Công việc quan trọng đầu tiên của vua Lý Anh Tông 1139 - 1175 và cũng có thể được coi là của cả Vương triều Lý đối với các vùng biển đảo là đặt ra hành dinh ở trại Yên Hưng Quảng Ninh và
Trang 1CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT HỌC BỔNG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG LẦN II
NĂM 2013
LƯƠNG THỤY LAN HƯƠNG
TƯ DUY HƯỚNG BIỂN CỦA CÁC NHÀ CẢI CÁCH VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX
HÀ NỘI, 2013
Trang 2CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT HỌC BỔNG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG LẦN II
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TƯ DUY BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC 5
1.1 Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ XIX 5
1.1.1 Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X 5
1.1.2 Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV 8
1.1.3 Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 11
1.2 Chính sách biển của triều Nguyễn 17
1.2.1 Chính sách đóng cửa với phương Tây 17
1.2.2 Chính sách phòng ngự bờ biển 24
1.2.2.1 Tuần tra trên biển 26
1.2.2.2 Xây lực lượng thủy quân và các pháo đài ven biển 29
1.2.3 Chính sách tiễu trừ hải phỉ 40
Chương 2: TƯ DUY HƯỚNG BIỂN CỦA CÁC NHÀ CẢI CÁCH VIỆT NAM NỬA CUỐI THỂ KỶ XIX 52
2.1 Sự cần thiết phải khai phóng đất nước 52
2.2 Tư duy quân sự biển 62
2.3 Mở thương cảng biển 76
2.4 Phát triển kinh tế biển 84
2.4.1 Lập các hội buôn 84
2.4.2 Khuyến khích hoạt động thương mại trên biển 88
2.4.3 Khai thác tài nguyên biển 90
2.5 Mở lớp học dạy về biển 91
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC ẢNH 105
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Đề tài “Tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XIX” thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam Tư duy hướng biển là
một nội dung nằm trong tư tưởng canh tân đất nước cuối thế kỷ XIX Trong toàn bộ những tư tưởng canh tân thì tư duy về biển đã được các nhà cải cách đặc biệt quan tâm Tuy vậy, việc nghiên cứu về tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX ít được các nhà nghiên cứu chú ý đến
và chưa có một đề tài nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này Nghiên cứu về tư tưởng canh tân đất nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đã có rất nhiều tác phẩm, sách báo, bài nghiên cứu, tạp chí và các kỷ yếu hội thảo khoa học, tiêu biểu như:
Cuốn sách “Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”, xuất bản
năm 1999 của nhóm tác giả Đỗ Bang, Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm, v.v ; gồm nhiều bài viết giới thiệu cuộc đời sự nghiệp và tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,v.v ; những đề xuất trong tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX Triều Nguyễn với trào lưu canh tân đất nước, và trách nhiệm của triều Nguyễn trong sự thất bại của
xu hướng đổi mới ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Cuốn sách “Nguyễn Lộ Trạch và di thảo”, xuất bản năm 1995, do
Nguyễn Văn Huyền biên dịch, gồm hai phần: Phần một tác giả giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cải cách Nguyễn Lộ Trạch, trong đó tác giả cố gắng làm nổi bật lên tư tưởng canh tân đất nước của ông Phần hai, tác giả tập
hợp và dịch một số tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Lộ Trạch như “Quỳ ưu
lục”, “Thời vụ sách” từ chữ Hán sang chữ Việt Đây chính là nguồn tư liệu
quan trọng để nghiên cứu về những tư tưởng cải cách của Nguyễn Lộ Trạch
Trang 6Trong cuốn sách “Nguyễn Trường Tộ thời thế và tư duy cách tân”,
xuất bản năm 2001 của tác giả Hoàng Thanh Đạm đã nghiên cứu về con người và cuộc đời của nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ; thái độ của người đời đối với ông khi ông đang sống và sau khi ông mất; hệ thống tư duy cách tân của Nguyễn Trường Tộ…
Năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội đã ấn hành cuốn
sách “Bùi Viện với sự nghiệp canh tấn đất nước cuối thế kỷ XIX” của Thế
Văn và Quang Khải Đây là công trình nghiên cứu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Bùi Viện, qua đó làm nổi bật lên tư tưởng và hành động mới mẻ của ông
Cuốn sách “Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”, xuất bản năm
1990 của Đặng Hưng Doanh và Bùi Văn Côn, viết về cuộc đời và sự nghiệp
viết văn của Đặng Huy Trứ, đồng thời tập hợp những tác phẩm văn học của ông, qua đó thể hiện tư duy cách tân của Đặng Huy Trứ
Cuốn sách “Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân”, xuất bản năm
1995, của nhóm tác giả Phạm Phú Hạt, Lâm Quang Huyên, Mai Thúc Luân
đề cập đến bối cảnh lịch sử, gia phả và truyền thống ham học của dòng họ Phạm Phú - tư tưởng canh tân các mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, quốc phòng và ngoại giao của Phạm Phú Thứ
Các công trình nêu trên tuy đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về tư tưởng canh tân đất nước của các nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, v.v ; nhưng chưa đề cập sâu sắc và chưa nghiên cứu một cách có hệ thống về tư duy hướng biển của
họ
2 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông nam của châu Á, từ lâu biển đã giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, quốc phòng của
Trang 7người Việt Nam Hiện nay, biển đảo là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và đối ngoại
của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Bởi vậy, trong việc khẳng định và bảo
vệ quyền lợi quốc gia đối với biển đảo cần được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh, trong đó có tiến trình về tư duy biển của con người Việt Nam Đồng thời để hướng tới một quốc gia kinh tế biển phát triển, điều cần thiết trước tiên đòi hỏi người Việt Nam cần có một sự nhận thức đầy đủ về biển Chính
vì vậy, việc tìm hiểu những tư duy về biển của người Việt Nam trong lịch sử
là rất cần thiết Đặc biệt vào nửa cuối thế kỷ XIX, ở nước ra đã có rất nhiều nhà cải cách đưa ra những tư tưởng tiến bộ, mang tính thời đại về vị trí, vai trò của biển như: Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, và Đinh Văn Điền Những tư duy mới mẻ của họ có một ý nghĩa nhất định trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận nhằm:
- Làm rõ một phần tư duy về biển của người Việt trước nửa cuối thế kỷ XIX
- Làm rõ một phần bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX
và các chính sách biển của triều Nguyễn
- Làm rõ tư duy hướng biển trong tư tưởng canh tân đất nước của các nhà cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những tư duy về biển của người Việt trước nửa cuối thế kỷ XIX; bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế
kỷ XIX và hệ thống tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ…
Trang 8Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu nằm trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XIX, dưới triều vua Tự Đức (1847 – 1883), với không gian là
xã hội Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, v.v
Trang 9Chương 1
TƯ DUY BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
1.1 Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ XIX
1.1.1 Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X
Nằm ở vùng chân dãy núi Himalaya, trong khu vực châu Á gió mùa, nên Đông Nam Á được coi là một trong những trung tâm xuất hiện sớm của cây lúa nước Trong lịch sử, cây lúa đã trở thành nguồn sống, là cơ sở kinh tế chủ yếu của người Việt Cuộc sống của người Việt được gắn liền với nước và phương thức canh tác lúa nước, vì vậy từ xa xưa người Việt đã sớm bộc lộ những tư duy về sông nước Sự bộc lộ đó thể hiện rõ trong các truyền thuyết
như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Mai An Tiêm, Chử Đồng
Tử - Tiên Dung, Dã Tràng, v.v Các triều đình phong kiến Việt Nam cũng đã
sớm có ý thức bảo vệ chủ quyền trên biển đảo và xây dựng lực lượng thuỷ quân Nhưng nhìn chung, cư dân người Việt vẫn chưa đánh giá đầy đủ vị trí
của biển và chưa chú ý đến biển Tư duy của người Việt chủ yếu là “tư duy
đất liền”, “xa rừng nhạt biển”, coi trọng kinh tế nông nghiệp hơn là khai thác
những tiềm năng kinh tế biển
Việt Nam có hơn 3.000 km đường bờ biển và là nước có chỉ số duyên
hải ISCL (Index of Sea Coastal Line) cao Chỉ số duyên hải cao và môi
trường kinh tế đảo, bán đảo là điều kiện thuận lợi để nước ta có thể thiết lập
và mở rộng quan hệ giao thương với thế giới bên ngoài Tuy nhiên, người Việt ít chú trọng khai thác biển Việt Nam không có nền kinh tế thương mại
và hàng hải phát triển, không có nền văn hoá hải dương, khai phóng và hội nhập như cư dân các nước khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia ven biển khác trên thế giới Người Việt xưa không có truyền thống đi xa và buôn bán đường dài Người Việt có làm cảng ở sông, ở biển, nhưng chủ yếu là để buôn bán nội vùng, khá hơn là liên vùng trong nước Người Việt thụ động
Trang 10trông chờ người nước ngoài đến buôn bán mà không chủ động đóng tàu thuyền ra nước ngoài buôn bán Có thể thấy người Việt khá bị động trước biển Mối liên hệ kinh tế văn hoá giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á hay châu Á, ngoại trừ trường hợp Trung Quốc, không thực sự sâu sắc và thường xuyên Sự hiểu biết của người Việt về địa lý, lịch sử, kinh tế các nước trên thế giới, kể cả các quốc gia láng giềng cũng rất hạn hẹp Đó là một hạn chế của người Việt Nam trong việc khai thác các thế mạnh và tiềm năng của biển
Vào những thế kỷ sau Công Nguyên, mặc dù đã làm chủ được hầu khắp vùng đồng bằng sông Hồng và chinh phục được một số dải đất ven biển nhưng người Việt vẫn không thể (và thực tế là không cần) vượt ra khỏi không
gian kinh tế nông nghiệp truyền thống để tiến ra biển: “Cái không gian sinh
tồn cụ thể và độc đáo này đã đào luyện nên tính cách hạ bạn, tâm lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng bờ cõi với hướng chảy dọc theo các đồng bằng ven biển”1
Tập quán sinh sống định cư gắn chặt với đồng đất và nguồn cung cấp thực phẩm đa dạng, lượng thuỷ sản nước ngọt khá phong phú của một không gian địa - kinh tế ẩm, trũng miền chân núi là nguyên nhân chính yếu kiềm toả sức vươn ra biển, nhu cầu muốn chinh phục biển khơi của người Việt Biển là một thế giới quá mênh mông, mơ hồ và đầy hiểm nguy trong tâm thức của người Việt Người Việt cũng có truyền thống đóng thuyền đi trên sông nước nhưng đó chủ yếu là các thuyền đi trong sông, eo, vịnh… chứ chưa thực sự là thuyền đi biển, có thể vượt xa đại dương
Mặt khác, do tác động của tư tưởng trọng nông ức thương, nền thương nghiệp Việt Nam, trong đó có ngoại thương, luôn được coi là ngành kinh tế phụ, không căn bản Ngay cả những làng, những vùng có truyền thống ngư
1
Nguyễn Văn Kim: “Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỷ XVI- XVII và vị trí của một
số thương cảng Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, năm 2002, tr 45.
