Tuy nhiên saumột thời gian hoạt động, chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội đã có sự giảm sútđáng kể về các khía cạnh như phương tiện, hệ thống cơ sở hạ tầng trên
Trang 1DANH MỤC VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG 3
1.1 Tổng quan chung về vận tải hành khách công cộng 3
1.1.1 Một số khái niệm về vận tải và vận tải hành khách trong đô thị 3
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong đô thị 4
1.2 Tổng quan về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng 5
1.2.1.Chất lượng 5
1.2.2 Dịch vụ 5
1.2.3 Chất lượng dịch vụ vận tải 5
1.3 Các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt 6
1.3.1 Các chỉ tiêu 6
1.3.2 Các tiêu chí 9
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt 10
1.4.1 Nhóm các yếu tố về cơ sở hạ tầng 11
1.4.2 Nhóm các yếu tố về con người 11
1.4.3 Nhóm các yếu tố về kỹ thuật 3
1.4.4 Nhóm các yếu tố khác 3
1.5 Các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng 3
1.5.1 Phương tiện 3
1.5.2 Con người 3
1.5.3 Công tác tổ chức quản lý và điều hành 3
1.5.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng 3
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG TRÊN TUYẾN BUÝT 13 BẾN XE KIM MÃ – CỔ NHUẾ (HVCS) 3
2.1 Hiện trạng mạng lưới của VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội 3
2.2 Tổng quan về xí nghiệp buýt 10-10 3
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển xí nghiệp buýt 10-10 3
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp xe buýt 10-10 3
2.2.3 Tình hình lao động và phương tiện của xí nghiệp 3
2.2.4 Quy mô xưởng sửa chữa của xí nghiệp 20
2.2.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp 20
2.2.6 Điều kiện khai thác vận tải của xí nghiệp 3
2.2.7 Định hướng phát triển của xí nghiệp 3
Trang 2Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS) 3
2.3.1 Giới thiệu chung về tuyến buýt 13 3
2.3.2 Tình hình sản xuất kinh doanh trên tuyến 3
2.3.3 Sự biến động về luồng hành khách trên tuyến 3
2.3.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên tuyến 3
2.3.5 Tình hình chất lượng phương tiện trên tuyến 3
2.3.6 Hiện trạng về thông tin hành khách trên tuyến 3
2.4 Đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên tuyến 3
2.4.1 Đánh giá các tiêu chí về không gian 3
2.4.2 Đánh giá các tiêu chí về thời gian 3
2.4.3 Tiêu chí về an toàn, tin cậy, thuận tiện 51
2.4.4 Một số tiêu chí khác 53
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH TRÊN TUYẾN XE BUÝT 13 3
3.1 Những căn xây dựng phương án 3
3.1.1 Định hướng phát triển VTHKCC bằng xe buýt của Hà Nội đến năm 2010 và đến năm 2020 3
3.1.2 Căn cứ vào mục tiêu sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp 10 – 10 3
3.2 Xây dựng và đề xuất các phương án cải thiện chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên tuyến buýt 13: Bến xe Kim Mã - Cổ Nhuế (HVCS) 60
3.2.1 Sự cần thiết để đề xuất phương án 60
3.2.2 Nhóm giải pháp về phương tiện 60
3.2.3 Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng 63
3.2.4 Nhóm giải pháp về cải thiện thông tin hành khách trên tuyến 3
3.3 Đánh giá các phương án 3
3.3.1 Phương án về phương tiện 3
3.3.2 Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng 70
3.3.3 Nhóm giải pháp về cải thiện thông tin hành khách trên tuyến 70
3.4 So sánh lựa chọn phương án 70
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 1
Trang 3VTHKCC : Vận tải hành khách công cộng UBND : Ủy Ban Nhân Dân
QL&ĐHGTĐT : Quản lý và điều hành giao thông đô thị
UB : Ủy ban HVCS : Học viện cảnh sát
HK : Hành Khách GTCL : Giá trị còn lại GTVT : Giao thông vận tải
Trang 4Bảng 2.1 Tình hình lao động của xí nghiệp 3
Bảng 2.2 Tình hình phương tiện của xí nghiệp 3
Bảng 2.3 Phân loại xe theo từng tuyến 3
Bảng 2.4 Tình hình vốn và tài sản của xí nghiệp qua các năm 3
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp 3
Bảng 2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh trên tuyến buýt 13 Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS) 3
Bảng 2.7 Lượng hành khách vận chuyển của tuyến buýt 12 (Kim Mã – Văn Điển) 3
Bảng 2.8 Biến động luồng hành khách theo giờ cao điểm và giờ thấp điểm……… 29
Bảng 2.9 Biến động luồng hành khách theo chiều đi : Bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS) 3
Bảng 2.10 Biến động luồng hành khách theo chiều về :Cổ Nhuế (HVCS) - Bến xe Kim Mã 3
Bảng 2.11 Hiện trạng điểm dừng đỗ trên tuyến 13 3
Bảng 2.12 Khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ (chiều đi Bxe Kim Mã – Cổ Nhuế) 3
Bảng 2.13 Tuyến đường mà xe buýt 13 đi qua 3
Bảng 2.14 Thông số kĩ thuật xe buýt Transinco B30 3
Bảng 2.15 Thực tế tốc độ kĩ thuật trên tuyến 3
Bảng 3.1: Kế hoạch vận chuyển hành khách bằng xe buýt cho 2 phương án vận chuyển đến năm 2010 3
Bảng 3.2: Kế hoạch vận chuyển hành khách bằng xe buýt cho 2 phương án vận chuyển đến năm 2020 3
Bảng 3.3 Kế hoạch sản xuất vận tải năm 2009 của xí nghiệp 3
Bảng 3.4 Kế hoạch vận chuyển năm 2009 trên tuyến buýt 13: Bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS) 3
Bảng 3.4 Cơ cấu đoàn phương tiện trước và sau khi thực hiện phương án 3
Bảng 3.5 : Các thông số kỹ thuật của từng loại mác xe 3
Trang 5Sơ đồ 2.1 : Mô hình tổ chức quản lý 3
Hình 2.1 Xe buýt 13 Bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế 3
Hình 2.2 Lộ trình tuyến 13: Bến xe Kim Mã - Cổ Nhuế (HVCS) 3
Hình 2.3 Biểu đồ so sánh tổng hành khách vận chuyển của tuyến 13 với tuyến 12………26
Hình 2.4 Biểu đồ so sánh doanh thu của tuyến buýt 13 với xí nghiệp buýt 10 - 10 3
Hình 2.5 Lộ trình tuyến 13 cũ: Bến xe Kim Mã – Bến xe Mỹ Đình 3
Hình 2.6 Lộ trình tuyến 13 mới: Bến xe Kim Mã - Cổ Nhuế (HVCS) 3
Hình 2.7 Biểu đồ so sánh lưu lượng hành khách giờ cao điểm, giờ thấp điểm ở 2 chiều 3
Hình 2.8 Biểu đồ biến động luồng hành khách theo theo không gian chiều đi 3
Hình 2.9 Biểu đồ biến động luồng hành khách theo theo không gian chiều về 3
Hình 2.10 Bến xe Kim Mã 3
Hình 2.11 Bến đỗ xe khu tập thể học viện cảnh sát (Cổ Nhuế) 3
Hình 2.12 Điểm dừng xe buýt tại Tổ 8 Cầu Diễn 3
Hình 2.13 Điểm dừng khu tập thể Học viện cảnh sát nhân dân 3
Hình 2.14 Đường Kim mã 3
Hình 2.15 Đường Nguyễn Khánh Toàn 3
Hình 2.16 Đường Nguyễn Văn Huyên 3
Hình 2.17 Đường Trần Quốc Hoàn 3
Hình 2.18 Đường Phạm Văn Đồng 3
Hình 2.19 Đường Hồ Tùng Mậu 3
Hình 2.20 Đường khu 3 Cầu Diễn 3
Hình 2.21 Hình chụp xe buýt 13 ngày 09/03/2009 3
Hình 2.22 Ảnh tại đầu bến Cổ Nhuế và trên xe buýt 13 3
Hình 2.23 Xe quay đầu tại cầu Diễn 3
Hình 2.24 Hiện tượng mở cửa kính khi xe đang đi trên tuyến buýt 13 3
Hình 2.25 Thông tin cho hành khách không có tại điểm đầu 3
Hình 3.1 Vị trí điểm dừng tập thể học viện cảnh sát nhân dân trước khi di chuyển 3
Hình 3.2 Vị trí điểm dừng tập thể học viện cảnh sát nhân dân sau khi di chuyển 3
Hình 3.3 Vị trí các điểm dừng tại tổ 9, tổ 8 và doanh trại quân đội - phương án cũ 3
Hình 3.4 Vị trí các điểm dừng tại tổ 9, tổ 8 và doanh trại quân đội - phương án mới 3
Hình 3.5 Điểm dán thông tin về lộ trình tuyến, vị trí điểm dừng trong xe buýt 13 3
Trang 6Hiện nay nhu cầu đi lại ở các đô thị là rất lớn mà chủ yếu là sử dụng các phương tiện cánhân( xe máy, ôtô) gây nên sự ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, ô nhiễm môi trường và chi phí
đi lại cho chuyến đi là lớn Đòi hỏi các nhà quản lý giao thông cần phải có chính về tổ chức quảnlý giao thông trong thành phố hợp lý để đảm bảo giao thông trong thành phố.Việc phát triển Vậntải hành khách công cộng( VTHKCC) dùng các phượng tiện có sức chứa lớn để thay thế chophương tiện cá nhân sẽ làm giảm phương tiện lưu thông trên đường, giảm ùn tắc giao thông, tiếtkiệm chi phí đi lại, giảm ô nhiễm môi trường
Tành phố Hà Nội sau khi được mở rộng thì vấn đề về giao thông ngày càng trở lên đăcbiệt quan trọng, nó không những ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nộithành mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của các khu vực ngoại thành Chính vì vậy thành phố HàNội coi VTHKCC bằng xe buýt là ưu tiên hàng đầu vì các lợi ích mà nó đem lại Tuy nhiên saumột thời gian hoạt động, chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội đã có sự giảm sútđáng kể về các khía cạnh như phương tiện, hệ thống cơ sở hạ tầng trên tuyến, nhà chờ, thông tincho hành khách, lộ trình tuyến… Sự giảm sút chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt là mộttrong nhiều nguyên nhân khiến nhiều người còn e ngại khi lựa chọn loại hình phương thức này Vìvậy để thu hút nhiều hành khách lựa chọn xe buýt làm phương tiện đi lại hàng ngày thì bên cạnhviệc phát triển mạng lưới VTHKCC bằng xe buýt thì chúng ta cũng phải đưa ra các giải pháp cảithiện chất lượng dịch vụ VTHKCC trên các tuyến đang hoạt động
Đề tài nghiên cứu: Cải thiện chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên tuyến 13: bến xe Kim Mã – Học Viện Cảnh Sát Nhân Dân của xí nghiệp xe buýt 10-10 nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ trên tuyến để phục vụ nhu cầu đi lại của hành khách, từ
đó thu hút ngày càng đông đảo người dân sử dụng phương tiện VTHKCC thay cho phương tiện cánhân; đồng thời góp phần tiết kiệm chi phí vận tải và chi phí xã hội
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu: Tuyến xe buýt 13 Bến xe Kim Mã — HVCS nhân dân.
- Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách trên tuyến như: sự thoải mái, mức độ
an toàn, tiện nghi, …
- Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộngtrên tuyến xe buýt 13: cơ sở hạ tầng, về phương tiện, thái độ lái phụ xe với hành khách
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu và đánh giá tình hình hoạt động cũng như chất lượngdịch vụ VTHKCC bằng xe buýt trên tuyến số 13
- Số liệu phân tích và đánh giá được thu thập trong 3 năm trở lại đây
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu tổng thể.
Trang 7buýt 13.
Mục tiêu cụ thể.
* Điều tra, khảo sát hiện trạng tuyến buýt 13
- Khảo sát hiện trạng cơ sở hạ tầng tuyến: điểm đầu cuối, nhà chờ, phương tiện
- Điều tra, khảo sát hiện trạng chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt 13
* Đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên tuyến buýt 13
* Đề xuất phương án cải thiện chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng đối vớituyến buýt 13
Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp và quy trình thu thập dữ liệu.
* Từ nguồn tài liệu sẵn có:
- Tìm hiểu qua trung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị Hà Nội, xí nghiệp xe buýt10-10
- Các tài liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tảihành khách công cộng trên tuyến: tìm hiểu thông qua các tài liệu sẵn có như SGK, tham khảo đồ
án tốt nghiệp các năm trước
* Thu thập số liệu thực tế:
- Điều tra khảo sát thực tế, lập bảng biểu hỏi hành khách…về chất lượng dịch vụ trên tuyến
số 13
c) Xử lý và phân tích dữ liệu
Soạn thảo văn bản bằng phần mềm Microsoft Word, xử lý số liệu bằng Excel
Nội dung báo cáo của đồ án.
Chương I: Tổng quan về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng
Chương II: Hiện trạng chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên tuyến xe buýt13
Chương III: Đề xuất các phương án cải thiện chất lượng dịch vụ vận tải hành khách côngcộng trên tuyến xe buýt 13
Do hạn chế về trình độ và điều kiện khảo sát thực tế ít, tuy đã cố gắng nhưng không tránhkhỏi những thiếu sót trong báo cáo của đồ án, kính mong sự chỉ bảo của thầy cô Em xin chânthành cám ơn sự chỉ bảo tận tình và quý báu của cô Nguyễn Thị Bình, cùng các thầy cô trongViện Quy Hoạch Và Quản Lý GTVT trường ĐH GTVT HN đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 8CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG
1.1 Tổng quan chung về vận tải hành khách công cộng.
1.1.1 Một số khái niệm về vận tải và vận tải hành khách trong đô thị.
a Khái niệm vận tải:
Vận tải là quá trình thay đổi vị trí của hàng hóa và hành khách trong không gian vàthời gian xác định tùy theo từng phương thức vận tải nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của conngười
b Khái niệm về đô thị:
Trong quá trình phát triển các xã hội loài người , do sự phân công lao động xã hội nênmột bộ phận lao động tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp ( phi nông nghiệp ) để làm các nghềthủ công buôn bán , dịch vụ và quản lý xã hội Những lao động này và gia đình họ sống tậptrung trong các điểm dân cư, lao động và sinh sống theo hình thức mới Từ đó điểm dân cư đôthị đã được hình thành và phát triẻn nhanh chóng trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuấtxã hội qua cách mạng công nghiệp và khoa học kỹ thuật
Vậy đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nôngnghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên nghành hay tổng hợp , có vai trò thúc
đẩy phát triển kinh tế, xã hội của cả nước hay một vùng lãnh thổ.
c Khái niệm vận tải hành khách trong đô thị.
- Vận tải hành khách là một hoạt động, trong đó sự vận chuyển là một dịch vụ mà Nhànước, doanh nghiệp cung cấp cho hành khách, và hành khách phải trả chi phí cho sự vậnchuyển đó theo quy định
- Theo Bộ giao thông vận tải thì vận tải hành khách công cộng là tập hợp các phươngthức, phương tiện vận tải, vận chuyển hành khách đi lại trong thành phố ở cự ly nhỏ hơn50km và có sức chứa lớn hơn 8 hành khách (không kể lái xe)
- Vận tải hành khách công cộng là hệ thống vận tải với các tuyến đường và lịch trình cốđịnh, có sẵn để phục vụ nhu cầu của mọi đối tượng chấp nhận chi trả mức giá đã quy định
- Vận tải hành khách bán công cộng là hệ thống vận tải mà các phương tiện vận hànhtheo nhu cầu của người có nhu cầu đi lại và nhận chi trả một mức giá với nhà vân chuyển
- Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là một loại hình vận tải hành khách côngcộng có thu tiền cước theo qui định ,hoạt động theo một biểu đồ vận hành và hành trìnhqui định để phục vụ nhu cầu đi lại hàng ngày của nhân dân trong nội đô thị
d Khái niệm mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng
Trang 9Mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng là tập trung toàn bộ các tuyến vận tải hành khách công cộng trong đô thi
Để đánh giá mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng cần phải xuất phát trướchết từ quan điểm phục vụ hành khách và hiệu quả phương tiện Trong cấu trúc hệ thống vậntải hành khách công cộng, khi phân chia theo loại hình vận tải có vận tải sức chứa lớn (vận tải
xe bus, vận tải đường sắt) và vận tải sức chứa nhỏ (xe lam, xích lô, xe thô sơ) Trong điềukiện hiện nay của thủ đô Hà Nội , loại hình vận tải hành khách công cộng phù hợp là vận tảibằng xe bus Công cộng hóa phương tiện đi lại bằng xe bus hiện nay được coi là giải pháp tốtcho giao thông đô thị
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong đô thị
a Đặc điểm của vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
Với sự phát triển chóng mặt của các phương tiện cá nhân như xe máy, ô tô đã dẫn đếntình trạng tắc nghẽn, tai nạn, ô nhiễm Trước tình trạng đó xe buýt ra đời được xem như làmột sự tiến bộ của xã hội ở đô thị
* Ưu điểm chính của xe buýt:
- Có tính cơ động cao, không phụ thuộc vào mạng dây dẫn hoặc đường ray, không cảntrở và dễ hoà nhập vào hệ thống giao thông ,đường bộ trong thành phố
- Khai thác, điều hành đơn giản, có thể điều chỉnh nhanh chóng chuyến lượt, thay xetrong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến
- Có chi phí đầu tư tương đối thấp so với các phương tiện vận tải hành khách côngcộng hiện đại Cho phép tận dụng mạng lưới đường hiện tại của thành phố Chi phí vậnchuyển thấp, nhanh chóng đem lại hiệu quả
* Nhược điểm của vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
- Trong khai thác đôi khi không thuận lợi do thiếu thiết bị, do dừng xe ở bến, thiếu hệ
thống thông tin… nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi về tiện nghi, độ tin cậy….
- Động cơ đốt trong có cường độ gây ra ô nhiễm cao do: khí xả, bụi, hoặc nhiên liệu vàdầu nhờn chảy ra, ngoài ra còn gây tiếng ồn và chấn động
- Năng lực vận chuyển không cao, năng suất vận chuyển thấp tốc độ khai thác còn thấp(15- 16 km/h ) so với xe điện bánh sắt, xe điện ngầm… khả năng vận tải thấp trong giờ caođiểm vì dùng bánh hơi
b vai trò của vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong đô thị.
