1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt nam

25 539 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 301,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam, đặc biệt là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận, sử dụng Nho giáo làm cơ sở cho hệ t

Trang 1

Đạo đức ho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt am /

guyễn Thị Thủy

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nho giáo ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại, do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ trước công nguyên Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam, đặc biệt là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận,

sử dụng Nho giáo làm cơ sở cho hệ tư tưởng, làm công cụ trị nước, giáo dục, đào tạo con người cho phù hợp với yêu cầu, mục đích của giai cấp phong kiến thống trị

Với tính cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, Nho giáo

đã ảnh hưởng tới nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam Trong đó có một lĩnh vực rất cơ bản là đạo đức Nho giáo Dấu ấn đạo đức Nho giáo ở Việt Nam được thể hiện trong lịch sử tư tưởng, trong lĩnh vực chính trị - đạo đức, trong lĩnh vực đào tạo và đánh giá con người

Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới (1986) đến nay, bên cạnh những thành tựu lớn về kinh tế, về đời sống, về nhận thức chủ nghĩa xã hội thời kì quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chúng ta còn bộc lộ những yếu kém Trong các yếu kém ấy, có nhiều yếu kém về đạo đức Nguyên nhân sự yếu kém về đạo đức, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng có nguyên nhân lịch sử là do ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo

Có người cho rằng do ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo; có người cho rằng do chúng ta phê phán, bài xích Nho giáo; có người nêu lên giải pháp hiện nay ta cần áp dụng triệt để công thức công nghệ chủ nghĩa tư bản với

mô hình quản lý xã hội của các nước phát triển có truyền thống Nho giáo Qua đó cho thấy việc đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, đặc biệt

là đạo đức Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Có như vậy, chúng ta mới thực hiện được “quan điểm phát triển” kinh tế, văn hóa,

xã hội như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu lên Để thực hiện

Trang 2

nhiệm vụ ấy, việc có ý nghĩa quan trọng là phải nghiên cứu sự ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu của lý luận cũng như của thực tiễn công cuộc đổi

mới, chúng tôi chọn vấn đề “Đạo đức ho giáo và ảnh hưởng của nó đối với

đạo đức xã hội Việt am” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ảnh hưởng của Nho giáo nói chung và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo nói riêng vào xã hội Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu rất phong phú, xin khái quát một số phương diện:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu thông qua các tài liệu kinh điển của ho giáo, tiêu biểu là các tác giả Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Đào

Duy Anh, Quang Đạm Khổng học đăng của Phan Bội Châu và ho giáo

của Trần Trọng Kim là những cuốn trình bày khá hệ thống về Nho giáo và cho rằng Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội và học thuyết đạo đức, coi đạo đức của Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện đạo

đức con người Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào Duy Anh cho rằng

cần có thái độ khách quan, toàn diện, khoa học khi nghiên cứu Nho giáo;

không nên có thái độ phủ định sạch trơn Nho giáo ho giáo xưa và nay của

Quang Đạm là một công trình lớn nghiên cứu về Nho giáo Các tư tưởng lớn

của Nho giáo trong gũ Kinh, Tứ Thư đã được tác giả phân tích khá sâu sắc

Riêng nội dung đạo đức Nho giáo tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề quan trọng, đó là quan niệm của Nho giáo về đạo và đức, quan điểm của Nho giáo

về Ngũ luân, Ngũ thường

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đem lại nhiều bổ ích cho những người quan tâm và nghiên cứu Nho giáo Tuy nhiên, do nhiều điều kiện chi phối, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến đạo đức xã hội Việt Nam Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề trên là đòi hỏi của thực tiễn

Thứ hai, nghiên cứu ảnh hưởng của ho giáo vào Việt am từ đầu công nguyên, đặc biệt là từ khi nước ta giành được độc lập dân tộc đến đầu thế kỷ

XX Theo hướng này, các tác giả Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Vũ Khiêu,

