, tập 2, Vinh, 11/2004, tr.71-79
Thừa Ân”, Tạp chí Giáo dục, số 8/2007, tr 49-51, 57.
Nẵng, 2001
[7] Ngô Thừa Ân, Tây du ký (Thượng, Trung, Hạ), Nhân dân văn học xuất bản xã, Bắc
Kinh, 1972
TYPES OF TROUBLE IN NORMAL LIFE RELATIONSHIP
IN “JOURNEY TO THE WEST”
Trinh Dinh Ha
ABSTRACT
On the basis of determining the significance of the problem for the organization of the chain of events in the literary works of the narrative genre, derived from the actual role of the problem types in the elationship between characters of everday life in the Journey to the West; articles analyzing the expression and significance of the fundamental problems of this type of work, including problems in internal relations the group take Sutra and problems in relations among the group or members of the group take Sutra with the other subjects.
Key words: Journey to the West
Người phản biện: PGS.TS Trần Lê Bảo
Trang 24ĐẶC ĐIỂM NGỤ NGÔN TRONG NGỤ NGÔN NHỎ VÀ TRƯỚC
CỬA PHÁP LUẬT CỦA FRANZ KAFKA
Nguyễn Thị Hạnh1
TÓM TẮT
Franz Kafka, một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của thế kỉ XX, sáng tác và thành công ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện cực ngắn, nhật kí Tác phẩm của ông khó hiểu và gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc trong suốt hơn một thế kỉ qua Đa phần người ta thường cho rằng, hầu hết các sáng tác của Kafka thể hiện cái nhìn đầy bi quan của nhà văn về thân phận con người và cuộc đời Tìm hiểu hai truyện ngắn, Ngụ ngôn nhỏ và Trước cửa pháp luật, chúng tôi nhận thấy không hoàn toàn như vậy Đằng sau việc làm hiện đại hoá hình thức văn chương cổ xưa - truyện ngụ ngôn là cách nhà văn đề xuất, gợi mở cho con người một giải pháp
để thay đổi cuộc đời, số phận bằng tư tưởng tích cực và thái độ sống lạc quan.
Từ khóa: Truyện ngụ ngôn hiện đại, thái độ lac quan, tư tưởng tiến bộ tích cực.
1 MỞ ĐẦU
Franz Kafka (1883-1924) là nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn đến văn chương nhân loạitrong suốt nửa sau của thế kỉ XX đến nay Ông được xem là “nhà văn phức tạp bậc nhất thếgiới Nghệ thuật của ông đã thâu tóm trong nó gần như mọi linh hồn của thời đại”[1;tr7] Sựphức tạp và khó hiểu ấy có mặt trong khắp các sáng tác của ông Suốt hơn một thế kỉ nay, người
ta thường chỉ ra và gọi tên thái độ của nhà văn là cái nhìn đầy bi quan sâu sắc về thân phận vàcuộc đời con người Đặc biệt, với thể loại truyện ngắn và cực ngắn của Kafka, lâu nay người ta
thường bàn nhiều về Làng gần nhất, Thông điệp của hoàng đế, Người cưỡi xô, hầu hết với tư
cách là những tác phẩm độc lập Bằng phương pháp khảo sát so sánh trong hệ thống tác phẩm
cùng thể loại, cùng phương pháp phân tích tổng hợp khi nghiên cứu, tìm hiểu Ngụ ngôn nhỏ và Trước cửa pháp luật, chúng tôi nhận thấy có một mạch chảy ngầm xuyên suốt hai tác phẩm:
một kiểu ngụ ngôn đậm chất Kafka vừa truyền thống vừa hiện đại mà đằng sau nó là thái độ tíchcực của nhà văn khi đề xuất giải pháp cho vấn đề thân phận con người Từ đó, hy vọng bài viết
sẽ giúp cho sinh viên ngành Ngữ văn và những ai quan tâm đến văn học thế kỉ XX nói chungcũng như tác phẩm của Kafka nói riêng có thêm một cách kiến giải mới
2 NGỤ NGÔN NHỎ VÀ TRƯỚC CỬA PHÁP LUẬT - TRUYỆN NGỤ NGÔN HIỆNĐẠI ĐẬM CHẤT NHÂN VĂN
2.1 Cấu trúc ngụ ngôn hiện đại
“Ngụ ngôn là một kiểu truyện phúng dụ bằng thơ hoặc văn xuôi rất ngắn mang nội dunggiáo dục đạo đức Cốt truyện ngụ ngôn ngắn, hàm súc, giàu sức biểu hiện, bộc lộ bản chất củađối tượng ” [3; tr386] Ngụ ngôn là một trong những thể loại tự sự cổ xưa nhất Nó xuất hiệntrước công nguyên trong kho tàng văn hoá các dân tộc như Hi Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, Trung Hoa
Do tính chất, đối tượng và chức năng của nó, đặc điểm cấu trúc của ngụ ngôn hầu như khôngbiến đổi trong suốt quá trình lịch sử Đưa ra vấn đề thuộc về thời hiện đại, thân phận con người
1ThS Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.
Trang 25trong thời đại của Kafka, nhà văn sử dụng thể loại cổ xưa trước hết chứng tỏ người viết có một
sự phá cách táo bạo và đầy bản lĩnh, sau nữa là một minh chứng cho sự mở đường của nhữnggiọng điệu mới trên cơ sở kế thừa thể loại văn học cũ
Thông thường, cấu trúc truyện ngụ ngôn chia làm hai phần: phần thứ nhất truyền đạt mộthiện tượng hay nhân vật, sự kiện gây cười: phần thứ hai là bài học đạo đức Nhiều tác phẩm
phần hai bị lược đi, bài học tự nó toát ra ở cốt truyện Cấu trúc của Ngụ ngôn nhỏ và Trước cửa pháp luật thoạt tiên cũng tuân thủ theo đặc điểm này, vừa truyền đạt sự kiện, nhân vật vừa để
cho người đọc tự rút ra bài học đằng sau câu chuyện được kể, nhưng lại khác ở chỗ câu chuyện
không hề buồn cười mà đầy không khí bi đát Ngụ ngôn nhỏ kể về con chuột do sợ hãi thế giới
rộng lớn nên chạy mãi để tìm đường đi, cuối cùng con đường hẹp mà chuột ta tìm thấy lại là con
đường dẫn đến chỗ chết Và trước khi chết, chuột được mèo dành cho lời khuyên: “Mày chỉ cần đổi hướng” Còn Trước cửa pháp luật bắt đầu bằng câu chuyện về một người từ miệt quê muốn
bước vào cánh cửa pháp luật nhưng tên gác cửa không cho phép Người ấy kiên nhẫn chờ đợi vànhẫn nại hối lộ gã Gã nhận và bảo nhận là để cho người nông dân ấy yên tâm vì nghĩ rằng mình
đã làm hết sức Gã không cho người này vào vì theo gã đằng sau cánh cửa này còn nhiều cánh cửakhác Cứ mỗi cánh cửa ấy lại có một gã khác còn dữ tợn hơn canh gác Do vậy, người dân quê cứđợi mãi cho đến khi tuổi già đến và đợi thần chết Phần kết khép lại câu chuyện bằng lời của gã
gác cửa cho biết lí do vì sao suốt chừng ấy năm mà không ai đến đó: “Chẳng một ai khác được phép vào đây, bởi vì cánh cửa này được làm ra chỉ để dành cho mày Bây giờ tao sẽ đóng lại.”