Vận tải xe buýt là một trong những yếu tố quan trọng nhất của vận tải hành khách công cộng trong đô thị nó đang là hình thức phát triển của thành phố Do các vai trò sau chủ yếu sau:
Trang 10- Vận tải bằng xe buýt trong đô thị là biện pháp hữu hiệu để giảm mật độ phương tiện giao thông trên đường, nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Vì việc mở rộng lòng đường trong đô thị là rất khó khăn do quỹ đất dành cho giao thông ít và chi phí đền bù giải phóng mặt bằng cao nên sử dụng xe buýt trong đô thị sẽ làm giảm mật độ lưu thông trên đường và giảm diện tích chiếm dụng mặt đường
- Ngoài chức năng vận chuyển độc lập nhờ tính năng cơ động, xe buýt còn được sử dụng như là một phương tiện tiếp chuyển và vận chuyển kết hợp với các phương thức vận tải khác trong hệ thống vận tải hành khách công cộng trong thành phố cũng như hệ thống vận tải đối ngoại của đô thị
- Sử dụng xe buýt còn góp phần tiết kiệm chi phí chung cho toàn xã hội (chi phí đầu tư phương tiện ,chi phí thời gian lãng phí do tắc nghẽn đường,,,)
- Ngoài ra xe buýt còn có vai trò giảm ô nhiễm môi trường, giảm khối lượng khí thải được thải vào không khí, bảo vệ sức khoẻ, hạn chế tai nạn giao thông cho người dân
- Xe buýt rút ngắn thời gian đi lại cho hành khách từ đó sẽ tăng thời gian lao động thực tế và thời gian nghỉ ngơi
- Xe buýt là điều kiện cho sự phát triển của giao thông đô thị ở trình độ cao, nó liên kết các khu dân cư trong đô thị
Vì vậy để cho xe buýt hoạt đông tốt và trở thành phương tiện đi lại hành ngày không thể thiếu được của người dân trong đô thị thì phương tiện thường xuyên phải được bảo dưỡng,sửa chữa và nâng cao chất lượng dịch vụ trên xe nhằm đem lại sự thoải mái, tiện nghi cho hành khách
1.2 Tổng quan về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng.
1.2.1.Chất lượng.
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn
1.2.2 Dịch vụ.
Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng
và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
1.2.3 Chất lượng dịch vụ vận tải.
- Quan điểm về chất lượng dịch vụ vận tải:
Trong kinh tế học hiện đại: Ngành vận tải được xếp vào loại ngành sản xuất dịch vụ, sảnphẩm vận tải là sản phẩm dịch vụ.Khi đó chất lượng dịch vụ vận tải được đánh giá trên 3 yếu
tố cấu thành, đó là: Dịch vụ đầu cuối, quá trình vận chuyển và dịch vụ cung cấp trong quátrình vận chuyển
Trang 11Quá trình vận chuyển là giai đoạn dịch chuyển hành khách hoặc hàng hoá từ nơi xuấtphát đến đích Các chỉ tiêu đánh giá trong giai đoạn này là: chính xác về mặt thời gian, độchính xác về mặt không gian, an toàn và tốn hao năng lượng.Trong đó chỉ tiêu an toàn đượcchú trọng nhất.
Dịch vụ đầu cuối là toàn bộ công tác phục vụ hành khách (hàng hoá) trước và sau quátrình vận chuyển, cũng như toàn bộ các dịch vụ liên quan (bán vé, đặt giữ chỗ, ký kết hợpđồng, đóng gói bao kiện…).Trong vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ta thường thấy
là việc thuận tiện cho việc lên xuống cho hành khách, đi về đúng giờ theo lộ trình tuyến… Dịch vụ cung cấp trong quá trình vận chuyển là tất cả các dịch vụ thương mạicũng như dịch vụ kỹ thuật cung cấp cho khách hàng trong quá trình vận chuyển Tathường gặp những dịch vụ này trong vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt như:thông tin về điểm dừng đỗ kế tiếp, sử dụng điều hòa…
Việc đánh giá mang tính tổng hợp và toàn diện Tất cả các khâu, bộ phận hay dịch vụtham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất vận tải đều được đề cập đến trong việcđánh giá chất lượng dịch vụ vận tải
- Chất lượng dịch vụ vận tải: Chất lượng dịch vụ vận tải là một tập hợp những tính chất
của dịch vụ vận tải hành khách có khả năng làm thoả mãn nhu cầu đi lại của người tiêu dùng,phù hợp với công dụng hay mục đích của dịch vụ vận tải đó
1.3 Các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
1.3.1 Các chỉ tiêu.
a Các chỉ tiêu về không gian.
Khi hành khách sử dụng vận tải hành khách công cộng thì mục đích của họ là đi đển cácnơi mà họ cần đến mà tuyến đi qua Chỉ tiêu này thể hiện việc đón trả khách đúng địa điểm
mà nhà vận tải đã cam kết Chính vì vậy mà cần phải bố trí các điểm dừng đỗ hợp lý, thuậntiện cho đa số hành khách và ở gần các nơi thu hút mà tuyến đi qua
Để phản ánh chỉ tiêu về không gian có thể dùng các chỉ tiêu sau:
Tổng lượt xe thực hiện
Số lần đón trả khách không đúng nơi quy định
Một chuyến xe
Trang 12b Các chỉ tiêu về thời gian.
Chỉ tiêu này tức là đảm bảo đúng thời gian chuyến đi cho hành khách Tính nhanhchóng, kịp thời chính là một tiêu chí để hành khách lựa chọn loại hình vận tải vì trong thời đạicông nghiệp hiện nay yếu tố thời gian là rất quan trọng, tiết kiệm thời gian chuyến đi chohành khách được thể hiện ở tính kinh tế Điều này buộc các nhà cung cấp phải lựa chọnphương tiện và tính toán để rút ngắn thời gian một chuyến đi Tuy nhiên, trong điều kiện thựctế thì thời gian một chuyến đi còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như: giờ cao điểm, điềukiện đường sá… Để xác định thời gian chuyến đi người ta dùng vận tốc lữ hành, bằng quãngđường chia cho thời gian (gồm thời gian lăn bánh và thời gian dừng dọc đường)
Tính kịp thời được tính từ lúc xuất hiện ý định cho đến lúc thực hiện được chuyến đi.Còn tính nhanh chóng được thể hiện ở thời gian một chuyến đi của hành khách thời gian nàyđược xác định bằng phương pháp O-D để so sánh chi phí về mặt thời gian giữa vận chuyểnbằng xe bus và các phương tiện vận chuyển khác
Vì vậy ta có một giới hạn đối với từng chỉ tiêu: Thời gian vận chuyển, tính kịp thời, tínhnhanh chóng
Ta có thể phản ánh chỉ tiêu thời gian như sau:
K21 = Thời gian xuất bến muộn bình quân so với thời gian biểu quy định (phút/chuyến)(1.3)
K22 = Thời gian về bến muộn bình quân so với thời gian biểu quy định (phút/chuyến)(1.4)
+ Thời gian phương tiện chạy một chuyến được tính :
tch = tđc + tlb + tdd
Trong đó: tđc:thờigian điểm đầu (cuối)
tlb: thời gian phương tiện lăn bánh
tdd: thời gian dừng đỗ
c Các chỉ tiêu về an toàn, tin cậy, thuận tiện.
* An toàn
An toàn luôn được đặt ra trong mọi quá trình sản xuất, vì khi xảy ra mất an toàn sẽlàm hao phí về mặt thời gian, làm tổn thất đến con người và vật chất Đặc biệt đối với ngànhvận tải hành khách khi đối tượng phục vụ của nó là con người thì vấn đề an toàn càng cầnphải được chú ý hơn Do vậy nếu không có sự an toàn thì sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng vềcon người và vật chất
Chỉ tiêu an toàn là chỉ tiêu đầu tiên và quan trọng nhất khi hành khách lựa chọn hìnhthức đi lại bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn về tính mạng cũng như tài sản của họ Đồng
Trang 13thời nó cũng là chỉ tiêu cho các nhà quản lý vĩ mô nghiên cứu đưa ra các giải pháp phù hợpnhằm nâng cao mức độ an toàn của vận chuyển, tránh đi những rủi ro cho hành khách khi họtham gia sử dụng sản phẩm vận tải.
Tính an toàn thể hiện ở sự đảm bảo về tính mạng, tài sản, sức khỏe của hành kháchtrên phương tiện và các công trình , con người, vật trên đường mà phương tiện đi qua Ngàynay với việc phát triển của đời sống xã hội thì vấn đề an toàn khi sử dụng phương tiện vận tảihành khách công cộng phải càng được chú trọng và nâng cao
Để xem xét đánh giá chính xác các chỉ tiêu phản ánh về an toàn ta cần xem xét các yếu
- Các tính năng kỹ thuật và kết cấu của phương tiện: đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏđến sự an toàn Có rất nhiều vụ tai nạn giao thông đáng tiếc xảy ra là do phương tiện khôngđảm bảo an toàn như: Xe bị đứt phanh, nổ lốp, hoặc mất lái… ngoài ra các đặc tính kỹ thuậtcủa phương tiện còn góp phần tạo nên chất lượng phục vụ trong suốt quá trình vận chuyển.Các bộ phận của xe như ghế ngồi, sự bố trí số lượng ghế trên xe, số lượng cửa sổ, số cửa lênxuống xe, bậc cửa lên xuống, bộ phận giảm sóc của xe, thiết bị bổ trợ trên xe như máy lạnh,đài, vô tuyến, độ thông thoáng, êm dịu… làm tăng thêm tính tiện nghi Ghế ngồi phải đúngtiêu chuẩn, có thể tạo nên nhiều trạng thái cho hành khách, không khí trên xe như thế nào, cómùi xăng không
+ Thuận tiện cho hành khách mua vé khi lên xe
+ Thuận tiện về mặt thông tin cho hành khách như có các bảng chỉ dẫn lộ trình tuyến ởtrên xe, các điểm dừng đỗ
+ Tính năng kỹ thuật phương tiện Thể hiện ở sự bố trí và số lượng ghế ngồi trên xe,cửa sổ, cửa lên xuống và các thiết bị trên xe Đối với các xe bus hoạt động trong thành phố th́
Trang 14tính năng kết cấu phương tiện lại khác như số ghế ngồi chiếm ít (khoảng 1/3 diện tích sàn xe)
vì xe bus phục vụ với cự ly ngắn, cửa lên xuống nhiều hơn, chiều rộng cửa, số bậc lên xuống,khoảng cách từ bậc cuối tới mặt đất hợp lý ( thấp) để cho hành khách lên xuống thuận tiện
+ Thuận tiện cho hành khách đi tới các điểm dừng đỗ như: cự ly đi tới điểm dừng đỗphù hợp với cự ky đi lại trung bình của người dân Việt Nam (400m - 600m)
+ Thuận tiện về mặt thời gian thể hiện các khía cạnh như giờ xuất phát và giờ đến củacác phương tiện phải phù hợp với nhịp sinh hoạt hàng ngày đảm bảo thời gian, không sai lệch
so với thời gian đã thông báo
+ Thuận tiện khi vận chuyển bằng phương tiện Chính là lái xe không được đỗ dừngngoài các vị trí, các điểm dừng cố định Trên xe phải có các thiết bị liên lạc giữa người lái xe
và hành khách Tính thuận tiện khi di chuyển chịu ảnh hưởng vào độ tin cậy của phương tiện.Phương tiện trong quá trình vận chuyền không được hư hỏng, khi hư hỏng phải sửa chữa kịpthời hoặc có biện pháp bố trí xe khác đến thay thế
d Một số chỉ tiêu không lượng hoá được.