Phan Đại Doãn, Nguyễn Tài Thư, Trần Đình Hượu, Chương Thâu, Cao Huy Đỉnh, Lê Văn Lan, Đặng Thai Mai, Lê Sỹ Thắng, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Đức Sự, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đức Qùy, Chu Đình Xương, Nguyễn Thanh Bình đã công bố các kết quả được viết thành sách hoặc bài đăng các tạp chí đem lại nhiều bổ ích cho những ai quan tâm, nghiên cứu Nho giáo Các tác giả cho rằng ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên, đặc biệt là từ thế kỉ XI đến thế kỷ XIX Nội dung ảnh hưởng bao gồm chính trị, đạo đức, giáo dục là đậm nét nhất Riêng ảnh

hưởng của đạo đức Nho giáo, cuốn Tư tưởng phương Đông gợi những điểm

nhìn tham chiếu của cố giáo sư Cao Xuân Huy cho rằng: “Nho giáo là hình

thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc và

Trang 4

Việt Nam” Trong đó, “ngũ luân, ngũ thường hay tam cương, ngũ thường là

những cái tuyệt đối, hằng tồn, phổ biến” Cuốn Bản sắc văn hóa Việt am,

giáo sư Phan Ngọc cho thấy các phạm trù chính trị - đạo đức cơ bản của Nho giáo như: Trung, hiếu, nhân, nghĩa, nhà, nước khi vào Việt Nam đã

bị khúc xạ, đã được người Việt Nam tiếp và biến nó Vì vậy, các phạm trù này ở các nhà Nho Việt Nam có nội dung rộng, phong phú hơn, mang nhiều yếu tố nhân văn hơn Nhờ vậy, Nho giáo mới đóng một vai trò quan trọng

đối với lịch sử của dân tộc Cuốn Một số vấn đề về ho giáo Việt am do

giáo sư Phan Đại Doãn chủ biên có nhận định rằng: “Nho giáo vào Việt Nam không còn nguyên vẹn như ở Trung Quốc, đã được Việt Nam hóa Các nhà Nho Việt Nam nặng về tiếp thu luân lý đạo đức, chủ yếu về hiếu,

nghĩa” Cuốn ho học và ho học Việt am của giáo sư Nguyễn Tài Thư đã

nhận định rằng tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức là những lĩnh vực tư tưởng phản ánh quyền lợi của giai cấp phong kiến nên những bộ phận này in đậm dấu ấn của Nho giáo so với Phật giáo Tuy vậy, trong hướng nghiên cứu này, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam

Vì vậy, kế thừa những kết quả đã có để theo hướng đề tài luận văn đã xác định là cần thiết

Thứ ba, nghiên cứu đạo đức ho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt am

Theo hướng này, các tác giả Vũ Khiêu, Trần Văn Giàu, Phan Đại Doãn, Đào Duy Anh, Hà Thúc Minh, Trần Văn Thụy, Nguyễn Thị Thanh Mai, Trần Thị Hồng Thúy, Trần Đình Thảo đã nghiên cứu và đề cập

Cuốn ho giáo và đạo đức của giáo sư Vũ Khiêu đã chỉ rõ chủ đích của

những người theo đạo Nho là biết đạo để hành Để biết đạo, phải tham gia vào công tác chính trị, giữ một chức trách nhất định trong bộ máy thống trị - nghĩa là ra làm quan, làm quan để có cương vị mà hành đạo chứ không phải

để làm giàu Nho giáo gắn với đạo đức, với chính trị, đem đạo đức phục vụ

chính trị Bài “Đạo đức ho giáo và đạo đức truyền thống Việt am” của

giáo sư Trần Văn Giàu đã chỉ rõ đạo đức truyền thống Việt Nam có mối liên

hệ mật thiết với đạo đức Nho giáo, nhưng đó là mối liên hệ kế thừa, lọc bỏ, phát triển Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo là Ngũ luân và Ngũ thường Tiêu điểm của mọi tiêu điểm, giá trị của mọi giá trị của nền đạo đức truyền thống là chủ nghĩa yêu nước Đạo đức truyền thống là một trong những điều kiện cho đạo đức cách mạng phát triển Trong quá trình phát triển đạo đức cách mạng phải gạt bỏ những yếu tố của đạo đức Nho giáo để