Trang 11nghiệp, buôn bán trên sông nước vẫn thường có và luôn giữ một khoảnh đất
để canh tác nông nghiệp và thờ cúng tổ tiên Đặc tính đó thể hiện rõ tư duy hướng nội là chủ yếu trong tư tưởng kinh tế và văn hoá truyền thống của người Việt
Trong kho tàng văn hóa dân tộc từ thời dựng nước cũng có rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết gắn liền với tâm thức của các cộng đồng cư dân về biển Biển là điểm khởi nguồn đồng thời cũng là nơi trở về của nhiều nhân vật huyền thoại Huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ kết duyên với nhau
sinh ra một trăm người con để rồi lại phân chia ra, nửa theo Mẹ về Núi, nửa theo Cha xuống Biển, và những khi ở trên Lục quốc có chuyện, Long Quân
vẫn luôn trở về đất liền để cứu giúp nhân dân Huyền thoại Lạc Long Quân –
Âu Cơ đã thể hiện mối liên hệ giữa Đất và Nước trong tâm thức của người
Việt cổ Trên một bình diện khác, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh là sự
thể hiện sức mạnh và cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa hai thế lực Núi
và Nước Người ta hay lấy cuộc hận thù duyên phận giữa hai con người – hai
vị thần tài giỏi để luận giải về truyền thống khai phá, giành giật đất đai, xây
dựng hệ thống thủy nông “Huyền thoại đó còn là ký ức về một cuộc đại
chuyển cư, mở mang châu thổ do tác động của quá trình biển tiến, biển lùi trong lịch sử xa xưa của người Việt”2 Với tập quán canh tác lúa nước thì hiện tượng nước dâng lên rồi rút đi là một trong những điều kiện không thể thiếu được cho sự phát triển trù phú, mùa màng bội thu Chính vì vậy, từ xa
xưa, người Việt vừa có tâm lý sợ nước (nhất thủy, nhì hỏa) vừa cầu nước và mong nước về “Nước là một bộ phận hợp thành của truyền thống văn hóa,
khắc đậm trong tư duy, trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và cả
2
Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển,
đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, trích trong cuốn Người Việt với biển,
Nguyễn Văn Kim chủ biên, Nxb Thế giới, HN, 2011, tr 40.
Trang 12trong thế giới huyền thoại của người Việt cổ”3 Tư duy về biển của người Việt cổ không chỉ được thể hiện qua các huyền thoại và truyền thuyết từ xa xưa mà còn được thể hiện qua các di chỉ khảo cổ học của các nền văn hóa như Văn hóa biển Hạ Long thời kỳ hậu đá mới, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa
Sa Huỳnh của thời đại kim khí hay cả Thể chế biển Phù Nam và Chămpa sau
đó
Mặc dù đã có những bằng chứng cho thấy sự tồn tại về một tư duy biển của người Việt cổ trước thế kỷ X nhưng nó dường như cũng chưa mấy rõ ràng Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang đã trồng dưa hấu để trao đổi với những tàu buôn đi qua đó lấy các vật dụng và thực phẩm, nhưng cuối cùng cũng quay trở lại đất liền Khi nỏ thần mất tác dụng và bị quân địch đánh cho thua trận, An Dương Vương đã bỏ chạy ra đến bờ biển rồi rút gươm tự vẫn Nghề đánh bắt cá hay cư dân sống trên sông nước được phản ánh trong chuyện cổ tích với những nhân vật như Trương Chi, Chử Đồng Tử, v.v ; luôn có vị thế xã hội thấp kém hơn người và nghề khác Mối tình của chàng đánh cá Trương Chi với cô gái con nhà quyền quý kết thúc trong bi thảm Còn Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo đến nỗi thân không một mảnh khố, chỉ
có thể đổi đời bằng việc kết hôn với công chúa con vua Truyền thuyết Dã Tràng thì phản ánh sự bất lực của con người trước biển:
“Dã tràng xe cát biển Đông Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”
Tuy nhiên, chính những tư duy sơ khai, ban đầu ấy đã tạo nền tảng cho người Việt có một tư duy đầy đủ hơn về biển trong những thế kỷ sau đó
1.1.2 Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV
Từ thế kỷ X trở đi, sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ Ý thức sâu sắc về
3
Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển,
đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, Sđd, tr 40.
Trang 13chủ quyền đất nước, các vương triều phong kiến đã có sự quan tâm nhất định tới vấn đề biển đảo Các vương triều phong kiến đầu tiên Ngô – Đinh – Tiền
Lê đã chú trọng đến việc xây dựng các căn cứ, chốt thủy quân ở vùng Đông Bắc mà trọng tâm là cửa sông Bạch Đằng Triều Lý (thế kỷ XI-XIII) đã chú ý đến việc buôn bán với nước ngoài bằng đường biển (Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á) Công việc quan trọng đầu tiên của vua Lý Anh Tông (1139 - 1175) (và cũng có thể được coi là của cả Vương triều Lý) đối với các vùng biển đảo là đặt ra hành dinh ở trại Yên Hưng (Quảng Ninh) vào tháng
10 - 1147như là một cơ quan quản lý của triều đình trung ương đối với cửa ngõ yết hầu sông nước quan trọng nhất của đất nước, cũng như toàn bộ các vùng biển đảo của quốc gia Đại Việt nói chung Sau đó, tháng 2 – 1149, nhân việc thuyền buôn 3 nước Trảo Oa (Java, Indonesia), Lộ Lạc và Xiêm La (đều thuộc Thái Lan ngày nay) vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, vua Lý Anh
Tông “bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa
quý, dâng tiến sản vật địa phương” 4
“Vượt ra khỏi ý nghĩa quốc gia về chiến lược phát triển kinh tế, trên phương diện hải thương khu vực và quốc tế, việc nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu sự dự nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ thống hải thương khu vực và quốc tế qua khu vực Biển Đông” 5
Ở khu vực phía nam, các trung tâm trao đổi ở vùng
Nghệ – Tĩnh cũng có điều kiện phát triển, thu hút một lượng lớn thương nhân
từ Trung Quốc và Đông Nam Á đến buôn bán
Không chỉ chú ý đến việc mở mang thương nghiệp, năm 1171, đích
thân nhà vua đã “đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết
dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào”6
Hoàng Anh Tuấn: “Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ
trung đại”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr 6.
6
Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd, tr 325.
Trang 14phong vật”7 Đồng thời, vua Lý Anh Tông liên tục cho đóng nhiều thuyền lớn tham gia vào việc kiểm tra, kiểm soát, khai thác và bảo vệ các vùng sông nước, biển đảo như các thuyền hiệu Vĩnh Long, Thanh Lan, Trường Quyết, Phụng Tiên, Nhật Long, Ngoạn Thủy… Có thể khẳng định, trong triều Lý và nhiều vương triều phong kiến khác ở nước ta, hiếm có vị vua nào lại có ý thức sâu sắc về chủ quyền biển đảo và quan tâm đến việc phát triển thương
mại biển như vua Lý Anh Tông
Kế tục sự nghiệp của nhà Lý, Đại Việt từ cuối thời Trần và đầu thời
Lê, vai trò của thương cảng Vân Đồn và vùng cảng biển Đông Bắc trong hệ thống hải thương khu vực và quốc tế ở Biển Đông được biết đến nhiều qua chức năng trung chuyển và xuất khẩu gốm sứ từ Trung Quốc ra thị trường khu vực, đồng thời đưa gốm sứ Đại Việt (men nâu thời Trần và men lam thời
Lê Sơ) ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XV, vua Hồng Đức (1460-1497), đã có những chính sách thiếu tính tích cực đối với vấn đề ngoại thương và khu vực hải cảng Vân Đồn cũng như toàn bộ vùng Đông Bắc Điều này đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của Vân Đồn nói riêng và toàn khu vực hải cảng Đông Bắc nói chung trong thời kỳ nhà Lê trị vì Cho đến cuối thế kỷ XV, hải cảng Vân Đồn dường như đã suy tàn và không còn là điểm đến của các thương nhân nước ngoài
Bên cạnh việc quan tâm đến ngoại thương thì các vương triều phong kiến Lý, Trần và Lê cũng đã chú ý đến việc xây dựng và phát triển lực lượng thủy quân để bảo vệ nước nhà trước sự xâm lược của phương Bắc Trong và sau ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên thế kỷ XIII, nhà Trần luôn ý thức sâu sắc về vai trò và vị thế của biển, đảo trong việc bảo
vệ chủ quyền, an ninh đất nước Nhà Trần ba lần chống quân Mông Nguyên đều có sự tham gia của lực lượng thủy quân Chiến thắng Vân Đồn và chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 cũng như các cuộc rút lui chiến lược của quân
7
Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd, tr 326.