Với phương tiện vận chuyển bằng xe buýt trong thành phố có rất nhiều yếu tố khó cóthể lượng hoá được như: thái độ niềm nở, lịch sự với khách hàng của nhân viên lái phụ xe, độthông thoáng, êm dịu của phương tiện mà khách hàng cảm nhận được khi đi phương tiện…
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt rất phức tạp,bao gồm cả chỉ tiêu định tính và định lượng Cho nên ta không thể tiêu chuẩn hoá dựa trênviệc đo lường các chỉ tiêu chất lượng đó
1.3.2 Các tiêu chí.
Việc đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng vận tải hành kháchcông cộng là rất khó khăn phức tạp, không thể đánh giá trực tiếp mà phải gián tiếp thông quamột số chỉ tiêu dựa trên cơ sở các tiêu chí phục vụ Hiện nay vận tải hành khách công cộngbằng xe bus tại Hà Nội đang áp dụng các tiêu chí phục vụ
a Xe chạy đúng tuyến, đón trả khách đúng điểm dừng.
Tức là xe chạy với đúng lộ trình tuyến đã quy định, đảm bảo thời gian đi lại của hànhkhách Khi tham gia giao thông xe buýt phải dừng đúng điểm dừng đỗ trên lộ trình tuyến,không bỏ bến, bỏ khách khi phương tiện vẫn còn sức chứa Việc thực hiện xe chạy đúng tuyến
và đón trả khách đúng điểm dừng đỗ thể hiện tính chính xác về không gian tuyến hoạt động
Và nó đem lại độ tin cậy cho hành khách lựa chọn hình thức vận tải này
b Bán đúng giá vé, xé vé khi thu tiền.
Giá vé đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định lựa chọn phương tiệncủa hành khách Giá vé là tiêu chí để so sánh chất lượng mà người tiêu dùng được hưởng vớichi phí mà họ bỏ ra để hưởng chất lượng sản phẩm đó Giá vé phải được tính toán phù hợp
Trang 15với thu nhập bình quân của người dân, và tiết kiệm hơn so với các hình thức vận tải khác Bánđúng giá vé và xé vé khi thu tiền của nhân viên bán vé là cần thiết, tuân thủ đúng với quy địnhcủa nhà nước, của doanh nghiệp vận tải.
c Phục vụ văn minh, an toàn.
Thái độ phục vụ của nhân viên lái phụ xe với hành khách là rất cần thiết Là mộttrong những tiêu chí quan trọng để xây dựng hình ảnh nhân viên lái phụ xe lịch sự trong ứngxử, giao tiếp với hành khách Trung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị đã lập đườngdây nóng để hành khách có thể phản ánh những thiếu sót và những tiêu cực trong quá trình dichuyển bằng phương tiện vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là thái độ phục vụ của lái xe
và phụ xe
Thái độ niềm nở, nhiệt tình của nhân viên lái, phụ xe là nhân tố làm tăng cảm giác dễchịu, thoải mái của hành khách vì vậy thái độ phục vụ văn minh, lịch sự là một tiêu chí phảnánh chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên xe buýt
Dịch vụ vận tải an toàn, thuận tiện được hiểu là chuyến đi được cung ứng cho hànhkhách đảm bảo mức độ an toàn cao cũng như khả năng tiếp cận với xe buýt là rất dễ dàng
Chỉ tiêu này được thể hiện trong các quy định về an toàn đối với người lái xe buýt khitham gia giao thông của tổng công ty vận tải và dịch vụ công cộng
- Người lái xe buýt không phóng nhanh, vượt ẩu, vượt đèn đỏ
- Không lạng lách, đánh võng, chèn ép các phương tiện giao thông khác
- Không sử dụng còi hơi, không bấm còi inh ỏi tại những nơi đông người hoặc khuvực đông dân cư
- Không ra vào điểm dừng đỗ đột ngột, khởi hành khi hành khách chưa lên xuống hết
- Không sử dụng đèn chiếu xa trong nội đô vào ban đêm
- Không mở cửa lên xuống khi xe đang chạy
- Không sử dụng rượu bia khi điều khiển phương tiện
d Chở đúng đối tượng, không chở hàng hóa, gia súc, hành lý cồng kềnh
Hình thức vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ra đời nhằm phục vụ nhu cầu đilại của người dân trong đô thị nên cần đảm bảo chở đúng đối tượng Việc chở không đúng đốitượng, những hành khách là người đi buôn, hành lí cồng kềnh, không sạch sẽ, gia súc sẽ làmảnh hưởng đến hành khách đi xe buýt, làm ảnh hưởng đến văn minh xe bus, gây mất lòng tincủa người dân với hình thức vận tải công cộng
Đối với các tiêu chí trên, để đánh giá được người ta thường tiến hành điều tra bằngphương pháp phỏng vấn trực tiếp hành khách đi trên tuyến Với mỗi tiêu chí, các nhà điều tra
Trang 16đưa ra các thang điểm để đánh giá về mức độ hài lòng của hành khách và trên cơ sở đó đưa racác ý tưởng nâng cao chất lượng phục vụ của VTHKCC trong tương lai
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt Việc
phân loại nhân tố ảnh hưởng tuỳ vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu
Theo chủ thể tác động có thể phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vậntải hành khách bằng xe buýt thành các nhóm:
1.4.1 Nhóm các yếu tố về cơ sở hạ tầng.
Đây là nhóm yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trong quá trình vậntải Nó bao gồm: Hệ thống giao thông tĩnh và hệ thống giao thông động Tức là: Hệ thốngđường giao thông, hệ thống biển báo, đèn tín hiệu, điểm đầu cuối, điểm dừng đỗ trên đường…tác động trực tiếp tới tốc độ phương tiện, sự an toàn thoải mái của hành khách khi ngồi trênphương tiện Nếu hệ thống đường xá có chất lượng kém, nhiều ổ gà, và tình trạng kỹ thuật củaphương tiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến độ êm dịu của phương tiện và hành khách trên xe
Cơ sở hạ tầng ở nước ta còn hạn chế, hệ thống đường ở nhiều nơi đã bị xuống cấp cầnsửa chữa lại Mặc dù trong những năm qua, chính phủ đã rất quan tâm đến việc đầu tư cơ sởhạ tầng, tuy nhiên việc này đòi hỏi một nguồn vốn lớn và không thể thực hiện ngay được Cơsở hạ tầng thấp kém đã ảnh hưởng lớn tới chất lượng VTHKCC bằng xe buýt nói riêng và vậntải hành khách nói chung
1.4.2 Nhóm các yếu tố về con người.
Con người là chủ thể của mọi hoạt động, là nhân tố quyết định mọi vấn đề, yếu tố conngười đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ vận tải Con người ởđây muốn đề cập tới những người trực tiếp tham gia sản xuất vận tải như lái xe, nhân viên bán
vé, người quản lý và tổ chức vận tải Chất lượng và hiệu quả làm việc của họ quyết định tới sự
an toàn và chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt liên tỉnh
Trình độ dân trí, thu nhập của người dân là yếu tố quyết định đến lượng hành khách đilại bằng phương tiện vận tải xe buýt, thêm vào đó là thói quen đi lại của người dân; từ đó cóảnh hưởng nhất định đến chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt
- Trình độ nhân viên lái phụ xe
Nhân viên lái phụ xe là người trực tiếp tham gia vào việc điều khiển các hoạt động vàđiều khiển phương tiện lưu thông trên đường, là lực lượng sản xuất chính của doanh nghiệpvận tải Là người ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýtliên tỉnh Đòi hỏi nhân viên lái phụ xe phải có trình độ tay nghề, văn hóa, kinh nghiệm, đạođức nghề nghiệp, tính điềm tĩnh, cẩn thận, không nóng nảy…
Trang 17- Công tác tổ chức quản lý và điều hành:
Công tác này ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sản phẩm vận tải, chất lượng của công tácnày là giảm thiểu các chuyến đi không thực hiện được hoặc không thực hiện đúng thời gianquy định, đảm bảo được biểu đồ chạy xe…
Làm tốt công tác tổ chức, điều hành vận tải sẽ tạo ra sự nhịp nhàng, thông thoáng, liênthông giữa các phương thức đón trả khách tạo cho hành khách sự thuận tiện trong đi lại củamình, đặc biệt là trong việc hành khách phải thay đổi phương tiện trong hành trình đi lại củamình