Nhìn vào cấu trúc trên, chúng ta nhận thấy, cả hai truyện đều được nhà văn cấu trúc khágiống nhau Phần đầu là hành trình tìm đích đến của hai nhân vật (chuột tìm đường hẹp hơn đểtránh nỗi sợ hãi, người dân quê tìm đến cửa Pháp luật) Phần kết là lời đáp của nhân vật đại diệncho thế lực, quyền uy chỉ cho nhân vật tìm đích biết trước cái chết đến với họ là một tất yếu
không tránh được Cấu trúc ấy được tái hiện bằng dung lượng không dài, nhất là Ngụ ngôn nhỏ
rất phù hợp cho hình thức ngắn của thể loại ngụ ngôn Tuy không có bài học rút ra trực tiếpnhưng ngầm ẩn trong đó một thông điệp lớn đã được Kafka đặt ra đồng thời ở cả hai truyện.Thân phận con người, một vấn đề luôn trở đi trở lại trong tất cả các sáng tác của nhà văn, đượchiểu theo hai hướng khác nhau: hoặc là bi quan hoặc là lạc quan Cách hiểu thứ nhất có thể là:Con người dù có nỗ lực thế nào đi chăng nữa thì cái chết luôn đón đợi sẵn anh ta ở cuối conđường nên không có gì phải nỗ lực, phấn đấu vươn lên Cách hiểu thứ hai là: Con người vìkhông dám dũng cảm đối mặt với hiện thực để tìm cách vượt qua nên phải chấp nhận cái chết.Nếu hiểu theo cách thứ nhất sẽ là cái nhìn bi quan của con người bất lực Nếu hiểu theo cách thứhai, nghĩa là nhà văn đề xuất giải pháp hành động cho con người Truyện của Kafka thường gợi
mở rất nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí trái chiều nhau Hai tác phẩm này cũng vậy Vấn đềđặt ra là, nếu đặt tác phẩm trong tương quan với hình thức thể loại được lựa chọn: dưới cái nhìn
từ cấu trúc và giọng điệu của truyện ngụ ngôn, người đọc sẽ có thêm chìa khoá để giải mã vấn
đề mà nhà văn dường như muốn đề xuất (Chúng tôi vẫn nhấn mạnh là “dường như” bởi vănchương của Kafka không bao giờ có một cách hiểu duy nhất)
Bên cạnh đó, cách đặt vấn đề và kết thúc vấn đề của nhà văn trong hai truyện ngắn đều
giống nhau Cả người dân quê (Trước cửa pháp luật) và con chuột (Ngụ ngôn nhỏ) đều cố gắng
hết sức mình bằng cách này hay cách khác để cố đạt được mục đích trong cuộc đời nhưng rốtcục tất thảy đều chết Và họ được lí giải về kết cục ấy khá giống nhau Người dân quê được gã
gác cửa cho biết: “Chẳng một ai khác được phép vào đây, bởi vì cánh cửa này được làm ra chỉ
để dành cho mày Bây giờ tao sẽ đóng lại.” Nghĩa là trước sau gì ông ta cũng phải chết Cuộc
đời của ông ta đã được ấn định trước Con chuột lại được mèo chỉ rõ và vạch hướng đi để tránh
Trang 26khỏi cái chết thì cần phải đổi hướng Nghĩa là chuột kia không còn con đường sống nào khác,bởi xuất phát từ nỗi sợ hãi trước thế giới rộng lớn đến vô cùng nên chuột phải tìm con đường đinhỏ hẹp hơn, giờ đây nếu đổi hướng đi ngược lại thì chuột phải chấp nhận sống trong sợ hãi.Sống như thế chẳng khác nào chết Không có con đường đi nào tốt đẹp Một vòng tròn cho cuộcsống bi kịch đã được giăng mắc sẵn cho tất thảy ai tồn tại trong nó Không theo kiểu “nước đôi”đặc trưng của Kafka, câu kết khẳng định một cách rõ ràng, cụ thể: con người không có sự lựachọn nào cho mình ngoài cái chết Đây là một cách kết thúc không phổ biến trong hệ thống cáctác phẩm của Kafka Đa phần, kết thúc tác phẩm của ông là lối kết thúc mở Người đọc “nhậpcuộc” với rất nhiều tranh cãi khác nhau Mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và cách nào
dường như cũng có lí Nhà văn hiếm khi ấn định cho tác phẩm bằng lối kết thúc khép Đọc Biến dạng, Lâu đài, Hang ổ, Con thú tuyệt vời, Người canh gác, Thanh gươm cổ, Thông điệp của hoàng đế, Về dụ ngôn , độc giả nhiều khi cảm giác hoang mang vì không hiểu nhà văn muốn gửi gắm thông điệp gì đằng sau kết thúc mở ấy Nhưng với Ngụ ngôn nhỏ và Trước cửa pháp luật thì khác hẳn Một đáp số như kiểu kết thúc truyền thống của Balzac được hiện ra Thay vì
những băn khoăn vì sự mơ hồ, khó hiểu thường thấy, tác giả đã cho bạn đọc biết một lời khẳngđịnh chắc chắn về số phận của nhân vật Một cái nhìn đầy bi quan về thân phận con người vốnđược đặt ra trong nhiều tác phẩm của Kafka, lại một lần nữa được hiện diện qua hai truyện ngắnmang sắc màu của truyện ngụ ngôn cổ xưa Vấn đề mang tính thời sự của thế kỉ XX: nỗi âu lo
và cái chết được báo trước của con người được thể hiện dưới dạng một câu chuyện mang hìnhthức cổ xưa càng làm tăng độ sâu sắc cho triết lí về con người và cuộc đời Thì ra cái chết củacon người không phải vì cuộc đời tạo nên mà do chính bản thân họ không đủ bản lĩnh, lòngdũng cảm để đối diện với thực tế khách quan mà bước qua
Như vậy, hình thức thể loại ngụ ngôn không gợi ra nỗi ám ảnh về cái nhìn mang màu sắc
bi quan quen thuộc thường thấy trong sáng tác của nhà văn người Tiệp gốc Do Thái này Bởitruyện ngụ ngôn bao giờ cũng đúc rút một bài học kinh nghiệm về lẽ sống với một thái độ sống
tích cực tràn đầy lạc quan Cho nên, rõ ràng là Ngụ ngôn nhỏ và Trước cửa pháp luật thiên về
lối đề xuất tích cực, con người phải biết đối mặt với hiện thực để vươn lên, dù hiện thực ấy chứađầy hiểm nguy hay nỗi sợ hãi
2.2 Giọng kể ngụ ngôn hiện đại
Nếu Balzac được xem là nhà văn đại diện cho văn chương viết theo lối truyền thống thìKafka được xem là nhà văn có nhiều cách tân về nghệ thuật, mang hơi thở văn chương đặctrưng cho thế kỉ XX và đặt nền móng cho lối viết Hậu hiện đại sau này Chính lối viết với giọng
kể lạ là một trong những nguyên do làm nên một Kafka khó hiểu, phức tạp và “có vấn đề” Sửdụng thể loại truyện ngụ ngôn - một thể loại cổ xưa nhưng giọng điệu, ngôi kể lại được sử dụngrất linh hoạt và rất hiện đại
Ngụ ngôn nhỏ là một truyện cực ngắn chưa đầy 100 chữ (theo bản dịch tiếng Việt của Lê Huy Bắc) được kể lại có vẻ rất đơn giản: “Chao ôi”, chuột nói, “thế giới đang ngày càng nhỏ bé hơn Thoạt kì thuỷ, thế giới rộng lớn đến nỗi tôi sợ hãi, cứ chạy mãi rồi tôi mừng vì cuối cùng tôi nhìn thấy từ xa các bức tường bên phải và bên trái, song những bức tường dài này thu hẹp lại nhanh đến mức tôi lọt thỏm vào căn phòng cuối cùng và ở đó, ngay góc phòng một cái bẫy chờ sẵn mà tôi phải chui vào” “Mày chỉ cần đổi hướng”, mèo nói rồi chén sạch chuột.[1; tr.336]
Câu chuyện bắt đầu bằng một nét đặc sắc nghệ thuật của Kafka Sử dụng hình thức ngụngôn nhưng nhà văn khéo léo thay đổi giọng điệu và ngôn ngữ kể chuyện Thay vì giọng kể của
Trang 27người kể chuyện ở ngôi thứ ba như trong các truyện ngụ ngôn, tác giả của Ngụ ngôn nhỏ lại dùng lời trực tiếp của nhân vật để dẫn truyện: “Chao ôi”, chuột nói” Mở đầu bằng một tiếng
than dường như là cách để tác phẩm dự báo trước nội dung và kết cục cho câu chuyện cũng như
số phận nhân vật Sau tiếng than mở đầu có vẻ khác lạ so với chuỗi sáng tác của ông, lối kể
