HOÀNG THỊ NGỌC NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẢI NGỒNG TẠI HUỐNG THƯỢNG - ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Trang 1HOÀNG THỊ NGỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẢI NGỒNG TẠI HUỐNG THƯỢNG
- ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thúy Hà
Thái Nguyên, 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng cho bảo vệ một học vị nào, mọi
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngọc
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã nhiệt tình ửng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu 2
2.1.Mục đích 2
2.2.Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1.Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài: 4
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài: 5
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trên thế giới 8
1.2.1.Tình hình sản xuất rau trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trong nước 11
1.3 Các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài: 18
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón, thời gian bón đến sinh trưởng, phát triển của cây rau và hàm lượng nitrat trong rau 18
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thuốc BVTV 20
1.3.3.Tình hình nghiên cứu và sử dụng màng phủ nông nghiệp 22
1.4 Tiêu chuẩn về hàm lượng nitrat trong rau quả trên thế giới và Việt Nam 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 25
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 26
3.4.2 Quy trình kỹ thuật 28
3.4.3.Kỹ thuật làm vòm che thấp 30
3.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Ảnh hưởng của thời gian cách ly bón phân đạm đến năng suất và chất lượng rau cải ngồng 34
Trang 53.1.1 Ảnh hưởng của thời gian cách ly bón đạm đến năng suất rau cải ngồng 34
-) trong rau cải ngồng 35 3.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất rau cải ngồng 37 3.2.1 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao của rau cải ngồng 37 3.2.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng số lá của rau cải ngồng 39 3.2.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều dài
lá của rau cải ngồng 41 3.2.4 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá của rau cải ngồng 43 3.2.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến tình hình sâu bệnh hại rau cải ngồng 45 3.2.7 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế 49 3.3 Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến phòng trừ sâu hại rau cải ngồng tại Thái Nguyên 51 3.3.1 Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu tơ hại rau cải ngồng 51 3.3.2 Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu xanh bướm trắng trên rau cải ngồng 52 3.3.3 Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến năng suất rau cải ngồng 54 3.3.4 Hạch toán hiệu quả kinh tế 55 3.4 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất rau cải ngồng 56 3.4.1 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng chiều cao của rau cải ngồng 56 3.4.2 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng số lá của rau cải ngồng 57 3.4.3 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng chiều dài
lá của cây cải ngồng 58
Trang 63.4.4 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng chiều rộng
lá của cải ngồng 59
3.4.5 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến tình hình sâu bệnh hại cải ngồng 61
3.4.6 Ảnh hưởng của vòm che thấp đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cải ngồng 62
3.4.8 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 7DANH MỤC CAC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm 8
Bảng 2.3 Mức giới hạn tối đa cho phép của hàm lượng Nitrat (NO3 -) trong một số sản phẩm rau, quả tươi (mg/kg) 24
Bảng 3.1: Năng suất rau cải ngồng ở các công thức thí nghiệm 34
Bảng 3.2: Dư lượng nitrat trong rau cải ngồng 36
Bảng 3.3: Động thái tăng trưởng chiều cao của rau cải ngồng 37
Bảng 3.4: Động thái ra lá của cây cải ngồng 40
Bảng 3.5: Động thái tăng trưởng chiều dài lá cải ngồng ở các công thức thí nghiệm 42
Bảng 3.6: Động thái tăng trưởng chiều rộng lá cải ngồng 44
Bảng 3.7: Tình hình sâu bệnh hại cải ngồng 46
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất rau cải ngồng 48
Bảng 3.9: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 50
Bảng 3.10: Hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với 51
sâu tơ trên rau cải ngồng 51
Bảng 3.11: Hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với 53
sâu xanh bướm trắng trên rau cải ngồng 53
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật 54
đến năng suất rau cải ngồng 54
Bảng 3.13: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 55
Bảng 3.14: Động thái tăng trưởng chiều cao của rau cải ngồng 56
Bảng 3.15: Động thái ra lá của cây cải ngồng 57
Bảng 3.16: Động thái tăng trưởng chiều dài lá cải ngồng 58
Bảng 3.17: Động thái tăng trưởng chiều rộng lá của cải ngồng 60
Bảng 3.18: Sâu bệnh hại cải ngồng vụ Thu Đông 2012 61
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của vòm che thấp đến các yếu tố cấu thành 62
năng suất và năng suất của cải ngồng 62
Bảng 3.20: Hiệu quả kinh tế của các công thức 64
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người Rau không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu như vitamin, lipit, protein mà còn cung cấp các chất khoáng quan trọng như canxi, photpho, sắt, Cần thiết cho sự phát triển của cơ thể cây rau còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành chế biến thực phẩm, là nguồn dược liệu và
là mặt hàng xuất khẩu có giá trị góp phần làm tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc, phần lớn nông dân vùng chuyên canh rau, trồng rau trên diện tích nhỏ lẻ, manh mún, không tập trung
Cải ngồng là rau ngắn ngày, có thể trồng quanh năm, không cần vốn nhiều mà tiêu thụ lại dễ dàng nên ngày càng phổ biến trong sản xuất rau Tuy nhiên, năng suất rau cải ngồng hiện nay còn thấp do trình độ canh tác lạc hậu, sâu bệnh hại, điều kiện ngoại cảnh bất thuận Cải ngồng có thời gian sinh trưởng ngắn, lại dễ gây ngộ độc cho người tiêu dùng bởi lẽ bị nhiều sâu bệnh hại khó trừ phần lớn các thuốc hóa học có thời gian cách ly dài, trong khi thuốc trừ sâu sinh học và điều hòa sinh trưởng kém tác dụng với một số sâu hại như bọ nhảy
Trên thực tế, nhiều hộ trồng rau vì chạy theo lợi nhuận lạm dụng phân đạm, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng không đảm bảo thời gian cách li để cây sinh trưởng nhanh cho năng suất cao Điều này dẫn đến ảnh hưởng xấu đến môi trường, hệ sinh thái, tăng chi phí sản xuất Đặc biệt là