Trang 5

lại Bài “Góp phần phê phán lễ giáo phong kiến” của giáo sư Hà Thúc Minh

đã chỉ rõ thực chất của phạm trù lễ là sự ràng buộc, đè nén, kìm hãm hoạt động và nhu cầu của con người; là sự tượng trưng cho sự giáo điều, đẳng cấp; là phương tiện cứu cánh của Nho giáo Tàn dư của lễ giáo ở Việt Nam

vẫn còn, cần phải phê phán Bài “Cha ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở

các ý thức hệ phong kiến của Trung Quốc” của Trương Chính đã gợi mở

cho chúng ta một cách kế thừa những yếu tố tích cực của Nho giáo về vấn

đề con người, đạo làm người trên cơ sở thực tiễn xã hội Việt Nam Những tư tưởng Nho giáo vì dân, trọng dân cũng được cha ông ta kế thừa nhằm hạn chế quyền lực của giai cấp thống trị Tuy vậy, trong hướng nghiên cứu này, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam Vì vậy, kế thừa các kết quả đã có, việc tiếp tục nghiên cứu theo hướng của đề tài luận văn xác định

là cần thiết, góp phần cho xu hướng nghiên cứu này toàn diện hơn

Với tên đề tài đã được xác định, luận văn sẽ đi sâu trình bày hệ thống nội dung đạo đức Nho giáo, hệ thống đạo đức xã hội Việt Nam có: đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống Việt Nam và đạo đức mới Việt Nam Trên cơ sở ấy trình bày những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của xã hội Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Nội dung đạo đức Nho giáo

- Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam

- Những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

- Đạo đức Nho giáo

- Ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu:

- Tư tưởng đạo đức Nho giáo thời Đông Chu

- Tư tưởng đạo đức Nho giáo từ thời nhà Hán về sau

Trang 6

- Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam

- Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng, trong đó các nguyên tắc cơ bản được thực hiện là: thống nhất giữa quy nạp và diễn dịch; thống nhất giữa phân tích, tổng hợp; thống nhất giữa lịch sử - lôgic Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp khoa học khác như: đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa

6 Đóng góp cái mới của luận văn

- Nêu lên tương đối có hệ thống nội dung đạo đức Nho giáo, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống và đạo đức mới Việt Nam

- Nêu lên tương đối rõ những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Trên cơ sở làm rõ nội dung đạo đức Nho giáo, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống và đạo đức mới Việt Nam, luận văn làm rõ mối quan hệ giữa đạo đức Nho giáo với đạo đức xã hội Việt Nam, làm rõ sự khác biệt của đạo đức xã hội Việt Nam Chính sự khác biệt ấy là bản sắc đạo đức của dân tộc Việt Nam

- Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ học tập, nghiên cứu, giảng dạy học tập Nho giáo cũng như triết học phương Đông và lịch sử tư tưởng Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1 Đạo đức Nho giáo

Chương 2 ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam

Chương 3 ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam

Trang 7

Chương 1 ĐẠO ĐỨC HO GIÁO 1.1 Điều kiện ra đời đạo đức ho giáo

Thời cổ đại Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu Nhà Hạ khoảng thế kỷ XXII đến thế kỷ XVII TCN Nhà Thương khoảng tử thế kỷ XVIII đến thế kỷ XII TCN Nhà Chu từ 1135 đến năm 221 TCN Nhà Chu được chia thành hai thời kỳ: Tây Chu, khoảng từ 1135 - 770

TCN và Đông Chu khoảng từ 770 - 221 TCN Xã hội Tây Chu là xã hội

thịnh vượng về kinh tế, ổn định về chính trị - xã hội; đạo đức, kỷ cương được giữ vững