chuyện bằng một câu mang tính luận đề giống như trong Làng gần nhất lại được sử dụng: “thế giới đang ngày càng nhỏ bé hơn.” Đây là một nhận định mang dạng thức phổ quát nửa có dạng
như tiên đề không cần chứng minh nửa chừng lại như muốn đi chứng minh nó Vậy nên câu tiếptheo phần nào đã minh chứng làm rõ cho luận đề trên: “Thoạt kì thuỷ, thế giới rộng lớn nhìnthấy từ xa các bức tường bên phải và bên trái thu hẹp lại lọt vào căn phòng cuối cùng gócphòng một cái bẫy chờ sẵn” Hành trình mà con chuột đã trải qua là một trải nghiệm đủ để minhchứng cho sự thu nhỏ của thế giới qua tầm mắt của nó Ở đây xuất hiện hàng loạt các biểu tượngvốn rất hay được sử dụng trong văn chương của Kafka Con chuột là một ẩn dụ để chỉ con người.Hành trình hay con đường mà con chuột đã chạy qua là biểu tượng cho cuộc đời con người “Cáibẫy” biểu tượng cho địa ngục trần gian, cho cái chết Bằng sự xâu chuỗi những biểu tượng này,vấn đề về con người được nhìn qua số phận một con chuột càng trở nên ảm đạm, bi đát hơn Tước bỏ đi lối kể quen thuộc của ngụ ngôn truyền thống là cách làm mới một thể loại vănchương tưởng chừng quá xưa cũ, đồng thời cũng là một dụng ý của nhà văn Truyện chỉ có bacâu, nếu câu đầu và câu cuối là những câu đơn giản, ngắn gọn thì câu thứ hai chiếm tới 80%tổng số lượng con chữ của truyện Sử dụng kiểu câu dài, phức hợp bất thường trong tương quanvới các câu trước và sau nó đã thâu tóm toàn bộ chặng đường mà con chuột đã trải qua Hìnhthức câu dài khiến người đọc tưởng như hụt hơi ấy tôn tạo thêm con đường dài mà chuột đi nhưdài thêm mãi càng khắc sâu thêm nỗi khắc khoải của con chuột khi đối mặt với cái chết Người
ta có cảm giác câu văn dài trở thành bức tranh vẽ con đường đi của con chuột không khác gìmột hang ổ dài hun hút Kafka thường hay đặt nhân vật của mình vào những con đường hoặcmang tính mê lộ (đi mãi mà không biết lối ra) hoặc như một hang ổ tăm tối kéo dài không có
đích Đằng nào nhân vật cũng chết trong những con đường ấy Ngụ ngôn nhỏ là một dạng như thế Câu chuyện được kể có thể dừng lại ở chi tiết và cũng là sự kiện quan trọng “ một cái bẫy chờ sẵn mà tôi phải chui vào” Số phận con chuột được định đoạt Nếu dừng ở đây, vấn đề thân
phận con người vẫn được đề cập nhưng rõ ràng mức độ nhấn mạnh sự bi đát sâu sắc khi conngười buông xuôi sẽ không đạt được Bằng việc sử dụng lối kể chuyện gián tiếp xen lẫn trựctiếp, nhà văn đã khéo léo đưa thêm lời của mèo vào cuối câu chuyện càng chỉ ra sự bi đát đếntận cùng của một kiếp người Con người trong cuộc đời không có sự lựa chọn cho tương lai,mục đích của mình là một bi kịch lớn Bi kịch ấy còn lớn hơn khi mà con người tránh né hiệnthực để tìm một con đường đi khác mà cứ tưởng rằng đó mới chính là mục đích, khát vọng lớncủa đời mình song thực chất lại là con đường dẫn đến cái chết Con chuột trong câu chuyện rơivào bi kịch đau đớn ấy Con chuột hoặc rơi vào bẫy của con mèo hoặc quay trở về xuất phátđiểm là nỗi sợ hãi Cái chết đến với nó như một sự hiển nhiên Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây chính
là bi kịch của con người luôn đuổi theo ảo tưởng về một khát vọng cao đẹp mà không dám đốimặt với thực tế cuộc sống để chiến thắng những nỗi sợ hãi
Trong truyện, lời người kể chuyện thực chất chỉ còn là lời dẫn chuyện ở câu cuối cùng:
“mèo nói rồi chén sạch chuột” Và câu chuyện khoác áo ngụ ngôn này thực ra chỉ là một cặp đối
thoại giữa hai nhân vật mèo và chuột, một lối viết quen thuộc của các mẩu chuyện cười hiện đại
Do vậy, cái tài của Kafka chính là ở chỗ ông xoá nhoà được đường viền ranh giới thể loại màkhông để lại dấu vết gì, người đọc bị cuốn theo một cách tự nhiên đầy cảm tính Và như nhiềunhà nghiên cứu đã phát hiện, chỉ khi “đọc một cách trí tuệ” thì đường viền ấy mới được biết
Trang 28đến Việc làm mờ hoá thể loại là một cách để nhà văn truyền tải thông điệp mang tính thời sựđến với người đọc bớt đi phần cứng nhắc, sách vở và không quá trang trọng hay là bởi vấn đềnỗi sợ hãi của một kiếp người và cái chết đến với con người thật khó tin như là những câuchuyện cổ dân gian? Kết thúc khép nhưng vấn đề đặt ra lại mở đậm chất Kafka khiến người đọckhông ngừng trăn trở, suy ngẫm.
Vẫn lối kể chuyện ngụ ngôn hiện đại ấy, Trước cửa pháp luật cũng có một lối kể chuyện tương đồng Mở đầu truyện là lối kể rất đặc trưng của các câu chuyện cổ: “Trước cửa Pháp luật
có một gã canh cửa” Câu văn không có thành phần chủ ngữ như đưa người đọc về với thời xa
xưa nào đó chứ không phải không khí của câu chuyện được kể vào những năm đầu thế kỉ XX.Người đọc tò mò vì cách định danh địa điểm hết sức chung chung phù hợp với lối kể chuyện ngụngôn, cổ tích Và Lê Huy Bắc đã rất tinh tế khi chỉ ra nét đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này là
“khả năng định hình hoá các khái niệm trừu tượng Pháp luật thì chẳng thể nào nắm bắt sờ thấy nhưng Kafka đã ấn ngay cho nó cái cánh cửa và thế là nó trở thành một hình khối ”[1; tr182] Một
chuỗi các biểu tượng được sử dụng trong truyện ngắn này: cánh cửa, Pháp luật, gã canh cửa, người
từ miệt quê được nhắc đi nhắc lại nhiều lần qua sự đan xen của nhiều giọng kể, khi trực tiếp đốithoại khi gián tiếp kể khách quan Bốn câu mở đầu hoàn toàn là lời kể gián tiếp ở ngôi thứ ba Người
kể chuyện trở thành người chứng kiến đứng ngoài cuộc kể lại câu chuyện về người miệt quê cầu xinđược phép vào Pháp luật Giọng điệu chủ yếu vẫn là giọng của người kể chuyện khách quan quenthuộc trong các câu chuyện cổ Với những câu nói của nhân vật, nhà văn đều sử dụng lối trích dẫn
có ngoặc kép và lời dẫn rất cụ thể:
- “Có thể,”gã canh cửa nói, “nhưng không phải lúc này”
- Thấy điều đó, gã canh cửa cười và nói: “Nếu ông quá khao khát điều đó chẳng dám nhìn anh ta”.
- “Mày muốn gì bây giờ?”, gã canh cửa hỏi; “Mày tham lam vô độ”
Giọng kể ấy gợi lên màu sắc quen thuộc của những câu chuyện dân gian truyền thống.Nếu đọc theo mạch chảy tự nhiên và người đọc bị cuốn theo cốt truyện hẳn rằng dễ bị nhà văntạo ra một cảm giác câu chuyện được kể chỉ có một giọng điệu Nhưng đúng là khi đọc Kafkabuộc người ta phải nhẩn nha và tỉnh táo Ngay sau lời dẫn trực tiếp, xen kẽ vào đó là sự đan càicủa lời gián tiếp và lời nửa trực tiếp; thậm chí, trong một câu văn, nhà văn có sự thay đổi rấtlinh hoạt các kiểu lời văn này:
- “Luật pháp, hắn nghĩ, chắc hẳn có thể tiếp xúc bất kì lúc nào đối với bất kì ai, nhưng bây giờ khi hắn nhìn gần hơn gã canh cửa trong cái áo khoác lông của hắn, với cái mũi nhọn to
và bộ râu tác-ta đen, mỏng, dài của gã, thì hắn quyết định rằng tốt hơn cả là đợi cho đến khi hắn được phép vào.”
- “Nhưng trong bóng tối của mình lúc này hắn nhận ra được một luồng sáng rực rỡ tuôn trào không dứt từ cửa Pháp luật.”