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và dư lượng nitrat trong rau cao gây nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng
Trang 9Xã Huống Thượng nằm ở phía Bắc huyện Đồng Hỷ với tổng diện tích đất tự nhiên là 819,09ha Dân số là 6003 nhân khẩu/1489 hộ gồm có các dân tộc Kinh, Mường, Dao, Mông, Thái và một số dân tộc ít người khác cùng sinh sống trên 10 đơn vị xóm, cả xã còn 162 hộ nghèo Xã Huống Thượng là xã có nguồn nước sạch tự nhiên, hệ thống kênh mương, thuỷ lợi, giao thông và điện tương đối thuận lợi Đặc biệt xã có khí hậu đặc trưng thích hợp cho việc sản xuất các loại cây rau màu như: su hào, bắp cải, cải ngồng
Trước thực tế đó, để tận dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên vốn có của địa phương, đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng Đồng thời góp phần tạo dựng một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn
định và bền vững, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng rau cải ngồng tại Huống Thượng - Đồng Hỷ - Thái Nguyên”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1.Mục đích
- Xác định được thời gian cách ly sau bón phân đạm đối với rau cải ngồng đảm bảo sản phẩm rau an toàn
- Xác định được liều lượng đạm bón thích hợp đối với rau cải ngồng
- Xác định được loại thuốc bảo vệ thực vật để trừ sâu hại rau cải ngồng
- Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng vòm che thấp trong sản xuất rau cải ngồng tại Thái Nguyên
2.2.Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của rau cải ngồng
- Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại của rau cải ngồng
- Đánh giá năng suất của rau cải ngồng
Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng rau cải ngồng
Trang 103 Ý nghĩa của đề tài
3.1.Ý nghĩa khoa học
Xác định công thức phân bón, loại thuốc BVTV cho vùng sản xuất rau chuyên canh tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên, làm cơ sở để xây dựng quy trình canh tác an toàn Kết quả nghiên cứu góp phần làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, chỉ đạo sản xuất, biện pháp phòng trừ dịch hại
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc thực hiện đề tài là cơ sở xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt cho cải ngồng sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao và đảm bảo chất lượng Thay đổi một phần tập quán canh tác của nông dân tại địa phương Tạo điều kiện phát triển hơn về rau cải ngồng nói riêng và cây rau nói chung trên địa bàn xã Huống Thượng - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất rau cho người dân
Từ đó mở rộng sản xuất sang các xã khác, xây dựng diện tích trồng rau có thu nhập cao trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài:
Hiện nay, sản xuất rau ở nước ta đã có được những bước phát triển mới Nhưng năng suất rau ở nước ta còn thấp, thấp hơn rất nhiều lần so với năng suất rau trung bình của thế giới Một trong những nguyên nhân là do chịu ảnh hưởng xấu của điều kiện thời tiết Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, diễn biến thất thường gây khó khăn cho việc sản xuất rau ngoài đồng ruộng, các loài sâu bệnh có điều kiện phát triển và gây hại Đặc biệt là đối với các loại rau ăn lá Vì vậy, muốn phát triển sản xuất rau cần hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng xấu của các yếu tố bên ngoài, tạo điều kiện cho cây rau sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao
Kỹ thuật vòm che thấp là một trong những biện pháp được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu và của người nông dân Ứng dụng kỹ thuật này trong sản xuất rau vừa hạn chế ảnh hưởng xấu của điều kiện thời tiết, tạo điều kiện thuận lợi cho cây rau phát triển, vừa tiết kiệm chi phí sản xuất Thích hợp cho các loại rau ăn lá và sản xuất rau trái vụ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng rau
Phân bón cũng là yếu tố có vai trò quyết định đến năng suất cây trồng Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất tối đa khi được bón phân hợp lý Theo kết quả điều tra của tổ chức Nông – Lương thế giới (FAO), bón phân không cân đối làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón 20-50% Chi phí phân bón chiếm 30-50% chi phí sản xuất Để tiết kiệm chi phí sản xuất, thu được lợi nhuận lớn, người sản xuất phải tìm những biện pháp kỹ thuật bón phân cân đối, hợp lý Như vậy sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí, sản phẩm an toàn với người tiêu dùng và môi trường
Trang 12Phân hóa học cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên nếu bón phân không đúng nồng độ, liều lượng, không đảm
trong sản phẩm vượt quá ngưỡng cho phép gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
Để bảo vệ cây trồng trước sự phá hoại của các loài dịch hại, thời gian qua con người đã sử dụng nhiều biện pháp tác động, trong đó biện pháp hóa học được coi là biện pháp chủ lực Con người đã hình thành thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật như là một biện pháp không thể thiếu được trong quy trình canh tác Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều thuốc BVTV đã tạo điều kiện cho dịch hại hình thành tính kháng thuốc Mặt khác, sử dụng thuốc BVTV thường xuyên và liên tục đã tiêu diệt phần lớn các loài thiên địch, khiến cho chúng không còn đủ khả năng khống chế sự phát triển của sâu hại nên sâu hại ngày càng phát sinh với mật độ cao hơn trước Trong quá trình sử dụng một phần thuốc BVTV bị rửa trôi thấm sâu vào đất, nguồn nước sinh hoạt,… gây ô nhiễm môi trường Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật còn gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe của con người, kể cả người sản xuất và người tiêu dùng
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Cùng với sự phát triển chung của kinh tế thế giới, nền nông nghiệp cũng đang trên đà phát triển với hàng loạt các giống cây trồng mới được lai tạo, chuyển gen…có năng suất cao phẩm chất tốt đang thay dần những giống cũ, bản địa, cổ truyền năng suất thấp Nhiều biện pháp thâm canh mới đang được áp dụng vào sản xuất trên nhiều vùng sản xuất rộng lớn tạo ra sản phẩm năng suất, chất lượng cao, có tính cạnh tranh cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và hướng tới thị trường xuất khẩu Theo các tiêu chí của thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practice - GAP) như: EUROGAP, ASEANGAP… việc sản xuất rau an toàn (RAT) theo tiêu chuẩn GAP là một nhu cầu khách quan trong xu thế hội nhập Trong tình hình nước ta đã tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO), khu vực thương mại tự do (AFTA) hàng rào thuế quan được thay thế