Thời Đông Chu (hay còn gọi là thời Xuân Thu - Chiến Quốc) là thời kỳ

xã hội chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông bắt đầu suy tàn và chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành, thể chế chính trị - xã hội và những quy tắc đạo đức xã hội lỗi thời, những thể chế và những quy tắc đạo đức xã hội mới còn manh nha

Chính do sự giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên những đảo lộn, cản trở của xã hội:

Về lĩnh vực kinh tế: Do công cụ đồ sắt phổ biến nên phân công lao động

xã hội phát triển, các ngành nghề thủ công ra đời Do nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các vùng, các nước hình thành, ngành thương nghiệp ra đời

Về lĩnh vực chính trị - xã hội: Kinh tế phát triển đã tác động mạnh đến

lĩnh vực chính trị - xã hội Sự tác động rõ rệt của kinh tế đối với chính trị -

xã hội là các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp của xã hội Hệ quả của sự tác động ấy là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị bóc lột với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị trị khác ngày càng gay gắt Thời Tây Chu, ruộng đất là của vua Thời Đông Chu, quyền sở hữu tối cao, tuyệt đối bị giai cấp địa chủ mới ra đời chiếm dụng, tình trạng thiên tử không nắm được “đất của vua” và “tôi của vua” đã làm cho giai cấp quý tộc nhà Chu suy yếu về địa vị và vai trò chính trị đối với xã hội Gần như cả thời Xuân Thu “chư hầu trở thành lãnh chúa, các đức quân trong đó có những kẻ trội lên trở thành bá” Khắp thiên hạ, các nước chư hầu gây chiến tranh liên miên vô cùng tàn khốc nhằm thôn tính, tranh giành địa vị của nhau Cục diện mới của xã hội xuất hiện Cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em vợ chồng chia lìa nhau

Trang 8

thường xuyên xảy ra Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự lễ nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn

Hoàn cảnh lịch sử Đông Chu rối ren, loạn lạc, xáo trộn cái cũ với cái mới, cái tụt xuống với cái trồi lên như vậy chính là hoàn cảnh lịch sử thúc đNy và chứng kiến sự ra đời của nhiều đạo lý xử thế, nhiều trường phái triết học và tôn giáo, trong đó có đạo lý triết học chính trị, đạo đức của N ho giáo

Thời Tây Chu, tôn giáo, chính trị, đạo đức đã ra đời Về tôn giáo, thời Tây

Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ thượng đế”, “trời người hợp nhất” Họ cho rằng, “trời” là là lực lượng có nhân cách, có ý chí và

uy quyền tuyệt đối Về chính trị, các nhà tư tưởng Tây Chu dựa vào tư tưởng

tôn giáo xây dựng quan điểm chính trị phản động cho rằng triều đại nhà Chu

do biết làm theo “mệnh trời”, “trời” nên được “nhân dân” từ tay nhà Ân để

“hưởng dân” và “nhận dân” Ai chống lại “mệnh trời”, “ý trời” thì nhà Chu sẽ trừng phạt Vua nhà Chu là thiên tử, thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân Vì

vậy, dân phải phục tùng vua Về đạo đức, các nhà tư tưởng Tây Chu lấy hai

chữ “đức” và “hiếu” làm cốt để tuyên truyền, củng cố sự tồn tại vĩnh viễn địa

vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu Họ cho rằng các bậc tiên vương nhà Chu có đức nên thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân Vì vậy, các vua sau phải kính cái đức ấy, phải bồi dưỡng cho con cháu phải thờ tổ tiên, nhớ công lao tổ tiên, giữ gìn phép tắc tổ tiên, đó là đức Hiếu Có được đức hiếu mới nhận được mệnh trời mà hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Quan điểm đạo đức này là cơ sở góp phần hình thành đạo đức N ho giáo sau này N ho giáo ra đời tiếp nhận các tư tưởng trên của Tây Chu là tiếp nhận một phương thức

chính trị mà giai cấp thống trị Tây Chu đã thực hiện là sử dụng thần quyền để củng cố, sử dụng vương quyền trong việc cai trị đất nước Đến thời Đông Chu,