Trang 15dân Đại Việt về vùng duyên hải Đông Bắc đã cho thấy nghệ thuật quân sự của quý tộc nhà Trần nhằm phát huy tối đa lợi thế của điều kiện tự nhiên để chế ngự và chiến thắng kẻ thù
Nhìn chung, các triều đình phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XV hầu như chưa thể hiện một tư duy toàn diện về biển Người Việt chỉ khai thác biển như một nguồn tài nguyên tự nhiên, và những chính quyền phong kiến chỉ quan tâm tới việc phòng thủ biển để bảo vệ đất liền, chứ chưa kết hợp được phát triển kinh tế biển với phát triển ngoại thương và củng cố quốc phòng
1.1.3 Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Từ thế kỷ XVI trở đi, do sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến, Đại Việt bị tách thành hai tiểu quốc là Đàng Ngoài và Đàng Trong Một bộ phận cư dân ở Đàng Trong phải từng bước di cư xuống phía Nam men theo bờ biển Chính sách khai phá các vùng đất hoang vu, quan tâm đến nông nghiệp, mở rộng thủ công nghiệp và phát triển ngoại thương của các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho kinh tế Đàng Trong phát triển Nhiều đô thị ven biển và các hải cảng nổi tiếng như Hội An, Thanh Hà, Gia Định được hình thành và phồn thịnh Quan hệ buôn bán giữa Đàng Trong với các nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á và một số nước phương Tây được thiết
lập và phát triển Trong tác phẩm “Tư Dung Vãn” của Đào Duy Từ đã nói tới những cánh buồm của thương nhân trên vùng biển miền Trung: “Buồm ai
dàng dạng chân trời”8
Được biết đến là thương cảng lớn nhất của Đàng Trong, lại nằm ở vị trí giao thương quốc tế thuận lợi, Hội An nhanh chóng trở thành cửa ngõ giao thương và đối ngoại quan trọng nhất với thế giới bên ngoài Thương cảng này
đã đóng góp cho ngân sách chính quyền một lượng thuế lớn, giúp chúa
8
Lê Tiến Công:“Vị thế của biển trong cái nhìn của các vua đầu triều Nguyễn”, Tạp chí
Xưa và Nay, số 275 và 276, 2007, tr 46.
Trang 16Nguyễn có được nguồn tài chính vững chắc để xây dựng quân đội, củng cố chính quyền và đương đầu với các cuộc tấn công của chính quyền Lê – Trịnh Sau thương cảng Hội An thế kỷ XVI - XVII, người Việt Nam ở Đàng Trong lại có thêm thương cảng Hà Tiên thế kỷ XVIII… Các đền miếu thờ Long Vương, Hải thần, phong tục thờ Cá Ông và các bài vè đi biển phổ biến suốt vùng duyên hải Việt Nam từ đèo Hải Vân trở vào Nam còn cho thấy người Việt Nam ở Đàng Trong đã nhất hóa nhiều yếu tố biển vào với sinh hoạt vật chất và tinh thần của cộng đồng mình
Bên cạnh việc mở mang phát triển kinh tế thì “Chúa Nguyễn Hoàng đã
sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa biển Đông Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được”9
Trên thế giới, từ thế kỷ XVII trở đi là thời kỳ sôi động của các hệ
thống thương mại Đông - Tây, các “đế chế đại dương” bắt đầu chiếm ưu thế đồng thời chấm dứt thời kỳ hoàng kim của các “đế chế lục địa” Các “Quốc
gia thương nghiệp” được hình thành ở vùng hải đảo, hoặc khu vực ven biển
phát triển rực rỡ Từ đó, biển trở thành một nhân tố hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế và chiến lược quốc phòng của mỗi quốc gia
Với quyết tâm trở thành một lực lượng chính trị độc lập có thể đối chọi lại với Đàng Ngoài và mở rộng lãnh thổ về phía Nam, các chúa Nguyễn
9
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, http://baotangnhanhoc.org.
Trang 17không ngừng phát triển lực lượng hải quân Qua một số ghi chép của các tác giả nước ngoài thì thủy quân của Đàng Ngoài được trang bị số thuyền chiến nhiều hơn so với Đàng Trong Theo Alexandre de Rhodes, số lượng thuyền chiến của Đàng Ngoài là khoảng 500 hay 600 thuyền, nhiều hơn gấp ba lần con số 200 thuyền của Đàng Trong10 Tuy chiến thuyền của Đàng Trong ít hơn nhưng các chúa Nguyễn luôn tìm cách tăng số lượng thuyền và mở rộng lực lượng thủy binh Theo C Borri, Đàng Trong thường xuyên cướp thuyền của Đàng Ngoài Mặt khác, họ thực hiện triều cống với nhà Trịnh để đổi lấy
gỗ đóng thuyền, gả con gái cho vua Campuchia để nhận được sự giúp đỡ về thuyền chiến và binh lính nhằm chống lại sự gây hấn của quân Xiêm11
mở rộng thế lực trong suốt thế kỷ XVIII
Trong khi các chúa Nguyễn tích cực quan tâm đến việc phát triển ngoại thương và quân sự thì ở Đàng Ngoài, nhà nước Lê – Trịnh cũng đã thực hiện chính sách thông thoáng hơn đối với các nhà buôn phương Tây
10
Phạm Văn Thủy: “Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các
nguồn sử liệu phương Tây”, trích trong cuốn Người Việt với biển, Sđd, tr 508.
11
Phạm Văn Thủy: “Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các
nguồn sử liệu phương Tây”, Sđd, tr 509.
Trang 18Thương nhân Hà Lan và sau đó là thương nhân Anh đã được cho phép đến buôn bán, xây dựng nhà cửa, cửa hiệu tại một số nơi ở Phố Hiến hay kinh thành Thăng Long Thế kỷ XVII – XVIII có thể được coi là giai đoạn phát triển phồn thịnh nhất của nền ngoại thương Việt Nam thời phong kiến
Mặc dù các chúa Nguyễn ở Đàng Trong vẫn tiếp tục quan tâm đến việc
mở rộng lực lượng thủy quân vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nhưng
sự phát triển đột phá về sức mạnh hải quân của Việt Nam chỉ có được là vào cuối thế kỷ XVIII, cùng thời điểm với sự nổi dậy của nghĩa quân Tây Sơn Trong lịch sử phát triển của phong trào nông dân Tây Sơn, ngay từ thời kỳ đầu đã có nhiều lần xuất quân vượt biển từ Qui Nhơn tấn công vào Gia Định làm tan rã lực lượng cát cứ của chúa Nguyễn, tiêu diệt gần 4 vạn quân xâm lược Xiêm Đến năm 1786, sau khi giải phóng hoàn toàn đất Đàng Trong, Nguyễn Huệ kéo đại quân ra Bắc tiêu diệt chế độ thống trị của họ Trịnh Riêng đạo quân tiên phong tập kết ở Vị Hoàng trước khi đánh thẳng vào Thăng Long cũng có tới 400 chiến thuyền12 Đến cuối năm 1788, sau khi lên ngôi hoàng đế, Quang Trung - Nguyễn Huệ tổ chức một cuộc hành quân thần tốc ra Bắc diệt giặc Thanh Phương tiện vận chuyển binh lính, vũ khí, quân lương trong cuộc hành quân thần tốc này cũng chủ yếu là thuyền Nét độc đáo trong chiến dịch đại phá quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu 1789 là quân Tây Sơn đã xây dựng được phòng tuyến thuỷ bộ liên hoàn Tam Điệp - Biện Sơn làm bàn đạp cho ba đạo quân tấn công chính diện trên bộ và hai đạo quân thuỷ vượt biển bao vây sau lưng địch
Sau khi chiến thắng vẻ vang thù trong, giặc ngoài, trong chủ trương xây dựng quân đội, vua Quang Trung muốn phát triển một cách tương đối hài hoà các binh chủng bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, pháo binh để phát huy sức mạnh tổng hợp của quân đội Ông đặc biệt quan tâm bảo vệ chủ quyền trên biển, chăm lo xây dựng và phát triển lực lượng thủy binh, quyết tâm đưa
12
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, http://baotangnhanhoc.org
Trang 19hải quân lên hàng quân chủng: “Chiến thuyền của Tây Sơn bao gồm nhiều
loại, trong đó loại lớn trọng tải đến 900 tấn, có thể chở được voi chiến hoặc
có khi chở được 700 lính và 60 khẩu đại bác”13 Trong quá trình xây dựng và phát triển lực lượng thuỷ quân, hải quân đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của đất nước, các vương triều Tây Sơn, đặc biệt là triều Quang Trung và Cảnh Thịnh đều đặc biệt chú ý đến việc khai thác, sử dụng lực lượng Tàu Ô đang có mặt trên Biển Đông Họ là những người giỏi đi biển hay chuyên hoạt động trên biển hoặc vì trung thành với triều đình nhà Minh, hoặc vì chống đối chính quyền Mãn Thanh mà bị đánh đuổi phải phiêu bạt, nương náu trên vùng biển đảo Không ít trong số họ đã kết lại thành các băng đảng cướp biển khét tiếng Triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này qui
thuận Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ họ “ra vào
nơi bể nước, tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm bậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy”14 và kêu gọi họ sớm đầu hàng Quang Trung
luôn “mở lòng bao dung, tuỳ tài cất dụng” và chiều theo sở nguyện của từng người, thậm chí chấp thuận cho cả “những người có chí lớn, muốn xông pha
nơi ngọn sóng cùng hải đảo”15 Qui thuận những người Trung Quốc xiêu dạt sống gửi trên mặt biển và sử dụng họ tham gia vào công việc giữ gìn Biển Đông là một chính sách quan trọng và có hiệu quả cao của vương triều Tây Sơn
Sự phát triển của sức mạnh hải quân Việt Nam cuối thế kỷ XVIII làm kinh ngạc tất cả những người châu Âu khi họ đến đây John Barrow, một người Anh đến Đàng Trong vào những năm 1792-1793 đã miêu tả tỉ mỉ kỹ nghệ đóng thuyền của người Đàng Trong như là một trong những nghề mà họ
13
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, http://baotangnhanhoc.org
14
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, http://baotangnhanhoc.org
15
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, http://baotangnhanhoc.org.