1.4.3 Nhóm các yếu tố về kỹ thuật.
Yếu tố kỹ thuật ở đây chính là về phương tiện vận tải, tức là nói về chất lượng phươngtiện, chủng loại phương tiện như thế nào, điểm dừng đỗ, bến bãi… Để đảm bảo nhóm yếu tốnày tốt là phụ thuộc vào chủ quan của doanh nghiệp kinh doanh vận tải
Trong quá trình vận tải, chất lượng phương tiện (kỹ thuật, tuổi thọ, mức độ tiện nghi) cóảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng vận tải, là yếu tố tạo nên sự an toàn, tiệnnghi, thoải mái…cho hành khách trong quá trình vận tải Về chủng loại phương tiện thì cóphù hợp với điều kiện đường xá và nhu cầu đi lại hay không
Để đảm bảo cho phương tiện luôn ở trong tình trạng kỹ thuật tốt luôn sẵn sàng tham giavào quá trình vận tải, thì yếu tố quan trọng là chất lượng công tác bảo dưỡng sửa chữa phươngtiện Công việc này phải đảm bảo thường xuyên liên tục, khắc phục ngay các sự cố củaphương tiện
1.4.4 Nhóm các yếu tố khác.
- Cơ chế chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành kháchcông cộng: Chính sách thuế, các chính sách ưu tiên khác
- Điều kiện môi trường (thời tiết, khí hậu, môi trường kinh doanh) và điều kiện khaithác: Mạng lưới giao thông, điều kiện hành khách
Trang 18trình vận chuyển, sự thoải mái, dễ chịu cho hành khách Ngoài ra chủng loại phương tiện cóphù hợp với điều kiện hoạt động của tuyến và nhu cầu đi lại hay không còn ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng
1.5.2 Con người
Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn tới chất lượng dịch vụ vậntải Con người ở đây muốn đề cập tới người tham gia trực tiếp sản xuất vận tải là lái xe vànhân viên bán vé Chất lượng, hiệu qủa, thái độ làm việc của họ quyết định tới sự an toàn vàchất lượng dịch vụ vận tải Ngoài ra, chất lượng phục vụ quyết định đến nhu cầu sử dụngphương tiện của người dân
1.5.3 Công tác tổ chức quản lý và điều hành
Công tác tổ chức quản lý và điều hành ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sản phẩm vậntải, chất lượng của công tác này là giảm thiểu các chuyến đi không thực hiên được theo kếhoạch hoặc thực hiên không đúng thời gian quy định Giúp cho chất lượng phục vụ được nânglên nhằm tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp phù hợp giữa các phương thức đón trả khách và giữacác tuyến với nhau
1.5.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng.
Sự phù hợp và thuận tiện của hệ thống điểm dừng đỗ, hệ thống nhà chờ với đầy đủthông tin cho hành khách là một trong những thước đo về mức chất lượng phục vụ của tuyến.Như vậy, toàn bộ chương I đã đưa ra được các cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụVTHKCC bằng xe buýt, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vận tải hành kháchbằng xe buýt: cơ sở hạ tầng, phương tiện, yếu tố con người và một số yếu tố khác
Kết luận chương I: Chương I cũng đã nêu lên các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng dịch
vụ vận tải xe buýt trong chương II Cụ thể đó là các chỉ tiêu về không gian, về thời gian về độ
an toàn và một số chỉ tiêu khác.Và các phương án để cải thiện chất lượng dịch vụ VTHKCCbằng xe buýt trong chương III như về phương tiện, về con người, về công tác tổ chức quảnlý, điều hành và cơ sở vật chất kỹ thuật trên tuyến
Trang 19CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG TRÊN TUYẾN BUÝT 13 BẾN XE KIM MÃ – CỔ NHUẾ (HVCS).
2.1 Hiện trạng mạng lưới của VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội.
Hình 2.1 Sơ đồ các tuyến buýt Hà Nội
(Nguồn: Trung tâm QL& ĐHGTĐTHN )
Toàn thành phố hiện có 73 tuyến, trong đó có 60 tuyến được trợ giá, 13 tuyến kế cậnhoạt động theo phương thức xã hội hóa, với tổng số 940 xe hoạt động (Theo sở giao thôngvận tải Hà Nội) Sau khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, lượng hành khách đi xe buýt,nhất là khách đi lại thường xuyên bằng vé tháng có xu hướng tăng nhanh tuyến buýt và cácđơn vị đã rà soát, sắp xếp lại mạng lưới xe buýt trên địa bàn, trước mắt đã thực hiện điềuchỉnh lộ trình 13 tuyến, phần lớn là kéo dài tuyến phục vụ, để phù hợp với nhu cầu đi lại củanhân dân và điều kiện giao thông trên địa bàn Từ tháng 8-2008, thành phố tổ chức năm tuyến
xe buýt chuyên trách phục vụ cán bộ công chức của thành phố, điều chỉnh cơ cấu xe buýt điqua khu vực phố cổ Hoàn Kiếm, điều tiết giảm lưu lượng xe buýt qua các nút thường xuyênxảy ra ùn tắc vào giờ cao điểm Mạng lưới tuyến bao phủ 1 phạm vi rộng và dễ tiếp cận vihầu hết mọi hành khách đi đến đích chỉ mất tối đa là 2 lần chuyển tuyến Hiệu quả hoạt độngcủa các tuyến có sự chênh lệnh nhau khá rõ Hầu hết các tuyến xe buýt đều có thời gian hoạtđộng từ 5h-21h.Môt số tuyến hoạt động muộn hơn, kết thúc lúc 22h30 (như tuyến 32, 07 ).Tần suất giữa các chuyến từ 5-20 phút
Trang 20Cự ly trung bình của các tuyến hiện nay là 18,7 km (theo Báo cáo cua Trung tâm QL& ĐHGTĐT HN năm 2008) Nhìn chung là phù hợp với sự phân bố các điểm phát sinh thu
hút cũng như diện tích của toàn thành phố Tuy nhiên có 4 tuyến trên 30 km và 11 tuyến có cự
ly từ 20- 30km, và 46 tuyến có cự ly dưới 20km Cơ cấu mạng lưới tuyến xe buýt hiện tai có
46 tuyến đặt hàng và 16 tuyến xã hội hóa nhằm phục vụ cho nhu cầu đi lại ngày càng tăng củangười dân
Từ khi địa bàn Hà Nội mở rộng, bình quân mỗi ngày trên địa bàn Hà Nội có 10.500lượt xe buýt hoạt động, vận chuyển trên 1,1 triệu hành khách/ngày, tăng 18% so với cùng kỳnăm 2007 và tăng 26,5% so với thời gian trước khi mở rộng Trong năm 2008, số lượng vậnchuyển hành khách bằng xe buýt của toàn mạng ước thực hiện hơn 404,5 lượt hành khách,vượt 23% kế hoạch so với kế hoạch năm (Theo số liệu của Sở Giao thông vận tải Hà Nội ).Doanh thu toàn mạng trong năm 2008 đạt trên 365,5 tỷ đồng Đặc biệt các tuyến có lộ trình từtrung tâm Hà Nội đến và qua quận Hà Đông tăng mạnh nhất.Tuy nhiên có một thực tế lànhững thay đổi trong mạng lưới buýt sau khi mở rộng địa giới hành chính Hà Nội đã dẫn đếnviệc thiếu hụt phương tiện hoạt động trên các tuyến điều chỉnh kéo dài, lưu lượng hành kháchgia tăng dẫn đến quá tải nhiều tuyến buýt Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng phục vụ buýt của cáckhu vực mới mở rộng thường chưa có hoặc rất kém cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việcvận hành phương tiện và chất lượng dịch vụ xe buýt Quỹ đất dành cho giao thông công cộng
và tổ chức giao thông giữa Trung tâm Hà Nội và Hà Nội mở rộng cũng chưa được xem xéttổng thể, hợp lý Việc điều chỉnh tần suất phục vụ, bố trí biểu đồ hợp lý chú trọng đến quyluật đi lại của người dân cũng khiến xe buýt ngày càng có sức hấp dẫn với hành khách Hầuhết xe buýt đều đạt tốc độ trung bình 20km/h, tuy vậy còn một số tuyến vận hành với tốc độrất thấp điển hình là tuyến số 9 và 25 do phải di chuyển trong các tuyến phố đông đúc và chậthẹp Hiện nay, tổng số hành khách đi xe 1 ngày đạt 557.692 người, số lượng khách/km là3.712.858 người Tình trạng lãng phí trong huy động xe dẫn tới lãng phí nhân công, nhiên liệu
và kinh phí trợ giá
Trong giờ cao điểm, xe buýt thường rất đông khách, nhiều hành khách thậm chí còn bị
bỏ lại sau khi đợi hàng chục phút tại điểm dừng Lượng hành khách trên xe có thể lên caonhất là 170 người/ xe, tuy nhiên nếu tính trung b́nh th́ con số này chỉ đạt 20,23 người Rõràng, hiệu quả hoạt động của xe buýt còn rất hạn chế Theo đánh giá chung thì xe buýt tiêuchuẩn 80 chỗ là phương tiện hiệu quả nhất
Mật độ mạng lưới tuyến xe buýt Hà Nội hiện nay là 2,1 (km/km2)( Nguồn: Internet).
Mà đối với một thành phố như thủ đô Hà Nội vừa được mở rộng địa giới hành chính có dân
số đông khoảng 3,4 triệu người thì mạng lưới VTHKCC có mật độ tối ưu là từ 3 đến 3,5 Nhưvậy mạng lưới VTHKCC của Hà Nội hiên vẫn chưa tối ưu và chưa đáp ứng được nhu cầungày càng tăng của người dân.Đặc biệt là sau khi mở rộng địa giới hành chính thì nhu cầuphát sinh ngày càng lớn Vì vậy VTHKCC bằng xe buýt cần phải được đầu tư và phát triểnhơn nữa
Trang 21Hệ số trùng tuyến trên một số trục giao thông là rất lớn như tại đoạn Nguyễn Thanh Xuân có tới hơn 10 tuyến hoạt động, đường Giải Phóng có hơn 9 tuyến hoạt độngtrong khi đó hệ số trùng tuyến hợp lý là 6 Vì thế gây lãng phí trong việc khai thác luồng hànhkhách và không tiết kiệm được chi phí hoạt động.