N ho giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế, phản ánh đời sống kinh tế - xã hội thời bấy giờ Để khắc phục tình trạng xã hội rối loạn, nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định, phát triển,

N ho giáo một mặt thừa nhận, sử dụng thần quyền, đồng thời mặt chủ yếu là khẳng định địa vị vương quyền đứng trên thần quyền, khẳng định vai trò, vị trí của con người trong biến đổi lịch sử

N ho gia nêu lên chủ trương cơ bản để quản lý xã hội này là đường lối trị

nước "đức trị" “Đức trị” là tư tưởng về đường lối cai trị đất nước, quản lý

xã hội trên cơ sở chuNn mực đạo đức Vai trò của đạo đức trong quản lý xã

hội lý tưởng N ho gia nêu lên là:

Trang 9

- Đạo đức là công cụ, là phương tiện chủ yếu nhất của giai cấp phong kiến trong việc trị nước và quản lý xã hội

- Đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất để hình thành và hoàn thiện đạo đức con người, góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương, ổn định xã hội

- Đạo đức và thực hành đạo đức đóng vai trò quyết định đối với việc tạo lập ra mẫu người lý tưởng và góp phần tạo lập xã hội lý tưởng

1.2 ội dung đạo đức ho giáo

Trong ngôn ngữ thông thường, “đạo đức” là một từ có hai âm tiết, thể

hiện một khái niệm cụ thể Chẳng hạn: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã

hội, là tập hợp những quy tắc, chuNn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”

Về nhân sinh, con người là một vật, một loài, là bộ phận nhỏ của tự

nhiên Vì thế, cơ thể của con người luôn liên hệ mật thiết với giới tự nhiên, nhất luật tuân theo nguyên lý “âm dương biến hóa” của đạo trời và “cương nhu tương thôi” của đạo đất

Tính của con người là vấn đề trung tâm của N ho giáo, được các nhà nho

tranh luận, bàn cãi nhiều trong lịch sử triết học Trung Quốc Trên cơ sở cách đặt vấn đề “tính là gần nhau, tập là xa nhau” của Khổng Tử qua tranh luận

có bốn loại quan niệm:

Thứ nhất: Bản tính của con người là thiện, đại biểu cho quan niệm này

là Mạnh Tử

Thứ hai: Bản tính con người là ác, đại biểu cho quan niệm này là Tuân Tử Thứ ba: Bản tính của con người không thiện, không ác, đại biểu cho

quan niệm này là Cáo Tử

Thứ tư: Bản tính con người có cả thiện và cả ác Đây là quan niệm của

các nhà N ho từ thời Hán về sau

Đạo của con người, đó là con đường để con người trở thành người

hân nghĩa với tính cách là đạo của con người không thể hiểu thông

thường N hân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung và bất nhân là

ác, bất nghĩa là bạc Đạo của con người có ý nghĩa rất lớn đối với tính của

con người Đạo của con người phù hợp với tính phú của con người do trời

Trang 10

phú, do con người sáng lập nên có chức năng dẫn dắt tính của con người, không để tính ác của con người do “tập” làm biến chất