Trang 13bởi các qui định về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật Sản phẩm nông nghiệp phải đảm bảo các tiêu chuẩn xuất khẩu là đòi hỏi khách quan Do
đó, việc quy hoạch, xây dựng vùng sản xuất theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm là nhu cầu cần thiết để kịp thời đáp ứng cho việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao cho thị trường trong nước và ra thị trường thế giới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay
Phân bón là dinh dưỡng không thể thiếu để cây trồng sinh trưởng và phát triển thuận lợi Song, cũng giống như các nhân tố đất, nước, thuốc BVTV, phân bón luôn tiềm tàng, ẩn chứa rất nhiều nguy cơ ô nhiễm cho cây trồng đặc biệt là cây rau Đó là các nguy cơ ô nhiễm về sinh học (virus, vi khuẩn, nấm) và hóa học (các nguyên tố kim loại nặng, hàm lượng nitơrat) Vì vậy, việc sử dụng phân bón hợp lý và an toàn cho cây trồng nói chung, cây rau nói riêng là một việc làm cần thiết, phục vụ cho sức khỏe con người Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống
Lượng nitrat có thể tích lũy trong mỗi loại rau, phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó liều lượng phân đạm sử dụng cho cây trồng được đặc biệt quan tâm Sự có mặt của nitrat trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và dư lượng nitrat trong mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem như một độc chất
Trang 14Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, người nông dân chỉ chú trọng đến năng suất, thâm canh tăng vụ chạy theo lợi nhuận Nên đã trồng rau theo cách bón phân cho rau một cách bừa bãi, phun thuốc trừ sâu một cách không có giới hạn, thậm chí là cả các loại thuốc không được phép sử dụng Dẫn đến mỗi năm có hàng nghìn ca ngộ độc thực phẩm, do sử dụng các sản phẩm rau tươi có chứa dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật vượt xa mức độ cho phép Thực tế, việc hàng ngày ăn phải rau không đảm bảo tiêu chuẩn là mầm mống gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư, ngộ độc thần kinh, rối loạn chức năng thận… Thuốc bảo vệ thực vật cũng là một nhân tố gây mất ổn định môi trường, nó gây ô nhiễm nguồn nước, đất, để lại dư lượng trên nông sản phẩm gây độc cho người và nhiều loài động vật máu nóng Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết, nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học có hiệu quả cao, an toàn với môi trường được ra đời
Màng phủ nông nghiệp ngày càng được sử dụng rộng rãi vì những lợi ích của nó đối với nhiều loại cây trồng Đối với những loại cây rau: cải ngồng, cải bắp, mướp đắng, dưa chuột, ớt, đậu đũa, côve … thì biện pháp sử dụng màng phủ nông nghiệp là giải pháp tối ưu Vì như vậy sẽ kiểm soát được độ ẩm trong đất Mùa mưa lượng nước mưa không trực tiếp rơi xuống mặt luống nên bộ rễ không bị úng nước do thiếu oxy, mặt luống không bị trơ mòn làm trơ rễ Đất tơi xốp suốt vụ giúp duy trì độ ẩm đất ổn định suốt mùa vụ, bộ rễ rau lan toả khắp mặt líp Sử dụng màng phủ còn giảm tối đa được công làm cỏ Cây trồng có lá già không trực tiếp tiếp xúc với mặt đất nên giảm được nguồn nấm bệnh lây lan
từ đất Một số côn trùng do ảnh hưởng của màng phủ nên không có chỗ trú ẩn, khả năng gây hại giảm: như bù lạch, rầy mềm trên dưa hấu, sâu ăn tạp Từ đó giảm lượng thuốc BVTV phải phun Khi bón phân vào ruộng rau có màng phủ
sẽ giảm sự rửa trôi phân bón, đặc biệt giảm bốc hơi và rửa trôi của phân đạm bón vào Màng phủ che gần hết luống đất, làm cho rau quả nằm trên không phải tiếp xúc trực tiếp với mặt đất nên giữ cho rau quả sạch làm tăng giá trị sản phẩm
Trang 15Dùng màng phủ sẽ tạo cho người nông dân nhiều điều kiện ứng dụng kỹ thuật canh tác mới, giống mới vào nông nghiệp
Thái Nguyên phấn đấu đến năm 2015, tối thiểu 20 % diện tích tại các vùng sản xuất rau an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu VietGAP, 10% tổng sản phẩm được chứng nhận và công bố sản xuất, chế biến theo quy trình sản xuất RAT Để phục vụ cho mục tiêu trên thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cải ngồng bắp an toàn phục
vụ cho sản xuất rau an toàn tại địa phương là khâu đầu tiên trong chuỗi quá trình từ đồng ruộng đến bàn ăn của một nền sản xuất hội nhập
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trên thế giới
1.2.1.Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Theo tổ chức Nông - Lương thế giới ( FAO), trên thế giới có khoảng trên
17 triệu ha đất sử dụng cho trồng rau, bao gồm hơn 120 chủng loại rau khác nhau với sản lượng lên tới trên 245 triệu tấn Trong đó có 12 chủng loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau trên toàn thế giới, loại được trồng nhiều nhất
là cà chua 2,7 triệu ha, dưa hấu 1,93 ha, hành 1,91 triệu ha, cải bắp 1,7 triệu ha…
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, ngoài việc mở rộng diện tích, năng suất và sản lượng các loại rau cũng không ngừng tăng
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
Trang 16Qua bảng trên ta thấy: Tình hình sản sản xuất rau trên thế giới từ năm
2004 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng
- Về diện tích: Từ năm 2004 - 2007 diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng nên nhanh chóng Năm 2004 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có 15.937.621 ha Nhưng đến năm 2007 đã lên tới 17.110.000 ha Như vậy chỉ sau 3 năm diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng 1.172.388 ha ( trung bình tăng 293.039 ha/năm) Qua đó ta thấy được cây rau chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới
- Về năng suất: Nhìn chung trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 14,3413 - 14,4379 tấn /ha
- Về sản lượng: Từ năm 2004 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 4.190.484 tấn/ năm Điều đó đã chứng tỏ nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người
Theo Trung tâm rau quả thế giới, rau là loại cây có tốc độ tăng diện tích đất trồng nhanh nhất trên thế giới Nhiều khu vực trước đây trồng ngũ cốc và bông sợi hoặc bỏ hoang thì nay đã chuyển sang trồng các loại rau có giá trị kinh tế cao (châu á cũng là khu vực có tốc độ tăng diện tích đất trồng rau cao nhất trên thế giới hiện nay) Trung Quốc là một quốc gia phát triển rộng nhất lớn châu lục, tốc độ tăng trưởng của ngành rau gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nước này