Trãi-Qua hiện trạng trên chúng ta thấy xe buýt đang là loại phương tiện được mọi tầng lớpngười dân lựa chọn vì giá vé rẻ, tiết kiệm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường… Tuy vậy mật độmạng lưới hiện nay vẫn chưa đáp ứng được so với nhu cầu của HK khi địa giới của Hà Nội đãđược mở rộng như hiện nay Chính vì vậy hệ thống VTHKCC ở Hà Nội cần phải được chútrọng đầu tư cả về phương tiện, cơ sở hạ tầng và chất lượng phục vụ…
2.2 Tổng quan về xí nghiệp buýt 10-10
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển xí nghiệp buýt 10-10.
Công ty vận tải và dịch vụ công cộng Hà Nội được thành lập theo quyết định số45/2001/QĐ-UB của UBND Thành phố Hà Nội ngày 29/6/2001 trên cơ sở hợp nhất nguyêntrạng 4 công ty: Công ty xe buýt Hà Nội, Công ty vận tải hành khách Nam Hà Nội, Công ty
xe du lịch Hà Nội, Công ty xe điện Hà Nội
Sau khi thành lập, công ty vận tải dịch vụ Hà Nội đã nỗ lực xây dựng tuyến buýt tiêuchuẩn đầu tiên ( tuyến 32 Giáp Bát - Nhổn ) vào năm 2002 và nhân ra toàn mạng lưới vàocuối năm 2002 Sau 3 năm hoạt động công ty đã đổi mới thực hiện toàn diện về chất lượng vàphương thức quản lý từ khoán sang quản lý tập trung, điều này đã làm sản lượng tăng lên độtbiến từ 10 triệu hành khách đi xe buýt năm 2000 lên 300 triệu năm 2004 Chất lượng dịch vụ
xe buýt được nâng cao đã tạo ra lòng tin và dần tạo ra thói quen đi xe buýt cho người dân thủđô
Để thực hiện mục tiêu phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng làm cơ sở choviệc phát triển thủ đô, UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 72/2004/QĐ – UB ngày14/5/2004 chính thức thành lập tổng công ty vận tải Hà Nội ( HANOI TRANSERCO ) vớinghành nghề kinh doanh chính là vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt và vận tảihành khách liên tỉnh Vào ngày 29/4/2004 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số71/2004/QĐ-TTg phê duyệt đề án thành lập tổng công ty vận tải Hà Nội thi điểm hoạt độngtheo mô hình công ty mẹ - công ty con
Xí nghiệp buýt 10-10 là xí nghiệp phụ thuộc tổng công ty vận tải Hà Nội, chuyên cungcấp dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong nội đô, xí nghiệp được sử dụngcon dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng, chịu sự quản lý trực thuộc của Tổng công tyvận tải, cơ quan cấp trên là UBND Hà Nội về các mặt kiểm tra và xử lý các vấn đề thuộc chứcnăng của mình theo pháp luật
*Trụ sở: Tên giao dịch: Xe buýt 10-10 Hà Nội
Địa chỉ : Số 90 Nguyễn Tuân – Quận Thanh Xuân – Hà Nội
Trang 22Tuyển dụng đào
tạo
Đầu tư
Hành chính – bảo vệ
Điều hành nhân lực
Giám sát
Nghiệm thu thu ngân
Tổ vật tư kỹ thuật
Quy chế
Đốc công KCS
BDSC
Vệ sinh phương tiện
Giao nhân, dồn xe, cấp nhiên liệu
Điện thoại : 04 35584673
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp xe buýt 10-10.
a Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp xe buýt 10-10 được thực hiện theo mô hình
DEPOT như sau:
Sơ đồ 2.1 : Mô hình tổ chức quản lý
Ban giám đốc
(Nguồn: Xí nghiệp buýt 10-10)BDSC: Bảo dưỡng sửa chữa
Các bộ phận trong xí nghiệp buýt 10- 10 cũng như các phòng ban thực hiện cácnhiệm vụ sản xuất khác nhau do cấp trên xí nghiệp giao cho Tuy nhiên các phòng ban, các bộphận này lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau, giúp cho quá trìnhsản xuất của xí nghiệp diễn ra nhịp nhàng
b chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp xe buýt 10-10.
* Chức năng:
- Chịu trách nhiệm trước Tổng công ty Vận tải Hà Nội về việc bảo toàn và phát triển
số vốn được giao
Trang 23- Kiểm tra, giám sát việc quản lý sử dụng vốn, tài sản, chế độ chính sách, điều hànhhoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp theo quy định của pháp luật
- Tổ chức hoạt động sản xuất – kinh doanh đa ngành nghề, trong đó ngành nghề chính
là vận tải hành khách công cộng, vận tải hành khác liên tỉnh và dịch vụ công cộng
* Nhiệm vụ:
- Tham mưu với Tổng công ty Vận tải Hà Nội, các cơ quan chức năng để xây dựngquy hoạch, kế hoạch phát triển ngành vận tải công cộng theo định hướng phát triển chung củaThành phố
- Xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và hàng năm về đầu tư, quản lý và điều hànhvận tải hành khách, hàng hóa, trang thiết bị phương tiện vận tải, điểm đỗ, nhà chờ, điểm đón –trả hành khách
- Kinh doanh – dịch vụ vận tải hành khách bằng phương tiện xe buýt do tổng công tyVận tải Hà Nội và thành phố giao cho
- Nghiên cứu đề xuất các chế độ chính sách về vận tải hành khách công cộng trìnhTổng công ty Vận tải Hà Nội và UBND Thành phố Hà Nội phê duyệt
2.2.3 Tình hình lao động và phương tiện của xí nghiệp.
a Tình hình lao động.
Số lượng lao động của toàn xí nghiệp buýt 10-10 tính đến 01/01/2007 là 1143 người
Cụ thể:
Bảng 2.1 Tình hình lao động của xí nghiệp
Trang 24( Nguồn: báo cáo về tình hình phương tiện của xí nghiệp buýt 10-10)
Bảng 2.3 Phân loại xe theo từng tuyến
( Nguồn: báo cáo về tình hình phương tiện của xí nghiệp buýt 10-10).
Các mẫu xe trên đều còn tương đối mới, nên chất lượng phương tiện còn tốt Trướckia xí nghiệp còn tồn tại các mác xe: Combi, Cosmos trên các tuyến 05, 13, 33, 37 Nhưng
Trang 25vào 6 tháng cuối năm 2007 đã được thay thế bằng các loại xe Daewoo để nâng cao chất lượngcủa phương tiện, tạo cảm giác thoải mái cho hành khách khi đi xe.
2.2.4 Quy mô xưởng sửa chữa của xí nghiệp
Hiện nay xí nghiệp có hai gara, gara 1 ở Nguyễn Tuân và gara 2 ở Mỹ Đình, với tổngdiện tích nhà xưởng sửa chữa khoảng 2783 m2 Toàn bộ khu nhà xưởng được chia thành 8 tổnhư sau:
( Nguồn: Xí nghiệp buýt 10-10).
Công tác BDSC luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất của xí nghiệp,nó đảm bảo cho quá trình hoạt động của xe được an toàn và công tác này được làm tốt thì sẽnâng cao năng lực vận chuyển và chất lượng phục vụ hành khách của xí nghiệp
2.2.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
a Vốn và tài sản của xí nghiệp.
Khi mới được tách ra khỏi xí nghiệp xe khách Nam Hà Nội, vốn của Xí nghiệp xe buýt 10-10 Hà Nội hoàn toàn là vốn của Nhà nước cấp thông qua Công ty Vận Tải và Dịch vụcông cộng Hà Nội
Cũng giống đặc thù của ngành giao thông vận tải nói chung, tỉ trọng tài sản cố định trong tổng số tài sản thường cao trên 70% thì xí nghiệp xe buýt 10-10 cũng không phải là ngoại lệ Tỉ trọng tài sản cố định của xí nghiệp luôn cao và đạt mức từ 77% đến 82% do tài sản cố định của xí nghiệp đa số là xe buýt Nhờ vậy, Xí nghiệp đã có điều kiện để thực hiện tốt kế hoạch hoạt động của mình và của thành phố
Do lĩnh vực hoạt động là vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt nên sự đầu tư về vốn
là tương đối lớn Chúng ta có thể thấy rõ hơn qua bảng số liệu dưới
Bảng 2.4 Tình hình vốn và tài sản của xí nghiệp qua các năm
Trang 26Năm Vốn kinh doanh Tài sản
Tài sản cố định % Tài sản lưu động %
( Nguồn: Xí nghiệp buýt 10-10).
b Tình hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Trong những năm đầu (từ năm 1998 đến 2000) do mới được thành lập và mạng lưới
xe buýt chưa nhiều nên lượng hành khách vận chuyển không cao Nhưng từ năm 2002 đã cósự gia tăng về lượng hành khách và không ngừng tăng lên trong những năm tiếp sau kéo theotổng doanh thu của xí nghiệp tăng lên Điều đó đã thể hiện được sự cố gắng của toàn thể cán
bộ, nhân viên trong xí nghiệp Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xí nghiệp
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp
1 Tổng hành khách vận
chuyển Triệu lượt hành khách
20,552
( Nguồn: Trung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị Hà Nội).