Đọc tác phẩm của Kafka, chúng tôi nhận thấy rằng, câu văn được sử dụng dài ngắn dườngnhư đều có dụng ý và được kiểm soát chặt chẽ, cẩn thận chứ không phải là sự tuôn trào củamạch chảy cảm xúc tự nhiên Trong suốt truyện ngắn này, đa phần lời gián tiếp là những câuvăn ngắn, đơn giản, dễ xác định thành phần, được sử dụng với mục đích kể lại hoặc bình luận.Nhưng khi một câu văn có sự kết hợp của nhiều lời văn khác nhau thì nhà văn lại sử dụng kiểucâu văn dài hơn Ở câu thứ nhất, vế đầu là lời độc thoại nội tâm của nhân vật có kèm dấu hiệu
dễ nhận biết “hắn nghĩ”, vế sau người đọc rất khó xác định đó là lời của nhân vật hay lời củangười kể chuyện Ranh giới này thường xuất hiện trong văn chương hiện đại thế kỉ XX Câu thứhai có sự trộn lẫn giọng điệu của người kể chuyện và nhân vật Câu văn mang dáng dấp của lời
Trang 29nửa trực tiếp, một giọng văn của thời hiện đại Vậy là cùng một lúc, thậm chí cùng trong mộtcâu văn, Kafka hoà trộn, kết hợp tự nhiên giọng điệu truyền thống và hiện đại, góp phần “làmmới” thể loại văn chương cổ, làm hiện đại hoá truyện ngụ ngôn mà giọng văn vẫn hết sức tựnhiên, không bị gò ép Đây là cái tài của Kafka mà không phải nhà văn hiện đại nào cũng làmđược Kafka đã cải biến và thay màu đổi sắc cho thể loại truyện cổ dân gian để nó trở thành mộtdạng ngụ ngôn hiện đại Điều đáng nói là hai lần nhà văn sử dụng lời độc thoại nội tâm hoặc lờinửa trực tiếp trong khi kể chuyện, đều được dành riêng cho nhân vật người từ miệt quê với khátkhao cháy bỏng và sự hy vọng sẽ đạt được mục tiêu của ông ta Có lẽ không phải ngẫu nhiênnhư thế Bởi dường như nó khắc sâu hơn nguyên nhân đẩy ông ta rơi vào bi kịch Ông ta càngkiên trì bao nhiêu với khát vọng được đến cánh cửa pháp luật thì cái chết trong khắc khoải, tuyệtvọng do không đạt được mục đích càng trở nên bi thương hơn
Khép lại tác phẩm, giọng văn lại chuyển sang lời đối thoại giữa hai nhân vật:
- “Mày muốn gì bây giờ?”, gã canh cửa hỏi; “Mày tham lam vô độ” ‘Mọi người đều
cố đến với Pháp luật”, người đàn ông nói, “vậy tại sao trong ngần ấy năm trời chẳng có ai ngoài tôi cầu xin sự cho phép?” Gã canh cửa nhận thấy người kia sắp từ bỏ cuộc đời và để cho các giác quan yếu đi của hắn bắt được từ ngữ, bèn rống vào tai hắn: “Chẳng một ai khác được phép vào đây, bởi vì cánh cửa này được làm ra chỉ để dành cho mày Bây giờ tao sẽ đóng nó lại.” [1; tr.293]
Về mặt hình thức, đoạn văn trên thực chất là một đoạn đối thoại, thông thường sẽ được táchbiệt thành các dòng tương ứng với mỗi lời thoại Nhưng hầu hết các tác phẩm của Kafka không làmthế Lối kết nối các dòng đối thoại liên tiếp thành một đoạn văn không tách rời không chỉ tạo ra cảmgiác mòn mỏi đợi chờ của gã dân quê trải qua suốt một kiếp người sống trong vô vọng và bất lực màcòn là cách làm mới hình thức văn chương theo chiều hướng ngược lại: dân gian hoá hình thức đốithoại của văn chương hiện đại
Cũng giống như trong Ngụ ngôn nhỏ, Trước cửa pháp luật chốt lại câu chuyện bằng lời khẳng định của kẻ đại diện cho Pháp luật, cho Quyền uy, Sức mạnh:“Chẳng một ai khác được phép vào đây, bởi vì cánh cửa này được làm ra chỉ để dành cho mày Bây giờ tao sẽ đóng nó lại.” Nếu trong Ngụ ngôn nhỏ, tuyên bố thuộc về mèo thì trong Trước cửa pháp luật là Gã canh
cửa Cả hai đều là những kẻ tuyên án với thái độ ngang nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn Những kẻ bịtuyên án là những kẻ vô tội đã phạm tội trốn tránh nỗi sợ hãi ở cuộc đời hoặc muốn đi tìm một
con đường sống khác (Ngụ ngôn nhỏ) hoặc dám liều lĩnh đi tìm hiểu Pháp luật (Trước cửa pháp luật) Người dân quê hay con người nói chung rơi vào bi kịch của kẻ hèn nhát, thụ động và bi
kịch của việc không thấu hiểu và không thể thấu hiểu được Người đàn ông hèn nhát đến mứckhông dám liều mình bước qua cánh cửa ấy Và ông ta cũng không biết và không thể biết được
đằng sau cánh cửa kia có gì Pháp luật trở thành thứ mơ hồ, khó hiểu đến phi lý “ Sử dụng ngay chính những đặc tính của Thần thoại, Ngụ ngôn và Kinh thánh, kết hợp với lối tái hiện cuộc sống đa chiều và không nhằm hướng đến một ý đồ luân lí cụ thể nào trong tác phẩm, Kafka đã sáng tạo nên một lối phản ánh hiện thực gián tiếp đầy trí tuệ, hướng người đọc vào những tái tạo vô biên trên văn bản của mình” [1;tr.185].
Kafka không cần quá nhiều lời để mô tả cụ thể, chi tiết cuộc sống của những con người
vô tội mang tội mà không biết ấy Ông lựa chọn hình thức ngụ ngôn vốn ngắn gọn mà hàm súc.Bài học được rút ra cho kiếp người nói chung từ hai thân phận của hai kẻ tội đồ dường như làthông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm: con người không nên sợ hãi, trốn tránh hiện thực, dùhiện thực có đen tối đến nhường nào Chuột kia nếu biết chấp nhận để đối mặt với “thế giớirộng lớn” sẽ là cách không chỉ tránh được cái chết mà còn tránh được nỗi sợ hãi trong cuộc đời,
Trang 30Gã dân quê kia nếu dám liều mình và can đảm bước qua cánh cửa bí hiểm sẽ có được conđường sống tốt đẹp hơn
3 KẾT LUẬN
Kafka – “người viết Kinh thánh hiện đại”, sinh thời tự xếp mình vào phía những ngườihoài nghi, có cái nhìn không mấy lạc quan về cuộc đời Tuy nhiên, thế giới của ông không vì thế
mà hoàn toàn là bóng tối Đọc Ngụ ngôn nhỏ và Trước cửa pháp luật, với cách làm mới thể loại
văn chương từ cấu trúc đến giọng điệu của những câu chuyện ngụ ngôn mang sắc màu hiện đại,người đọc nhận ra một thái độ sống tích cực của nhà văn Ở đó, Kafka đề xuất một con đườngsống cho con người - con đường hành động để tiến lên phía trước Một khi anh quay đầu trở lạihoặc vì nản lòng hoặc vì sợ hãi tất yếu anh sẽ chết Cái nhìn của Kafka, do vậy, thực chất khôngphải là tư tưởng bi quan về cuộc đời mà là cách đề xuất, sự gợi mở cho con người tìm đường đi
- tìm đường sống
Với kết quả nghiên cứu trên, bài viết mong rằng sẽ có thêm một hướng tiếp nhận sáng táccủa Kafka và một con đường chạm gần với tư tưởng nhân văn tiến bộ của nhà văn được xem làmang hơi thở, giọng điệu đặc trưng của văn chương hiện đại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đông Tây, H 2003
THE CHARACTERISTICS OF COCK-AN-BULL STORY IN SMALL FABLE AND AT THE LAW’S DOOR OF FRANZ KAFKA
Nguyen Thi Hanh
ABSTRACT
Franz Kafka is the one of the most typical authors in the 20 th century He wrttes and succeeds in many literary genres of novels, short stories, super short stories, diary It is very difficult to understand his works which have been discussed by the literary critics and the readers through over 20th century Most of them say that Kafka presents life with a pessimistic eye and his works denote that, too Studying his two short stories, Small fable and At the law’s door, we don’t think that The author put forward a solution to change people’s life with his positive outlook and optimistic attitude by the modernization of old literary form - cock-an-bull story.
Key words: Optimistic attitude, modern fable.
Người phản biện: PGS.TS Lê Huy Bắc
Trang 31VĂN HỌC DÂN GIAN NGƯỜI THÁI VÀ SỰ CƯƠNG TRỰC,
HÀI HƯỚC CỦA NGƯỜI THÁI XỨ THANH
Phạm Thị Hằng1
TÓM TẮT
Người Thái ở Thanh Hóa có một nền văn học dân gian vô cùng phong phú Trong 125 tác phẩm tự sự đã sưu tầm, tuyển chọn, sử thi chỉ chiếm 1,6%; thần thoại 8%, truyện cười 10,4%, ngụ ngôn 14,4%, truyền thuyết 24% và cổ tích tới 41,6% Ở 301 tác phẩm văn vần dân gian thì truyện thơ có 2,27%; vè 4,98%; ca dao dân 21,36%, câu đố 24,21% và tục ngữ tới 47,12% Điều đó khẳng định sự đa dạng về thể loại, sự phong phú về sắc thái của nền văn học dân gian này Trong
số các đặc điểm về diện mạo néi dung của văn học dân gian người Thái Thanh Hóa, sự thẳng thắn, cương trực (8,6%) và khiếu hài hước, vui nhộn (11,55%) phần nào đã nói lên tính cách của người Thái xứ Thanh Chính tính cách đó đã giúp tộc người này vững tin để tồn tại và phát triển từ bao đời nay trong cuộc mưu sinh giữa lòng thiên nhiên bao la, trong mối quan hệ với cộng đồng.
Từ khoá: Văn hoá dân gian của người Thái.
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Văn học dân gian người Thái ở Thanh Hóa
Để góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn học dân gian người Thái xứ Thanh, năm 2009,cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên trường Đại học Hồng Đức đã tiến hành sưu tầm văn họcdân gian người Thái tại các huyện miền núi Thanh Hóa Trong số 426 tác phẩm sưu tầm được
có sự hiện diện của tất cả các thể loại Nếu như sử thi, thần thoại không có nhiều trong văn học
1TS Khoa Sư phạm Mầm Non, trường Đại học Hồng Đức.