Trang 20thành thạo nhất Ông nhấn mạnh đến kỹ thuật chia đáy thuyền thành các khoang khác nhau và vì thế thuyền sẽ không bị chìm dù va phải đá ngầm Theo J Barrow, kỹ nghệ đóng thuyền này thậm chí đang được áp dụng cho hải quân của hoàng gia Anh16 Thủy quân Tây Sơn được đánh giá là một trong những lực lượng thủy quân mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ
Cùng với việc phát triển lực lượng thủy quân hùng mạnh nhà Tây Sơn cũng tăng cường thực thi chủ quyền trên các quần đảo ngoài Biển Đông, đặc biệt là ở Hoàng Sa và Trường Sa Giống như các chúa Nguyễn trước đây nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông Trên thực tế hải quân Tây Sơn đã kiểm soát được các tuyến giao thông, giao thương trên Biển
và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo kể cả khu vực ven bờ và giữa biển Đông
Nguyễn Ánh, hơn ai hết, hiểu rất rõ thế mạnh của thuỷ quân, hải quân Tây Sơn nên từ đầu những năm 1790 đã mời và đặc biệt trọng dụng anh em nhà Dayot (Jean Marie Dayot và Felix Dayot) trong chủ trương xây dựng lực lượng hải quân, đóng mới tàu chiến hiện đại và điều tra thám sát, vẽ bản đồ các hải cảng, bờ biển và toàn bộ vùng biển, đảo một cách khoa học, có hệ thống với chất lượng chuyên môn cao Anh em nhà Dayot đã góp phần rất quan trọng giúp cho Nguyễn Ánh tạo ra năng lực trội vượt của hải quân, thuỷ quân Nguyễn, làm cơ sở đánh bại lực lượng hải quân, thuỷ quân Tây Sơn vốn rất mạnh nhưng lại sớm bị rơi vào tình trạng tàn tạ và tan tác của vương triều giai đoạn cuối mùa Sự thất bại của hải quân Tây Sơn trước hải quân Nguyễn Ánh không hề phủ định một thời hoàng kim mạnh mẽ và oai hùng của nó, nhất là vào những năm dưới thời Quang Trung và đầu thời Quang Toản
16
Phạm Văn Thủy: “Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các
nguồn sử liệu phương Tây”, Sđd, tr 515.
Trang 21Năm 1802, triều Nguyễn được thiết lập sau khi đã lật đổ nhà Tây Sơn Các vị vua đầu triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức vẫn tiếp tục bảo vệ vùng biển đảo, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hệ thống các đảo và quần đảo ở Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hoá vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết Tiếp sau vương triều Tây Sơn, nhà Nguyễn đã có những đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông trong thế kỷ XIX
1.2 Chính sách biển của triều Nguyễn thế kỷ XIX
Đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn quản lý toàn bộ vùng bờ biển Việt Nam dài, rộng, kéo dài từ Bắc vào Nam Tại hơn 130 cửa biển lớn nhỏ và một số hải đảo quan trọng của Việt Nam, các vua Nguyễn đã tổ chức lực lượng trấn giữ, hình thành một hệ thống đồn, thành lũy, trấn thủ bao bọc bờ biển liên hoàn kết hợp giữa lực lượng của triều đình và lực lượng dân binh sở tại của các địa phương để canh giữ, kiểm soát bờ biển, hải đảo Chính sách bảo vệ vùng biển của triều Nguyễn có thể khái quát trên một số vấn đề như: chính sách đóng cửa với phương Tây, chính sách phòng ngự bờ biển, chính sách phòng chống hải tặc
1.2.1 Chính sách đóng cửa với phương Tây
Vua Gia Long (Nguyễn Ánh) là một người am hiểu về biển và vị trí quan trọng của biển đối với an ninh, quốc phòng Khi cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong bị nhà Tây Sơn lật đổ, Nguyễn Ánh nhiều lần bị quân Tây Sơn truy sát đã phải bỏ chạy ra vùng biển và trốn ở các đảo hoang Sự an nguy của Nguyễn Ánh gắn liền với biển đảo Nguyễn Ánh đã lấy biển đảo làm bàn đạp để từng bước giành lại vương quyền Thuỷ quân và thuyền chiến
Trang 22thời Nguyễn được huấn luyện theo binh pháp châu Âu Từ năm 1789, theo lời
khuyên của giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine): “Nguyễn Ánh ra sức
tăng cường thuỷ binh, trở thành lực lượng thuỷ binh mạnh nhất chưa từng có
ở vùng biển Ấn Độ”17
Tuy nhiên, sau khi giành lại được vương quyền, vua Gia Long lại không thực hiện những cải cách mở cửa thông thương với nước ngoài, ngay cả với nước Pháp đã giúp vua trong cuộc chiến tranh cũng không ngoại lệ Tháng 11 - 1817 (năm Gia Long thứ 16), tàu nước Pháp cập cảng
Đà Nẵng, cho người mang thư đến nói với viên quan Nguyễn Văn Thắng
rằng: “Quốc vương đã về nước rồi, truyền kéo cờ đi khắp các cửa biển, để
cho các nước biết; xin đem phẩm vật vào Kinh chiêm yết”18
Nhưng vua Gia Long nghĩ rằng tàu này không có quốc thư nên không cho vào yết kiến Mặc
dù vậy, vua cũng sai các quan ở Quảng Nam tiếp đãi thành viên của phái đoàn, rồi yêu cầu họ đưa tàu ra Nhân sự việc đó, vua truyền chỉ cho quan
Tấn thủ Đà Nẵng rằng: “Nếu tàu Đại Pháp có kéo cờ và phát 21 tiếng súng
mừng, thời trên đài Điện Hải cũng phát 21 tiếng súng Từ nay về sau như tàu nước khác vào cửa biển ta, dẫu nó phát súng nhiều nữa, mình chỉ phát 3 tiếng làm hiệu mà thôi”19
đã quay lưng lại với nước Pháp, ông không những không thực hiện chính sách mở cửa giao thương với nước ngoài mà còn cấm những thương nhân trong nước chở hàng hóa ra nước ngoài buôn bán Tư tưởng đóng cửa của
Trang 23vua Gia Long được hình thành do sự e sợ sức mạnh của các thế lực nước ngoài sẽ làm ảnh hưởng đến vương quyền của triều đình, tư tưởng đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến vua Minh Mạng kế vị sau đó
Vua Minh Mạng lên ngôi năm 1820, ông vẫn tiếp tục thực hiện chính sách đóng cửa từ thời vua Gia Long Tuy nhiên, trong những năm đầu khi mới lên ngôi, ông đã cho thi hành một số biện pháp giảm thuế cho thuyền buôn nước ngoài Tháng 11 – 1820, nhà vua cho đổi định lệ thuế cảng và lễ cho các thuyền buôn nước ngoài Theo lệ cũ, thuyền buôn Ma Cao và các nước phương Tây đến buôn bán cũng đánh thuế như thuyền buôn Quảng Đông, cứ lấy thước tấc bề rộng các thuyền mà thu khác nhau Vua mới lên ngôi, muốn tỏ lòng yêu mến người phương xa nên đã cho giảm bớt số tiền thuế Ví dụ, nếu thuyền đến buôn bán ở Gia Định, thuyền phủ Quảng Châu, phủ Thiều Châu, châu Nam Hùng, phủ Huệ Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh Phúc Kiến, tỉnh Chiết Giang, Ma Cao và các nước phương Tây, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan (lệ trước là 160 quan)21v.v Mặc dù đã thực hiện giảm thuế cho các thuyền buôn nước ngoài, nhưng đối với việc các nước phương Tây đến xin thông thương thì triều đình Huế lại không chấp nhận Biểu hiện rõ nét nhất của chính sách bế quan là việc triều đình khước từ tất cả quốc thư và các yêu cầu thông thương của những nước phương Tây như Anh, Pháp, Hoa Kỳ… Trong 20 năm vua Minh Mạng trị vì,
đã có rất nhiều lần phái đoàn của các nước phương Tây đến Việt Nam, đưa thư xin thông thương buôn bán nhưng đều không được nhà vua chấp nhận
Tháng 7 – 1822, “Tổng đốc Mạnh Nha Hố (tên đất) nước Anh Cát Lợi
là Hà Sĩ Định, sai Cá La Thoa Khắc mang thư đến dâng phương vật (500 khẩu súng tay, một đôi đèn pha lê lớn) Thuyền đến Đà Nẵng, Dinh thần Quảng Nam dịch thư dâng lên Trong thư chỉ xin thông thương, cũng như các ngoại quốc khác, không dám xin lập phố để ở Sai đưa đến Kinh Cá La Thoa
21
Viện Sử học: Đại Nam thực lục, Tập 2, Nxb Giáo dục, HN, 2004, tr 101.