Đức của con người liên hệ mật thiết với đạo Con đường đi từ đạo đến

đức của N ho giáo không phải là con đường bằng phẳng, dễ dàng Bao quát

các mối quan hệ, N ho giáo nêu lên 10 đức: Cha từ, con hiếu, anh lành, em

đễ, chồng có nghĩa, vợ có nghĩa, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân,

tôi trung

1.2.2.1 Luân thường

Trong xã hội phong kiến, quan hệ giữa người với người được gọi là

nhân luân Các bậc vua chúa, giai cấp quý tộc và các nhà N ho trong xã hội

phong kiến gọi trật tự, thứ bậc và quan hệ giữa vua và tôi, cha và con, chồng

và vợ, anh em và bạn bè là ngũ luân; đồng thời họ cho rằng ngũ luân là biểu

hiện của lý trời trong đời sống xã hội con người, là đạo lý vĩnh hằng, không

thể biến đổi cho nên gọi là Luân thường

Từ phương diện đạo đức, N ho giáo đề cập đến mối quan hệ giữa người

quân tử và tiểu nhân Từ phương diện lao động xã hội, N ho giáo bàn tới mối quan hệ giữa lao động chân tay (lao lực) và lao động trí óc (lao tâm) Từ

phương diện chính trị, N ho giáo đề cập tới các mối quan hệ thống trị và bị

trị, vua và dân, quan và dân, vua và tôi Từ phương diện thiết chế xã hội,

N ho giáo đưa ra các quan hệ trong gia đình

Tuy nhiên, vai trò của con người được N ho giáo đề cập trong ba mối quan hệ cơ bản (tam cương) và năm đức (ngũ thường)

Trong xã hội (nhà nước, thiên hạ), ho giáo chú ý nhiều nhất quan hệ vua - tôi (quân - thần), một trong những mối quan hệ cơ bản trong tam

cương, ngũ luân Sau đây là một số tư tưởng cơ bản của quan hệ vua - tôi trong lịch sử Trung Quốc:

- Vua và tôi là quan hệ tương quan

- Vua tôi lấy nghĩa mà hòa hợp

- Quan hệ giữa vua - tôi là quan hệ phục tùng

Trong gia đình, N ho giáo đưa ra ba mối quan hệ: cha - con, chồng - vợ,

anh - em

- Quan hệ cha - con là một trong ba mối quan hệ cơ bản của con người

Trong mối quan hệ này, N ho giáo đã đưa ra hai chuNn mực đạo đức căn bản

là Từ và Hiếu để duy trì mối quan hệ cha - con

Trang 11

- Quan hệ chồng - vợ: Trong mối quan hệ chồng - vợ, N ho giáo đưa ra

phạm trù nghĩa - nghĩa (cũng có nghĩa là chồng có nghĩa, vợ vâng lời) là chuNn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa vợ và chồng với nhau

1.2.2.2 gũ thường

"gũ thường" là năm đức cơ bản luôn luôn phải có của đạo làm người

gồm: hân, nghĩa, lễ, trí, tín Các đức tính nằm trong ngũ thường đã được nói đến tản mạn trong Kinh thư, Kinh thi, đặc biệt là trong Luận ngữ của

Khổng Tử với các phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, hiếu, trung, đễ và trong quan điểm của Mạnh Tử với tư tưởng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

- Ý nghĩa luân lý của hân:

+ hân là đức ở tâm

+ hân là lòng yêu thương người

+ hân là lòng cung kính, là đức hiếu thuận

+ hân là gốc của nghĩa

- Ý nghĩa bao quát của hân: Có thể thi hành năm điều cho thiên hạ, đó

là nhân, ấy là tự mình phải cung, khoan, tín, mẫu, huệ

- Công dụng xã hội và chính trị của nhân: N hân là lòng yêu người hay

là lòng trắc Nn N hân là cái bao hàm mọi đức

- "ghĩa" là việc nên làm hay điều ta phải làm đúng theo đạo lý, đúng bổn phận, không vì một cái gì hay việc theo đường lối phải và lòng hào hiệp

của con người

- ghĩa là tiêu chuan của hành vi

- ghĩa là kỷ cương của mọi việc

N ếu đức nhân thể hiện trong mối quan hệ với người khác thì đức nghĩa

thể hiện trong khi tự vấn lương tâm mình N ghĩa đen của từ nghĩa rất rộng, là điều nên nói, việc nên làm N ói điều gì đó, làm việc gì đó mà thấy thảnh thơi, thoải mái, hứng thú trong lương tâm thì điều nói, việc làm đó là điều nghĩa, việc nghĩa, không nói điều ấy, không làm việc ấy thì thấy bứt rứt trong lương tâm, như thế là có điều nghĩa không nói, có việc nghĩa không làm