Trong vòng 20 năm qua, sản xuất rau của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng trung bình trên 6%/năm So với mặt bằng chung của các nước đang phát triển trên thế giới, tốc độ tăng trưởng của ngành rau Trung Quốc cao hơn tới 3%/năm
Tính chung toàn thế giới, tốc độ tăng diện tích đất trồng rau trung bình đạt 2,8%/năm, cao hơn 1,05%/năm so với diện tích đất trồng cây ăn trái,
Trang 171,33%/năm sao với cây lấy dầu, 2,36%/ năm so với cây lấy rễ, 2,41%/ năm so với cây họ đậu Trong khi đó, diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi lại giảm tương ứng là 0,45%/năm và 1,82%/năm [36]
Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/ năm Các nước phát triển như Pháp, Đức, Canada… vẫn là những nước nhập khẩu rau chủ yếu Các nước đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan và các nước nam bán cầu vẫn đóng vai trò chính cung cấp rau tươi trái vụ [17]
Cũng theo FAO (2001), sản lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người toàn thế giới là 78 kg/năm Riêng châu Á sản lượng rau 2001 đạt khoảng 487.215 triệu tấn Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, đạt 70 triệu tấn/năm; thứ 2 là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm Nhìn chung, mức tăng trưởng sản lượng rau châu Á các năm qua đạt khoảng 3% năm, tương đương khoảng 5 triệu tấn/ năm
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất rau như : kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có thiết bị che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, màng phủ nông nghiệp ) và trồng ở điều kiện ngoài đồng theo qui trình sản xuất nghiêm ngặt đối với từng loại rau và phù hợp với từng vùng sinh thái
Nói như vậy không có nghĩa là sản xuất rau theo phát triển kỹ thuật công nghệ cao chiếm ưu thế tuyệt đối Cho đến nay, sản xuất rau ngoài đồng vẫn chiếm phần lớn diện tích và sản lượng rau của thế giới và có lẽ sẽ chẳng
có gì thay thế được hình thức sản xuất này Chẳng hạn như sản xuất rau trong nhà kính chỉ thực sự có nghĩa trong mùa đông ở các nước xứ nước lạnh, trong khi sản xuất rau ngoài đồng vẫn có thể cho năng suất cao với chất lượng đảm bảo và giá thành hạ nếu được áp dụng các quy trình nghiêm ngặt Thêm vào
đó ngày nay, với các công nghiệp bảo quản, chế biến tiên tiến người ta có thể
dự trữ và cung cấp rau ăn cho cả mùa đông
Trang 181.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trong nước
1.2.2.1.Các văn bản pháp luật
Trên cơ sở thực trạng sản xuất hiện nay, yêu cầu hội nhập các sản phẩm nông nghiệp, trong đó có rau quả của nước ta, từ kinh nghiệm quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước đi trước, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT trong năm 2008 đã ban hành hàng loạt các văn bản làm cơ sở pháp lý cho hoạt động chuyên môn và sản xuất Nổi bật và quan trọng nhất là các văn bản sau: Quyết định số 379/2008/QĐ-BNN ngày 28/1/2008 của Bộ NN&PTNT
về ban hành quy trình thực hành nông nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn ở Việt Nam (VietGAP) [21]
Quyết định số 84/2008/QĐ-BNN ngày 28/7/2008 về việc ban hành quy chế chứng nhận quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả và chè an toàn [23]
Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg ngày 30/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến tiêu thụ rau, quả
và chè an toàn đến 2015 [22]
Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 về việc ban hành quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn [24]
1.2.2.2.Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa và có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt…
có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau Việt Nam có thể trồng được trên 120 loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với các tiến bộ KHCN các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Đối với nghề trồng rau, Việt Nam
đã hình thành nên 4 vùng sinh thái rõ rệt (Đường Hồng Dật, 2002)[10]
- Vùng khí hậu á nhiệt đới: Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm
C đôi khi xuống
Trang 19dưới 00C, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các loại rau ôn đới
- Vùng nhiệt đới có mùa đông lạnh: Vùng đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc với khí hậu chia thành 4 miền rõ rệt, cho phép trồng rau quanh năm Vụ Xuân Hè phù hợp cho việc trồng trọt các loại rau chịu nóng và ưa nước,
vụ Thu Đông phù hợp cho các loại rau ưa lạnh và chịu hạn, đặc biệt vụ Đông ở các tỉnh đồng bằng, trung du và các tỉnh miền núi phía bắc có thể trồng trọt các loại rau có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới như xu hào, cà chua, cải bắp,
- Vùng nhiệt đới có mùa hè khô nóng bao gồm các tỉnh cực nam Trung bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận Phù hợp với sản xuất một số loại rau đặc thù như các loại dưa và hành tây
- Vùng nhiệt đới điển hình : Các tỉnh Nam bộ với khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt trong năm (mùa mưa và mùa khô) nên việc trồng rau gặp nhiều khó khăn hơn cả
Chính nhờ vào các đặc trưng khí hậu này mà rau nước ta rất phong phú
và đa dạng về các chủng loại, đặc biệt là rau vụ đông Có thể nói đây là thế mạnh của sản xuất rau Việt Nam so với các nước trong khu vực
Sản lượng rau trên đất nông nghiệp được hình thành từ 2 vùng sản xuất chính:
- Vùng rau chuyên canh ven thành phố và khu công nghiệp, chiếm 38-
40 % và 45- 50 % sản lượng [27] Tại đây, rau sản xuất phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tập trung là chủ yếu Chủng loại rau vùng này rất phong phú và năng suất cũng cao hơn Tuy nhiên, mức độ an toàn thực phẩm rau xanh ở đây lại thấp hơn so với các vùng sản xuất khác
- Vùng rau hàng hoá được luân canh với cây lương thực trong vụ đông tại các tỉnh phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và tại tỉnh Lâm Đồng Sản phẩm rau tươi của vùng này ngoài cho tiêu dùng trong nước còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu sang các nước
có mùa đông lạnh không trồng được rau Nếu phát huy được lợi thế này,
Trang 20nghành sản xuất rau sẽ có tốc độ nhảy vọt
Ngoài ra, với gần 12 triệu hộ nông dân ở nông thôn, với diện tích trồng rau gia đình bình quân 30m2/hộ (cả rau cạn và rau mặt hồ), nên tổng sản lượng rau cả nước hiện nay khoảng 6,6 triệu tấn Bình quân lượng rau xanh sản xuất tính trên đầu người ở nước ta vào khoảng 84 kg/người/năm (tiêu thụ