Trang 32dân gian người Thái Thanh Hóa thì tục ngữ và các truyện kể về nguồn gốc bản mường, nguồngốc vạn vật trong tự nhiên lại rất phát triển
Người Thái có một kho tàng tự sự dân gian phong phú với đủ các thể loại nhưng phần lớncòn chưa được khai thác, đang có nguy cơ mai một trước thời gian Trong số các thể loại tự sự,
sử thi chỉ chiếm 1,6%; thần thoại 8%, truyện cười 10,4%, ngụ ngôn 14,4%, truyền thuyết 24%
và cổ tích tới 41,6% Sử thi Thái Thanh Hóa đề cập tới nguồn gốc tộc người, tới sự sinh thànhcủa vạn vậ Thần thoại Thái lại đậm nét hoang sơ, thuần phác, hồn nhiên của con người thờiviễn cổ Với trí tưởng tượng phong phú, người Thái đã nhận thức, lý giải thế giới tự nhiên theolối suy nguyên, giản dị mà hồn nhiên nhưng cũng hết sức độc đáo Công cuộc khai phá và khátvọng chinh phục tự nhiên được phản chiếu một cách sinh động, đậm chất huyền thoại và là kếtquả chiêm nghiệm của người Thái trong buổi đầu sơ khai của lịch sử Ngay từ thuở khai thiênlập địa, người Thái đã vạch dấu ấn lên từng ngọn núi, con suối, bản mường để khẳng định sự cómặt của mình trong trời đất và lưu dấu trong truyền thuyết Truyền thuyết của người Thái ThanhHoá khẳng định niềm tự hào về nguồn gốc tổ tiên, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, giữđất, giữ mường, xây dựng cuộc sống, đề cao sức mạnh của tình đoàn kết cộng đồng Trong sốcác thể loại tự sự dân gian người Thái Thanh Hóa, cổ tích chiếm tỷ lệ lớn nhất, phản ánh nhữngmâu thuẫn đối kháng trong các bản Thái, phản ánh mơ ước của những người dân Thái lươngthiện nhưng nghèo khổ về một xã hội công bằng mà trong đó đó nổi lên hình ảnh người phụ nữcam chịu, nhẫn nhịn, hy sinh hết lòng vì gia đình, chồng con nhưng lại bị đối xử tàn tệ Ngụngôn Thái cũng thể hiện những bài học triết lí, những kinh nghiệm sống, bài học về phẩm chấtđạo đức, cách ứng xử, những kinh nghiệm trong đấu tranh, giúp kẻ yếu thắng kẻ mạnh Truyệncười của người Thái ở Thanh Hoá tuy số lượng khiêm tốn nhưng giúp con người sống tốt hơn,
có giá trị thanh lọc cuộc sống Những truyện có nội dung đả kích phìa, tạo tuy rất ít nhưng cógiá trị phản kháng xã hội, là bức thông điệp mà người Thái muốn gửi tới cộng đồng Các thểloại tự sự dân gian của người Thái tuy đã hoà vào dòng chảy chung của tự sự dân gian Việt Namnhưng vẫn khẳng định được bản sắc riêng, là sản phẩm tinh thần quí giá, đáng trân trọng củangười dân vùng sơn cước phía tây Thanh Hóa
Bên cạnh thể loại tự sự, các thể loại văn vần dân gian được người Thái đặc biệt ưa thích vàphổ biến rộng rãi Ở 301 tác phẩm văn vần dân gian đã sưu tầm được, truyện thơ chỉ có 2,27%; vè4,98%; ca dao dân 21,36%, câu đố 24,21% và tục ngữ tới 47,12% Điều đó cho thấy lối nói cô đọng,ngắn gọn, hàm súc, chứa đựng thông tin thường được người Thái ưa thích nhiều hơn cả Nhiều tác
phẩm văn học dân gian của người Thái cũng đã lần lượt ra mắt bạn đọc như: truyện thơ “Khăm Panh” do Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản, năm 1973; “Trường ca Ú Thêm” do Hà Văn Ban và
Hoàng Anh Nhân sưu tầm, biên dịch phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa và Nhà xuấtbản Khoa học xã hội ấn hành Những bài hát ru, những khúc ca lao động, những lời cầu nguyện,những câu tục ngữ trí tuệ, những câu đố vui tươi, điệu khăp trữ tình tràn đầy tình yêu thương conngười và cuộc sống… đều là kết quả của trí tuệ, tình yêu và sự từng trải của bao thế hệ mà thành Cadao, tục ngữ, câu đố ghi lại các phong tục, tập quán, đời sống tình cảm và trí tuệ của người Thái Đó
là những kho báu tinh thần vô giá được lưu truyền từ đời này qua đời khác góp phần tôn vinh giá trịcủa nền văn học dân gian người Thái xứ Thanh Truyện thơ người Thái chính là những bản nhạcgiao hưởng ngợi ca tình yêu nồng thắm, thứ tình cảm mà muôn đời không rào cản lễ giáo nghiệt ngãnào có thể dập tắt, thứ tình cảm đã giúp người Thái vững tin để tồn tại giữa bao khắc nghiệt của tựnhiên cùng hệ thống cai trị hà khắc của các phìa, tạo Ca dao dân ca phản ánh thái độ, cảm xúc thẩm
Trang 33mỹ của người Thái Sự cai trị hà khắc của hệ thống mo chang ở các bản, mường đã biến cuộc sống của các cuông, nhốc trở nên cơ cực, đói rách, nghèo khổ nhưng họ lại có một đời sống tinh thần vô
cùng phong phú Tình yêu quê hương, tình mẫu tử nồng thắm, tình cảm lứa đôi chan chứa,… đềuđược gửi gắm trong thơ ca dân gian Ca dao dân ca Thái chính là thái độ, cảm xúc thẩm mỹ củangười Thái dành cho nhau Bên cạnh ca dao dân ca, người Thái Thanh Hóa cũng đúc kết tri thức dângian từ ngàn đời trên cơ sở những quan sát, thể nghiệm về cuộc sống, đề cao vai trò của sản xuấtnông nghiệp, nâng cao vấn đề giáo dục đạo đức, đặt ra vấn đề đấu tranh giai cấp, truyền đạt nhữngkinh nghiệm về thời tiết, về lao động sản xuất, Là sản phẩm của cư dân nông nghiệp ở vùng gòđồi xứ Thanh, câu đố người Thái luôn quan tâm đến các hiện tượng tự nhiên, xã hội trong đó conngười với tổng hoà các mối quan hệ cộng đồng là trung tâm phản ánh
Dù địa bàn sưu tầm chưa thể phổ quát hết và số lượng tác phẩm sưu tầm được cũng chưanhiều nhưng những gì có được, bước đầu cho phép chúng tôi khẳng định người Thái ở ThanhHóa có một nền văn học dân gian vô cùng phong phú với đủ các thể loại và nhiều tác phẩm độcđáo, phản ánh đa dạng đời sống vật chất, tinh thần của người Thái - cộng đồng dân cư đông thứ
ba trong số các dân tộc ở Thanh Hóa
2.2 Sự thẳng thắn, cương trực của người Thái Thanh Hóa
Đây là đặc điểm khá nổi bật trong diện mạo văn học dân gian của người Thái xứ Thanh
đồng thời cũng khái quát lên được nét tính cách của người Thái nơi này Mảnh đất miền trungvốn oằn mình gánh chịu thiên tai nghiệt ngã đã buộc chủ nhân của nó phải sống bản lĩnh đểvượt qua khó khăn của đời thường Chính điều đó cũng góp phần tạo nên bản chất mạnh mẽ củangười dân nơi đây Người Thái sống trung thực, thủy chung, trọng chữ “tín”, ghét sự phản bội,
bất kể là phản bội trong tình yêu hay tình bạn bè, anh em (Vì sao chó, mèo lại ghét nhau) Có
khá nhiều truyện cổ dân gian phản ánh tình cảm yêu/ghét phân minh rõ ràng Yêu mãnh liệt, sayđắm nhưng người Thái cũng cương quyết, mạnh mẽ không kém phần khi trả thù những kẻ vong
ân bội nghĩa, xảo trá, đổi trắng thay đen Cách trả thù của Y Bú (Ý Bón, Ý Bú) khi bảo chị nằmtrong lóng giã gạo rồi đổ nước sôi vào giết chết chị, cắt lấy các đầu ngón tay bỏ vào ống làm thịt
chua gửi cho bố, cũng tàn khốc không kém gì cô Tấm (Tấm Cám) của người Kinh Hay cách trả
thù của người em (Con ma Da Háng) khi làm cầu thang bằng nứa vót nhọn cho chị đi lên, trộncơm trắng với muối ớt cho chị ăn, lấy con dê ghẻ cho chị đi đường và dặn vừa đi vừa sát muối
ớt vào chỗ ghẻ để nó lồng lên hất ngã chị xuống đường làm rách toạc cả mặt, cũng là cách đểngười Thái thể hiện chính kiến của mình, tỏ thái độ cương trực, mạnh mẽ trước sự tàn bạo của
kẻ thù Cũng giống như các dân tộc ít người khác, tính thẳng thắn, cương trực thường khiếnngười Thái thể hiện quan điểm một cách cụ thể, rõ ràng, ít khi bóng gió, dè chừng, ý tứ Muốnnhắc nhở những người đàn ông “thích của lạ”, mê gái đẹp, tục ngữ Thái khuyên:
Thấy lợn béo đừng ước ăn thịt Thấy vợ người ta đừng ước nằm chung
(theo Lương Thị Tôn, 86 tuổi, làng Ngù, Xuân Lẹ, Thường Xuân)
Hoặc có khi họ đưa ra lời khuyên “Thổi sáo nhiều, phồng miệng, thổi kèn lắm, phồng mang, liếc vợ người thì hoài tiếc” Người Thái vốn thẳng thắn, thật thà, họ ghét nhất những kẻ gian dối Nếu người Kinh có cách nói “mồm na mô, bụng bồ dao găm” thì người Thái lại khẳng
định:
Người nói ngọt có hổ trong bụng
Trang 34Người nói khéo có gấu trong lòng.