Trang 24Khắc thành khẩn xin yết kiến Vua nói: “Hắn là người của tổng đốc phái đi, không phải do mệnh của quốc vương Không cho” Những phẩm vật dâng biếu cũng không nhận Sai hữu ty bàn định điều lệ về việc các nước đến buôn, làm thư của Thương bạc bảo cho biết”22 Tiếp đó, tháng 12 – 1824, nước Pháp cũng cử một phái đoàn đem Quốc thư và phẩm vật tới xin thông hiếu, tàu đến cửa Đà Nẵng, quan dinh Quảng Nam tâu lên, vua Minh Mạng
dụ rằng: “Nước Pháp với Anh Cát Lợi thù nhau, năm trước nước Anh thường
cầu nạp khoản, ta khước không chịu, nay có lẽ nào cho nước Pháp thông hiếu, nhưng ta nghĩ đức Hoàng khảo ta khi mới khai quốc, có khiến ông Anh Duệ thái tử qua nước Pháp, vẫn có ơn cũ, nếu khước ngay đi, e không phải ý đãi người xa”23
Sau đó, vua đề nghị Viện Thương bạc làm tờ thư trả lời phái đoàn Pháp và thưởng cho một số đồ mang về; còn quốc thư và vật phẩm thì không cho dâng lên Tháng 11 – 1830, binh thuyền của nước Pháp lại đến cửa biển Đà Nẵng, vua lệnh cho Thị lang Trương Đăng Quế, quyền chức
quan Viện Thương bạc, đến gặp thuyền trưởng của tàu nói chuyện: “Thuyền
trưởng ấy nói rằng vua nước Pháp muốn cùng nước ta giao hiếu, nhưng xa cách biển khơi không đạo đạt được, nay nghe tin nước Hồng Mao (nước Anh) mưu đồ xâm lấn đất Quảng Đông (Trung Quốc), thế tất rồi cũng lan đến nước ta, nên vua nước ấy sai đến báo tin dặn ta đừng giúp Quảng Đông Trương Đăng Quế về tâu, vua cười nói rằng: “Nước ấy muốn mượn việc đó làm ơn với ta để mong đạt kế muốn giao hiếu đó thôi Nước Hồng Mao mưu lấn nước Thanh, có can thiệp gì đến ta” Lại sai Nguyễn Tri Phương đến bảo cho họ biết Khi Tri Phương đã về thuyền ấy vẫn còn dùng dằng chưa đi, tự tiện lên núi Tam Thai (Non Nước) để xem xét, lại nói muốn được một người hoa tiêu cùng đi ra các hạt Bắc Thành để vẽ đồ bản Viên tấn thủ báo về, Bộ Binh tâu lên Vua nói: “Vào nước người ta tất phải hỏi các điều cấm Vượt qua hải phận có điều lệ nghiêm cấm huống chi muốn vào nước người mà vẽ
Trang 25địa đồ mang về sao họ vô lý đến thế Tấn thủ không biết lấy lời lẽ nghiêm nghị mà cự tuyệt, động một tý là tâu báo, sao lại không có định kiến như thế” Sai Tri Phương lại đến hiểu thị thuyền ấy mới đi Bọn Thành thủ úy án thủ hai đài thành An Hải, Điện Hải là Lê Văn Tường, Thủ ngự Đà Nẵng là Nguyễn Văn Ngữ, Hiệp thủ là Trương Vân Loan, vì không ngăn cản được việc họ lên núi đều bị cách chức”24
Sau đó, vua điều người khác đến trấn thủ
hai đài này và lệnh xuống cho quan trấn thủ, từ nay nếu gặp thuyền nước ngoài hoặc thuyền quan đậu ở cửa biển thì phải phái binh thuyền đi tuần xét
và cho viên án thủ đài hội đồng với viên trấn thủ mà làm cho ổn thỏa, nếu việc phải tâu lên triều đình thì phải cho người báo ngay không được chậm trễ
Tháng 11 – 1832, phái đoàn của nước Hoa Kỳ (khi đó gọi là nước Nhã
Di Lý) mang quốc thư đến đậu thuyền ở cửa Vũng Lẫm thuộc tỉnh Phú Yên, muốn thông thương, buôn bán với nước ta Vua Minh Mạng sai Nguyễn Tri Phương, Lý Văn Phức cùng với quan tỉnh Phú Yên lên trên thuyền thiết tiệc
và hỏi ý họ đến làm gì “Họ nói: chỉ đến vì muốn giao hiếu và thông thương,
nhưng dịch thư có nhiều chỗ không hợp thể thức, vua nói không cần dâng thư lên rồi cho quan Thương bạc làm tờ trả lời, đại lược nói: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật
đã định Từ nay, nếu có đến buôn bán thì chỗ đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật, rồi giao thư bảo họ đi”25 Đến tháng 9 – 1835, trước sự thay đổi của tình hình khu vực, vua Minh Mạng càng tăng cường thêm việc kiểm soát đối với các tàu nước ngoài vào
Việt Nam, vua lệnh cho Bộ Binh: “Bộ phải tư ra các tỉnh miền biển về phía
Nam, hễ thấy có tàu lớn ghé lại ở địa hải phận tấn nào, thời người Tấn thủ phải đem theo một người Thông ngôn hay là người Tàu hiểu tiếng Tây, đến nơi xét hỏi tàu ở từ đâu mà tới, ấy là tàu trận hay tàu buôn cho rõ ràng, rồi báo lập tức; nếu là tàu trận thời nhứt diện phi tâu, nhứt diện phái quân
Trang 26nghiêm giữ và tư qua các lân tỉnh phòng bị, ngày nào tàu đi, hoặc đóng lại làm sự trạng gì, cũng phải tâu luôn”26
Triều đình không chỉ thực hiện đóng cửa với những nước phương Tây
mà ngay cả nước Trung Quốc có quan hệ lâu đời, vua Minh Mạng cũng rất dè dặt Tháng Giêng năm 1837, quan tỉnh Gia Định tâu xin cho thuyền chở thuê của người Tàu ở Gia Định đi buôn tại Nam Kỳ và Bắc Kỳ Nhưng nhà vua
không đồng ý và dụ rằng: “Người buôn nước Tàu dối trá trăm cách, từng
trung chở lúa gạo vào bán trộm nha phiến, thường bắt được; từ nay người Tàu ở ta không được đóng thuyền đi biển, quan địa phương không xét kỹ thời
có tội”27
Vì thực hiện chính sách đóng cửa, không giao thương với phương Tây nên vua Minh Mạng cũng định lệ buôn bán rất nghiêm ngặt Tháng 7 – 1826,
vua Minh Mạng ra lệnh cấm thuyền buôn nước ngoài mua tơ Ai phạm phải
thì bị tội 100 trượng, tang vật sung công Người bán cũng bị tội như thế Viện Thương bạc, tấn thủ và quan lại địa phương đều xử tội thất sát28
Tháng 10 –
1935, tỉnh Hà Tiên có chiếc thuyền buôn bọc đồng đến đậu ở Hòn Na Dự, trong tàu có người Hồng Mao (người Anh) chở đồ hóa hạng và sáu súng điểu thương, súng doãn mã cò máy đá, xin vào buôn bán chịu thuế Quan tỉnh Hà
Tiên tâu lên, vua dụ xuống rằng: “Lệ tàu Tây đậu tại cửa Hàn (Đà Nẵng),
còn các cửa biển khác không được tới buôn, phép nước rất nghiêm chẳng nên trái; biểu chiếc tàu ấy nên ra biển lập tức, không cho vào cửa Từ nay về sau người Tàu phải đi tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển buôn bán; người Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hàn thông thương, không được ghé vào cửa khác có lỗi”29 Có thể nói, trong 20 năm trị vì của mình, vua Minh Mạng đã xây dựng khá hoàn chỉnh các chính sách về mọi mặt đời sống kinh
Trang 27tế - xã hội của đất nước nói chung và chính sách bế quan tỏa cảng nói riêng Các vị vua kế nghiệp sự của vua Minh Mạng sau này cơ bản cũng thi hành các chính sách như ông đã đặt ra
Vua Thiệu Trị lên ngôi năm 1841 vẫn nhất nhất tuân theo những quy định đã đặt ra từ đời vua cha Đối với các đề nghị xin thông thương của các nước phương Tây vua Thiệu Trị đều khước từ Tháng 9 – 1847, có hai chiếc quân thuyền nước Anh đến cửa biển Đà Nẵng, thuyền trưởng nói theo lệnh vua Anh muốn được đến kinh cầu kiến, xin trình quốc thư lên Nhưng các quan trong triều đình cho là không hợp lệ, xin nhà vua không cho trình quốc thư Hơn 10 ngày sau thì thuyền ấy nhổ neo đi30
Kế tục sự nghiệp của vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, vua Tự Đức sau khi lên ngôi (1848), đối với việc mở cửa giao thương với nước ngoài vẫn rất dè dặt, dù tình hình trong nước và thế giới cuối thế kỷ XIX đã khác rất nhiều so với thời kỳ trước đó Nhà vua vẫn thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng và khước từ những đề nghị giao thương từ phương Tây Năm 1850,
“sứ nước Ma-ly-căn (nước Mỹ) ở Tây Dương là Ba Ly Chì (Balestier) chở 1
chiếc thuyền đến cửa biển Đà Nẵng nói: mang thư của nước ấy đến tạ lỗi, xin thông thương (Trong thư có nói: 4 năm trước thuyền nước ấy đến nước ta, lên bờ giết người, vua nước ấy đã đem trưởng thuyền làm tội rồi, nay mong
bỏ qua hết oán cũ đi, cho được thông thương hòa hảo) Vua sai Tôn Thất Bật đến hỏi han, Bật bàn với bọn Ngô Bá Hy, án sát Quảng Nam sai thông ngôn trả lời: …Nhân dân nước ta chuyên nghề làm ruộng trồng dâu, không thích chơi của lạ, nếu có lại buôn cũng không lợi gì, thư này không dám đề đạt lên Sau xin tạm nhận thư nhưng vua không cho rồi chiếc thuyền kia cũng đi”31
Tuy nhiên, chính sách đóng cửa của vua Tự Đức không thể thực hiện được lâu trước sức ép từ bên ngoài và cuộc xâm lược của thực dân Pháp năm 1858
đã buộc nhà Nguyễn phải thụ động mở cửa bằng các hiệp ước quân sự
Trang 281.2.2 Chính sách phòng ngự bờ biển
Mặc dù đã cho thi hành chính sách đóng cửa nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của nước ngoài với mong muốn Việt Nam không trở thành miếng mồi của các nước thực dân phương Tây, nhưng triều Nguyễn cũng không tin tưởng hoàn toàn chính sách bế quan tỏa cảng có thể ngăn chặn được âm mưu xâm lược của nước ngoài Vì vậy, bên cạnh việc thực hiện các chính sách như đóng cửa, cấm đạo Thiên chúa, triều Nguyễn còn cho thi hành các chính sách tăng cường tiềm lực quân sự của đất nước như tăng cường lực lượng quân đội, củng cố quốc phòng bằng việc xây thêm các pháo đài, mua sắm vũ khí và thực hiện các chính sách phòng ngự bờ biển Chính sách phòng ngự bờ biển bao gồm một số vấn đề chủ yếu là: xây lực lượng thủy quân và các pháo đài ven biển, phát triển hệ thống tàu thuyền đi biển, tuần tra trên biển…
Muốn bảo vệ vùng biển, trước hết phải hiểu biết về vùng biển của nước nhà Hiểu rõ được điều đó nên từ tháng 9 – 1806, vua Gia Long đã cho làm
xong sách Nhất thống dư địa chí: núi sông hiểm trở, đường xá xa gần, giới
hạn, nguồn sông, cửa biển… đều ghi chép hết, để phục vụ đắc lực trong công tác vận hải và tuần phòng Đồng thời nhà nước thường xuyên tổ chức thăm
dò, đo vẽ cửa biển, đường biển, đây là nhiệm vụ của các cửa biển do quan Trấn thủ, Thủ ngự chỉ huy Tháng 1 – 1813, vua Gia Long truyền dụ cho các quan trấn thủ (quan giữ các cửa biển) phải đo cửa biển, chỗ nào sâu, cạn, rộng, hẹp, mỗi năm đến mùa xuân, mùa đông vẽ bản đồ dâng lên, bộ Công phải đem đồ bản ấy giao cho các đội lính thủy, để cho biết đường thủy chỗ nào hiểm, chỗ nào không32
Tháng 2 – 1815, vua điều đội Hoàng Sa do Phạm Quang Ảnh chỉ huy ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển Tháng 3 – 1816, nhà vua ra lệnh cho các dinh trấn, xem đo đường biển cách nhau xa gần bao nhiêu, vẽ bản đồ dâng lên; điều thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa tiếp tục thăm dò đường thủy Có thể thấy, việc xác lập chủ quyền
32
Quốc sử Quán triều Nguyễn: Quốc triều chính biên toát yếu, Sđd, tr 110.