Chúng ta nhận thấy rằng chi phí để vận hành một mạng lưới xe buýt là rất lớn, đặc biệt
là chi phí cho xe Với lượng xe lớn, tần suất mỗi xe phải chạy nhiều nên lượng nhiên liệu tiêuhao cung cấp cho mỗi xe lớn và chất lượng của xe xuống cấp nhanh Điều đó đồng nghĩa vớiviệc xe cần được bảo dưỡng duy tu sửa chữa thường xuyên và liên tục nên chi phí sửa chữalớn Mặt khác, do đặc thù của ngành vận tải hành khách bằng xe buýt mang tính chất “côngcộng ”, để phục vụ mục đích xã hội nên dù lượng hành khách đi xe buýt có tăng lên nhưngvới giá vé xe buýt thấp chỉ có 3000 đồng/người/lượt và từ 25.000 đến 80.000đồng/tháng Điềuđó làm cho doanh thu bán vé không đủ để bù đắp cho khoản chi phí hàng năm và kết quả là
xí nghiệp luôn trong tình trạng lỗ Trên thực tế, hàng năm thành phố vẫn chi một phần ngânsách để bù lỗ (trợ giá) cho hoạt động xe buýt của thành phố
2.2.6 Điều kiện khai thác vận tải của xí nghiệp.
a Mạng lưới đường giao thông trong vùng hoạt động của xí nghiệp
Trang 27Xí nghiệp 10-10 là xí nghiệp vận tải hành khách công cộng nên địa bàn hoạt động chủyếu là trong thành phố vì vậy mạng lưới đường xá hoạt động của phương tiện có chất lượng làkhá tốt, tuy nhiên cũng chính vì hoạt động trong thành phố nên các điểm giao cắt nhiều, lưulượng xe trên đường khá lớn mặt khác đường xá trong thành phố lại hẹp nên thường xuyênxảy ra ách tắc giao thông làm ảnh hưởng đến lộ trình hoạt động của phương tiện Một sốtuyến có sản lượng hành khách cao, đường giao thông có mật độ tham gia của các phươngtiện khác khá lớn, hay bị ùn tắc xảy ra như các tuyến 08, 21, 28, 28 đi qua Đê la thành, đường69…thường xuyên quá tải vào giờ cao điểm dẫn đến phải thay đổi lộ trình của phương tiện,chất lượng phục vụ hành khách và gây bất lợi về mặt chi phí cho xí nghiệp Vì vậy mạng lướiđường xá cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của xí nghiệp.
b Điều kiện khí hậu, thời tiết
Điều kiện khí hậu thời tiết là một trong những điều kiện khai thác vận tải làm ảnhhưởng đến tình trạng kỹ thuật của phương tiện, lái xe, hành khách, đến khối lượng vận chuyểncủa xí nghiệp Điều kiện này bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số ngày mưa bão, lũ lụttrong năm
Tạt một số những tuyến đường trên địa bàn hoạt động của xí nghiệp, hệ thống thoátnước kém vì vậy vào mùa mưa thường xuyên xảy ra ngập lụt làm ùn tắc, ngưng trệ hoạt độnggiao thông, làm ảnh hưởng đến máy móc, thiết bị của phương tiện đặc biệt là ảnh hưởng đến
số lượng phương tiện ra hoạt động dẫn đến khối lượng vận chuyển hành khách của xí nghiệpgiảm
Còn trên một số tuyến đường ra ngoại thành như tuyến 28, 50… chất lượng đường cònchưa tốt cho nên khi trời mưa xuống thì khả năng thông qua của đường kém dẫn đến tìnhtrạng ùn tắc giao thông
c Tình hình hành khách
Trong mấy năm đầu một phần là do xí nghiệp mới thành lập, mạng lưới xe buýt chưanhiều cộng với thói quen của người dân chưa cao trong việc sử dụng vận tải hành khách côngcộng là phương tiện chủ yếu đi lại của mình cho nên lượng vận chuyển hành khách còn rấthạn chế Thế nhưng trong một vài năm trở lại đây được sự quan tâm của nhà nước, Chính phủtrong việc phát triển đầu tư mạng lưới vận tải hành khách công cộng nên có sự gia tăng đángkể khối lượng hành khách vận chuyển
Tuy nhiên mạng lưới xe buýt ở Hà Nội phát triển mạnh mẽ đồng nghĩa với việc sốlượng xe gia tăng vì vậy chi phí vận hành mạng lưới xe buýt là khá lớn mà doanh thu, thu lạitừ việc bán vé không đủ bù lại các khoản chi phí cho nên xí nghiệp luôn ở tình trạng lỗ Hàngnăm thành phố phải chi một khoản ngân sách để bù đắp khoản lỗ cho xí nghiệp phục vụ tronglĩnh vực vận tải hành khách công cộng
Trang 28Trong mấy năm trở lại đây nhu cầu đi lại của người dân ngày càng lớn và xe buýt - từmột phương tiện không được chú ý trở thành một người bạn đồng hành không thể thiếu củanhiều người Năng lực vận chuyển hành khách của xe buýt không ngừng được nâng cao đâycũng là lý do mà khối lượng vận chuyển hành khách trong mấy năm gần đây tăng lên đáng kể.
2.2.7 Định hướng phát triển của xí nghiệp
- Duy trì và ổn định thị trường kinh doanh của xí nghiệp
- Giữ vững luồng tuyến hiện có và tiến hành đổi mới phương tiện đã cũ, chất lượng kémcủa xí nghiệp
- Tham gia đấu thầu thêm một số tuyến buýt xã hội hoá mới
- Tham gia liên doanh để mở rộng xưởng bảo dưỡng sửa chữa
2.3 Phân tích chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên tuyến buýt 13 Bến
xe Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS).
2.3.1 Giới thiệu chung về tuyến buýt 13.
Hình 2.1 Xe buýt 13 Bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế
Cự ly tuyến: 13,8 km
Cự ly huy động 18,9 km
Đầu A: Bến xe Kim Mã
Đầu B: Cổ Nhuế (HVCS)
Trang 29Mác xe Transinco 16 chỗ.
Số xe kế hoạch 10 xe
Số xe vận doanh 7 xe
Lượt xe chạy 122 lượt xe/ngày
Giờ mở bến 5:00
Giờ đóng bến 21:00
Thời gian hoạt động trong ngày 16 giờ/ngày
Tần suất chạy xe 10 đến 15 phút /lượt
Tuyến buýt 13 bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS) là tuyến buýt nối các vùng ven đôvới nội đô Đây là tuyến mà hành khách chủ yếu là học sinh, sinh viên Trước 16/10/2007 thìtuyến 13 có lộ trình: Bến xe Kim Mã – bến xe Mỹ Đình, sau đó do nhu cầu đi lại của hànhkhách trong khu vực xã Cổ Nhuế (HV Cảnh sát nhân dân) tăng và để làm công tác xã hội hóatheo chủ trương của UBND Thành phố Hà Nội là nối các khu vực ven đô với trung tâm nêntuyến đã được thay đổi lộ trình tuyến: Bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS)
- Chiều về: Tập thể học viện cảnh sát nhân dân - Học viện cảnh sát nhân dân – Doanh trại quân đội – Tổ 8 Cầu Diễn – Tổ 9 Cầu Diễn – Huyện ủy Từ Liêm – Đại học thương mại – Đình Mai Dịch – Kí túc xá đại học ngoại ngữ – Kí túc xá đại học sư phạm – Trung cấp công nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm – 181 Tô Hiệu – Công viên Nghĩa Đô – Cao đẳng sư phạm Hà Nội – Nguyễn Khánh Toàn – Đối diện Công viên Thủ Lệ (Bưởi) – Cầu Giấy – AIA
Kim Mã – Đối diện công viên Thủ Lệ – 111 A5 tập thể Giảng Võ – UBND Phường Kim Mã
– Bến xe Kim Mã.
Hình 2.2 Lộ trình tuyến 13: Bến xe Kim Mã - Cổ Nhuế (HVCS).
Trang 30Lộ trình tuyến sau khi được thay đổi đã có sự gia tăng về số lượng điểm dừng đỗ (từ
10 điểm lên 22 điểm), và đáp ứng phần nào nhu cầu hành khách ở khu vực xã Cổ Nhuế và khu vực lân cận.Theo đánh gia chung thì lộ trình tuyến như vậy đã hợp lý hơn so với trước kia Tuyến đi qua nhiều nơi thu hút như: công viên Thủ Lệ, công viên Nghĩa Đô, bảo tàng dântộc học, các trường đại học Thương mại, cao đẳng sư phạm Hà Nội, trung cấp công nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm, kí túc xá đại học ngoại ngữ, kí túc xá đại học sư phạm, trường THCS Nghĩa Tân Vì vậy nhu cầu đi lại trên tuyến đã tăng lên, để đáp ứng lượng hành hách ra tăng
và thu hút thêm hành khách thì đòi hỏi xí nghiệp cần phải có biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ trên tuyến
2.3.2 Tình hình sản xuất kinh doanh trên tuyến.
Hiện nay các thành phố lớn đều chú trọng tới việc phát triển mạng lưới VTHKCC, đó
là một trong những giải pháp hiệu quả trong việc hạn chế sự gia tăng phương tiện giao thông
cá nhân, hạn chế tắc đường, ô nhiễm môi trường… Hà Nội là một đô thị lớn nên vấn đề vềphát triển mạng lưới VTHKCC là hết sức quan trọng Với những nỗ lực của các nhân viênphục vụ tuyến buýt 13 cũng như của xí nghiệp buýt 10 – 10, tổng công ty vận tải Hà Nội thìkết quả kinh doanh sau đã nói lên phần nào vai trò của VTHKCC Dưới đây là bảng số liệukết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tuyến buýt 13 trong 3 năm trở lại đây:
Bảng 2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh trên tuyến buýt 13 Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS)
Trang 31STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
(Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh 10-10)
Đề tài đưa ra một phép so sánh giữa tuyến buýt 13 và tuyến buýt 12 ( Kim Mã – VănĐiển) Lý do đề tài lấy tuyến 05 ra so sánh vì giữa 2 tuyến buýt này có sự giống nhau về điểmđầu xuất phát đều từ bến xe Kim Mã, cự ly tuyến (13,8 km), và sức chứa của xe 12 là 24 chỗ
ít hơn sức chứa của xe 13 là 30 chỗ
Bảng 2.7 Lượng hành khách vận chuyển của tuyến buýt 12 (Kim Mã – Văn Điển).