(theo Ngân Thị Lường, 81 tuổi, thôn Chiềng, Yên Nhân, Thường Xuân)
Khi đề cập tới tính thẳng thắn, cương trực của người Thái, chúng tôi đặc biệt lưu tâm tới
bộ phận văn học hướng tới đề tài xã hội Trong văn học dân gian người Thái ở Thanh Hóa,không có nhiều tác phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập tới bộ mặt giai cấp thống trị nhưng đâylại là những tư liệu quý phản ánh chân thực bức tranh xã hội trong bản Thái Bộ phận văn họcnày thể hiện quan điểm chính trị của người Thái và mặc nhiên nó mang ý nghĩa xã hội lớn lao
Từ cuộc sống, người Thái đã đúc kết kinh nghiệm “Muốn sẹo ghẹo gấu, muốn béo đùa ong, muốn nghèo trêu phìa tạo” Sự cai trị của các phìa, tạo cùng mo chang - bộ máy quản lý hành
chính, kinh tế và tôn giáo của các lãnh chúa ở các bản, mường đã khiến cho thân phận tôi tớcủa những cuông, nhốc - những người dân dưới quyền cai trị của các chúa đất, trở nên cơ cực,khốn cùng Người Thái hiểu rõ điều đó hơn ai hết nhưng vì không có quyền lực và sức mạnh vềchính trị, kinh tế nên họ đành lặng lẽ gửi bức thông điệp tới mọi người qua chiếc cầu truyềnmiệng của văn học dân gian, bức thông điệp thể hiện sự phản kháng trước giai cấp thống trị:
Lên nhà ông phải có túi nặng cânLên nhà tạo phải có túi đủ nhấc
(theo Hà Văn Dự, 82 tuổi, thông Chuông, Kỳ Tân, Bá Thước)
Đôi khi họ cũng thể hiện thái độ phản ứng thông qua cách nhận xét có phần hóm hỉnh màcũng rất thẳng thắn:
Gái đẹp qua mắt quan Chửa hoang qua mắt tạo
(theo Lương Thị Tôn, 86 tuổi, làng Ngù, Xuân Lẹ, Thường Xuân)
Những triết lí về vấn đề đấu tranh giai cấp của người Thái hết sức phong phú, mang ýnghĩa sâu sắc Từ những bất công nảy sinh trong mối quan hệ đối kháng giữa người lao độngvới các tạo phìa, người Thái đã chống lại giai cấp thống trị bằng lối nói ẩn dụ trong câu đố đểngầm nói lên thân phận khổ đau của mình, phản ánh tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” trong xã hội:
Bô bi lô, con nhỏ làm mồi cho con to
Đố là gì? (Giải: Trò chơi câu chuồn chuồn của trẻ em)
(theo Hà Văn Dự, 82 tuổi, thông Chuông, Kỳ Tân, Bá Thước)
Người Thái đã nhìn thấy bộ mặt thật đầy sảo trá, gian ác của những kẻ đứng đầu thiên hạ ,những kẻ vẫn tự cho mình cái quyền “chăn dắt” dân đen:
Đá hai mặt, đao hai lưỡi
Đố là cái gì? Giải: cái lược bí (theo Vi Thị Hoa, 70 tuổi, Xuân Phúc, Như Thanh)
Như vậy, dưới con mắt của người Thái, quan lại, cường hào, phìa tạo thực chất chỉ là lũngười tham lam, tàn ác, tửu sắc, chỉ mong tìm cơ hội để trà đạp, bóc lột, hà hiếp dân đen Ngay
ở văn học dân gian người Kinh, không khó khăn để tìm thấy những câu ca phản kháng lại giaicấp thống trị nhưng phản kháng một cách trực diện, nói thẳng như thế này quả là cũng rất hiếmgăp Rõ ràng, tiếng nói thẳng thắn, cương trực đã làm nên một sắc thái độc đáo trong văn họcdân gian của những người dân miền sơn cước xa xôi phía tây Thanh Hóa mặc dù nó chỉ chiếmmột tỷ lệ rất khiêm nhường: 8,6%
Trang 352.3 Sự vui nhộn, hài hước của người Thái xứ Thanh
Không chỉ thật thà, thẳng thắn, trung thực, người Thái ở Thanh Hóa còn rất vui nhộn, hàihước Có lẽ sự hài hước, vui nhộn đã ăn sâu thành máu thịt, tạo nên nghị lực giúp con người có đủsức mạnh để vượt qua gian khó, để tồn tại và cũng để khẳng định chính mình Con ruồi trong
truyện “Nàng Vàng” là đệ tử con nhà Then, có phép thuật, có thể bay lên bay xuống giữa trời với
trần gian vậy mà lại trượt chân ngã bởi mái tóc óng mượt của nàng Vàng, bị gà đớp vào bụng vàphó thác cho sự may rủi, chờ để theo phân ra ngoài, sống sót mà bay về trời Câu chuyện mang néthài hước, cách kể chuyện cũng thật dí dỏm Yếu tố kỳ ảo xen lẫn nét bình dị, sự hoang đường kếthợp với tả thực trong mỗi nhân vật đã tạo nên tiếng cười thú vị, đó là điều chúng ta từng bắt gặptrong văn học người Kinh khi thần Sét trượt chân ngã trên mái nhà Cường Bạo bởi nước lá mồng
tơi Cái hí hửng của anh buôn hạt mận vội ăn mừng chiến thắng (Buôn hạt quả mận) và cái may
mắn gặp thời của anh gặm mặt trống đã tạo nên sự đột biến hấp dẫn cho câu chuyện Cô gái vì tứcgiận mà vô tình đâm thủng mặt trống khiến anh gặm mặt trống từ kẻ chiến bại trở thành ngườichiến thắng Cô gái lẽ ra kén được rể tài nhưng cuối cùng chỉ kén được chàng rể đần Kết thúc bấtngờ của câu chuyện làm người nghe ngỡ ngàng, họ cười vì cái chưng hửng của anh buôn hạt mận
và cũng cười bởi cái triết lý “Nghe khôn ngoan chớ vội mơ cưỡi ngựa, nghe dốt nát nghèo nàn chớ vội ước thắt cổ tử thân” Ngay cả cách lý giải để trả ơn con ốc đã cho người hai cái vảy để sáng mắt mà “con người thường có biểu hiện lòng biết ơn bằng việc mút mút đằng đầu và đằng đít con ốc” cũng thật đơn giản mà hài hước Câu chuyện tuy ngắn gọn, đơn giản, ít tình tiết nhưng
chặt chẽ, rõ ràng và hợp lý Lối lập luận, cách suy tưởng giản dị, hài hước tạo nên sự đối lập vàthống nhất giữa cái phi lý ở bên trong và cái có lý, hoặc có vẻ hợp lý ở bên ngoài Nhiều truyệnđược bài trí trong một không gian ngắn, thời gian hẹp, sự việc ít và diễn biến nhanh, kết thúc đột
ngột, bất ngờ “Đi ở rể” là một trong những kiểu chuyện như thế Một anh chàng đi ở rể, rủ một
người bạn hơn tuổi đi cùng Thấy cô dâu đẹp, rể phụ rắp tâm cướp vợ bạn, bày mưu cho rể chínhđêm khuya ăn vụng thịt dơi ủ chua ở xó nhà Anh ta buộc dây nối chân rể chính với chân mẹ vợ.Một loạt sự kiện liên tiếp xảy ra khiến rể chính tối tăm mặt mày, không đủ sáng suốt để làm chủtình thế Các nhân vật đều hành động trong trạng thái tâm thần hoảng loạn, nửa tỉnh, nửa mê Câuchuyện cứ dồn dập các chi tiết, sự kiện, bộc lộ tính chất phi lý, trái tự nhiên dưới hình thức hư cấu,bịa đặt nhưng chặt chẽ, có lý Cái tài của tác giả dân gian là đã biết xâu chuỗi những sự việc tưởngkhông ăn nhập với nhau lại thành một câu chuyện hấp dẫn, ly kỳ, hài hước đến tức cười
Không chỉ có mặt trong các loại hình tự sự, với văn vần dân gian, cách ví von của ngườiThái Thanh Hóa cũng rất vui nhộn Muốn khuyên nhủ mọi người nên biết khiêm tốn, ngườiThái có cách liên hệ hóm hỉnh:
Ở làng thành trâu đực
Xuống bản thành nghé con
(theo Hà Xuân Diêm, 90 tuổi, km 88 Quan Sơn)
Để chỉ trích những kẻ thích khoa trương nhưng trong đầu rỗng tuếch, người Thái có cách so sánh: Mồm lép ba lép bép
Bụng lép tựa cá khô
(theo Vi Thị Hoa, 70 tuổi, Xuân Phúc, Như Thanh)
Mô tả thực bóng dáng, tâm trạng của những người đi vay, mượn, người Thái nói: “lúc vay
hể hả, lúc trả nhăn nhó” Người Thái vốn coi trọng mối quan hệ thân tộc, khép mình trong các
Trang 36mối quan hệ gia đình, né tránh sự phức tạp Họ thường có những lời khuyên nghiêm khắc phachút hài hước với những kẻ mê gái đẹp:
Muốn ăn ngọt thì trồng mía, Muốn làm nô lệ, trộm trâu,
Muốn chết, yêu vợ thiên hạ
(theo Lương Thị Tôn, 86 tuổi, làng Ngù, Xuân Lẹ, Thường Xuân)
Sống giữa thiên nhiên bao la, ngoài việc tìm cách thích ứng với thiên nhiên, tồn tại cùngthiên nhiên, người Thái còn có cách nhìn bình thản, hóm hỉnh ngay cả khi chứng kiến sự biếnđổi dữ dội của tự nhiên:
Trăng đội nón sắt thì lụt Trăng đội nón đồng thì hạn
(theo Hà Xuân Diêm, 90 tuổi, km88 Quan Sơn)
Đôi khi họ cũng ví von “trăng với sao như trai với gái”, và họ cũng có cách nói ngược rất
thú vị trong những bài đồng dao, trong hát khặp Chính lối nói ngược vui nhộn này đã tạo ấn
tượng sâu sắc giúp trẻ nhớ lâu hơn, khó quên hơn với những “Châu chấu biết thổi kèn, dế mèn biết bừa ruộng, cà cuống biết đeo rón đi rẫy, con gà biết hái rau, chim cuốc biết đan nôi cùng
em ngủ trưa” Người Thái cũng có lối thử tài, kiểm tra nhận thức của nhau một cách hóm hỉnh
trong việc sử dụng hình tượng bên ngoài (phương tiện để đố) đối lập với hình tượng bên trong
(đối tượng đố): “Nhỏ nhỏ bằng con bọ chó, nở bằng cây lau, đẻ ra bằng cái quạt Đố là cây gì? Giải: cây rau cải.” Đôi khi người Thái cũng dùng lối nói “đố tục, giảng thanh” “Trên lông lún phún, dưới cũng lông lún phún, tối đến chạm vào nhau Đố là cái gì? Giải: hai con mắt”.