ĐỨC LỄ

“Lễ” nguyên nghĩa là kính trời, thờ quỷ thần, tôn thờ tổ tiên, cầu phúc

đức, một dạng văn hóa tinh thần mang màu sắc lễ nghi tôn giáo ở Trung

Quốc cổ đại Sau đó được mở rộng về nội dung và tính chất của nó và lễ

Trang 12

được coi là lễ nghi, nghi điển, là lề lối ứng xử, quy tắc, luật lệ, chuan mực

quy định trật tự quan hệ xã hội từ trong gia đình đến ngoài xã hội

Sang thời Chiến Quốc, lễ không chỉ là ý nghĩa tôn giáo, đạo đức, chính

trị mà còn có ý nghĩa pháp luật

"Lễ" ra đời do hai nguyên nhân: một là, lễ là sự thuận theo đạo của trời

đất trong đạo của con người Lễ là do các tiên vương thuận theo đạo trời, lấy tình cảm để trị dân

Công dụng của Lễ về lĩnh vực đạo đức: Không học lễ, không lấy gì để

đứng vững được

Công dụng của Lễ về lĩnh vực chính trị - xã hội: Sửa mình theo lễ là

nhân N gày nào cũng khắc kỷ phục lễ thì thiên hạ quy về đức nhân vậy

Lễ gồm hai mặt gắn bó với nhau Lễ là tổ chức xã hội, tổ chức cuộc

sống, thể hiện thành lễ nghi, quy chế, kỷ cương, trật tự tôn ti Mặt khác, lễ là

về giáo dục đạo đức, thể hiện thành thái độ, ý thức, nếp nghĩ giữ gìn, tôn

trọng lễ nghi, kỷ cương và trật tự Lễ là một phần quan trọng của ho giáo,

nêu lên những quy định về lễ rất nhiều, rất chặt chẽ cho gia đình, làng mạc, đất nước, thiên hạ, kể cả trời, đất, con người, trong đó có sự quy định về lễ

đối với quan hệ giữa người và người là rạch ròi nhất Cái để lại của ho

giáo đối với các triều đại phong kiến Trung Hoa cũng như Việt am là lễ

ĐỨC TRÍ

Trí theo nghĩa cơ bản trong ngôn ngữ của Khổng Tử và Mạnh Tử là sự

hiểu biết trên mọi quan hệ lớn nhỏ, rộng hẹp, cao thấp của con người với trời

đất, muôn vật với mọi người khác trong thiên hạ N ói cách khác, đức trí thể

hiện ở chỗ biết được một cách đúng đắn rõ ràng điều phải, điều trái trong mọi vấn đề nảy ra về mặt đạo đức Đầu mối của trí, ở bên trong con người là lòng

thị phi làm cho con người ta phân rõ phải trái, đúng sai trong các quan hệ của con người Có được đầu mối ấy đi vào học đạo, hành đạo con người tự khắc

có được đức trí và các đức khác muốn có được thì phải học

Đức tín là đức trong ngũ thường với ý nghĩa cơ bản là thành thực, tin tưởng, tín nghĩa

N ội dung trước hết của tín là thành thực Luận ngữ viết: “Bậc quốc

trưởng cai trị một nước có ngàn cỗ xe, làm việc gì cũng phải kính cNn mà giữ chữ tín thật, của cải dùng tiết kiệm và thương yêu tất cả mọi người, khiến dân chúng phải đúng thời, đúng lúc”; “người mà không nói thật, không biết người ấy làm việc gì cho nhanh được”

Ngày đăng: 01/06/2016, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w