(Nguồn: Trung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị Hà Nội)
Hình 2.3 Biểu đồ so sánh tổng hành khách vận chuyển của tuyến 13 với tuyến 12.
Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ ta thấy các năm từ 2005 đến cuối 2007 thì lượng khách vận
chuyển của tuyến 12 đều lớn hơn tuyến buýt 13 Sở dĩ có điều này là do lộ trình tuyến buýt 13thời điểm đó là quá ngắn (Bến xe Kim Mã – Bến xe Mỹ Đình với cự ly tuyến 9,6km), số điểm
Trang 32dừng đỗ ít (10 điểm) và không đi qua nhiều vùng phát sinh Bắt đầu từ cuối năm 2007 đến hếtnăm 2008 sau khi đã thay đổi lộ trình trên tuyến buýt 13 thành bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế, cự
ly tuyến đã tăng lên (13,8km), số điển dừng đỗ tăng thành 22 điểm dừng và đi qua nhiều khuvực thu hút phát sinh như: Kí túc xá đại học Sư Phạm 1, kí túc xá đại học Ngoại Ngữ, côngviên Nghĩa Đô, Bảo tàng dân tộc học, đại học Thương Mại Điều này đã làm tăng lượng hànhkhách vận chuyển trên tuyến buýt 13
Hình 2.4 Biểu đồ so sánh doanh thu của tuyến buýt 13 với xí nghiệp buýt 10 - 10
Qua các bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các biểu đồ so sánh với xí nghiệpbuýt 10 -10 ta thấy:
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trên tuyến 13 còn thấp
- Có sự gia tăng lượng hành khách vận chuyển và doanh thu theo từng năm trên tuyến 13.Tăng nhanh nhất vào năm 2008
Nguyên nhân của hiện trạng trên là: Ta thấy có sự ra tăng về doanh thu cũng như hành khách
là do có sự thay đổi về lộ trình tuyến ( cuối tháng 10 năm 2007) nên đã thu hút được nhiềuhơn lượng hành khách đi tuyến buýt này
Cụ thể:
Lộ trình tuyến 13 cũ: cự ly tuyến 9,6km
- Chiều đi: Bến xe Kim Mã - Nguyễn Thái Học - Giảng Võ - Láng Hạ - Cầu Hòa Mục - Lê
Văn Lương - Hoàng Đạo Thúy - Trần Duy Hưng - Phạm Hùng - Bến xe Mỹ Đình
Trang 33- Chiều về: Bến xe Mỹ Đình - Phạm Hùng - Trần Duy Hưng - Hoàng Đạo Thúy - Lê Văn
Lương - Cầu Hòa Mục - Láng Hạ - Giảng Võ - Giang Văn Minh - Bến xe Kim Mã
Hình 2.5 Lộ trình tuyến 13 cũ: Bến xe Kim Mã – Bến xe Mỹ Đình
( Nguồn: Trung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị Hà Nội).
Hình 2.6 Lộ trình tuyến 13 mới: Bến xe Kim Mã - Cổ Nhuế (HVCS).
Lộ trình tuyến sau khi được thay đổi đã có sự gia tăng về số lượng điểm dừng đỗ (từ
10 điểm lên 22 điểm), và đáp ứng phần nào nhu cầu hành khách ở khu vực xã Cổ Nhuế vàkhu vực lân cận.Theo đánh gia chung thì lộ trình tuyến như vậy đã hợp lý hơn so với trướckia Tuyến đi qua nhiều nơi thu hút như: công viên Thủ Lệ, công viên Nghĩa Đô, bảo tàng dân
Trang 34tộc học, các trường đại học Thương mại, cao đẳng sư phạm Hà Nội, trung cấp công nghệNguyễn Bỉnh Khiêm, kí túc xá đại học ngoại ngữ, kí túc xá đại học sư phạm, trường THCSNghĩa Tân Điều này được thể hiện phần nào qua kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trêntuyến đã tăng lên sau khi điều chỉnh lộ trình tuyến như đánh giá ở hình 2.3.
2.3.3 Sự biến động về luồng hành khách trên tuyến.
Sự biến động của hành khách trên tuyến tuân theo 2 quy luật biến động luồng hành khách:Biến động theo thời gian trong ngày và biến động theo không gian
a Biến động của luồng hành khách theo thời gian trong ngày
- Theo giờ cao điểm: +) sáng từ 6h00 đến 8h00
+)Trưa từ 11h00 đến 12h30
+) Chiều từ 16h30 đến 18h30
- Theo giờ thấp điểm
Nguyên nhân của sự biến động này là do thời điểm phát sinh nhu cầu đi lại thường xuyêntrong ngày ( học sinh, sinh viên, cán bộ, người đi làm….) thời điểm bị chi phối bởi thời gianbắt đầu và kết thúc của trường học, cơ quan, công sở…và sự biến động này khác nhau giữahướng đi và hướng về
Bảng 2.8 Biến động luồng hành khách theo giờ cao điểm và giờ thấp điểm
Thời gian Lưu lượng HK chiều đi
Trang 35Nhìn vào biểu đồ ta thấy rằng lưu lượng hành khách giờ cao điểm chiều đi lớn hơnchiều về là do nhu cầu đi vào xã Cổ Nhuế nơi có nhiều khu dân cư, nhà trọ cho sinh viên thuênhiều, mà hành khách chủ yếu của tuyến 13 là học sinh sinh viên Còn lưu lượng giờ thấpđiểm cả 2 chiều tương đối bằng nhau Lưu lượng giờ cao điểm nhiều hơn từ 1,9 đến 2,7 lầngiờ thấp điểm
b Biến động luồng hành khách theo không gian
Sự biến động này thể hiện rõ tại các điểm thu hút hành khách lớn của tuyến như :Cổng trường đại học, chợ, các cửa hàng bách hoá, điểm chung chuyển … Tại các điểm nàythì nhu cầu hành khách lên xuống lớn hơn rất nhiều với các điểm dừng đỗ khác trên tuyến
Trang 36Bảng 2.9 Biến động luồng hành khách theo chiều đi : Bến xe Kim Mã – Cổ Nhuế (HVCS).
TT Vị trí các điểm dừng
Giờ thấp điểm Giờ cao điểm
HKlên
HKxuống
HKlên +HKxuống
HKlên
HKxuống
HKlên +HKxuống
Trang 37Ta thấy lượng hành khách lên xuống theo chiều đi tại giờ cao điểm và thấp điểm có sựkhác nhau rõ rệt, tuy nhiên tại một số điểm dừng thì khoảng cách này không lớn và có thểbằng nhau như tại điểm đỗ huyện ủy Từ Liêm (vị trí số 16), nguyên nhân là do tai điểm dừngnày gần nơi dân cư và nhà trọ của sinh viên; và tại điểm dừng tập thể học viện cảnh sát thìlượng hành khách lên xuống xe bằng nhau giữa giờ cao điểm với thấp điểm là do đây là điểmgần cuối của hành trình Tại các điểm thu hút hành khách đều có sự khác nhau rõ rệt về lượnghành khách lên và xuống
Trang 38Bảng 2.10 Biến động luồng hành khách theo chiều về :Cổ Nhuế (HVCS) - Bến xe Kim Mã.
TT Vị trí các điểm dừng
Giờ thấp điểm Giờ cao điểm
HKlên
HKxuống
HKlên +HKxuống
HKlên
HKxuống
HKlên +HKxuống
Hình 2.9 Biểu đồ biến động luồng hành khách theo theo không gian chiều về.
Trang 39Nhìn vào biểu đồ ta thấy lượng hành khách lên xuống tại giờ cao điểm và thấp điểmcó sự khác nhau nhưng không rõ rệt Sự khác biệt lớn vẫn chỉ xảy ra ở những điểm thu hútnhư kí túc xá của trường đại học sư phạm 1, Cầu Giấy
2.3.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên tuyến.
Điều kiện cơ sở hạ tầng là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vận tảihành khách nói chung và VTHKCC nói riêng Trong trường hợp chất lượng cơ sở hạ tầngchưa đảm bảo từ đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng về mặt không gian và thời gian vận chuyểnđồng thời lái xe và hành khách trên xe cũng bị ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn trong mộtchuyến đi
a Hiện trạng về 2 điểm đầu cuối:
Hiện tại tuyến buýt 13 có đầu bến là bến xe Kim Mã với cơ sở vật chất trong bếntương đối tốt, bến xe Kim Mã hiện là bến đỗ của nhiều tuyến buýt: 07, 13, 20, 201,12 vàđầu bến còn lại được đặt tại khu tập thể học viện cảnh sát, với cở sở vật chất kém, diện tíchchỉ đủ chỗ đỗ cho 2 xe buýt 13, không có thông tin, nhà chờ cho hành khách
Trang 40Hình 2.10 Bến xe Kim Mã
Hình 2.11 Bến đỗ xe khu tập thể học viện cảnh sát (Cổ Nhuế)
b Hiện trạng về điểm dừng đỗ trên tuyến.