80 kg) như kế hoạch đề ra năm 2005 chúng ta mới chỉ đạt chỉ tiêu về khối lượng rau cho tiêu dùng trong nước và một phần xuất khẩu
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng rau ở Việt Nam phân theo địa phương
TT Địa phương
D.tích (ha)
S.lượng (tấn)
D.tích (ha)
S.lượng (tấn)
D.tích (ha)
S.lượng (tấn)
tăng diện tích gieo trồng nhanh nhất trong một thập kỷ qua [26]
Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học cho rằng: Rau an toàn là rau không dập nát, úa, hư hỏng, không có đất bụi bao quanh, không chứa các sản
Trang 21phẩm hoá học độc hại: hàm lượng nitrat, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại được hạn chế theo tiêu chuẩn an toàn
Trong những năm gần đây, diện tích cải bắp trong cả nước đều tăng Tính từ 1993 đến 2005, tỷ lệ tăng trưởng diện tích này là 12,8% Mặc dù năng suất không tăng nhiều do chưa chủ động được nguồn giống và đầu tư về mặt
kỹ thuật nhưng sản lượng cải bắp cũng tăng không ngừng với 13% mức tăng trưởng hàng năm
Sau 5 năm thực hiện chương trình phát triển rau quả và hoa cây cảnh đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Tốc độ tăng trưởng diện tích rau đạt 5,54 %/ năm [33]
Ngành hàng rau quả đã góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo nghị định số 09/NQ-CP ngày 15/06/2000 của chính phủ Nhiều sản phẩm có chất lượng cao đã chiếm lĩnh được thị trường của nhiều nước trên thế giới Nhiều tiến bộ khoa học mới đã được áp dụng trong sản xuất như khâu tạo giống mới sạch bệnh, thâm canh, bảo vệ thực vật làm gia tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm [33]
Công tác giống : Với chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000-2005 được thủ tướng chính phủ phê duyệt Sau 5 năm, chương trình đã tạo được nhiều giống mới, nhập nội được nhiều quỹ gen quý, nhân và cung cấp cho sản xuất một khối lượng lớn giống tiến bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá, phục vụ xuất khẩu và thay thế nhập khẩu So với lúc bắt đầu chương trình giống, tỷ lệ giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất
đã gia tăng 2-3 lần Việc ban hành Pháp lệnh về giống cây trồng là cơ sở pháp
lý quan trọng để tăng cường hiệu quả quản lý giống cây trồng [33]
Trong chế biến : đã chú trọng đầu tư phát triển mới và nâng cấp nhiều cơ sở chế biến rau quả đã được trang bị đầu tư thiết bị và công nghệ hiện đại tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Đào tạo nguồn nhân lực: đã đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý vững về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ góp phần thúc đẩy ngành rau quả Việt Nam
Trang 22phát triển nhanh, mạnh và bễn vững [33]
Trong nhiều năm gần đây, nhiều địa phương đã tích cực triển khai các dự
án, đề tài phát triển rau an toàn, tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn: Hà Nội có 3.756 ha rau an toàn (RAT) chiếm 44% diện tích trồng rau đáp ứng được 20% nhu cầu tiêu dùng Diện tích an toàn ở Vĩnh Phúc là 1500 ha, thành phố Hồ Chí Minh hơn 3000 ha, Bà Rịa - Vũng Tàu có hàng trăm mô hình trồng rau an toàn thành công và sẽ phát triển đến 1000 ha trong những năm sắp tới Rau sạch cũng đang phát triển ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Quảng Nam, An Giang Đáng mừng là đã có những chủ trương, kế hoạch phát triển rau sạch của nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng như sự hỗ trợ của quốc tế [32]
Mô hình sản xuất rau an toàn được xây dựng ở các tỉnh miền Bắc, trong
đó có các tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng là các vùng sản xuất trọng điểm Tính đến tháng 5 năm
2007, tổng diện tích trồng rau của 6 tỉnh đồng bằng sông Hồng này mới chỉ đạt 16000 ha, chưa đạt 10 % diện tích trồng rau
Sở NN & PTNT thành phố Hà Nội đã xây dựng đề án sản xuất và tiêu thụ rau an toàn giai đoạn 2007 - 2010 với số tiền đầu tư lên tới 350 tỷ đồng
Đề án đạt mục tiêu đến năm 2010 thành phố có 100 % diện tích sản xuất theo theo quy trình sản xuất rau an toàn [18]
Tại các tỉnh miền Nam, mặc dù hầu hết các tỉnh đã triển khai trồng thử, nhân rộng diên tích trồng rau an toàn, song chưa có thống kê cụ thể nào về diện tích trồng rau an toàn tại tỉnh này Thành phố Hồ Chí Minh- địa phương được đánh giá là có phong trào phát triển diện tích rau an toàn khá mạnh Đến tháng 5 năm 2007 có tổng số 1.712 ha được công nhận là có đủ điều kiện sản xuất rau an toàn trên tổng số hơn 2.000 ha trồng rau [18]
Điều tra sản xuất rau có xu hướng ngày càng mở rộng về diện tích và sản lượng tăng đồng thuận Sản lượng rau tiếp tục gia tăng (3,5%/năm) do tăng diện tích và tăng năng suất Với khối lượng rau trên đây, năm 2009
Trang 23lượng rau sản xuất bình quân đầu người ở Việt Nam đạt xấp xỉ 140 kg/người/năm, cao hơn trung bình toàn thế giới (128 kg/người/năm), gấp đôi các nước ASEAN Vấn đề quan trọng hiện nay trong sản xuất rau là chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Tháng 3/2007 Hà Nội đã thông qua đề án “Sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn với mục tiêu: “Hoàn thành quy hoạch sản xuất rau an toàn, hình thành
các vùng sản xuất rau an toàn tập trung được đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng, tăng sản lượng và chất lượng rau an toàn cung cấp cho người tiêu dùng thủ
đô, phấn đấu đến năm 2008 có 80% và năm 2010 có 100% diện tích sản xuất rau của Hà Nội được sản xuất theo quy trình sản xuất rau an toàn”[2]
Tỉnh Vĩnh Phúc có chương trình “Phát triển rau sạch cộng đồng” nằm trong chương trình IPM - NNS được triển khai theo quyết định số 179/QĐ ngày 1/2/1997 của UBND tỉnh Nội dung cơ bản của chương trình là áp dụng các nguyên tắc IPM trên cây rau, thực hiện 5 điều cấm trong sản xuất, ứng dụng rộng rãi chế phẩm EM và các chế phẩm sinh học khác [18]
Tại Hưng Yên có một số mô hình sản xuất rau an toàn ở quy mô nhỏ
do Viện nghiên cứu rau quả phối hợp với địa phương thực hiện: mô hình dưa chuột an toàn tại Kim Động (thực hiện 2004-2007), rau ăn lá tại thị xã Hưng Yên (thực hiện 2005-2007) Thực hiện yêu cầu của Bộ NN & PTNT hiện nay,
Sở NN & PTNT xây dựng đề án sản xuất rau an toàn giai đoạn 2008 - 2010 trên địa bàn toàn tỉnh Dự án hướng tới khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ[18]
Hiện nay chưa có một quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn thống nhất trong cả nước Mỗi địa phương áp dụng một quy trình sản xuất rau an toàn khác nhau Ở các vùng rau an toàn, phần lớn ngươi dân tự sản xuất, tự tiêu thụ đã dẫn đến đầu ra không ổn định, chưa gây dựng được niềm tin ở người tiêu dùng về chất lượng rau