Trang 29đối với các đảo và quần đảo ven biển, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa đã được các vua Nguyễn ý thức từ rất sớm
Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825), một người Pháp đã từng theo Nguyễn Ánh đánh nhau với Tây Sơn, sau đó trở thành một đại thần trong triều đình Huế có tên Việt là Nguyễn Văn Thắng đã viết trong phần mở đầu
cuốn hồi ký Le Mesmoire sur la Cochinchine (Hồi ức về xứ Nam Kỳ) như sau: “Xứ Đàng Trong - địa thế - phân chia hình thể - xứ Đàng Trong mà quốc
vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng Đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc Cao Miên, một vài đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ, bãi đá ngầm và mỏm đá không có người ở Chỉ đến năm 1816 thì Nhà vua hiện nay mới chiếm hữu được quần đảo này”33 Cũng trong cuốn sách cho biết, năm 1817, một đại thương nhân Bồ Đào Nha đã dâng lên vua Gia Long một tấm bản đồ về quần đảo Hoàng Sa (tức quần đảo Paracel) đã được nhà
vua đặc biệt chú ý
Vua Minh Mạng cũng đặc biệt chú ý đến việc tìm hiểu rõ các vùng
biển, cương vực của nước nhà Sách Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ thời
Minh Mạng đã cho biết diện mạo khá hoàn chỉnh của cương vực, lãnh thổ Việt Nam Các cửa sông, cửa biển, tấn sở được ghi chép khác đầy đủ Năm
1820, ông giao cho các quan thủ ngự phải có nhiệm vụ “cắm tiêu” tại những
cửa biển để hướng dẫn thuyền qua lại Đặc biệt đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa, nhà vua vẫn tiếp tục tăng cường việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam và tăng cường thêm hải quân phòng thủ Tháng 6 – 1835, vua Minh Mạng cho lập đền thờ thần Hoàng Sa ở bãi biển tỉnh Quảng Ngãi Bãi Hoàng Sa ngoài biển có một chỗ cây cối rậm tốt, trong cồn có giếng, phía tây
nam có Cổ miếu có bia khắc 4 chữ: “Vạn lý ba bình” Vua cho người lập
33
Nguyễn Thừa Hỷ: “Quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa (Paracels) thế kỷ XVII – XIX qua
nguồn tư liệu phương Tây”, trích trong cuốn Người Việt với biển, Sđd, tr 492.
Trang 30Miếu dựng bia, ở phía trước xây thêm một cái bình phong34
Tháng Giêng năm 1836, vua lại lệnh cho Thủy quân Suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh
thuyền qua Quảng Ngãi, thẳng tới bãi Hoàng Sa, “không nệ hòn cù lao nào,
cồn cát nào, hễ dài ngang rộng cao chu vi, và bốn phía gần đó có đá mọc cát ngầm hay không; hình thế mấy chỗ ấy có hiểm hay không, từ cửa biển ra đó đàng thủy đi mấy dặm; đó gần bờ biển huyện nào làng nào; đến đâu khám xét rõ ràng, rồi cắm tiêu làm dấu, vẽ thành đồ bản đem về dâng lên để nhà vua ngự lãm”35
Việc vãng thám Hoàng Sa tuy rất vất vả nhưng vẫn được triều đình đặc biệt quan tâm và hỗ trợ Dưới thời vua Minh Mạng, hàng năm vào mùa xuân, việc phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa cho thành thục đường đi lối lại đã thành lệ Tuy nhiên, đến thời vua Thiệu Trị, việc vãng thám bị đình hoãn vì
công vụ bận rộn Phúc tấu của Bộ Công ngày 26 - 1 - 1847 có ghi: “Tháng 6
năm 1845 phụng sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa Nay phúc tấu đợi chỉ
có nên vãng thám Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê: đình hoãn”36 Từ
đó trở về sau, các chuyến tham vãng Hoàng Sa ngày càng ít đi do tình hình đất nước sau khi vua Tự Đức lên ngôi phải đối diện với nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là cuộc xâm lược của thực dân Pháp năm 1858
1.2.2.1 Tuần tra trên biển
Vua Gia Long và Minh Mạng đã nhận thức rất rõ về vị thế của biển và mối lo ngại hải tặc tấn công, nên ngoài việc bố phòng cẩn mật tại bờ biển thì công tác tuần tra và kiểm soát vùng biển được các vua Nguyễn ban hành nhiều chính sách cụ thể Tuần tra là hoạt động quan trọng trong việc bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển Cái lợi của tuần tra mặt biển được vua Minh Mạng chỉ rõ, đi tuần phòng ven biển một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thiện dòng nước, hai là để tập đánh dưới nước, biết rõ đường biển,
Trang 31khiến cho bọn giặc biển nghe tin không dám gây sự Một trong những cái lợi trực tiếp của việc tuần tra chính là bảo vệ an toàn việc vận chuyển sản vật và vật liệu ở các địa phương về kinh đô bằng đường biển Thủy quân của triều đình được sử dụng tuần tra theo mùa Hàng năm từ tháng 2 đến tháng 7 và 8, định thủy quân sử dụng 2 đội gồm nhiều thuyền lớn chở quân theo hai hướng Nam và Bắc đi tuần trên các vùng biển lớn Theo quy định của nhà Nguyễn, hàng năm các đội thủy quân của mỗi tỉnh cùng với thủy quân của triều đình đóng tại địa phương phối hợp tuần tiễu trên biển từ tháng 4 đến tháng 10 Thông thường, các tàu thuyền đi tuần tiễu được trang bị các đại bác, súng trường, hỏa pháo, pháo thăng thiên, câu liêm, kính thiên lý… để sẵn sàng đối phó với cướp biển hoặc thuyền gian trên biển Trước mùa tuần biển quân lính
được ứng trước 1 đến 4 tháng lương thực để sống trên biển dài ngày: “Bộ
biền Kinh phái thì được lĩnh 3 4 tháng lương thực Bộ biền tỉnh phái cũng được lĩnh 1, 2 tháng lương thực, đều tùy tiện chia tải để đủ quan dùng”37
Vua Gia Long còn lệnh cho Bộ Công biên tập cuốn Hải trình tập nghiệm
sách trên cơ sở tra tập các sách Nội dung bao gồm các mục là “Tóm tắt về mưa gió”, “Những điều kiêng kỵ khi chạy tàu thuyền” và “Tập nghiệm những việc đã qua”, đồng thời ra lệnh cho các nơi ven biển vẽ bản đồ cửa biển trong
vùng hải phận của mình, cùng phát cho thủy quân và những người có liên quan học tập
Tháng 3 – 1822, vua Minh Mạng ra cửa biển Thuận An, định kỷ luật tuần tra dưới nước, trên cạn cho các quân38
Tháng 2 – 1825, vua cho thuyền binh đi tuần xét cửa biển Biện Sơn (Thanh Hóa), là nơi quan yếu39 Đến tháng 3 – 1826, vua ra lệnh tăng thêm 70 chiếc thuyền và 200 người thủy thủ
Trang 32ở Hoài Đức và Quảng Yên theo quan quân chia phái đi tuần phòng mặt biển; đồng thời nhà vua đi tuần phòng ở cửa biển Thuận An40
Tháng 3 – 1833, Hộ lý Tuần phủ Thanh Hóa là Nguyễn Đăng Giai tâu
nói: “Về công việc tuần phòng mặt biển, từ quan Tổng đốc Đoàn Văn Trường
trước nghĩ bàn tâu lên, đã được chuẩn cho thi hành; nay đã phái viên Lãnh binh Thủy sư là Phạm Văn Bình đem biền binh thuộc tỉnh và hơn 500 người phu thuyền ở các tấn sở Bạch Câu, Hãn Bạng cùng 12 chiếc thuyền, chạy đến hải phận Biện Sơn, tìm bắt giặc biển” Vua dụ rằng: “Việc đi tuần biển, nay
đã có phương sách để làm rồi Ngươi nên thi thố thế nào để cho lũ giặc biển yên lặng lâu dài, ta sẽ liệu khen thưởng hơn nữa Nếu chỉ đóng quân một chỗ, làm tốn lương thưởng, hay là còn để giặc biển thừa cơ nổi lên thì lời ngươi nói trước còn kia e khó tránh được lỗi nặng”41 Cuối tháng 3, vua hạ lệnh cho rút những đội lính tuần biển của các hạt Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương về42
Việc tuần tra kiểm soát vùng biển nói chung trên cả nước được giao cho quân đội chính quy, nhưng ở các địa phương giáp biển thì được giao
quyền chủ động Năm 1834, vua Minh Mạng ban dụ: “Các Tổng đốc, Tuần
phủ, Bố chánh, Án sát ở các địa phương ven biển, điều nên xét các đảo ở hải phận trong hạt hiện có dân cư thì điều sức cho dân ở tỉnh ấy đem thuyền đánh cá nhanh chóng sửa chữa, cho được nhanh nhẹn Nơi dân số nhiều thì làm 2, 3 chiếc Mỗi chiếc có thể ngồi được trên dưới 20 người Về phí tổn sửa chữa hết bao nhiêu thì nhà nước cấp tiền Lại liệu cấp cho giáo dài, súng trường, thuốc đạn, giao cho dân ấy nhận lĩnh, để dùng đi tuần thám” Nhưng