Có thể thấy, với 11,55% tác phẩm có yếu tố gây cười, văn học dân gian người Thái ThanhHóa chính là minh chứng cho khiếu hài hước, vui nhộn của người Thái xứ Thanh Sống giữa núirừng rộng lớn cùng với bao khó khăn, thiếu thốn, vất vả trong cuộc mưu sinh, người Thái ThanhHóa đã đứng vững trên mảnh đất này một phần là nhờ vào khiếu hài hước, vui nhộn, vào sự lạcquan, yêu cuộc sống của chính mình
3 KẾT LUẬN
Văn học dân gian người Thái ở Thanh Hóa là sản phẩm tinh thần của người bình dân, làlinh hồn và sức sống của người Thái Là dân tộc có ngôn ngữ, văn tự riêng, nền văn học dângian người Thái phát triển từ rất sớm với thể loại đa dạng, tác phẩm độc đáo, phản ánh đời sốngtinh thần và khát vọng của người Thái xứ Thanh mà trong đó, sự thẳng thắn, cương trực vàkhiếu hài hước, vui nhộn là tính cách của người Thái Thanh Hóa, góp phần làm nên nét nổi bậttrong đặc điểm về diện mạo của Văn học dân gian người Thái ở Thanh Hóa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Sỹ Giáo, Lần tìm cội nguồn lịch sử của người Thái Thanh Hóa,
NXB Dân tộc học, 1979
[3] Nhiều tác giả, Địa chí Thanh Hóa, tập II, NXB KHXH, HN 2004.
[4] Nhiều tác giả, (1998), Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, NXB Văn hóa Dân
tộc, HN 1998
[5] Nhiều tác giả, Khặp Thái Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, 1983.
Trang 37folk culture and the forthrightness of thai
ethnic minority in thanh hoa and their humor
Pham Thi Hang
ABSTRACT
Thai ethnic minority people in Thanh Hoa have extensively diversified folk culture Out of
125 collected works in narrative genre, 1.6% are epics, 8% are stories of mythology, 10.4%
are funny stories, 14.4% are fables while legend genres account for 24% and tales contribute
41.6% Out of 301 works in folk verse, there are 2.27% of folk tales in verse, 4.98% of folk
poems, 21.36% of folk songs, 24.21% of folk riddles and 47.12% of folk proverb These prove
the wide range in genres and the diversity in nuances of the folk culture The forthrightness and
the humor, representing 8.6% and 11.55% respectively in the features of Thai people’s folk
culture in Thanh Hoa, partially express the characteristics of Thai people in Thanh Hoa They
are the characteristics which contribute to existence and expansion of Thai people in their
struggle with wild nature and in the relationship with their community.
Key words: Folk culture of Thai people in Thanh Hoa
Người phản biện: GS.TS Nguyễn Xuân Kính
Trang 38NHÂN VẬT NỮ VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TÌM HẠNH PHÚC TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Hoàng Thị Huệ1
TÓM TẮT
Nói đến Nguyễn Thị Thu Huệ là nói đến một cây bút có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, trong không khí đổi mới cách viết truyền thống, dường như không nổi trội về cốt truyện, nội dung phản ánh… Chị chỉ kể về những chuyện đời thường của con người với những cảnh ngộ éo le, dễ gợi lòng trắc ẩn Cái thơ ngây và từng trải, đau đớn và tin tưởng của một tâm hồn nữ đã giúp Thu Huệ tạo ra những nhân vật phụ nữ với những đối cực giằng xé: vừa khát khao những bến bờ chưa tới vừa nâng niu hạnh phúc có thật trong đời; bộc lộ tính bản thể tự nhiên trước nhu cầu tình yêu hạnh phúc nhưng vẫn bị giằng díu bởi đạo đức, truyền thống, gia đình Một số bài viết đã tìm thấy cái “duyên” truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ từ góc nhìn tình huống, giọng điệu… Bằng việc tìm hiểu những nhân vật nữ, chúng tôi muốn mở ra một điểm nhìn mới trong việc tiếp cận một vấn đề thuộc về thi pháp thể loại của truyện ngắn Việt Nam đương đại - vấn đề đào sâu thế giới nội tâm con người, giúp người đọc thêm một lần tới gần cái thế giới bí ẩn của đời sống và con người mà Nguyễn Thị thu Huệ đã tạo ra trong tác phẩm của mình
Từ khóa: Truyện ngắn, nhân vật nữ.
gương mặt nữ” – “trắc ẩn và khoan dung, tinh tế và đằm thắm” [2; tr.5] Nếu Võ Thị Hảo được coi là “người kể chuyện cổ tích hiện đại”; Phan Thị Vàng Anh viết cứ “như chơi” mà lột tả thật
chính xác cái nhịp điệu cuộc sống, nhịp điệu tâm lý của bao nhiêu hạng người, bao nhiêu lứatuổi; Lý Lan, với những đối thoại độc đáo đã tạo ra những truyện ngắn vừa liên tục mà đứt
đoạn, mơ hồ mà rõ ràng… thì Nguyễn Thị Thu Huệ – “chao chát và dịu dàng, thơ ngây và từng trải” [2;tr.7], lôi cuốn với những nhân vật nữ trong hành trình đi tìm hạnh phúc Khá nhiều bài
viết đã nói đến cái “duyên” Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn, về hành văn, về cách tạo ranhững tình huống truyện… và sức viết trẻ trung đầy nhiệt huyết Cùng với nhiều điểm nhìn đó,việc khám phá những nhân vật nữ sẽ cho chúng ta những cảm nhận mới mẻ, sâu sắc về truyệnngắn Nguyễn Thị Thu Huệ bởi đó chính là “linh hồn” trong thế giới nghệ thuật của chị, thể hiện
rõ điểm mạnh trong bút pháp của cây bút nữ này – bút pháp khai thác nội tâm nhân vật Mặtkhác, hiện nay vấn đề nữ quyền đang được các nhà văn, nhà thơ khai thác như là một trongnhững vấn đề lớn Với bài viết này chúng tôi muốn góp thêm một góc nhìn của một nhà văn nữ,
1ThS Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.