Trang 24Như vậy việc trồng rau an toàn chưa thực sự được các tỉnh và người dân coi trọng, sản xuất bấp bênh, tiêu thụ rất khó khăn, quản lý chất lượng chưa được triển khai chặt chẽ
Ngoài các địa phương trên, hiện các tỉnh, thành phố khác như Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Thái Bình, Thái Nguyên, Hà Nam, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ đều có các dự án phát triển rau an toàn và các mô hình trình diễn
1.2.2.3 Tình hình sản xuất rau tại Thái Nguyên
Theo thống kê của cục thống kê Thái Nguyên từ năm 2006 - 2010, diện tích gieo trồng và sản lượng rau được thể hiện qua bảng sau
Bảng 1.3 Diện tích, sản lượng rau ở một số địa phương trong tỉnh
Địa điểm
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
2006 2007 2008 2009 2010 2006 2007 2008 2009 2010 Toàn tỉnh
1.185 1.220 1.231 1.178 1.381 10.931 13.585 17.010 17.477 21.326 Phổ Yên
Trang 25quảng bá sản phẩm còn những hạn chế nhất định Sản phẩm chưa có thương hiệu cũng là một cản trở đến việc mở rộng diện tích sản xuất
Tỉnh đã có chính sách đầu tư cho công tác quy hoạch, phát triển vùng sản xuất rau an toàn
Các ban ngành của tỉnh đã quan tâm đến giải pháp đầu tư đồng bộ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, trong đó khâu sản xuất được hỗ trợ, hướng dẫn và giám sát kỹ thuật
1.3 Các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài:
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón, thời gian bón đến sinh trưởng, phát triển của cây rau và hàm lượng nitrat trong rau
Phân hóa học dùng để bón vào đất cung cấp cho cây trồng và cải tạo môi trường đất Mặt khác phân bón còn dùng để phun qua lá bổ sung dinh dưỡng và điều hòa sinh trưởng cho cây trồng
Theo M Yamaguchi (1983), A Gupta (1987) thì đạm là yếu tố hạn chế hàng đầu với năng suất rau Khi cung cấp đủ đạm cây sinh trưởng phát triển tốt, nếu thiếu đạm thì không những cây sinh trưởng phát triển kém, năng suất kém mà phẩm chất lại giảm [18]
Theo M.E Yarvan (1980) thì khi bón lượng đạm tăng từ 30 lên 180 kg
Theo Đặng Thị An và cộng sự (1998) khi khảo sát chất lượng rau ở các
500mg/kg Một nghiên cứu khác cho thấy trong các phương thức canh tác rau,
ngưỡng cho phép (500 mg/kg) Trong khi tất cả các mẫu rau sản xuất theo
Trang 26hướng thâm canh cao đều có hàm lượng NO3 cao hơn (từ 700-1300 mg/kg)
(Tô Thị Thu Hà, 2008) [12]
Các nghiên cứu gần đây (Trần Khắc Thi và cs, 2008) [29] cho thấy có
tác nhưng chủ yếu vẫn do các yếu tố sau quyết định:
Bón nhiều phân đạm: Các nghiên cứu cho thấy với nhóm rau cải ăn lá
có thời gian sinh trưởng dưới 60 ngày, cứ 10kg N sẽ cho 3 - 3,2 tấn sản
phẩm/ha và dư lượng NO3 sẽ tích lũy 60mg/kg chất xanh Nếu bón quá
80 kg N thì năng suất chững lại, không theo quy luật và dư lượng NO3 sẽ
vượt ngưỡng cho phép Với mỗi nhóm cây việc tích lũy NO3 trong sản phẩm
ăn được có khác nhau theo thứ tự: lá- thân- củ- quả Theo diễn đàn rau sạch và sức khỏe cộng đồng, khi phân tích hàm lượng
nitrat trên rau cải bắp, cải xanh, su hào, cà chua, đậu, chè trong sản xuất ở các
địa phương: Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hải Phòng, Nam Định, thành
phố Hồ Chí Minh, trên 100 mẫu kiểm tra đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ
1,3 - 5 lần [ 18]
Theo số liệu điều tra của Trung tâm Tư vấn đầu tư về nitrat trong rau
nghiên cứu trên thị trường Hà Nội và một số địa phương khác cho thấy: sự
tồn tại dư lượng nitrat trong rau vượt quá tiêu chuẩn cho phép: Mẫu rau tại
chợ Ngã tư sở ( Hà Nội), cải trắng có dư lượng nitrat cao gấp 9,47 lần, cải
xanh 3,47 lần, dưa chuột là 5,08 lần, bắp cải 3,13 lần; tương tự trong các mẫu
rau cải bắp ở Hoằng Hóa - Thanh Hóa là 3,13 lần; một số mẫu củ cải ở Sóc
Sơn - Hà Nội là 8,5 lần [ 18]
Theo Vũ Thị Đào( 1999), khi nghiên cứu ảnh hưởng của lượng bón phân
đạm đến tích lũy nitrat trong rau ở các thí nghiệm trồng rau sạch cho thấy:
Đối với cải bao, hành khi mức bón đạm càng cao thì sự tích lũy nitrat càng
cao và đều vượt ngưỡng cho phép Cụ thể là mức bón đạm của cải bao từ 90 -
180 kg N/ha thì sự tích lũy nitrat tăng dần từ 1.240 - 2.737 mg/kg tươi; với
Trang 27hành hoa mức bón đạm từ 50 - 90 kgN/ha thì dư lượng nitrat tăng từ 1.050mg/kg tươi [ 11]
645-Bón phân hóa học, đặc biệt là bón phân đạm liều lượng quá cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, trong đó được quan tâm nhiều nhất là làm tăng hàm lượng nitrat trong rau quả Theo Bùi Xuân Quang (1998), với cà chua nếu bón liều lượng đạm trên 150 kgN/ha, bắp cải trên 200 kg N/ha, cải ngọt trên 120 kgN/ha thì dễ dẫn đến hàm lượng nitrat tích lũy trong sản phẩm vượt quá mức cho phép [ 25] Ngoài ra, việc sử dụng phân lân, kali, phân bón lá cũng ảnh hưởng đến sự tích lũy hàm lượng nitrat trong rau Kết quả nghiên cứu trên cải bắp khi sử dụng super lân bón với liều lượng 80 kg
P2O5/ha, 80 -100 kg K2O/ha hàm lượn nitrat trong rau giảm rõ rệt
Nghiên cứu của Bùi Quang Xuân ( 1993-1997) về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và hàm lượng nitrat trong rau trên đất phù sa sông Hồng đã cho thấy việc bón phân đạm làm tăng hàm lượng nitrat trong đất và cả trong rau Liều lượng bón đạm thích hợp nhất để rau đạt năng suất cao,hàm lượng nitrat trong ngưỡng cho phép đơi với súp lơ là 120 kgN/ha, hành tây là 100 kg N/ha, cải bắp 200 kgN/ha Bón đạm kết hợp với kali hoặc lân với liều lượng thích hợp đều làm tăng năng suất và giảm lượng nitrat trong rau [ 25]
Cải ngồng là loại rau ăn lá, cho nên có nhu cầu đối với nguyên tố dinh dưỡng khá cao Với năng suất 30 tấn/ha cải bắp, cây lấy đi từ đất 125kg N,
được các năng suất 80-100 tấn/ha cải bắp, thì lượng các chất dinh dưỡng được hút từ đất lại càng nhiều hơn rất nhiều Ngoài các nguyên tố đa lượng, cải bắp cũng hút đi từ đất một lượng canxi đáng kể: với mức năng suất 30 tấn/ha, cây lấy đi 2 kg CaO/ha (Nguyễn Vi, 1995) [36]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật cũng là một nhân tố gây mất ổn định môi trường,
nó gây ô nhiễm nguồn nước, đất, để lại dư lượng trên nông sản phẩm gây độc
Trang 28cho người và nhiều loài động vật máu nóng Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết, nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học có hiệu quả cao, an toàn với môi trường được ra đời
Khi phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại thuốc sẽ tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước và một lớp chất lắng gọi là
dư lượng ban đầu của thuốc Theo Cục BVTV những năm gần đây việc sử dụng thuốc BVTV tăng cả về chủng loại thuốc, số lần phun, nồng độ, thời gian cách