“những thuyền binh được phái đi cũng nên hết lòng dậy bảo nghiêm ngặt,
không được nhân việc mượn cớ quấy rối thuyền buôn”43
Trang 33Công việc tuần tra trên biển ngày càng được chú trọng tổ chức chặt chẽ Năm 1836, vua Minh Mạng phê chuẩn thí điểm về trang bị tuần biển của các đồn, trấn thuộc bờ biển phủ Thừa Thiên Theo đó, mỗi đồn biển được trang bị 2 chiến thuyền và 3 chiếc thuyền nhẹ chia lượt thành hai ban chia nhau đi tuần thám trên biển Đến năm 1838, quy định về tuần biển của các đồn trấn thủ ven biển đã được nhà vua chuẩn cho thi hành trên tất cả các địa phương ven biển Cũng trong năm này, nhà vua còn ra lệnh cho Bộ Binh và
Bộ Công cùng bàn bạc thống nhất chế tạo ra loại thuyền tuần biển phù hợp với điều kiện biển của Việt Nam
Tuần tra trên biển được thực hiện theo chu kỳ nhất định, tùy thuộc vào thời gian có nhiều thuyền buôn và thuyền công sai đi lại nhiều hay ít Tháng
6 – 1839, do có thuyền vận tải công bị giặc biển đón chặn, nên vua chuẩn
định: “từ nay trở đi phàm thuyền công phái đi ngoại quốc hay ra biển tuần
tiễu, cùng là đi các địa phương tải đồ vật đều phải chiểu theo số cỗ súng xe đặt trong thuyền mà mang theo đạn lan can, đạn tổng cương cho đủ dùng, ghi làm định lệ”44
Việc tuần tra trên biển đã được vua Gia Long và vua Minh Mạng hết sức chú ý, đến khi vua Thiệu Trị lên ngôi cũng vẫn quan tâm đến việc cử thủy quân của nhà nước và các tỉnh đi tuần tra trên biển để phòng chống hải tặc và nguy cơ ngoại xâm Sau khi vua Tự Đức kế vị, việc tuần tra trên biển vẫn được thực hiện nhưng trên thực tế nó không mang lại kết quả như mong đợi Trong cả nửa đầu thế kỷ XIX, đặc biệt là dưới thời vua Minh Mạng, mặc
dù việc tuần tra trên biển được nhà nước đặc biệt quan tâm nhưng nó vẫn không ngăn chặn được nạn hải tặc đang hoành hành khi đó
1.2.2.2 Xây lực lượng thủy quân và các pháo đài ven biển
Từ những năm cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh đã ra sức xây dựng lực lượng thủy quân hùng mạnh để chống lại thủy quân Tây Sơn Sau khi lên
44
Viện Sử học: Đại Nam thực lục, tập 21, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1969, tr 128
Trang 34ngôi năm 1802, vua Gia Long vẫn tiếp tục quan tâm đến việc phát triển thủy quân, phát triển số lượng tàu thuyền và xây dựng các pháo đài ven biển Trong thời kỳ vua Minh Mạng trị vì (1820-1840), thuỷ quân tiếp tục được coi trọng Đặc biệt, cả vua Gia Long và Minh Mạng đều chú trọng phát triển thuyền đi biển và thuyền chiến Đến năm 1821, tổng số tàu thuyền ở Việt Nam là 3.190 chiếc Riêng thuyền chiến cũng có nhiều loại được trang bị vũ khí khác nhau Vua Minh Mạng còn chú trọng cải tiến thuyền bọc đồng và đẩy mạnh phát triển việc đóng thuyền bọc đồng theo kỹ thuật phương Tây45
Đối với việc xây dựng các pháo đài phòng thủ ven biển, đặc biệt là vùng biển gần kinh thành Huế, ngay từ khi mới lên ngôi, vua Minh Mạng đã đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường các pháo đài phòng hải Tháng 5 -
1820, ngay sau khi lên ngôi vua Minh Mạng đã lệnh cho Lê Chất trông coi công việc sửa đắp đài Trấn Hải Đài Trấn Hải nằm ở phía bắc cửa biển Thuận
An, xây năm Gia Long thứ 12 (1813) Vua Gia Long đã cho đắp đài này để giữ cửa biển Thuận An nhưng lâu ngày sóng vỗ vào bờ làm sụt lở, vì vậy vua Minh Mạng đã cho lấy thêm nhiều cọc gỗ đóng vào rồi lấp lại bằng gạch đá46
Tháng 9 - 1820, vua nhận thấy đất Nghệ An là “nơi núi và biển giăng liền,
thường có nhiều cướp, sai trấn thần xem đất đặt bảo để phòng bị cho nghiêm”47 Tháng 2 - 1823, nhà vua tiếp tục cho di dời đài Điện Hải ở Quảng Nam về nơi kiên cố hơn Đầu thời vua Gia Long đã cho xây đắp đài này nhưng không kiên cố, lại thêm gần sát bờ biển, nước biển xói mòn, ngày càng sụt lở, nên vua Minh Mạng quyết định cho dời đài này về phía nam hơn 50 trượng, chỗ đất cao để củng cố thêm hệ thống phòng thủ bờ biển Đồng thời cho đặt một pháo đài nhỏ phía Đông trạm Nam Chân, gọi là pháo đài Định Hải Sau khi xây xong, vua lệnh cho quân lính đến đóng giữ ở hai đài này48
45
Nguyễn Thị Phương Chi, Trần Thị Hữu Hạnh:“Chính sách bảo vệ vùng biển Đông Bắc
Việt Nam của vua Gia Long và Minh Mạng”,Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9,2011, tr.43.
Trang 35Năm 1825, nhà vua ra Chỉ dụ nêu rõ: “Những chỗ xung yếu ở gần cửa
bể như cửa bể Thuận An, cửa bể Tư Dung không đâu là không lập pháo đài”49
Tháng 3 - 1825, vua ra cửa biển Thuận An xem Trấn Hải đài, lại đến cửa biển Tư Dung, thấy đây là nơi quan yếu của kinh thành mà lại bị phù sa
bồi lấp nên lệnh cho quân lính khơi đào: “Vua nhân nghĩ rằng cửa cảng lệch
về bên tả thì không thể chịu dòng chảy mạnh, tất phải đổi cho chảy theo rìa núi quanh xuống khiến cho thế nước chảy nhanh thì cát mới không ứ đọng nên sai Đô thống chế Tôn Thất Dịch trông coi 3.000 kinh binh mà đào đường cảng khác” 50 Đồng thời nhà vua cho đắp đài phong hỏa ở núi Hãn Môn (tức núi Quy Sơn ở bên tả cửa biển Tư Dung) và dựng đền thần cửa biển Tư Dung51
Tháng 6 - 1826, Phủ thần thừa thiên là Đoàn Văn Trường tâu: “Các
cửa biển Chu Mãi và Cảnh Dương thuộc hạt phủ trước thuộc thủ ngự Hải Vân quan kiêm quản; vả lại một dải ven biển thì Vân Quan, Chu Mãi và Cảnh Dương đều là nơi thuyền ghe thường đậu, khi có thuyền vận tải đường thủy qua lại ngoài biển thì thường do những chỗ ấy nhìn thăm, thế mà phần đất cách nhau đều vài mươi dặm, chợt có việc khẩn cấp phải báo thì bao lần núi non cách trở, chưa dễ thông ngay được, vậy xin ở Chu Mãi đặt riêng Thủ ngự và Hiệp thủ kiêm lĩnh cả cửa biển Cảnh Dương, để việc tuần phòng cửa biển không thiếu sót” Vua y lời tâu cho đặt thủ sở ở Chu Mãi52
Tháng 7 –
1826, vua ra lệnh các quan phải cho dự trữ tiền, gạo và muối ở đài Trấn Hải
và cửa Hải Vân ở Thừa Thiên, đài Điện Hải và pháo đài Định Hải ở Quảng Nam, đều là những nơi hiểm yếu để phòng khi dùng đến53
Tháng 12 - 1827, vua Minh Mạng lại ra lệnh chế kiềm gỗ cấp cho các nơi trấn thủ cửa biển ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Hòa, cửa
Trang 36Phan Thiết ở Bình Thuận, các cửa biển ở Biên Hòa, Định Tường, Hà Tiên, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Nam Định54
Đến tháng 12 - 1828, vua đổi Lai cảng ở trấn Vĩnh Thanh là cửa biển Định An, đặt thủ An Thái
“Nguyên là có một nhánh sông Hậu Giang ở Vĩnh Thanh thông ra biển, cửa
biển có nhiều đảo, phía tả gọi là Lai Cảng, phía hữu gọi cửa biển Mỹ Thanh
Từ trước đến giờ, ở Mỹ Thanh đã lập thủ sở Thanh Hải để giữ Còn Lai cảng chỉ tạm phái người đóng giữa Đến nay thành thần Gia Định cho rằng Lai cảng là nơi xung yếu mà cách Mỹ Thanh cũng xa, tâu xin đổi danh hiệu để đặt thêm thủ sở, lập thủ binh gọi là đội Bình Hải, sai quản thủ mộ người xung vào”55 Tháng 3 - 1829, vua cho đắp hai pháo đài ở Biện Sơn, Thanh Hóa, dựng cột cờ và làm nhà quân Ở pháo đài lớn (Biện Sơn), dựng thêm kho thuốc súng, chở ở Kinh thành ra 4 cỗ đại bác, 8 cỗ đồng bác quá sơn (mỗi cỗ 200 viên đạn) chia để ở đấy56
Năm 1830, đài An Hải ở Quảng Nam, đối ngạn với đài Điện Hải, được xây đắp từ tháng 3 đến tháng 4 thì xây xong Vua lệnh cho quân lính canh phòng nghiêm ngặt, đặt súng, đạn thuốc, lại lấy 2 thuyền ô và 2 thuyền sam bản ở Kinh thành, cho làm thuyền định ngạch của đài Điện Hải Sắc
xuống rằng: “Từ nay về sau, những viên đương lượt án thủ phải cứ những nơi
cần phải phòng hộ ở một dải cửa lạch bờ biển ở vụng Trà Sơn gần đài cùng những thuyền quan hải vận đi về đậu ở cửa biển Đà Nẵng, mà phân phái lính