Trang 39một người trong cuộc, về vấn đề này Tìm về hành trình đi tìm hạnh phúc của nhân vật nữ cũng
là cách giải mã bức thông điệp đầy tính nhân văn mà Nguyễn Thị Thu Huệ muốn gửi tới độcgiả Phương pháp để chúng tôi tiếp cận vấn đề là từ lý thuyết thể loại, những đổi mới trong quanniệm thể loại, ứng chiếu vào tác phẩm
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, trong không khí đổi mới cách viết truyền thống,dường như không nổi trội về cốt truyện, nội dung phản ánh… Chị chỉ kể về những chuyện đờithường của con người với những cảnh ngộ éo le, dễ gợi lòng trắc ẩn Nó làm cho người đọc,thêm một lần tới gần được cái thế giới bí ẩn của đời sống và con người Trong cái thế giới ấy,cái thơ ngây và từng trải, đau đớn và tin tưởng của một tâm hồn nữ đã giúp Thu Huệ tạo ra
những “thiên đường” và “hậu thiên đường” Lạc vào thế giới truyện ngắn Thu Huệ cũng là lạc
vào thế giới xáo động, đổ vỡ nhưng cũng chứa đầy sức sống, khát vọng để cùng với những nhânvật nữ của chị mê mải trên hành trình đi tìm hạnh phúc
2.1 Nhân vật nữ trong mối mâu thuẫn: hạnh phúc gia đình và niềm khát khao những bến bờ chưa tới
Trong hành trình trở về với cái tôi cá nhân - cái tôi với những âu lo đời thường của vănhọc Việt Nam sau 1975, những nhân vật phụ nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ mang khuôn mặt củangười luôn khát thèm hạnh phúc Có thể nói, trên từng trang viết, nhà văn đã cùng nhân vật củamình kiếm tìm cái hạnh phúc lung linh mà cũng thật mong manh dễ vỡ ấy Là một người viếttrẻ, lại mang đậm “thiên tính” nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ, trong khá nhiều tác phẩm, nghiêng vềtìm hiểu con người, nhất là người phụ nữ trong mối mâu thuẫn vừa cố dính kết với gia đình nhưmột “hang ổ cuối cùng”, lại vừa chịu sự hấp dẫn, giằng xé của nhiều ngoại lực Người đàn bà
trong “Người xưa” cay đắng nhận ra “buồn đến xót xa cho những kiếp người cứ phải sống hai
mặt Một là tình yêu cá nhân và một là con người xã hội” (Người xưa) [2; tr.210] Sau mười năm
gặp lại người xưa, vẫn còn trong chị những xao xuyến Tai chị vẫn muốn nghe những lời thủ thỉ
“Em đẹp và quyến rũ hơn xưa nhiều…”; mắt chị vẫn rơi lệ khi xem phim “Người tình”, nhìn cảnh
cô gái Pháp trở về căn phòng xưa sau khi chàng trai người Hoa đi lấy vợ Một khoảnh khắc nào đóchị đã muốn lạc vào “thiên đường”, cho thoả mỗi khi thất vọng về cuộc đời hay người chồng chị
vẫn thường an ủi “biết thế mình lấy anh, anh yêu mình thế chắc sẽ hạnh phúc” và tưởng tượng,
đâu đó ở một góc trời, anh đang chờ chị Cái thiên đường ấy, ma lực và mộng mị, hấp dẫn biết baonhiêu! Nhưng, chị cũng lại có một hạnh phúc nơi trần thế – gia đình Trong những nỗ lực giằng xé
ấy, nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ thường bị phân thân, để cuối cùng cái nhân bản, nhân hậu,cái truyền thống vẫn là những yếu tính mà nhà văn nữ này muốn hướng tới Lời tâm sự của nhân
vật hay chính là chia sẻ của tác giả “Ai đó, đã từng có một mảnh tình chạy qua đời, hãy để nó vào chỗ của nó Đừng lôi nó ra mà soi, mà ngắm làm gì” (Người xưa) [2; tr.216]
Truyện ngắn “Biển ấm” lại là những tình cảm thật dịu dàng, tinh tế, và bởi vậy, cũng thật dễ
rạn vỡ của một cô gái trong tình yêu đầu đời – tình yêu tuổi hai mươi Vẫn là văn của Nguyễn Thị
Thu Huệ, “thơ ngây và từng trải, đớn đau và tin tưởng”, nhưng ở truyện ngắn này còn có giọng điệu man mác của những hồi ức, đẹp và buồn: “Nắng đã tắt Trên sông tràn lan một màu đỏ ối của hoàng hôn…” Tình yêu tuổi hai mươi dường như đã được dự cảm Nhẹ về sự kiện bên ngoài
và hướng vào thế giới bên trong (một trong những điểm nổi bật trên hành trình đổi mới nghệ thuật
của văn học những thập kỷ cuối thế kỷ XX), “Biển ấm” mở ra thế giới nội tâm vô cùng sâu sắc
Trang 40của nhân vật nữ Từ cái háo hức, dẫn dụ, thoáng va chạm, run rẩy đầu tiên xen lẫn những xót xa,thất vọng đến khám phá và nhận ra những điều lớn lao cao cả - những điều chỉ có ở tình yêu đíchthực Vậy là trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc, cô gái trẻ, dù chưa đến được trên chuyến đò đầunhưng nó sẽ là một hành trình không thể thiếu để người phụ nữ ấy, sau những mất mát, tìm được
“thiên đường” của mình Cái “chao chát” đầy tính nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ là để cho nhân
vật của mình, tưởng như dễ rơi vào tục luỵ ái tình nhưng vẫn neo lại được ở chính ranh giới của
hiện thực và khao khát, “Nhớ anh cồn cào Tôi vẫn rất yêu chồng và con” (Biển ấm) [2; tr.233].
Vẫn là những giằng xé Muôn đời tâm hồn người phụ nữ, cuộc đời người phụ nữ là những đốichọi Chính nó, sự phân thân ấy đã làm nên thế giới tinh thần phong phú của những nhân vật nữtrong tác phẩm Nguyễn Thị Thu Huệ và làm nên sức hấp dẫn cho sáng tác của chị Nỗi nhớ tình
yêu đầu đời của người phụ nữ trong “Biển ấm” thật da diết “Bao nhiêu năm, tôi sống và tôi hiểu
rằng, chẳng bao giờ tôi gặp được người đàn ông nào thay thế được anh trong tâm linh của tôi”
(Biển ấm) [2, tr.235] Nhưng chị cũng cảm nhận thật sâu sắc hạnh phúc thực mà chị đang có, nógiúp sưởi ấm tâm hồn chị những lúc cô đơn và nhớ Trước biển, không phải một mùa đông gió rét
bởi trong sâu thẳm, chị không lạnh giá, “năm nay biển ấm”.
Ở truyện ngắn “Biển ấm”, người đọc cảm nhận được chất thơ rất rõ Chất thơ ấy được làm
nên từ nhiều yếu tố, từ cách lựa chọn từ ngữ, cách viết những câu ngắn, tỉnh lược chủ ngữ…nhưng tập trung hơn ở những dòng miêu tả tâm trạng của nhân vật nữ Mỗi một khoảnh khắc tâmtrạng nhân vật đều được lột tả cùng với sự biến chuyển tinh tế của ngoại cảnh Chuyến phà, bếnsông thấm đẫm sắc màu huyền ảo trong con mắt của cô gái mới lớn, bước vào tuổi yêu Với ngườiphụ nữ từng trải trong hạnh phúc, biển có vị tanh nồng, có mùi mằn mặn của muối, có sương nhènhẹ nhưng ấm Văn Nguyễn Thị Thu Huệ không thật hiện đại về cấu trúc, ngôn từ nhưng lạiquyến rũ ở chất thơ, chất tình ấy, cái chất thơ chất tình đã giúp nhà văn tạo dựng nên những nhânvật nữ trong khát khao những bến bờ chưa tới mà vẫn nâng niu hạnh phúc có thật trong đời
2.2 Nhân vật nữ trong cái nhìn con người tự nhiên trước nhu cầu hạnh phúc, tình yêu
Khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu hạnh phúc đời thường, cuộc sống riêng tư,Nguyễn Thị Thu Huệ đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra một cái nhìn phức tạp hơn,
đa diện hơn và vì thế sâu sắc hơn về con người nhất là người phụ nữ Những nhân vật kiểu như
nhân vật My trong truyện ngắn “Thiếu phụ chưa chồng” đã đem đến cho người đọc nhiều cảm
xúc dằng dịt đan chéo: đáng yêu và đáng ghét, thương và trách, đẹp và xấu, ngây thơ và tộilỗi… rất khác lạ trong cách cảm nhận về người phụ nữ trong văn học truyền thống Việt Nam
My như cây cỏ dại, hồn nhiên và bản năng khao khát ánh mặt trời My đẹp, vẻ đẹp của cô gáithôn quê khoẻ mạnh đang tuổi dậy thì Tấm thân tràn trề sức sống ấy không chịu để cô yêntrong cảnh sống đẹp nhưng buồn nơi thôn quê Nó đòi hỏi, nó rung lên những nhịp đập mãnhliệt, dẫn dụ cô vượt quá ranh giới của đạo đức, của truyền thống gia đình Khó có thể tha thứđược cho My khi cô quyến rũ cả anh rể, cướp đi hạnh phúc của chính chị gái mình Nhưngngười đọc có thể đánh giá nhân vật dưới góc độ con người tự nhiên trong nỗi đam mê tình yêu,hạnh phúc Không còn là vẻ đẹp đoan trang kín đáo, giống như một Thị Mầu hiện đại, những côgái như My sẵn sàng phơi trần những khát khao, ngang nhiên trải lòng mình không một chútngại ngần Khoan dung, thông cảm nhưng cũng rất cương quyết, Nguyễn Thị Thu Huệ đã đểcho nhân vật được nếm trải những cảm xúc ngọt ngào mê lịm của tình yêu, hạnh phúc để đónnhận một kết cục khắc nghiệt: sinh ra một đứa con tàn tật như một sự gánh chịu tội lỗi