ly Số lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng 8 lần trong vòng 20 năm (1990 nhập 15.000 tấn; 1998 nhập 33.000 tấn; 2008: 71.000 tấn; 2010: 110.000 tấn) [18]
- Nhiều nông dân còn sử dụng những loại thuốc nhập lậu có độc tố cao
đã bị cấm sử dụng như Monitor, Wofatox do còn một nguyên nhân nữa là các loại thuốc nhập lậu này giá rẻ, phổ diệt sâu rộng và hiệu quả diệt cao
- Một nguyên nhân quan trọng khác là khoảng thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không được tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt
là các loại rau thu hoạch liên tục như dưa chuột, cà chua, đậu côve, mướp đắng Tại các vùng rau tập trung chuyên canh ven thành phố như Hà Nội, Đà Lạt
- Tại các vùng sản xuất rau chuyên canh luôn tạo nguy cơ cho các loài sâu bệnh hại liên tục phát sinh phát triển và gây hại trên diện rộng, nguy cơ bùng phát dịch luôn luôn tiềm ẩn, do vậy người nông dân sử dụng thuốc BVTV tăng số lần phun, tăng liều lượng và nồng độ
- Do hệ số sử dụng ruộng đất cao, thời vụ rải đều đã tạo ra nguồn thức ăn liên tục cho các loại sâu và tạo ra sự di chuyển của bướm ngày càng mạnh mẽ từ ruộng sắp thu hoạch tới ruộng mới trồng, do vậy khó tránh khỏi việc sử dụng thuốc thường xuyên Trung bình một chu kì trồng cải bắp, người nông dân phải phun tư 7- 15 lần với lượng thuốc từ 4 - 5 kg/ha trong một vụ từ 75 - 90 ngày [18]
Ngoài ra, nhiều nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu độ độc cao (nhóm I, II) để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu, mọt như hạt mùi, tía tô, rau dền, rau muống, húng quế
Trang 29Với hiện trạng sử dụng thuốc BVTV như vậy dư lượng thuốc BVTV thường cao hơn rất nhiều so với ngưỡng cho phép Kiểm tra 35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam, Cục BVTV phát hiện tới 54% mẫu có dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật, trong đó 8,6% mẫu được phát hiện có hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật đủ khả năng gây ngộ độc cho người sử dụng Tại Bình Dương, kiểm tra 228 mẫu có đến 72 mẫu phát hiện dư lượng clo và 9 mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt giới hạn Tại Đồng Nai, kiểm tra 495 mẫu rau, có tới 56 mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép [2]
1.3.3.Tình hình nghiên cứu và sử dụng màng phủ nông nghiệp
Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy màng phủ nông nghiệp có nhiều tác dụng như: hạn chế côn trùng, làm giảm số lần phun thuốc trừ sâu bệnh Màng phủ cách ly mầm bệnh tấn công từ đất hay từ rơm rạ lên cây, bề mặt màng phủ khô nhanh sau khi mưa, lá chân khô ráo, không thuận lợi cho mầm bệnh phát triển Hạn chế cỏ dại: màng phủ có mặt đen ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm cho cỏ dại không thể mọc được, … Điều hòa độ ẩm mặt đất và giữ cấu trúc đất: Mùa nắng mặt đất có màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước, giữ độ ẩm cho đất, mùa mưu lượng nước mưa không trực tiếp rơi trên mặt luống nên rễ cây không bị úng nước, mặt luống không bị xói mòn, đất giữ được cấu trúc tơi xốp và độ ẩm ổn định Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi của phân đạm, làm giảm sự rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc gặp trời mưa to Sự hấp thụ các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca, Mg từ bộ rễ cây trồng có sử dụng màng phủ cao hơn 1,4 - 1,5 lần so với không sử dụng màng phủ
Màng phủ đã được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia… trong hơn 20 năm qua
Ở Việt Nam, trường Đại học Cần Thơ đã bắt đầu nghiên cứu, sử dụng màng phủ nông nghiệp từ năm 1992, nhưng tập trung nhất từ năm 1997 -
2000 Việc sử dụng màng phủ nông nghiệp được thực hiện nhiều hơn khoảng
Trang 304-5 năm trở lại đây, đặc biệt các thí nghiệm Nghệ An cho thấy việc sử dụng màng phủ cho cây lạc đã làm tăng năng suất từ 30-40% so với không sử dụng màng phủ; tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Viện nghiên cứu dầu thực vật cũng
đã tiến hành các thử nghiệm về biện pháp sử dụng màng phủ cho lạc từ năm 2001- 2001, năng suất thu được tăng từ 20- 32% so với không sử dụng màng phủ Hiện nay, đồng bằng Sông Cửu Long có hơn 1.000 ha rau được trồng với màng phủ nông nghiệp [17]
TheoTrung tâm nghiên cứu khuyến nông Quốc gia năng suất các loại cây trồng tăng từ 30-35%, chất lượng sản phẩm tốt hơn, mã quả đẹp hơn, đều hơn,
tỷ lệ sản phẩm đạt tiêu chuẩn chế biến hoặc xuất khẩu tươi đạt cao hơn So với lối canh tác thông thường tuy vốn đầu tư ban đầu có cao hơn một ít nhưng chi phí giá thành sản phẩm giảm 20%, lợi nhuận của người nông dân tăng 50%, thậm chí nhiều hộ điển hình đã cho mức lợi nhuận gấp 2, gấp 3 lần[34]
1.4 Tiêu chuẩn về hàm lượng nitrat trong rau quả trên thế giới và Việt Nam
Ở các nước trên thế giới , tất cả các loại rau quả tươi nhập khẩu đều được kiểm tra chất lượng một cách chặt chẽ Hàm lượng nitrat tích lũy trong rau quả phải đảm bảo dưới ngưỡng quy định Ở Việt Nam đánh giá tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng nitrat củ các loại rau chưa rõ đầy đủ, chỉ có ở một số rau ăn củ, quả, rau gia vị, phần lớn các loại rau của nước ta chưa có các tiêu chuẩn cụ thể quy định về hàm lượng nitrat, chủ yếu đều dựa trên quy chuẩn của thế giới
Trang 31Bảng 2.3 Mức giới hạn tối đa cho phép của hàm lượng Nitrat (NO3-)
trong một số sản phẩm rau, quả tươi (mg/kg)
Trang 32Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giống rau cải ngồng
- Vật liệu nghiên cứu:
+ Phân đạm Urê (%)
+ ThuốcBVTV: - Thuốc hóa học: Sherpa 25EC, Scorpion 18EC - Thuốc sinh học: Aremec 36EC
+ Vòm che thấp: Tre, lưới trắng
- Dụng cụ: cân, cuốc, bình phun, túi nilon đựng mẫu, bút, thước đo, sổ sách,…
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Thí nghiệm được thực hiện tại xã Huống Thượng – huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
- Từ tháng 7/2012 đến 12/2012
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vòm che thấp đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất rau cải ngồng tại Thái Nguyên
Trang 332.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: ảnh hưởng của thời gian cách ly bón phân đạm đến
năng suất, chất lượng rau cải ngồng
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD – Randomized Complete Block Design) gồm 7 công thức và 3 lần nhắc lại
- Diện tích thí nghiệm:
- Các công thức thí nghiệm:
Công thức 1: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 2 ngày (đ/c)