đi tuần phòng Cùng là thuyền lớn bọc đồng, năm thường đỗ ở cửa biển thì phải cùng với biền binh trong thuyền mà trông coi giữ gìn Nếu làm sai sót thì theo nặng nhẹ mà xử trị Ghi làm lệ mãi mãi”57
Tháng 5 - 1832, bắt đầu đặt Thuận An tấn thủ Tấn thủ là cơ quan quân
sự và thương chính đóng giữ ở bến sông hoặc cửa biển, dưới triều Nguyễn,
Trang 37có chức thủ ngự và tấn thủ làm việc canh phòng và coi quản Xét về địa thế thì cửa biển Thuận An là nơi xung yếu nhất về đường biển ở Kinh thành, vua Minh Mạng đã lệnh cho Bộ Binh bàn bạc về việc giúp đỡ bảo vệ các thuyền công ra vào cửa biển Sau đó, vua hạ lệnh cho thêm thuyền binh, làm 3 bộ neo sắt hạng lớn có đủ dây chão giao cho tấn thủ giữ lấy để dùng58
Tháng 3 - 1833, vua tiếp tục cho xây dựng đài đốt lửa báo tin ở 2 cửa biển Chu Mãi và Tư Dung Lệnh cho quan phủ Thừa Thiên thuê dân làm việc xây dựng59
Tháng 12 - 1835, xây pháo đài Ninh Hải ở tỉnh Khánh Hòa Khánh Hòa là nơi có vùng biển rộng, ven biển lại có nhiều cù lao với bãi biển Nha Trang có mực nước biển sâu, nhiều tàu thuyền neo đậu nên quan tỉnh tâu xin đặt pháo đài để phòng vệ được chắc chắn Vua theo lời tâu, cho xây dựng pháo đài Ninh Hải và đặt súng đại bác, phái quân canh giữ cả 3 mặt đông nam bắc60
Tháng Giêng năm 1840, vua ra lệnh xây đắp lại thành Trấn Hải (Thừa Thiên) cho hoàn chỉnh61 Tháng 7 – 1840, vua cấp 10 chiến thuyền cho đồn đóng giữ cửa biển Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam (thuyền Hải đạo lớn 5 chiếc, thuyền Hải đạo 5 chiếc, đồ vật phụ tùng thuyền, và cái sàn thủy chiến đều đủ) Vua cho lãnh binh chuyên quản hai thành An Hải, Điện Hải, là Lương Văn Liễu nhận giữ để phòng khi sai phái Sau đó, vua lệnh xuống Cơ mật
viện rẳng: “Nay nghe nước Anh-cát-lợi cùng nước Thanh gây hiềm khích, xảy
ra chiến tranh, mà nước ta tiếp liền với cõi nước Thanh, tự trước đến giờ tàu ngoại quốc cũng thường đến đậu ở úc Trà Sơn tỉnh Quảng Nam, cần nên trước khi có việc gia tâm tuần xét để việc phòng bị bờ biển được vững chắc Vậy nên truyền dụ cho tỉnh thần Quảng Nam sức ngay cho Lương Văn Liễu cùng viên coi đồn Đà Nẵng liệu phái người biết việc ngày thường đem kính
Trang 38thiên lý ngồi vào chiếc thuyền nhanh nhẹ ra ngoài biển khơi trông dòm Nếu thấy chiến thuyền đến 3, 4 chiếc trở lên, lập tức báo cho tỉnh biết, tỉnh thần thượng khẩn làm tờ sớ đệ tâu Và phải phái 1 viên quản vệ cơ đem lính tỉnh
500 hay 600 tên đến ngay hội đồng với biền binh trú phòng 2 thành An Hải, Điện Hải, hợp sức lại để phòng hộ, không được để chậm một khắc nào”62
Sau đó, vua cho xây pháo đài Phòng hải ở tỉnh Quảng Nam Vua Minh Mạng nhận thấy vũng Trà Sơn ở đầu cửa biển Đà Nẵng là nơi trọng yếu của bờ biển, công việc phòng bị phải thật chu đáo cẩn mật, nên lệnh cho Hữu tham tri Bộ Công là Nguyễn Công Trứ và Phó vệ úy Loan giá Tôn Thất Tường đi đến nơi xem xét tỉ mỉ những chỗ thuyền lớn bọc đồng có thể neo đậu, nếu có chiến tranh thì nên tăng thêm bao nhiêu lính và đặt thêm bao nhiêu binh khí cho đủ dùng? Khi đi khảo sát về, Nguyễn Công Trứ tâu xin xây pháo đài cho
dễ bề phòng ngự Vua theo lời cho xây pháo đài gọi là “Phòng hải pháo đài”
và lệnh cho Tôn Thất Tường dẫn đầu hai suất đội doanh Thần cơ đem 114 cỗ súng Hồng y, Quá sơn các hạng đến để ở đấy, thí nghiệm từng khẩu thật cẩn thận… Lại lệnh cho Tả tham tri Bộ Lễ gia hàm Tham tri sung biện việc Nội các là Nguyễn Tri Phương quyền thự tuần phủ Nam – Ngãi để lo việc phòng
bị cho chu đáo63
Ngay sau đó, vua cho xây dựng pháo đài Hổ Cơ và bảo Thi Nại ở tỉnh Bình Định Cửa biển Thi Nại là nơi nước sâu núi cao, tàu thuyền thường đi lại và neo đậu, vua Minh Mạng cho rằng đây cũng là chỗ địa đầu xung yếu,
vì vậy lệnh cho các quan lập một pháo đài ở xứ Hổ Cơ và đặt một bảo đắp lũy đất ở gò cát đối ngạn với pháo đài gọi là bảo Thi Nại để chống đỡ với nhau64 Tháng 8 – 1840, vua lại lệnh xuống Bộ Binh: “Một dải Trường Sơn,
nguyên thuộc địa phận hạt Quảng Yên, tỉnh thần phải nên thời thường thăm
Trang 39dò tin tức tâu lên”65 Nơi này vốn xa xôi hẻo lánh, ít được quan tâm, khi đó chỉ có khoảng hơn 200 người Thanh sinh sống ở đấy Bộ Binh sau khi cử người đi thăm dò đã dâng sớ xin vua cho thêm dân đến sinh sống và khai khẩn, như thế vừa đóng giữ vững, vừa cày cấy, binh dân đều tiện… Vua nhận thấy hợp lý nên cho làm như lời tâu66
Có thể thấy, càng về những năm cuối đời, vua Minh Mạng càng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các pháo đài phòng thủ ven biển Sự quan tâm này của nhà vua là hoàn toàn đúng đắn, do tình hình khu vực trong những thập niên 1830, 1840 đã có nhiều biến chuyển khác trước Trước sự đóng cửa của các nước phương Đông, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã đẩy mạnh công cuộc thâm nhập phương Đông bằng biện pháp quân sự, tiêu biểu
là cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất của nước Anh với Trung Quốc năm 1840 – 1843 Chính vì vậy, vua Minh Mạng ngày càng chú ý đến việc tăng cường xây dựng các pháo đài phòng thủ, phát triển quân đội, tàu chiến,
vũ khí… nhằm củng cố tiềm lực quân sự của đất nước, đề phòng sự xâm lược
từ bên ngoài
Cùng với việc xây dựng rất nhiều pháo đài phòng thủ ven biển, vua Minh Mạng cũng cho đúc thêm nhiều vũ khí, đóng hoặc mua thêm tàu thuyền cho quân đội Năm 1821, vua sai đúc 3 khẩu súng đại bác Uy phúc (Uy để chống giặc, phúc ứng điềm lành)67 Tháng 3, vua thăm trường bắn, xem các quân diễn bắn, sai người hàng ngày đến xem, ai bắn trúng thì thưởng (ba ngày 1 lần)68
Tháng 5 – 1821, vua ngự xem diễn tập thủy quân ở sông Hương Lại sai đắp ụ bắn súng ở xã Thanh Phước, sai tướng sĩ thủy bộ hàng ngày diễn tập và nhiều lần đến xem69 Đến tháng 6, lại cho đặt trường đúc
Trang 40súng Tháng 11 – 1832, vua ra lệnh định rõ số ngạch các thuyền cho 6 tỉnh Nam Kỳ
Tháng 4 – 1839, vua Minh Mạng cho tiến hành thí nghiệm đóng tàu chạy máy hơi nước Vua khen ngợi các quan và thợ đã có công làm cho tàu chạy nhanh và máy tốt Tháng 5 - 1839, vua đề nghị làm thêm cho kinh và các tỉnh 50 chiếc thuyền vận tải đường biển (ở kinh và Nghệ An mỗi nơi đều
6 chiếc, các tỉnh khác tùy theo quy định Lệ trước mỗi chiếc trên dưới chở được 17 vạn cân, nay sai đóng rộng thêm có thể chở được 20 vạn cân) Vua
nói với các quan rằng: “Vận tải đường biển là một việc rất gian lao, nhưng
nước ta phía sau tựa vào núi, phía trước trông ra biển, việc đi biển không thể không tranh thủ lấy cái nghề sở trường của mình Nếu đi bộ 5 ngày thì đường thủy chỉ một lèo buồm là tới Trẫm sở dĩ để ý đến việc thuyền là muốn cho quan tỉnh của ta tập quen đường thủy để phòng về lâu dài, không phải chỉ chuyên về việc vận lương hàng năm mà thôi”70 Tháng 10, vua lệnh cho chế thêm một chiếc tàu máy lớn, phí tổn hơn 11.000 quan tiền Vua truyền cho
Bộ Hộ: “Ta muốn công tượng nước ta đều biết tập nghề máy móc, vậy nên
không kể phí tổn”71
Ngoài việc cho đóng thêm tàu thuyền ở trong nước, vua Minh Mạng còn cử người đi mua tàu thuyền cùng vũ khí từ nước ngoài, kết hợp với việc thăm dò động tĩnh của các nước phương Tây qua các thuộc địa của họ ở phương Đông Tháng 2 - 1823, vua sai Cai cơ Ngô Văn Trung và Tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng chia ngồi thuyền hai hiệu Bình Ba, Định Lãng đi Hạ
Châu Mục đích của chuyến đi được vua Minh Mạng nói rõ: “Chuyến đi này
không phải để mua hàng hóa, chính là muốn biết núi sông phong tục nhân vật của nước ngoài Bọn ngươi đến nơi phải xem kỹ la bàn, ghi chép rõ ràng cho biết phương hướng”72 Trong 20 năm trị vì của mình, vua Minh Mạng đã