Công thức 2: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 3 ngày
Công thức 3: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 4 ngày
Công thức 4: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 5 ngày
Công thức 5: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 6 ngày
Công thức 6: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 7 ngày
Công thức 7: Thời gian thu hoạch sau bón phân đạm 8 ngày
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất rau cải ngồng
- Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD – Randomized Complete Block Design), gồm 5 công thức và 3 lần nhắc lại
- Diện tích thí nghiệm:
Trang 34Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến
phòng trừ sâu hại rau cải ngồng tại Thái Nguyên
- Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD – Randomized Complete Block Design), gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại
- Diện tích thí nghiệm
- Công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: đối chứng không phun
+ Công thức 2: Thuốc trừ sâu Sherpa 25EC
+ Công thức 3: Thuốc trừ sâu Scorpion 18EC
+ Công thức 4: Thuốc trừ sâu Aremec 36EC
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Trang 35Cũng như các loại cải ăn lá khác, cải ngồng được trồng quanh năm
Nhưng chúng sinh trưởng thuận lợi hơn trong điều kiện vụ Đông Xuân, ít
Trang 36mưa to và khí hậu mát mẻ Mùa hè nắng nóng và có mưa rào những loại rau này thường được trồng trong nhà lưới
- Chọn đất
Đất thịt nhẹ, đất thịt pha cát, đất phù sa ven sông Đất phải tơi xốp, giàu mùn, thoát nước tốt, giữ được độ ẩm và dinh dưỡng tốt Đất không bị ô nhiễm
- Lượng phân bón/ ha và cách bón đối với thí nghiệm 1, thí nghiệm 3 và
thí nghiệm 4
Bón phân vừa đủ và cân đối
+ Bón lót: Phân chuồng hoai mục 13 tấn
Phân lân: 25 kg P2O5 Phân kali: 10 kg K2O Phân đạm: 10 kg N
Toàn bộ lượng phân trên đem rải đều và vùi sâu vào tầng đất canh tác trước khi gieo 1 ngày
+ Bón thúc bón một lần sau gieo 20 ngày với lượng bón là 80 kg N/ha Dừng bón đạm trước khi thu hoạch 7 ngày
- Làm đất
Làm nhỏ đất, san bằng mặt, phơi ải làm giảm quần thể sâu bệnh hại cư trú trong đất Lên luống đủ cao trong mùa mưa và luống dạng mui thuyền (cao 25-30cm), mùa khô luống bằng và thấp hơn, chỉ cao khoảng 15-20cm Cải ngồng khi gieo trồng trực tiếp cần phải làm đất kỹ ngay từ đầu, mặt luống phải bằng phẳng và thường chỉ rộng từ 1-1,2 m
- Gieo hạt
Chọn giống có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, độ đồng đều cao, sạch bệnh Gieo trực tiếp cải ngồng trên luống theo hàng, lấp hạt Tưới nước đủ ẩm cho hạt nảy mầm
- Tỉa định cây: Sau gieo 7-10 ngày, cần tiến hành tỉa định cây đảm bảo
khoảng cách trồng Loại bỏ những cây còi cọc, cây sâu bệnh
- Tưới nước
Trang 37Cần cung cấp nước thường xuyên cho ruộng đủ ẩm nhưng không đọng nước Tưới bằng ô doa qua lưới hoặc dẫn nước vào rãnh cho ngấm dần vào
Chỉ bước vào ruộng chăm sóc khi lá rau đã khô Nếu ruộng nhiều sâu tơ mới
nở và không có bệnh nguy hiểm, có thể tưới phun vào buổi chiều hạn chế bướm giao phối và sâu non Nguồn nước tưới phải sạch đảm bảo cho việc trồng rau an toàn
- Chăm sóc
Xới xáo phá váng sau mưa, tiến hành làm sạch cỏ dại
- Bón thúc: Có thể bón 1 lần sau gieo 15-20 ngày hoặc chia bón làm 2
lần (trong mùa mưa) Dừng bón đạm trước khi thu hoạch 10-12 ngày
- Phòng trừ sâu bệnh hại: Theo dõi, phát hiện và phòng trừ sâu, bệnh
theo hướng dẫn chung của ngành Bảo vệ thực vật
- Thu hoạch: Thu hoạch sản phẩm đúng lứa vào buổi sáng, tránh dập nát
3.4.3.Kỹ thuật làm vòm che thấp
- Chuẩn bị vật tư
- Tre: Các thanh tre dài 2,5-3,0 m, rộng 2,0-2,5 cm
- Mái vòm: Các loại lưới đen, lưới trắng hoặc nilon trắng
- Dây buộc
- Kỹ thuật dựng vòm che
Các thanh tre được vát nhọn 2 đầu, uốn cong để cắm sâu xuống 2 bên mép luống, cách nhau 2m, tạo thành vòm cung cách mặt luống từ 70 đến 100cm Dùng lạt buộc cố định các thanh tre, nứa chạy dọc theo luống với các thành vòm tạo thành khung đỡ lưới nilon Dùng lưới che phủ để che phủ toàn
bộ mặt luống Dùng đất chèn kỹ chân lưới 2 bên mép luống vừa tránh gió lật, vừa ngăn cản côn trùng, sâu hại xâm nhập vào bên trong gây hại Tuỳ theo mùa vụ mà chọn màu lưới cho phù hợp với ánh sáng để che phủ (mùa hè dùng
lưới xanh hoặc đen, mùa đông nên chọn lưới màu trắng)
Trang 383.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.4.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển
- Chọn cây đại diện một cách ngẫu nhiên, mỗi công thức đo 5 cây/1 lần nhắc lại, với 3 lần nhắc lại là 15 cây, 5 ngày theo dõi 1 lần
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): Được đo từ mặt đất tới lá dài nhất trên cây
- Động thái ra lá: Để đếm chính xác số lá ta đánh dấu số lá đã đếm (đếm 5 cây/ô) 5 ngày đếm 1 lần Đếm những lá có cuống và phiến lá hoàn chỉnh
- Động thái tăng trưởng chiều dài lá (cm): Đo từ phiến lá tới cuống lá
- Động thái tăng trưởng chiều rộng lá (cm): đo phần rộng nhất của lá từ mép bên này sang mép bên kia
3.4.4.2 Chỉ tiêu sâu bệnh
Đánh giá tình hình sâu bệnh hại theo phương pháp hiện hành của Viện bảo vệ thực vật
* Đối với sâu hại (sâu tơ, sâu xanh bướm trắng)
Áp dụng phương pháp 5 điểm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm 3 cây (15 cây/1 lần nhắc lại/công thức), khi thấy xuất hiện sâu điều tra 5 ngày/lần, quan sát toàn bộ cây
- Chỉ tiêu theo dõi:
Trang 39Tỷ lệ hại (%) =
Tổng số cây bị bệnh
x 100 Tổng số cây theo dõi
- Đánh giá hiệu lực của thuốc:
Tính theo công thức Henderson-Tilton
Ta x Cb ( 1 - - ) x 100
Tb x Ca
- Trong đó:
3.4.4.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:
- Khối lượng trung bình/cây
Cân khối lượng của 5 cây/1 lần nhắc lại/công thức
Khối lượng trung bình/cây =
Tổng khối lượng cây (g) Tổng số cây đem cân (cây)
- Năng suất lý thuyết (NSLT):
NSLT (tấn/ha) = Khối lượng trung bình/cây x Mật độ cây/ha
- Năng suất thực thu (NSTT):
Cân toàn bộ khối lượng cây/ô thí nghiệm thu ngoài đồng ruộng
3.4.4.4 Sơ bộ hạch toán kinh tế
Hiệu quả kinh tế = tổng thu - tổng chi
- Tổng thu = Năng suất thực thu x giá cải ngồng (thời điểm thu hoạch)
Trang 40- Tổng chi: các khoản chi phí cho việc sản xuất bao gồm công lao động, giống, phân bón, thuốc BVTV và chi khác
3.4.4.5 Phương pháp phân tích
- Xác định hàm lượng Nitrat bằng phương pháp quang phổ Đo độ hấp phụ trên máy quang phổ kế Cintra (Mỹ)
3.4.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu khi tính toán được xử lý trên EXCEL 2003
- Kết quả nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mềm
IRRISTAT